Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:49:45 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6  (Đọc 71509 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #50 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:26:53 pm »


Bước sang năm 1970, tình hình Đông Dương có những chuyển biến mới. Ở Lào, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bạn mở chiến dịch phản công giải phóng hoàn toàn vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đập tan cố gắng lớn về quân sự của Mỹ và tay sai ở một địa bàn chiến lược quan trọng, giáng đòn nặng vào âm mưu tăng cường chiến tranh đặc biệt ở Lào của đế quốc Mỹ. Tiếp đó, từ ngày 6-3-1970, Mặt trận Lào yêu nước đã đề ra giải pháp chính trị 5 điểm nhằm chấm dứt chiến tranh xâm lược của Mỹ, lập lại hoà bình ở Lào trên cơ sở Hiệp nghị Giơnevơ 1962 và tình hình thực tế hiện nay ở Lào, nhằm xây dựng một nước Lào hoà bình, độc lập, trung lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng. Ở Campuchia, ngày 18-3-1970, đế quốc Mỹ chủ mưu gây ra cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Vương quốc Campuchia, đưa bè lũ Lonnon lên nắm quyền. Mục tiêu của Mỹ là biến nước trung lập này thành thuộc địa kiểu mới. Tiếp đó, ngày 30-4-1970, mười vạn quân Mỹ và quân Sài Gòn ồ ạt tiến công trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, vào sâu từ 30 đến 40 km...

Từ ngày 30-5, phối hợp chặt chẽ với bạn, ta và bạn đẩy mạnh tiến công địch, hỗ trợ cho nhân dân Campuchia nổi dậy giải phóng một vùng rộng lớn từ phía bắc tỉnh Ratanakiri đến nam tỉnh Campốt dọc tuyến biên giới với chiều sâu từ 20 đến 40 km.

Trên đà thắng lợi, trong hai ngày 24 và 25-4-1970, hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương được tổ chức ở Trung Quốc, tại một địa điểm gần biên giới ba nước Việt Nam - Trung Quốc - Lào. Đoàn đại biểu Chính phủ ta do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, do Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ dẫn dầu, đoàn đại biểu Campuchia do Quốc trưởng Xihanúc dẫn đầu và đoàn đại biểu Lào do Hoàng thân Xuvanuvông dẫn đầu. Tham dự hội nghị còn có Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai. Hội nghị thảo luận nhiều vấn đề quan trọng liên quan tới sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhất trí ra Tuyên bố chung, xem đó như Cương lĩnh đấu tranh chung của nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương. Tuyên bố chung của hội nghị chỉ rõ mục tiêu chiến đấu của các bên Campuchia, Lào, miền Nam Việt Nam là độc lập, hoà bình, trung lập, không cho phép nước ngoài có quân đội hoặc căn cứ quân sự trên đất nước mình, không tham gia liên minh quân sự nào, không cho phép nước ngoài dùng lãnh thổ mình để xâm lược nước khác. Để đạt tới mục tiêu đó, các bên cam kết hết lòng ủng hộ lẫn nhau theo yêu cầu của mỗi bên và trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, quyết tâm bảo vệ và phát triển tình hữu nghị anh em và quan hệ láng giềng tốt giữa ba nước, trước mắt cũng như lâu dài.

Như vậy, hội nghị này là cột mốc đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của tình đoàn kết gắn bó giữa cách mạng và nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương. Thành công của hội nghị làm thất bại âm mưu chia rẽ khối đoàn kết giữa ba dân tộc của đế quốc Mỹ. Trên thực tế, liên minh chiến đấu Việt nam, Lào, Campuchia đã hình thành và ngày càng được củng cố vững chắc. Đó là một thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao của nhân dân ta.

Tại Pari, ngày 17-9-1970. trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa ra đề nghị tám điểm nói rõ thêm về một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Những điểm chủ yếu trong đề nghị tám điểm này là:

- Rút hết quân Mỹ và quân các nước thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam trước ngày 30-6-1971. Trong trường hợp đó các lực lượng vũ trang giải phóng sẽ không đánh vào quân Mỹ đang rút;

- Thành lập ở Sài Gòn một chính quyền không có Thiệu - Kỳ - Khiêm, một chính quyền tán thành hoà bình, độc lập, trung lập... Và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam sẵn sàng nói chuyện ngay với một chính phủ như vậy về vấn đề chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Những đề nghị đó, cùng với những thắng lợi quân sự và chính trị của quân, dân ta trên chiến trường, là đòn tiến công mạnh mẽ vào âm mưu và hành động của chính quyền Níchxơn muốn dùng Việt Nam hoá chiến tranh để gây áp lực trên bàn hội nghị và dùng thương lượng phục vụ cho Việt Nam hoá chiến tranh. Trước tình hình đó, ngày 7-10-1970 Níchxơn đưa ra đề nghị ngừng bắn gồm năm điểm và năm ngày sau, thông báo sẽ rút thêm 40.000 quân Mỹ trước Nôen 1970. Trong điều kiện tương quan lực lượng ở chiến trường, cho đến thời điểm ấy, vẫn nghiêng về phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì đề nghị và tuyên bố trên đây của Níchxơn, về thực chất, là nhằm đẩy trách nhiệm trì hoãn thương lượng sang phía Việt Nam, che dấu thái độ ngoan cố, hiếu chiếu và xoa dịu dư luận phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền Mỹ đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở nước Mỹ và trên khắp thế giới.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #51 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:28:35 pm »


Bước sang năm 1971, ta tiếp tục đẩy mạnh thế chủ động tiến công địch trên mặt trận ngoại giao. Tuy nhiên, vào lúc đó, chính sách ngoại giao nước lớn của chính quyền Mỹ nhằm gây sức ép tối đa với Việt Nam đang trên đà tiến triển1. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta, vì vậy, giờ đây diễn ra trong những điều kiện vừa thuận lợi nhưng cũng đầy phức tạp, khó khăn.

Theo dõi chặt chẽ toàn bộ diễn biến tình hình trong nước và trên thế giới có liên quan, kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng các mặt đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, trên bàn đàm phán ta tiếp tục nêu cao thiện chí thương lượng, tố cáo âm mưu và hành động hiếu chiến của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ, dù không muốn, vẫn phải tiếp tục xuống thang. Cho đến giữa năm 1971, Mỹ đã phải đơn phương rút 39 vạn quân. Đồng thời, trong nhiều cuộc họp riêng, Mỹ tỏ ý muốn giải quyết sớm vấn đề chiến tranh Việt Nam và không còn nhắc đến đòi hỏi rút quân đội miền Bắc ra khỏi miền Nam. Tuy nhiên, âm mưu của chính quyền Mỹ giờ đây là tách vấn đề quân sự ra khỏi chính trị, chỉ tập trung giải quyết vấn đề quân sự. Mục đích của Mỹ trong vấn đề này là tìm cách rút quân, lấy được tù binh và ngừng bắn nhưng vẫn duy trì và củng cố chính quyền và quân đội Sài Gòn. Âm mưu này của phía Mỹ được thể hiện rõ trong chương trình bảy điểm mà Kítxinhgơ đưa ra ngày 31-5-1971. Chương trình đó của Mỹ gồm những nội dung chính sau:

1. Hoa Kỳ sẵn sàng ấn định một thời hạn cho việc rút quân Mỹ.

2. Người Việt Nam và người các nước Đông Dương sẽ thảo luận với nhau cách thức rút tất cả lực lượng ngoại nhập khác ra khỏi Đông Dương.

3. Ngừng bắn tại chỗ trên toàn Đông Dương bắt đầu từ khi Mỹ rút quân.

4. Không đưa thêm lực lượng ngoại nhập vào các nước Đông Dương.

5. Giám sát quốc tế về ngừng bắn.

6. Tôn trọng Hiệp đinh Giơnevơ năm 1954 về Campuchia và năm 1962 về Lào.

7. Phóng thích tù binh và thường dân vô tội toàn Đông Dương bắt đầu với việc rút quân Mỹ.

Trong khi đó, phía Việt Nam cho rằng hòn đá thử vàng của bất kỳ giải pháp nào về Việt Nam là cách giải quyết vấn đề rút quân viễn chinh Mỹ và vấn đề chính trị nội bộ của nhân dân miền Nam Việt Nam. Không rút hết quân viễn chinh Mỹ thì độc lập, chủ quyền của nhân dân Việt Nam tiếp tục bị chà đạp và không thể được bảo đảm. Rút quân Mỹ mà vẫn giữ ngụy quyền tay sai của Mỹ để tổ chức các cuộc bầu cử tức là thủ tiêu quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam”2. Vì vậy, trong gặp riêng với phái đoàn Mỹ, Bộ trưởng Xuân Thuỷ - Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã đưa ra giải pháp chín điểm (ngày 26-6-1971). Phối hợp với diễn đàn bí mật, trên diễn đàn công khai, ngày 1-7-1971, Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa ra sáng kiến bảy điểm. Theo đó, lập trường của Việt Nam là phải giải quyết toàn bộ và chỉ ngừng bắn sau khi giải quyết cả vấn đề quân sự và chính trị:

- Mỹ phải định thời hạn rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam;

- Mỹ phải chấm dứt việc ủng hộ nhóm cầm quyền hiếu chiến do Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu.

