Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 03:00:11 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gia đình biệt động  (Đọc 47472 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
VoMinhGiang
Thành viên
*
Bài viết: 91


Sống trên đời sống cần có một tấm lòng.


« Trả lời #20 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2010, 12:08:50 pm »

8

     Giám đốc Dương Văn Đấu đã có bằng đại học. Những kiến thức khi học trường Bách nghệ đã giúp anh làm quen với lĩnh vực mới khá dễ dàng, tuy nhiên đôi lúc anh vẫn phải "bơi" trong công tác vì có những lỗ hổng hiểu biết vế mỏ không thể bù đắp được. Anh mượn nhiều sách dạy vế mỏ để tự học, anh nhờ các bác thợ già truyền đạt những kỉnh nghiệm thực tế. Anh yêu cầu các kỹ sư lưu dung phụ đạo cho mình, nhưng dù sao, anh vẫn rất cần có văn bằng. Chả lẽ giám đốc một mỏ lớn như Cẩm Phả chỉ là cán bộ trung cấp kỹ thuật. Dưới quyền anh có nhà máy sửa chữa ôtô sửa được 600 chiếc mỗi năm và nhà máy cơ khí có thể sản xuất 33.000 tấn sản phẩm một năm nhưng điều quan trọng nhất là các mỏ than lộ thiên hoặc nằm sâu trong lòng đất. Cẩm Phả còn có các nhà sàng ở Cửa ông cùng nhiều thiết bị đủ sức rót than tới 800 tấn một giờ cho những tàu thủy có sức chở 9.000 tấn cập bến. Điều mà giám đốc Dương Văn Đấu lo lắng và quan tâm nhất là sề phận của hàng vạn công nhân dưới quyền anh. Anh làm sao đủ trí tuệ đề chỉ đạo những con người đó, để guồng máy sản xuất của mỏ luôn tăng tiến? Anh chợt nhớ đến câu phương ngôn: "ở xứ mù thằng chột làm vua". Không, mấy vạn công nhân của mỏ Cẩm Phả không phải những người mù và anh không thể hài lòng làm thân phận "thằng chột". Anh phải có bộ óc minh mẫn, cặp mắt sáng suất hơn mọi người. Anh nộp đơn xin theo học hàm thụ trường đại học Mỏ. Anh đã bảo vệ luận án một cách xuất sắc. Văn bằng "kỹ sư Mỏ" đã tạo thêm thế đứng cho anh. Song điếu quan trọng là anh không được "dậm chân tại chỗ" mà phải làm theo lời dạy của Lênin: "Học, học nữa, học mãi".
     Nhân dịp giám đốc Dương Văn Đấu tốt nghiệp đại học, lãnh đạo mỏ than Cẩm Phả quyết định buộc anh đi nghỉ an dưỡng ở Đồ Sơn một tháng. Anh từ chối, vì lý do: "Tôi rất khỏe, tôi không nỡ bỏ bê trễ công việc của mỏ". Đúng là từ ngày tập kết ra Bắc, anh chưa nghỉ phép ngày nào và chả bao giờ anh để ý đến chủ nhật hoặc ngày lễ để nghỉ ngơi. Anh luôn cảm thấy việc quá nhiều, thời gian lại rất có hẹp. Từ ngày được bầu giữ chức bí thư đảng ủy mỏ, nhất là sau khi trúng cử là ủy viên khu Quảng Ninh, anh càng thêm bận rộn đề làm tròn việc Đảng, việc chuyên môn. Anh cố lo cho công nhân lao động có hiệu quả trong từng ca làm việc của mình, còn anh luôn bám sát cơ sở cả ba ca trong ngày. Anh làm việc 12, 14 thậm chí 16 giờ trong ngày mà không hề biết mệt. Cứ mỗi lần nhìn vào ảnh vợ và năm đứa con trên bàn (lúc anh đi tập