Lập trường trên đây của phía Việt Nam, ngay lập tức, nhận được sự đồng tình rộng rãi của dư luận thế giới, đặc biệt là ở Mỹ. Phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền phát triển mạnh mẽ, rộng khắp nước Mỹ từ những năm trước đó3, giờ lại bùng lên. Quốc hội, báo chí Mỹ đòi Chính phủ Mỹ không được bỏ qua dịp này để rút quân ra khỏi Việt Nam, đưa tù binh về nước, chấm dứt sự dính líu của Mỹ, lập lại hoà bình, kết thúc chiến tranh. Thêm vào đó, tháng 6-1971, một phần Tài liệu mật Lầu Năm góc4 được đăng tải trên tờ Thời báo Niu Yoóc (The NewYork times). Tuy công trình nghiên cứu này được biên soạn dưới thời Giônxơn làm tổng thống, không liên quan tới chính quyền Níchxơn nhưng việc một tài liệu tối mật bị tiết lộ mà tiết lộ trên báo chí Mỹ, thì bản thân sự việc đó đã làm Chính phủ Mỹ bị mất mặt, đã tạo thêm áp lực mới đối với chính quyền Níchxơn trong vấn đề Việt Nam.
______________________________________
1. Tháng 4-1971, theo lời mời của phía Trung Quốc, Mỹ cử đoàn bóng bàn sang thăm và được đón tiếp trọng thể tại Đại lễ đường nhân dân ở Bắc Kinh. Ngày 21-4-1971, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai chính thức mời Tổng thống Mỹ Níchxơn sang thăm Trung Quốc. Chuẩn bị cho cuộc viếng thăm đó, Kítxinhgơ đã hai lần sang Trung Quốc trong năm 1971...
2. Nguyễn Duy Trinh: Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Sđd, tr.161.
3. Những năm từ 1969 đến 1971, phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính sách của chính quyền Níchxơn trong vấn đề Việt Nam lan rộng khắp nước Mỹ. Tác giả cuốn Lời phán quyết về Việt Nam - A.Am tơ, gọi đây là “Cuộc chiến tranh trong nước”, và cho biết, sau khi lực lượng cảnh vệ quốc gia đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình của sinh viên trường đại học bang Kent, giết chết bốn sinh viên và làm bị thương chín sinh viên khác (ngày 4-5-1970), thì đã có tới 900 khu đại học trên toàn bộ nước Mỹ xuất hiện những làn sóng người biểu tình từ khắp nước Mỹ giận dữ đổ về Thủ đô Oasinhtơn. Chứng kiến quang cảnh này, Kítxinhgơ cho hay, “Oasinhtơn mang tính chất một thành phố bị bao vây. Đỉnh cao của phong trào phản đối công khai của quần chúng đã đạt được vào khoảng ngày 9-5 khi một đám đông khoảng từ 75.000 đến 100.000 người biểu tình vào một buổi chiều thứ bảy nóng bức tại Enlípxơ, công viên ở phía nam Nhà Trắng... Một dãy 60 xe buýt được sử dụng để bảo vệ khu nhà của Tổng thống. Sau ngày 9-5, hàng nghìn sinh viên nữa, thường là do khoa của họ lãnh đạo, đến Oasinhtơn để tố cáo “sự leo thang” và “sự điên rồ” của Chính phủ họ”. Dẫn theo G.A.Am tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1985. tr.342-343.
4. Công trình nghiên cứu lớn do tập thể 36 tác giả Mỹ thực hiện theo đơn đặt hàng của R.S.Mác Namara người giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dưới thời Tổng thống Kennơđi và Giônxơn: người mà cho đến giữa năm 1967, trên cương vị Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, do rất ngán ngẩm với cuộc chiến tranh Việt nam và vì vậy, đã cho tiến hành công trình này để biết lý do và cách thức Mỹ dính líu quá sâu đến như vậy ở Việt Nam trong thời gian từ 1945 đến 1968.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #52 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:30:13 pm »


Áp lực này càng gia tăng khi ngày 30-9-1971, Thượng viện Mỹ hầu như nhất trí thông qua nghị quyết buộc Níchxơn rút hết quân trong vòng sáu tháng với điều kiện duy nhất là đưa được tù binh về nước. Trong những điều kiện đó, tại các cuộc gặp riêng nửa sau năm 1971, Mỹ liên tiếp đưa ra đề nghị tỏ ý muốn giải quyết sớm vấn đề chiến tranh Việt Nam, trong đó có một số nhượng bộ mới như Mỹ sẽ công bố một lịch trình rút hết quân Mỹ và đồng ý khả năng để Nguyễn Văn Thiệu từ chức...

Trước những nhượng bộ mới trên đây của Mỹ, phía Việt Nam cho rằng chính quyền Níchxơn vẫn tỏ ra rất ngoan cố, âm mưu rút quân từng bước để thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, đồng thời duy trì một số quân vô thời hạn để làm con bài mặc cả. Hơn nữa, vào lúc đó, “ta đang có khả năng kéo Mỹ xuống một bước nữa để giành một thắng lợi căn bản tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”1. Muốn vậy, điều quan trọng giờ đây là ta “phải dùng chính trị, ngoại giao kết hợp với quân sự”2. Về quân sự, những tháng cuối năm 1971, ta đang ra sức chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công chiến lược 1972. Bởi vậy, ở hội nghị Pari, ta chủ trương giữ vững lập trường bảy điểm mà Chính phủ Cách mạng lâm thời nêu ra ngày 1-7-1971.

Phối hợp với cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán, Đảng, Quốc hội và Chính phủ ta ra sức tăng cường các hoạt động quốc tế cử nhiều đoàn đại biểu đi thăm hữu nghị nhiều nước xã hội chủ nghĩa anh em, sử dụng diễn đàn hội nghị Pari để tố cáo âm mưu và hành động xâm lược, hiếu chiến của Mỹ, ngụy trước dư luận thế giới... Bên cạnh đó, các đoàn thể nhân dân ta đẩy mạnh hoạt động trong các hội nghị quốc tế; tăng cường quan hệ với các tổ chức hoà bình, dân chủ trên thế giới, kể cả ở Mỹ, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của dư luận tiến bộ ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đồng thời, Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng nỗ lực mở rộng các hoạt động quốc tế ở khắp mọi nơi...