kết chị chưa sinh đứa út) là anh lại thấy như được tiếp thêm sức mạnh. Anh phải làm sao để không hổ thẹn với vợ con và các đồng chí, đồng đội của anh đang sống dưới nanh vuốt Mỹ ngụy, đang chiến đấu ở trong Nam. Các đồng chí đảng ủy viên của mỏ thông cảm với tâm tư của anh nhưng cũng quan tâm đến sức khỏe và nghỉ ngơi của anh nên đã giơ tay biểu quyết quyết nghị anh phải đi an dưỡng ở địa điểm nào đó do anh tự chọn. Không thể chống lại nghị quyết, anh đã đễ đạt nguyện vọng: "Quảng Ninh là quê hương thứ hai của tôi. Tôi xin được đi tham quan danh lam, thắng cảnh tỉnh ta trong vòng một tuần lễ".
    - Đồng ý.
    Giám đốc Dương Văn Đấu vạch chương trình cho chuyến du ngoạn. Anh phải làm sao tận dụng thời gian "đi chơi" của mình để có "vốn liếng" kể lại cho vợ, con anh và những người thân nghe. Ngày đầu, anh đến ấp Yên Sinh (An Sinh) nơi phát tích của nhà Trần, quê gốc của các vua Trần. Anh say sưa chiêm ngưỡng lăng các vị vua: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Giản Định Đế, Trần Nghệ Tông và Trần Thuận Tông. Anh nhớ đến truyền thuyết về những cô gái đẹp Cửa ông. Ngày xửa, ngày xưa nơi đây gọi là Cửa Suất. Từ ngày Hưng Đạo đại vương đầy người con thứ ba là Trần Quốc Tảng ra đây, mọi việc đã thay đổi khác hẳn. Người dân ở địa phương này vô cùng cảm kích vị vương hầu đã tân tâm lo đến an ninh của đất nước, no ấm của nhân dân nên khi Ngài tịch (chết) đã lấp đến thờ Ngài và đồng tình đổi tên Cửa Suất thành Cửa ống. Rất ít người lên án tội bất trung của Ngài mặc dù từ cháu bé lớp một đến cụ già cặp kề miệng lỗ đều có thể kể tường tận lý do vì sao Ngài bị lưu đầy.
    Ông nội Ngài là Trần Liễu đã trăng trối lại cho con là Trần Hưng Đạo: phải trả thù và cướp ngôi vua cho ngành trưởng. Thuở thiếu thời Trần Liễu và Trần Cảnh sống ở kinh đô nhà Lý dưới thời của Lý Chiêu Hoàng. Cô gái họ Lý mới 8 tuổi, chơi rất thân với Trần Cảnh. Thái sư Trần Thủ Độ gán ghép hai đứa trẻ với nhau nên vợ nên chồng và ép Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho Trần Cảnh. Hơn chục năm sau, vì Lý Chiêu Hoàng không có con nên Trần Thủ Độ buộc Trần Liễu nhường vợ mình đang có mang cho em ruột. Uất ức vì bị cướp mất vợ và không được ở ngôi vua, Trần Liễu bày tỏ nguyện vọng cuối đời của mình cho con. Khi Trần Hưng Đạo đã thâu tóm toàn bộ binh quyền trong tay, Trần Quốc Tảng đã nhắc cha nhớ đến lời di chúc của ông nội. Hưng Đạo đại vương không đồng tình, đã rút gươm ra định giết chết đứa con phản tặc. Nhờ các quan cận thần can gián, Trần Hưng Đạo đã tha tội chết cho con và buộc Trần Quốc Tảng ra trấn thủ biên giới không được vế kinh đô nếu không có lệnh đòi.
    Ngày tiếp theo, anh Đấu hướng về núi. Thuở nhỏ, anh không biết núi là gì. Quê hương Gò Công của anh là vùng đồng bằng rộng bát ngát. Những năm tháng làm việc ở đồn điền cao su tại Tây Nguyên, anh đã làm quen với núi, thích trèo núi, thích đủ loại lá, hoa, cây, quả từ núi ban phát cho. Đến Quảng Ninh, anh đã nhiều lần nghe giới thiệu về núi.