Với những nỗ lực trên đây, trong những năm này, mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tiếp tục được mở rộng. Mặc dù tình hình quốc tế có nhiều phức tạp, mâu thuẫn Xô - Trung vẫn diễn biến gay gắt và đế quốc Mỹ vẫn ráo riết lợi dụng để chia rẽ nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa nhưng nhìn chung, cho đến năm 1971, “các nước xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục ủng hộ đường lối, mục tiêu, lập trường và quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta, ủng hộ giải pháp bảy điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam với hai vấn đề được rõ thêm; giành cho nhân dân ta sự giúp đỡ to lớn, quý báu và hiệu quả về quân sự và kinh tế”3. Quan hệ đoàn kết chiến đấu của liên minh ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam qua thử thách khốc liệt của chiến tranh đang không ngừng được củng cố và phát triển. Phong trào ủng hộ Việt Nam của nhân dân thế giới ngày càng diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ. Tính đến tháng 12-1970, đã có 10 uỷ ban quốc tế đoàn kết với Việt Nam, hơn 100 uỷ ban quốc tế đoàn kết với Việt Nam ở từng nước, hơn 20 uỷ ban điều tra và tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ tại Việt Nam4. Phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền của các tầng lớp xã hội - kể cả các nghị sĩ Quốc hội, các cựu binh Mỹ từng tham gia chiến tranh Việt Nam... tiếp tục dâng cao ngay trên đất Mỹ. Trên thế giới, nhiều đoàn đại biểu các nước, các đảng, các tổ chức tiến bộ từ châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ tiếp tục đến thăm Việt Nam và mang đến cho nhân dân ta tình đoàn kết, sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu. “Việt Nam đã trở thành hiện thân của một sự nghiệp quốc tế mới... và nó tượng trưng cho một phong trào thế giới rộng lớn và nhiều mặt với một lý tưởng trong sáng mà hàng triệu, hàng triệu không kể xiết nhân dân đã hưởng ứng và tập hợp quanh nó”5. Uy tín và ảnh hưởng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Kể từ năm 1965 đến năm 1971, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đặt hoặc nâng quan hệ ngoại giao lên với 18 quốc gia. Cho đến năm 1970, số đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được mời thăm các nước trên thế giới lên tới gần 120 lượt. Sau gần ba năm ra đời (1969-1971), Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 26 nước. Có thể thấy, hiếm có một chính phủ nào sau khi thành lập lại được quốc tế sớm thừa nhận và đặt quan hệ ngoại giao nhanh, nhiều như vậy. Điều đó chứng tỏ sự ủng hộ rộng lớn, mạnh mẽ của mặt trận nhân dân thế giới đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Nhìn chung lại, trải qua ba năm sau khi bước ra từ đổ nát của chiến tranh (1969-1971), hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đang có những bước tiến đáng kể trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự và đối ngoại. Sản xuất được phục hồi. Đời sống các tầng lớp nhân dân được bảo đảm và có mặt được cải thiện. Niềm tin của người hậu phương vào sự lãnh đạo của Đảng không ngừng được củng cố. Trên cơ sở đó, an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội được giữ vững; sức mạnh quốc phòng được tăng cường, công tác đối ngoại được đẩy mạnh. Đó là nền tảng đảm bảo cho miền Bắc có đủ điều kiện và sức mạnh để vừa tự bảo vệ, vừa làm tròn nghĩa vụ chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, cho cách mạng hai nước Campuchia và Lào đang cùng Việt Nam chung một chiến hào đánh Mỹ.
______________________________________
1, 2. Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr. 266.
3. Báo cáo tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá IV (2-1972), dẫn trong Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1965-1975), Sđd, tr.181.
4. Dẫn theo Sức mạnh chiến thắng của cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr.288.
5. G.Gôncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, tr.83-84.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #53 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:00:01 am »


CHƯƠNG 26
PHỐI HỢP ĐÁNH ĐỊCH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG


I- ĐẾ QUỐC MỸ MỞ RỘNG CHIẾN TRANH RA TOÀN CÕI ĐÔNG DƯƠNG - CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA

Nằm trong kế hoạch của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, cùng với việc đẩy mạnh nỗ lực quân sự và bình định ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh đặc biệt ở Lào, đồng thời từng bước mở rộng chiến tranh sang Campuchia nhằm cắt đường mòn Hồ Chí Minh ngăn chặn nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam, xoá bỏ hệ thống căn cứ kháng chiến của cách mạng miền Nam được Mỹ mệnh danh là “đất thánh của Việt cộng” ở bên kia biên giới, làm giảm sức tiến công của ta và tiến tới cô lập, bóp nghẹt phong trào kháng chiến của nhân dân ta ở miền Nam.

Tại Lào, khi Níchxơn lên cầm quyền, viện trợ quân sự của Mỹ cho phái hữu Lào tăng từ 90,4 triệu đôla tài khoá 1968 -1969 lên 146 triệu đôla tài khoá 1969 -1970. Mỹ còn đưa thêm hàng ngàn cố vấn, ra sức xây dựng quân phái hữu Lào nhằm biến đội quân này thành lực lượng xung kích chiến lược trong chiến tranh đặc biệt ở Lào; đồng thời Mỹ đẩy cuộc chiến tranh không quân tại đây cả về quy mô lẫn cường độ đánh phá1.

Từ cuối tháng 4-1969 đến tháng 6-1969, Mỹ chỉ đạo các lực lượng quân đặc biệt Vàng Pao, quân phái hữu mở liên tiếp ba cuộc hành mang tên Xamắckhi (Đoàn kết) I, II, III đánh chiếm thị xã Xiêng Khoảng và vùng xung quanh Cánh Đồng Chum. Song chúng bị các lực lượng Quân giải phóng nhân dân Lào (tiểu đoàn 1 và 701) cùng bộ đội địa phương và du kích huyện Mường Khun (Xiêng Khoảng) ngăn chặn và tiêu hao buộc phải rút chạy về Sảm Thông - Long Chẹng.

Thượng tuần tháng 6 đến đầu tháng 7-1969, ta và bạn phối hợp mở chiến dịch Mường Sủi nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, nhất là “lực lượng đặc biệt” quân cơ động của Vàng Pao, khôi phục mở rộng vùng giải phóng, củng cố, giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum, tạo thế uy hiếp sào huyệt địch ở Sảm Thông - Long Chẹng, chia cắt Luông Pha Băng với Viên Chăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động quân sự của ta và bạn trong mùa khô tới.

Tham gia chiến dịch về phía Việt Nam có Sư đoàn 316 (thiếu), ba tiểu đoàn đặc công, hai tiểu đoàn pháo cối 120 mm, hai tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 mm, hai đại đội xe tăng... Phía bạn Lào có hai tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 mm, một đại đội súng máy 14,5 mm, một trung đội xe tăng và một đại đội cối.

Đêm 23 rạng ngày 24-6-1969, chiến dịch mở màn. Trên tất cả các mũi, các hướng, ta đồng loạt tiến công địch, đến sáu giờ sáng 24-6-1969, ta đã làm chủ một số khu vực, khống chế sân bay Mường Sủi, uy hiếp bản Khai. Từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1969, phát triển tiến công, ta làm chủ toàn bộ Mường Sủi, truy quét tàn quân địch đến tận ngã ba Salaphu khun, tạo thế uy hiếp Sảm Thông - Long Chẹng. Đến đây, chiến dịch kết thúc thắng lợi, hệ thống phòng thủ kiên cố lâu năm của địch trên chiến trường Lào bị phá tan. Đánh giá ý nghĩa của thắng lợi này, đồng chí Khămtày Xiphănđon nói: “Mường Sủi là một hệ thống phòng ngự khá vững chắc, lại được pháo binh Thái Lan và máy bay Mỹ trực tiếp chi viện, thế mà trong một thời gian ngắn, lại đang giữa mùa mưa lũ, liên quân Lào - Việt đã nhanh chóng đập tan cụm phòng ngự của địch. Điều đó chứng tỏ khả năng hiện nay của ta có thể đánh bại cuộc chiến tranh đặc biệt tăng cường của Mỹ ở Lào”2. Hãng UPI thì bình luận: “Mường Sủi là trận đánh tai hại nhất của Mỹ ở Lào từ đầu 1969 đến nay” (Hãng tin Mỹ UPI, ngày 28-6-1969).

Sau thất bại này, đế quốc Mỹ càng tăng cường ném bom, bắn phá ác liệt các vùng giải phóng thuộc hai tỉnh Xiêng Khoảng và Hủa Phăn. Mỗi ngày, Mỹ sử dụng trung bình từ 100 đến 200 lần chiếc máy bay xuất phát từ các căn cứ không quân trên đất Thái Lan và từ các tàu sân bay của Hạm đội 7 vào hoạt động này. Đồng thời, lợi dụng mùa mưa, cuối tháng 7-1969, Mỹ đã tập trung một lực lượng lớn bao gồm cả phỉ Vàng Pao, quân phái hữu Lào và quân Thái Lan3 mở cuộc hành quân lớn mang tên Cù Kiệt. Mục đích của cuộc hành quân này là đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, lấy địa bàn có tầm quan trọng này làm bàn đạp tiến công sâu vào vùng giải phóng Hủa Phăn - căn cứ địa của cách mạng Lào, thực hiện chiến lược “phòng ngự từ xa”, bảo vệ phòng tuyến sông Mê Công của Mỹ và Thái Lan, che chở khu vực Sảm Thông - Long Chẹng - sào huyệt của lực lượng đặc biệt Vàng Pao do Mỹ trực tiếp nuôi dưỡng và chỉ huy.
_______________________________________
1. Theo thú nhận của Níchxơn trong bài diễn văn về Lào ngày 6-3-1970 thì Mỹ đã ném bom toàn bộ nước Lào chứ không phải chỉ có đường mòn Hồ Chí Minh.
2. Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Bản dịch tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr.6.
3. Tham gia cuộc hành quân có 18 tiểu đoàn, 52 đại đội thuộc lực lượng đặc biệt và 5.000 quân Thái Lan với sự chi viện tối đa của không quân Mỹ. Có thể nói đây là nỗ lực quân sự lớn nhất của Mỹ và quân phái hữu Lào tính đến thời điểm đó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #54 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:00:52 am »


Ngày 31-7-1969, dưới sự yểm trợ của không quân và pháo binh Mỹ, lực lượng hỗn hợp từ các căn cứ Sảm Thông - Long Chẹng, Văng Viêng ồ ạt tiến công vào trung tâm Cánh Đồng Chum.