    Quảng Ninh là tỉnh ở cực đông miền Bắc nước ta, vừa là tỉnh miền biển (suốt phía Nam là bờ) vừa là tỉnh miền núi. Các dải núi vươn ra biển, tạo thành núi cao. ở mỏ Cẩm Phả của anh có núi An Váp cao 1.045 mét nhưng anh chọn núi Yên Tử, ngọn núi nối tiếng đẹp nhất Quảng Ninh. Nơi đây có nhiều cây thuốc quý, đủ loài thông, trúc hoa, mai, xích tùng, thanh tùng, thủy tùng cùng các cây cổ thụ sống lâu trên 700 tuổi. Đặc biệt trên núi Yên Tử có hàng chục chùa khác nhau, chùa Hoa Yên to và cổ nhất, chùa Vân Tiên nơi suốt ngày đầy mây phủ. Tại đáy ở tháp đá Huệ Quang có tượng vua Trần Nhân Tông. Tương truyền sau khi biết tin Trần Nhân Tông rời bỏ ngai vàng để đi tu, các cung nữ đã gicó mình xuống suối tự tử. Từ ngày đó , con suối vô danh được mang tên suối Giải Oan.
    Dương Văn Đấu không phải nhà sừ học. Từ nhỏ, anh ham mê kỹ thuật, tự nguyện hiến đời mình cho khoa học nên anh đã ngỡ ngàng trước những truyền thuyết đẹp của địa phương. Không biết đến ngày nào vợ anh, các con anh mới cùng anh đi tham quan Quảng Ninh. Lúc đó, anh sẽ là hướng dẫn viên đưa người thân thăm kỳ quan vịnh Hạ Long. Sao lại có nơi đẹp tuyệt diệu như vậy? Khí hậu mát mẻ, nước lăn tăn, thăm thẳm, trời xanh, biển biếc. Từ thuyền lên, anh trèo đúng 90 bậc mới lọt vào nhà hát rộng bát ngát. Khách ngồi vào "ghế" say sưa ngắm các diễn viên từ nhũ thạch kết thành vô cùng sinh động. Chả ai dám khẳng định là mình đang xem tuồng cổ hay kim.
Anh đưa thuyền, xuyên qua nhiều ngóc ngách bỗng thấy trời nước mênh mông và núi hiện ra trước mặt cùng một lều xiếc tròn. Đây đúng là hang Lũng Xiếc. Hang Sửng Sốt thật vô cùng kỳ lạ. Bất cứ ai, sau khi trèo đúng 100 bậc, chui vào hang trong đều sửng sốt trước vẻ đẹp thiên nhiên không bút nào tả nổi...
    Giám đốc Dương Văn Đấu đã qua một tuần nghỉ ngơi lý thú và rất bổ ích. anh trở về với mỏ. Cả vùng Hòn Gai rộng bao la, bát ngát thế này mà triều đình nhà Nguyễn đã nhượng bán cho thực dân Pháp từ năm 1885 chỉ với giá một trăm quan tiền. Tất cả đất, núi, rừng, cu ly... đều do bọn chủ mỏ định đoạt. Chủ tư bản Pháp đã khai thác than từ 1888, đưa 34 triệu tấn than gầy, nháy chậm có nhiệt lượng cao thuộc loại ăng-ơ-ra-xít tốt nhất về Pháp hoặc xuất cảnh để kiếm lợi nhuận tối đa. Suốt bao năm thuộc Pháp, các ông vua nối tiếp nhau của triều Nguyễn, rồi các loại chính phủ bảo hộ mọc lên song cái khoản một trăm quan tiền bán Hòn Gai vẫn chưa hết giá trị. Bây giờ mỏ than dã về tay nhân dân, Nhà nước giao cho anh làm giám đốc anh phải làm sao xứng đáng với cương vị mới? Kỹ sư mỏ Dương Văn Đấu lao vào việc với một quyết tâm mới vì vợ vì con, vì cả miến Nam ruột thịt của anh.
Logged

Nếu có 1 ước muốn trở thành sự thật
Tôi chỉ muốn trở thành 1 người lính đảo
VoMinhGiang
Thành viên
*
Bài viết: 91


Sống trên đời sống cần có một tấm lòng.


« Trả lời #21 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 07:52:50 am »

9

    Tư Liên, Xuân Hống, Năm Trăng thuê tháng một căn 1 gác, có tiền tiêu chung, quần áo mặc chung. Chị Năm Trăng dứt khoát từ bỏ gia đình giàu có . Ba chị là Trưởng ty thú y cùng với má là chủ tiệm may lớn tìm mọi cách thuyết phục con gái nhưng chị Năm Trăng luôn cự tuyệt. Cấp trên rất chú ý tới chị. Ngày Mặt trận Dân tộc giải phóng ra công khai, chị Năm Trăng được chỉ định là Chủ tịch hội thanh niên giải phóng Sài Gòn - Gia Định với tên cúng cơm được công khai loan báo trên các báo, qua các làn sóng phát thanh: Lê Mỹ Lê. Ba má chị nhận ngay ra con gái mình đã là tên Việt cộng cỡ bự nhưng đành giữ im lặng. Vài tháng sau, ông bà đột nhiên thấy chị xuất hiện ở thành phố nhưng không biết con gái mình ở đâu, làm gì? Chị Năm Trăng kể với Tư Liên, Xuân Hồng:
    - Tao ở trong rừng chả có việc gì để làm. Mấy anh, mấy chú định tung tao trở vào thành nhưng e ngại tao công khai quá, ảnh tao được đăng báo tùm lum rồi.
    Tư Liên nhanh nhảu:
    - Đúng vậy chị Năm. Em đã nhìn thấy hình chị. Chị thuyết phục mấy chú thế nào?
    Năm Trăng nói:
    - Ở Sài Gòn có cả trăm trường tư thục. Tao cải trang, lấy lại bí danh cũ là Năm Trăng.
    Tư Liên rất rõ nguồn gốc cái tên này. Thực hiện nghị quyết 15 của Bộ Chính trị, thành đoàn biểu lộ quyết tâm của mình bằng cách dùng khẩu hiệu: "Lực lượng võ trang tổng khởi nghĩa ướp chánh quyền" đặt bí danh cho từng người là ủy viên ban chấp hành. Từ đó, anh Hồ Hảo Hớn được mang bí danh Ba Lực, đồng chí Trần Quang Cơ bí thư khu đoàn lấy tên Tám Lượng. . . Mỹ Lê ngồi ở vị trí thứ tư nên được bí danh là Trang. Do mặt chị tròn như mặt trăng và do từ chiến khu trở lại nội thành nên bạn bè gọi chị là Trăng. Có lần, chị Năm Trăng rĩ tai Tư Liên:
    - Chính trị viên ban quân sự thành đoàn Lê Chân, bí danh là Tư Tổng để ý tới mày đó .
    - Kỳ quá hè . Em đã biết mặt và có hiểu gì về quá khứ của anh ấy đâu.
    - Thiệt mày chưa tiếp xúc với Ba Cánh lần nào sao ?
    - Ủa, Ba Cánh là Tư Tổng a, chị?
Ở Sài Gòn, do hoạt động bí mật nên nhiều cán bộ luôn thay bí danh. Tư Liên quen Ba Cánh. Anh là cấp chỉ huy trực tiếp của cô, của cả má cô và Mỹ Hòa. Anh không có tướng quân sự nhưng tất cả những ai tham gia lực lượng vũ trang thành đoàn đều rất tin tài chỉ huy chiến đấu của anh. Anh không đẹp trai. Với nước da ngăm đen, anh có dáng dấp một nông dân chân lấm, tay bùn hơn người thành phố. Anh quê ở Cần Thơ, mồ côi từ nhỏ nên phải đi ở đợ nhiều năm. Lên thành phố, anh học đủ mọi nghề để lo kiếm tiến nuôi thân, trả tiền học văn hóa và tham gia công tác cách mạng. Tư Liên, Mỹ Hòa đã gặp anh và chị sáu Hoàn đã nhiều lần trò chuyện, bàn bạc công việc với anh. Cảm giác chung của ba má con là anh hiền lành, thông minh, thẳng thắn, dám quyết đoán. Tư Liên chưa hề để ý đến anh và