Mùa mưa, các công sự phòng ngự của ta ở khu vực Cánh Đồng Chum đều ngập nước, sụt lở, lực lượng ngăn chặn tại chỗ mỏng. Vì vậy, trong những ngày đầu, địch lấn chiếm rất nhanh. Tiến đến đâu, địch thực hiện đốt sạch, phá sạch, giết sạch đến đó, gây nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân các bộ tộc Lào, nhất là ở các huyện Mường Pẹc, Mường Khun, Mường Khăm. Hàng trăm bản làng với hàng ngàn nóc nhà bị huỷ diệt. Một số lớn dân ở khu vực Cánh Đồng Chum phải lánh đi nơi khác.

Cùng với cuộc hành quân Cù Kiệt, địch còn tăng cường hoạt động ở Hủa Phăn, Bôlikhămxay, mở các cuộc hành quân lấn chiếm ở Luông Nậm Thà, đánh phá cơ sở du kích ta ở vùng Mường Nằn (đông nam Luông Phabăng), dùng máy bay rải chất độc hoá học xuống vùng căn cứ du kích Nhọt Ngầm, Pha La Vẹc (tỉnh Viêng Chăn Đông) hòng loại bỏ căn cứ bàn đạp của ta bấy giờ đang uy hiếp phía sau căn cứ Long Chẹng và vùng đồng bằng Viên Chăn của chúng.

Trong điều kiện cực kỳ khó khăn về địa hình, thời tiết, đảm bảo hậu cần, tiếp tế vũ khí đạn dược... các lực lượng thuộc Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cùng quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang địa phương bền bỉ trụ bám địa bàn, chặn đánh quyết liệt, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch suốt gần ba tháng ròng. Song, do lực lượng chênh lệch quá lớn - nghiêng về phía địch, do điều kiện thời tiết không thuận lợi cho hoạt động chiến đấu phòng ngự, ta không cản nổi sức tiến công của địch, thương vong tăng lên. Đến tháng 9-1969, địch đã cơ bản chiếm được Cánh Đồng Chum và tiến sát các cửa ngõ gần biên giới Việt Nam như bản Ban, Noọng Hét. Tình hình bất lợi cho ta. Lực lượng tiếp tục bị tiêu hao, lương thực và đạn dược cạn dần. Cuối tháng 9-1969, bộ đội ta được lệnh rút ra để củng cố, chỉ để lại hơn một tiểu đoàn cùng bạn giữ bàn đạp tiến công.

Quyết không để mất địa bàn chiến lược quan trọng, ta và bạn thống nhất phối hợp mở chiến dịch phản công lấy mật danh là Chiến dịch 139, nhằm tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực địch (chủ yếu là lực lượng đặc biệt Vàng Pao), khôi phục vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. tạo thế cho cách mạng Lào phát triển. Tham gia chiến dịch, phía bạn Lào có mười tiểu đoàn bộ binh, một đại đội xe tăng, một tiểu đoàn pháo mặt đất, đại đội đặc công và các đơn vị bảo đảm chiến đấu. Phía Việt Nam có hai sư đoàn (312 và 316), hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 866, Trung đoàn pháo binh 16, một đại đội xe tăng, Trung đoàn công binh 45, các tiểu đoàn đặc công 20, 25A, 25B. Tư lệnh chiến dịch - đồng chí Vũ Lập, Chính uỷ - đồng chí Huỳnh Đắc Hương.

Ngày 25-10-1969, sau một thời gian làm công tác chuẩn bị, bộ đội ta bắt đầu đợt hoạt động tạo thế cho chiến dịch phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Lúc này ở Lào mùa mưa chưa hết. Mạng đường chiến dịch vốn đã kém phát triển nay thường xuyên bị sụt lở, lầy lội. Thêm vào đó, không quân Mỹ đánh phá suốt ngày đêm, biệt kích, thám báo tăng cường lùng sục xung quanh khu vực Cánh Đồng Chum. Việc tập kết vật chất và lực lượng, việc triển khai đội hình chiến dịch vì vậy gặp nhiều trở ngại. Không chịu bó tay, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hy sinh, suốt ba tháng ròng, bộ đội ta ngày đêm vừa chiến đấu, vừa mở đường nối thông đường 7B đoạn từ Mường Xén đến thị xã Xiêng Khoảng và khai thông đường 7 đoạn từ Mường Xén qua bản Ban đi bản Noọng Pẹt - Khang Khay - Bản Áng - Mường Sủi tới ngã ba Xala Phukhun đưa lực lượng và vật chất vào các khu vực tập kết xung quanh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.

Đầu tháng 2-1970, giai đoạn tạo thế chiến dịch kết thúc, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định mở đợt hai, đánh thông vào trung tâm Cánh Đồng Chum. Chỉ trong hai ngày đầu đợt hai (ngày 11 và 12-2-1970), ta đã phá vỡ cụm phòng ngự địch ở Noọng Pẹt, chiếm một số điểm cao ở phía đông và phía bắc Cánh Đồng Chum. Ngày 18-2, ta phát triển tiến công địch mạnh mẽ ở trung tâm Cánh Đồng Chum phá vỡ thế phòng ngự của chúng. Ngày 21-2, toàn bộ quân địch buộc phải rút khỏi Cánh Đồng Chum. Ngày 24-2, ta và bạn đánh chiếm Mường Sủi, tập kích mạnh Xala Phukhun, buộc địch phải rút bỏ Xiêng Khoảng, Phu Khe, Pa Đông, Mường Chà.

Trên hướng phối hợp, ngày 16-2-1970, đặc công ta tập kích sào huyệt lực lượng đặc biệt Vàng Pao ở Long Chẹng, phá huỷ 15 máy bay, diệt hàng trăm lính Vàng Pao, cố vấn Mỹ và sĩ quan Thái Lan ngay tại sào huyệt này.

Ngày 25-2-1970, đợt hai chiến dịch kết thúc. Ta chiếm lại toàn bộ khu vục Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Mường Sủi.

Tuy bị thiệt hại nặng và mất các địa bàn quan trọng nhưng căn cứ cuối cùng ở Long Chẹng của lực lượng đặc biệt Vàng Pao vẫn còn. Mỹ quyết định củng cố lại và tăng cường thêm lực lượng, tăng cường vũ khí, trang bị, lập thêm ba phòng tuyến mới nhằm bảo vệ Sảm Thông - Long Chẹng bằng mọi giá.

Từ tình hình đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch trên cơ sở nhận định rằng: địch đang sa sút, hoang mang, bị đánh là tháo chạy; ta cần tranh thủ thời cơ tiêu diệt toàn bộ lực lượng đặc biệt Vàng Pao, xoá bỏ hang ổ cuối cùng của chúng, đã quyết định mở tiếp đợt ba chiến dịch.

Thực hiện quyết tâm đó, đêm 26-2-1970, ta tập kích địch ở Phuphaxay, Phukhimốt... tạo điều kiện cho các lực lượng thọc sâu vào Sảm Thông - Long Chẹng. Đêm 11 rạng ngày 12-3-1970, Tiểu đoàn 20 đặc công cùng hai Tiểu đoàn 1 và 2 thuộc Trung đoàn 141 tập kích BV271 của địch ở Bản Na, Sen Luông. Ngày 15-3, ta tiếp tục đánh chiếm các điểm quan trọng trên tuyến phòng thủ của địch ở Hin Tặng, Hin Đăm, Thẩm Lửng, sau đó phát triển về Sảm Thông, uy hiếp Long Chẹng.
_______________________________________
1. BV: Tương đương tiểu đoàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #55 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:01:31 am »


Ngày 18-3, Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 148 và đội đặc công Sư đoàn 316 quân tình nguyện Việt Nam tiến công đánh chiếm Sảm Thông và các điểm cao khống chế ngoại vi Long Chẹng, địch buộc phải vội vã điều lực lượng từ các quân khu I, II, III về tăng cường phòng thủ Long Chẹng và tổ chức phản kích quyết liệt hòng chiếm lại Sảm Thông. Bởi vậy, từ đầu tháng 4-1970, chiến sự tại khu vực này diễn ra khá dử dội. Ta và địch giành giật nhau quyết liệt ở khu vực Sảm Thông và các điểm cao khống chế Long Chẹng. Vào thời điểm đó, mùa mưa lại bắt đầu. Việc tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men và dạn dược cho bộ đội ta từ tuyến sau lên trở nên khó khăn. Thêm vào đó, không quân Mỹ oanh tạc dữ dội các tuyến đường khiến cho việc tiếp tế và cơ động lực lượng của ta bị hạn chế rất nhiều. Trước tình hình đó, ngày 25-4-1970, Bộ Chỉ huy liên quân Việt - Lào quyết định kết thúc chiến dịch, chuyển sang củng cố lực lượng, tổ chức chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng Lào.

Đến đây, sau đúng nửa năm chiến đấu quyết liệt (từ 25-10-1969 - 25-4-1970), bằng Chiến dịch phản công 139, liên quân Việt - Lào đã đánh bại cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ và tay sai trên chiến trường Lào. Trong toàn chiến dịch, ta đã tiêu diệt năm tiểu đoàn địch, đánh thiệt hại nặng bốn tiểu đoàn, tiêu hao bốn tiểu đoàn khác của chúng, loại khỏi vòng chiến đấu 6.668 tên, bắn rơi và phá huỷ 117 máy bay, thu 597 súng các loại, giải phóng một vùng rộng lớn khoảng 6.000 km2 với 16.000 dân, nối liền vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi, Sảm Thông - nam Căng Xẻng - San Chồ với Sầm Nưa và bốn tỉnh Bắc Lào.

Với thắng lợi này, ta đã đập tan cố gắng cao nhất về quân sự của đế quốc Mỹ và đồng minh của Mỹ ở Lào, giáng đòn nặng nề vào âm mưu mở rộng chiến tranh đặc biệt ở Lào, làm thất bại toan tính phân tán và giam chân một bộ phận lực lượng chủ lực Việt Nam trên chiến trường Lào để tạo thuận lợi cho việc thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Nam Việt Nam.

Cùng với chiến thắng ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, lực lượng vũ trang cách mạng Lào và quân tình nguyện Việt Nam còn đánh chiếm Pắc Beng (thuộc tỉnh Uđomxay), giải phóng một vùng rộng lớn dọc theo sông Mê Công dài 100 km. Kết hợp đòn tiến công quân sự với binh vận, ta và bạn đã quét sạch phỉ ở tỉnh Sầm Nưa và một phần tỉnh Luông Phabăng, Bôlikhămxay.

Ở Hạ Lào, đêm 28 rạng ngày 29-4-1970, liên quân Lào - Việt tiến công Atôpơ buộc địch phải rút bỏ nơi này, lui về cao nguyên Bôlôven. Tiếp đó, đầu tháng 6-1970, liên quân Lào - Việt tiến công địch ở thị xã Xaravan, giải phóng thị xã này và các vùng lân cận.

Trong lúc cách mạng Lào có bước phát triển tốt thì ở Campuchia, tình hình đang ngày càng trở nên phức tạp do âm mưu và hành động xâm lược của Mỹ.

Khi còn là Phó Tổng thống của nước Mỹ, Níchxơn đã coi Campuchia là một khâu trọng yếu trong việc giành thắng lợi ở Việt Nam. Thay Giônxơn lên làm Tổng thống nước Mỹ, Níchxơn đã đưa ra một kế hoạch nhằm biến Campuchia trung lập thành một quốc gia thân Mỹ. Còn Abram, Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam thì cho rằng Campuchia là nơi đứng chân của Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Vì vậy, viên tư lệnh chiến trường này nhận định, nếu phá được “thánh đường” Việt cộng ở Campuchia, cách mạng miền Nam sẽ bị bóp nghẹt, chiến tranh Việt Nam sẽ kết thúc trong vòng một năm. Abram đề nghị Níchxơn dùng B52 đánh vào khu căn cứ 353 (vùng Móc Câu và Mỏ Vẹt bên kia biên giới Campuchia), nơi mà Abram cho rằng Trung ương Cục miền Nam đang đứng chân. Đề nghị của Abram được Níchxơn chấp thuận, bởi trong nhìn nhận của giới lãnh đạo Oasinhtơn, “một cuộc chiến tranh không quân ở Campuchia có thể giữ bí mật mà vẫn đạt được các mục tiêu cắt đứt các đường tiếp tế và phá huỷ các căn cứ của địch. Quan trọng hơn cả là nó có thể buộc Campuchia bỏ chính sách lâu nay của họ”1.

Giữa tháng 2-1969, khi quân và dân ta ở miền Nam mở đợt tiến công đầu xuân, lực lượng không quân chiến lược Mỹ được lệnh tiến hành các phi vụ B52 đánh phá căn cứ 353. Ngày 18-3-1969, cuộc tiến công bằng B52 mà phía Mỹ gọi là “hoạt động bữa ăn” được thực hiện nhằm vào khu vực dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam, khởi đầu cho việc leo thang mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Từ đó, đất nước Campuchia bước vào một thời kỳ đầy đau thương và biến động. Trong hơn 1 năm (từ tháng 3-1969 đến tháng 4-1970), lực lượng không quân chiến lược Mỹ (B52) đã thực hiện trên 3.630 phi vụ ném bom xuống Campuchia, chiếm 60% tổng số phi vụ B52 trên chiến trường Đông Dương trong cùng thời gian đó.

Cùng với tiến hành một cuộc chiến tranh bí mật bằng việc dùng B52 ném bom Campuchia, phía Mỹ còn ráo riết thực hiện các thủ đoạn chính trị, ngoại giao rất xảo quyệt nhằm xoá chính sách trung lập của Vương quốc Campuchia, lôi kéo đất nước này đứng về phía Mỹ, chống lại cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.
_______________________________________
1. G. Am tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội. 1985, tr.274, 175.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #56 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:02:16 am »


Tháng 2-1969, sau gần bốn năm gián đoạn, Campuchia và Mỹ đã lập lại quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ. Chính Đại sứ quán Mỹ ở Phnôm Pênh cùng với Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã khuyến khích và giật dây cho Lonnon - một đại diện phái cực hữu trong Chính phủ Campuchia do Xihanúc làm Quốc trưởng, tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng miền Nam. Đầu năm 1970, thừa lúc Xihanúc đi dưỡng bệnh ở Pháp, Lonnon và Xirícmatắc (Sơn Ngọc Thành) ra tuyên bố huỷ bỏ Hiệp định thương mại với Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà miền Nam Việt Nam, đóng cảng Xihanúcvin. Ngày 13-3-1970, Lonnon phát đi tối hậu thư đòi tất cả các lực lượng “cộng sản” phải rời Campuchia trong vòng hai ngày. Hết thời hạn, theo yêu cầu của Lonnon, không quân và pháo binh quân đội Sài Gòn bắn phá dữ dội vào các vùng dọc biên giới Campuchia - Việt Nam, nơi có các căn cứ kháng chiến của ta.

Ngày 18-3-1970, tại Phnôm Pênh, dưới áp lực của 20 tiểu đoàn quân Lonnon - Xiríchmatắc. Quốc hội Campuchia quyết nghị bãi nhiệm Xihanúc, thành lập Chính phủ cứu nguy dân tộc do Cheng Heng làm Quốc trưởng, Lonnon làm Thủ tướng.

Đứng sau tập đoàn Lonnon - Xiríchmatắc và tạo ra tình hình trên đây ở Campuchia là Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA).

Với việc đảo chính lật đổ Xihanúc, Mỹ đã tạo dựng được một chính phủ thân Mỹ, chống Cộng ở Campuchia. Đây là bước đi rất quan trọng để Mỹ thực hiện ý đồ mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương.