chị Sáu Hoàn cũng chưa ghi tên anh trong bộ nhớ về những chàng trai mà chị định chọn làm chàng rể. Tư Liến bần thần "không hiểu anh để ý tới mình từ hồi nào vậy?". Chả lẽ cô hỏi chị Năm Trăng. À mà tại sao anh không chấm chị Năm Trăng hay Xuân Hồng? Hai người này đều là sinh viên. Tuy nhan sắc của họ chưa thuộc diện "chim sa cá lặn" nhưng cũng ưa nhìn. Hơn nữa, vì Trăng, Hồng tham gia hoạt động cách mạng trước cô nên có nhiều ưu thế vượt trội hơn cô. Thôi, điều đó hạ hồi phân giải, chờ bao giờ anh ngỏ lời hẵng hay. Dù Tư Liên cố gạt sang bên "vấn đế Ba Cánh" song không hiểu sao ấn tượng về anh cứ in đậm trong óc cô. Tại sao nhỉ? Có lẽ do chị Năm Trăng và Xuân Hồng thường xuyên nhắc đến chủ đề này vì thích trêu chọc bạn, do thiện ý và không loại trừ khả năng được anh giao làm nội ứng. Ngoài ra, phải kể đến ý kiến của má. Nghe con gái thông báo, má bỏ phiếu thuận ngay.
    - Thằng đó rất có triển vọng. Nếu con ưng ý, má cũng thuận tình.
    Tư Liên hiểu thấu nỗi lòng của má. Từ mấy năm qua có dăm đám đã tìm tới cô hoặc nhờ người mối lái đến thưa chuyện với má song má đều từ chối. Các bà mối trổ hết tài khua môi múa mép ca ngợi gia thế của chàng rể tương lai, đưa ra bản thống kê dài về khoản tài sản lớn cùng xe hơi, nhà lầu mà đôi vợ chồng mới sẽ được nhận sau khi hưởng tuần trăng mật ở Pháp hoặc ở Mỹ nhưng má luôn khăng khăng: "Mỹ Lê còn nhỏ. Xin để thư thả cho vài ba năm". Mỹ Lê đâu lạ gì kế hoãn binh của má. Má đâu ham giàu, ham sui gia với những gia đình có địa vị cao trong chính quyền ngụy. Má hướng sự lựa chọn của má vào chững chàng trai cùng một lý tưởng với ba vì thế má đã nhanh chóng chấp nhận người chỉ huy của má cho con gái. Mỹ Hòa đã vào trung học. Cô tán thành sự lựa chọn của má và chị Hai nhưng cô không bận tâm lắm. Với cô, ngoài giờ học, cô lo dạy học thêm để kiếm tiền nuôi thân, phụ giúp má nuôi em, và dồn hết tâm tư vào rải truyền đơn. Chị Năm Trăng, Xuân Hồng, Tư Liên lo in truyền đơn, may cờ. Mỹ Hòa được mấy chị cưng chiều nên được lọt vào nơi in truyền đơn. Chà chà, chị Mỹ Lê của cô cùng anh Ba Cánh và nhiều anh, nhiều chị khác đã thảo nên nội dung truyền đơn ngắn gọn, súc tích để tuyên truyền trong dân chúng chủ trương của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Thấy truyền đơn xuất hiện nhiều, kẻ địch tổ chức lùng sục. Bọn công an chìm, mật vụ để ý đến ba cô nữ sinh ở cùng nhà: Trăng, Hồng, Lê. Tại sao cả ba đứa đều đẹp, xinh, duyên dáng lại không bồ bịch với bạn trai con nhà giàu? Chúng nó ăn uống và đi lại thất thường quá. Xuân Hồng lại là nữ sỉnh giỏi văn. Con gái thời nay vừa đẹp, nết na, vừa có học thức nên chỉ cần bước lên xe hoa là họ thành bà quan, giàu nứt đố đổ vách. Mặt khác, con gái thời nay cũng dám quên hết mọi lợi ích riêng tư để tham gia cách mạng. Không rõ ba cô nữ sinh này thuộc loại nào? Cần phải kiểm tra họ. Ban giám hiệu nhà trường tổ chức cho các nữ sinh giỏi văn nhất trường cùng sát hạch để chọn thủ khoa. Xuân Hồng vào phòng tlú. Cô đọc đề bài: "Bạn đánh giá như thế nào