Ngày 22-4-1970, Níchxơn triệu tập Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ để thảo luận về bước đi tiếp theo của Mỹ ở Campuchia. Trong cuộc họp này, giới lãnh đạo Mỹ cho rằng, các vùng “đất thánh” Mỏ Vẹt và Móc Câu, nơi đứng chân của cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam, sau 14 tháng B52 ném bom, gần như vẫn còn nguyên vẹn. Vì vậy, Mỹ quyết định phát động cuộc tiến công trên bộ vào Campuchia để “chộp bắt” các cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam, mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương.

Ngày 28-4-1970, theo lệnh của Níchxơn, một số đơn vị quân đội Sài Gòn vượt biên giới Campuchia tiến công khu vực Mỏ Vẹt. Hai ngày sau, ngày 30-4-1970, Mỹ huy động tới 10 vạn quân bao gồm năm vạn quân Mỹ, năm vạn quân Sài Gòn, mở cuộc tiến công quy mô lớn xâm lược Campuchia. Giờ đây, cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ đã thực sự mở rộng ra toàn cõi Đông Dương.

Cùng lúc với việc đưa quân xâm lược Campuchia, Tổng thống Mỹ Níchxơn xuất hiện trên truyền hình toàn Liên bang công khai tuyên bố việc quân đội Mỹ vào Campuchia. Theo Níchxơn, cuộc tiến công quân sự vào Campuchia không phải vì mục đích mở rộng chiến tranh mà là nhằm để chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam (!).

Trong vòng hai tháng (từ ngày 30-4 đến ngày 30-6-1970), quân Mỹ và quân Sài Gòn đã mở 23 cuộc hành quân, ồ ạt đánh sâu vào đất Campuchia 30 km đến 40 km (có nơi đến 80 km), trên toàn tuyến biên giới tiếp giáp với Việt Nam, tập trung vào các hướng đông và đông nam Svay Riêng, Mimốt - Xnun, Ta Keo - đông Campốt, trọng tâm là căn cứ Ba thu và vùng Lưỡi Câu.

Ngay khi cuộc đảo chính ở Campuchia nổ ra, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã họp và nhận định: đây là nấc thang mới của đế quốc Mỹ nhằm biến Campuchia thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng, xoá bỏ căn cứ và bàn đạp chiến lược của ta, cắt đứt tuyến tiếp tế hậu cần chi viện cho chiến trường miền Nam, thực hiện âm mưu bóp nghẹt cách mạng miền Nam. Phân tích những thuận lợi và khó khăn của ta cũng như của địch khi cuộc đảo chính xảy ra, Bộ Chính trị chỉ rõ: “Cuộc đảo chính ở Campuchia trước mắt có gây cho ta một số khó khăn về mặt hậu cần tiếp tế, ta cần có những biện pháp thiết thực để khắc phục, nhưng Mỹ và tay sai cũng gặp những khó khăn lúng túng về nhiều mặt, thế và lực bọn phản động ở Campuchia nói chung là yếu. Mỹ đang xuống thang ở miền Nam đưa quân vào Campuchia không phải dễ dàng, nhưng chúng tìm mọi cách để phối hợp. Ta vẫn có nhiều thuận lợi lớn”1. Trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn của đôi bên ta và Mỹ trên chiến trường, Bộ Chính trị chủ trương đẩy mạnh tiến công ở miền Nam, đồng thời tích cực giúp đỡ cách mạng Campuchia giương cao ngọn cờ dân tộc chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai cực hữu. Bộ Chính trị chỉ thị cho lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường phải “nghiên cứu tổ chức, bố trí lại lực lượng cho thích hợp với tình hình mới bảo đảm đẩy mạnh tiến công ở miền Nam, giúp cách mạng Campuchia có hiệu lực vừa mạnh vừa vững chắc, chủ động và lâu dài”2.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Trung ương Cục và Quân uỷ miền, các đơn vị bộ đội chủ lực, hậu cần, lực lượng bảo vệ căn cứ, kho tàng phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia tiến công vào một số thị trấn, chi khu quân sự địch, giải phóng nhiều vùng nông thôn thuộc tỉnh Krachiê (ở phía đông Campuchia), sáu huyện thuộc Ta Keo, Cam Pốt (ở nam và tây nam Campuchia), bao vây nhiều vùng khác, đưa phong trào quần chúng vũ trang ở các tỉnh Soài Riêng, Kan Đan, Ta Keo, Cam Pốt, Plây Veng... phát triển mạnh.
_______________________________________
1, 2. Điện số 99 Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục miền Nam ngày 4-4-1970.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #57 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:03:08 am »


Cùng với thắng lợi về quân sự, Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia, Chính phủ đoàn kết dân tộc Campuchia và Quân đội giải phóng dân tộc Campuchia được thành lập. Cương lĩnh của Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia xác định quyết tâm của nhân dân Campuchia đứng lên chiến đấu chống mọi âm mưu và hành động xâm lược của đế quốc Mỹ và lật đổ chế độ độc tài của bọn tay sai do Lonnon, Xirích Matắc cầm đầu để xây dựng một nước Campuchia độc lập, hoà bình, trung lập, dân chủ và phồn vinh.

Ba ngày sau khi Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương kết thúc, trước việc Mỹ chính thức mở cuộc chiến tranh xâm lược Campuchia, Đảng ta nhận định: đây là một trong những sai lầm chiến lược rất nghiêm trọng của Mỹ mà ta phải nắm lấy để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương sang giai đoạn phát triển mới.

Ngày 30-4-1970, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng trong bức điện gửi Trung ương Cục và Quân uỷ miền, đã chỉ rõ, với việc Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, một đặc điểm mới trong cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược là “Đông Dương đã trở nên một chiến trường thống nhất”. Ngày 3-5-1970, trong một bức điện khác gửi Trung ương Cục và Quân uỷ miền, Bộ Chính trị xác định: “Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang ta hiện nay trên chiến trường là đoàn kết chiến đấu với nhân dân Campuchia, cùng nhau chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, phối hợp chặt chẽ với bạn, làm thất bại âm mưu quân sự của địch trên chiến trường Campuchia, giữ vững và mở rộng cho được những địa bàn đứng chân của ta và căn cứ của bạn, bảo vệ tài sản và tính mạng của nhân dân Campuchia và của Việt kiều, bảo đảm các đường giao thông chiến lược và các cơ sở hậu cần của ta, đồng thời tích cực giúp cách mạng Campuchia phát triển và củng cố theo phương hướng đã định, chủ động đánh nhanh, đánh liên tục nhằm tạo nên một chuyển biến có lợi cho ta trong một thời gian ngắn trong khi địch chưa kịp củng cố, đồng thời chuẩn bị đối phó với khả năng khó khăn và kéo dài”1.

Tại các bức điện chỉ đạo trên đây, Bộ Chính trị xác định, trong bối cảnh quân ngụy Sài Gòn đã trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc tiến công xâm lược Campuchia thì “việc đánh bại các chương trình bình định của Mỹ - ngụy ở miền Nam có ý nghĩa (quan trọng tạo nên bước chuyển biến lớn trong cục diện chiến tranh có lợi cho ta”. Vì vậy, Bộ Chính trị chỉ thị: “Đánh cho quân ngụy miền Nam những đòn chí mạng ở Campuchia đồng thời phá kế hoạch bình định ở chiến trường miền Nam”2.

Theo phương hướng mà Bộ Chính trị đã chỉ ra và với quyết tâm cao, chỉ một thời gian ngắn, lực lượng vũ trang ta đã phối hợp chặt chẽ với bạn chuyển nhanh sang tiến công địch trên khắp các hướng.

Ở hướng bắc, Trung đoàn 205 và 207 phối hợp với bạn tiến công Côngpông Thom, Côngpông Chơnăng dọc Biển Hồ từ phía bắc xuống Précđam, từ Xiêm Riệt xuống Côngpông Thom. Hướng đông bắc, hai trung đoàn thuộc Sư đoàn 5 chủ lực miền tiến công giải phóng tỉnh lỵ Krachiê (ngày 5-5), Stungcheng (ngày 18-5) và Mônđukiri. Cuối tháng 5, Trung đoàn 5 Sư đoàn 5 tiến về phía tây, tăng cường cho mặt trận Bình Long - Phước Long. Tại đây, từ tháng 4-1970, Sư đoàn 1 chủ lực miền và các đơn vị bộ binh, đặc công Quân khu IX đã giải phóng các khu vực Tani, Túcmia, Kôngpông Trạch, Kép... cắt đứt đường số 4, đánh chiếm Côngpông Xpây, Kirirôm, Kimini, giải phóng một vùng rộng lớn ở nam - bắc đường 5 với trên 50 vạn dân.

Tại hai tỉnh Soài Riêng và Srây Veng, Sư đoàn 9 chủ lực miền phối hợp với Quân giải phóng Campuchia đánh chiếm nhiều vùng nông thôn từ biên giới đến sông Mê Công, từ nam đường số 1 đến tây đường số 22, đồng thời liên tục tập kích vào các cụm quân địch trên các trục đường 1, 22, 15, bảo vệ vững chắc hệ thống kho tàng, bệnh viện, các cơ quan Trung ương cục.

Trên địa bàn tỉnh Côngpông Chàm, Sư đoàn 7 chủ lực miền cùng các đơn vị thuộc khu vục Căn cứ 20 và lực lượng du kích cơ quan, bệnh viện đã chiến đấu quyết liệt làm thất bại cuộc hành quân lớn mang tên Summecơ của 21 tiểu đoàn quân Mỹ và quân Sài Gòn. Đây là cuộc hành quân nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam và một bộ phận chủ lực ta. Sau khi sử dụng một bộ phận lực lượng tập kích, phục kích ghìm chân và tiêu hao quân địch, tạo điều kiện cho việc di chuyển cơ quan, kho tàng, bệnh viện về phía sau, từ ngày 11-5-1970, ta bắt đầu tập trung lực lượng đánh mạnh vào các cụm hoả lực địch tại Krariêng, Sa Tum, Sóc Chum, bẻ gãy các đợt tiến công của Sư đoàn 25 bộ binh và Trung đoàn 7 thiết giáp của Mỹ.

Tại Thủ đô Phnôm Pênh, đặc công, biệt động ta và bạn đẩy mạnh các hoạt động quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, làm cho Phnômpêng hầu như bị biệt lập với cảng Côngpông Xom từ tháng 5-1970.

Đến tháng 6-1970, sau hai tháng ròng rã, mặc dù phải chiến đấu liên tục trên những khu vực địa hình chưa quen thuộc, thời gian chuẩn bị chiến trường gấp, nhưng lực lượng vũ trang ta đã nêu cao quyết tâm, phối hợp chặt chẽ với bạn, đẩy mạnh tiến công quân sự, giành được thắng lợi to lớn. Theo báo cáo của phía Sài Gòn, đã có 7.450 lính Sài Gòn, và 2.765 lính Mỹ bị diệt.
_______________________________________
1. Điện của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục, quân uỷ miền, ngày 3-5-1970.
2. Điện Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục và Quân uỷ miền, ngày 30-4-1970.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #58 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:03:35 am »


Trước thất bại nặng nề không gì cứu vãn nổi và dưới áp lực phản đối của nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ, ngày 30-6-1970, địch buộc phải rút toàn bộ lực lượng tham gia cuộc tiến công ra khỏi Campuchia. Chúng chỉ để 20 tiểu đoàn quân Sài Gòn ở lại làm nòng cốt cho việc xây dựng và hoạt động của quân Lonnon. Cuộc hành quân mà Mỹ dự định kéo dài đến hết 1970 đã phải bỏ dở giữa chừng mà không một mục tiêu nào của cuộc hành quân được thực hiện: không tiêu diệt được các cơ quan lãnh đạo Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy miền, không triệt phá được hệ thống căn cứ, kho tàng, bệnh viện và các tuyến tiếp tế hậu cần của cách mạng miền Nam. Hơn thế nữa, việc phát động cuộc tiến công sang Campuchia, phía Mỹ đã phạm một sai lầm lớn, có ý nghĩa chiến lược. Cùng với Quân giải phóng Campuchia, lực lượng vũ trang ta đã giải phóng hoàn toàn năm tỉnh Đông Bắc Campuchia với hơn bốn triệu dân. Cách mạng Campuchia có bước phát triển mạnh mẽ. Chính quyền cách mạng hình thành ở nhiều phum, sóc. Lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia từ mười đội du kích buổi đầu, đến giữa năm 1970 lên tới chín tiểu đoàn, 80 đại đội tập trung, hàng trăm trung đội du kích. Việc mở rộng chiến tranh sang Campuchia của chính quyền Mỹ càng khiến phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền dâng lên mạnh mẽ ở khắp nước Mỹ.

Nhân cơ hội quân Mỹ và quân đội Sài Gòn dồn sang và đang bị sa lầy ở Campuchia, tại Nam Việt Nam các lực lượng vũ trang ta kịp thời đẩy mạnh tiến công quân sự, hỗ trợ đắc lực cho phong trào chống phá bình định ở nhiều địa phương miền Nam.

Trên chiến trường Trị - Thiên, trong đợt hoạt động hè từ tháng 4 đến tháng 6-1970, Sư đoàn 324 một mặt duy trì áp lực mạnh trên đường 12, mặt khác cùng một bộ phận chủ lực của quân khu tiến công vào tuyến giữa hệ thống phòng thủ của định ở tây Thừa Thiên (điểm cao 935, 550 - Dốc Mây, Tam Hanh), đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn dù Mỹ, diệt một đại đội bộ binh và một cụm pháo binh, bắn rơi nhiều máy bay trực thăng. Cùng thời gian, Sư đoàn 304 (được bộ tăng cường cho quân khu) tiến công trại biệt kích địch ở Mai Lộc, Cùa, Cô Tiên - Động Ché. Từ cuối tháng 6-1970, khi cuộc tiến công của quân Mỹ và quân Sài Gòn sang Campuchia bị thất bại nặng nề, mặt trận B4 và mặt trận B5 đã tranh thủ thời cơ đẩy mạnh tiến công quân sự. Từ ngày 1-7 đến ngày 23-7-1970, tại khu vực điểm cao 935 ta đánh quỵ Lữ dù 3 Sư đoàn 101 của Mỹ. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Trị - Thiên, một căn cứ của Mỹ bị chủ lực ta tiến công buộc chúng phải bỏ lại toàn bộ trang thiết bị, vũ khí, đạn dược chạy tháo thân.

Phát huy thắng lợi Bộ Tư lệnh quân khu Trị - Thiên chủ trương mở tiếp đợt bao vây, đánh lấn cứ điểm Cốc Bai (điểm cao 565) ở tây Thừa Thiên và Đá Bàn (điểm cao 677) phía tây Quảng Trị.

Cốc Bai là một điểm cao nằm trên tuyến phòng thủ của địch ở vùng rừng núi Thừa Thiên, cách thành phố Huế 42 km về phía tây bắc. Tại đây, địch xây dựng tuyến phòng ngự rất kiên cố với hệ thống hầm ngầm, lô cốt khá dày đặc. Lực lượng địch ở Cốc Bai thường xuyên có một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo 155mm và 175mm bố trí thành chín trận địa nằm rải rác xung quanh điểm cao để yểm trợ.

Ngày 6-8-1970, cuộc tiến công vào Cốc Bai bắt đầu. Sau hai ngày, ta loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên, bắn rơi sáu máy bay. Lo sợ cứ điểm quan trọng này sẽ bị đối phương khống chế, địch tăng quân và cho hàng chục máy bay các loại (kể cả B52) ném bom ác liệt xuống Cốc Bai và các khu vực xung quanh nhằm giải vây. Nhưng mọi nỗ lực của chúng đều không mang lại hiệu quả, không cản nổi sức tiến công của ta. Sau hai tháng bao vây, đánh địch, ta giành thắng lợi hoàn toàn, diệt và làm bị thương 1.800 tên địch, bắn rơi và phá huỷ nhiều máy bay. Ngày 7-10-1970, địch buộc phải rút khỏi Cốc Bai để bảo toàn lực lượng.

Trong lúc chiến sự ở khu vực Cốc Bai đang diễn ra ác liệt, thì ở Quảng Trị, lực lượng vũ trang ta tiến công địch ở căn cứ Đá Bàn (cách thị xã Quảng Trị 22 km về phía tây nam). Cũng như Cốc Bai, ở đây địch xây dựng Đá Bàn thành một cứ điểm kiên cố, thực hiện chiến thuật “đóng chốt trên cao”. Cuộc vây hãm Đá Bàn của lực lượng vũ trang Trị - Thiên, vì vậy, diễn ra ác liệt kéo dài hơn một tháng. Đến ngày 15-9-1970, quân ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm, diệt và làm bị thương 800 tên, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn quân chủ lực Sài Gòn, bắn rơi và phá huỷ 30 máy bay.

Với thắng lợi ở Cốc Bai và Đá Bàn, ta đã làm phá sản chiến thuật “đóng chốt trên cao” của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, đẩy chúng lún sâu vào thế phòng ngự bị động, tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng vũ trang ta tiến sâu xuống đồng bằng, đô thị, hỗ trợ cho phong trào chống phá kế hoạch bình định đặc biệt của quân dân các địa phương Trị - Thiên.

Trên địa bàn Tây Nguyên và Khu V, thực hiện kế hoạch xuân - hè 1970, ngay từ tháng 3-1970, các lực lượng vũ trang và nhân dân trong toàn khu đã đẩy mạnh các hoạt động tiến công và nổi dậy phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ nông thôn mà nổi bật trong đợt hoạt động này là chiến thắng Đắc Siêng (Công Tum). Với vị trí có tầm quan trọng đối với ta và địch, nơi đây đã từng diễn ra những cuộc tranh chấp quyết liệt giữa đôi bên. Lực lượng địch đóng tại đây có khoảng bốn đại đội biệt kích và được một lực lượng pháo binh tương đối mạnh yểm trợ. Ngày 31-3-1970, bộ đội ta bắt đầu tổ chức vây ép căn cứ Đắc Siêng. Chỉ huy Biệt khu 24 lập tức điều hai tiểu đoàn biệt động quân số 22 và 23 cùng Tiểu đoàn biệt kích số 1 xuống khu vực Pôcô hạ nhằm giải vây cho lực lượng tại chỗ. Lực lượng ứng cứu này chẳng những không giải vây được cho đồng bọn, mà còn bị ta đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn (Tiểu đoàn 23 và tiểu đoàn 1). Đánh từ phía nam lên không được, chúng chuyển hướng sang đánh ở phía bắc. Ngày 14-4, chúng đưa Trung đoàn 42 (Sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn) đánh chiếm núi Éc, một điểm cao lợi hại khống chế phía bắc Đắc Siêng. Lực lượng này ngay lập tức bị ta vây hãm. Tiểu đoàn 1 và 3 của địch bị tiêu diệt, số còn lại của Trung đoàn 42 cũng bị tổn thất nặng. Trước tình hình đó, địch phải rút khỏi Đắc Siêng. Với chiến công tiêu biểu này trong nửa đầu năm 1970, quân và dân ta đã bước đầu làm thất bại công thức: bộ binh ngụy + vũ khí và chỉ huy Mỹ của chiến lượt Việt Nam hoá chiến tranh trên chiến trường Tây Nguyên.

Cùng với đòn tiến công vào Đắc Siêng, bộ đội địa phương các tỉnh Tây Nguyên, bộ đội đặc công, Mặt trận Tây Nguyên còn tổ chức đánh vào sân bay Cù Hanh, Arêa, Tân Tạo, khu kho Mai Hắc Đế, cứ điểm Chư Nga, hậu cứ các trung đoàn 45, 47, Liên đoàn 2 biệt động quân...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #59 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:04:24 am »


Ở đồng bằng ven biển Khu 5, cũng vào ngày 31-5-1970 - ngày ta nổ súng tiến công Đắc Siêng, Sư đoàn 3 tiến công tiêu diệt tiểu đoàn ba trung đoàn 41 quân Sài Gòn ở cứ điểm Núi Lá; sau đó phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Bình Định đánh diệt 15 cứ điểm địch ở các huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ.

Tại các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Đà, Quảng Nam, Sư đoàn 2 và chủ lực Mặt trận B4 tiến công vào hệ thống phòng ngự cơ bản của địch ở Nghĩa Hành, Thượng Đức, Hiệp Đức, các căn cứ chỉ huy của Lữ đoàn 198, Lữ đoàn 11 Sư đoàn Amêricơn. Biệt động và tự vệ mật thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh diệt ác ôn, phá các bốt cảnh sát ở ngã tư Thanh Khê, ngã ba Huế, chợ Cồn và bót gác trên cầu Trịnh Minh Thế.

Ở Khu VI, từ đầu năm 1970, Hội nghị Khu uỷ đã xác định nhiệm vụ của Khu trong năm 1970 là: Ra sức đẩy mạnh tiến công và xây dựng lực lượng nhằm làm chuyển biến cho được một bước cục diện chiến trường, đồng thời ráo riết chuẩn bị điều kiện để tiến tới một cao trào tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, dồn dập, quyết liệt tạo một chuyển biến có tính chất nhảy vọt”1.

Phối hợp với toàn miền, từ tháng 3 đến tháng 6-1970, Quân khu VI tổ chức đợt hoạt động xuân - hè, trung điểm là Bình Thuận. Tại đây, đêm 31-3, các Tiểu đoàn 8, 40, 186 và 240 tiến công cứ điểm Sông Mao, một cứ điểm lớn trong tuyến phòng thủ của địch ở phía tây huyện Hoà Đa. Nơi đây chúng đang tập trung một lực lượng lớn quân cơ động thuộc Quân đoàn II để chuẩn bị đánh phá vùng giải phóng của ta. Bấy giờ, ở khu vực phía tây Hoà Đa có Sở Chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23, Sở Chỉ huy Trung đoàn 44, Sở Chỉ huy Liên đoàn 21 biệt động quân. Quân địch đông nên chúng phải đóng dã chiến cả ở các bãi trống ngoài cứ điểm Sông Mao.

Sông Mao là một cứ điểm từng bị ta tiến công nhiều lần nên bộ đội ta rất thông thạo địa hình và có khả năng tận dụng những điểm yếu trong hệ thống phòng thủ của địch tại đây. Do vậy, chỉ sau 55 phút tiến công, ta đã đánh thiệt hại nặng Sở Chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23 và Sở Chỉ huy Trung đoàn 44, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên. Địch vội điều Chiến đoàn 1/50 quân Mỹ từ Tà Dôn lên cứu nguy. Song Chiến đoàn này cũng bị ta đánh thiệt hại nặng. Cuối tháng 3-1970, ta tiến công vào tận căn cứ của Chiến đoàn 1/50 ở Tà Dôn và trại Camp Êsêpíc - căn cứ của Chiến đoàn 506 Mỹ, diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, phá huỷ 13 máy bay.

Sau Bình Thuận, Tuyên Đức được xác định là trọng điểm hai của đợt hoạt động xuân - hè 1970. Tại đây, đêm 28-5, các tiểu đoàn 145, 200C, 810 phối hợp với các đội biệt động và cơ sở mật trong nội đô thành phố Đà Lạt đồng loạt tiến công vào các mục tiêu quan trọng như: Toà Thị chính, Dinh Thị trưởng, Trường Võ bị quốc gia, Trụ sở vô tuyến viễn thông, trận địa pháo Tân Lạc... Bị tiến công bất ngờ, địch lúng túng đối phó. Ngay sau đó, chúng phải điều lực lượng nơi khác đến ứng cứu giải toả. Báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ bình luận: “Đây là cuộc tiến công lớn nhất vào một thành phố ở miền Nam Việt Nam kể từ sau Tết Mậu Thân”2.

Tại miền đông Nam Bộ, thực hiện chủ trương chung của Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Chỉ huy miền, từ 26-3-1970, các lực lượng vũ trang miền đông đã bước vào đợt hoạt động xuân - hè. Trên hướng bắc Tây Ninh, Sư đoàn 9 mở cuộc tiến công nhằm phá việc chuẩn bị của địch đánh vào tuyến biên giới và tạo điều kiện cho các địa phương nơi đây đẩy mạnh phong trào chống phá bình định. Trong vòng chưa đầy một tháng (từ 26-3 - 28-4-1970), sư đoàn đã tổ chức nhiều trận đánh lớn, gây thiệt hại nặng cho Lữ đoàn 1 Sư đoàn kỵ binh không vận Mỹ, trong đó có những trận đạt hiệu suất chiến đấu cao như trận Cẩm Tre (29-3), ta loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm quân Mỹ, phá huỷ, phá hỏng nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng như xe thiết giáp, pháo, máy bay... Trận Tà Xúa (1-4), ta loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên Mỹ, thu và phá huỷ một số lượng quan trọng vũ khí, phương tiện chiến tranh.
_______________________________________
1. Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Khu VI kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Khu VI kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, tr.301-302.
2. Sđd, tr.306.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM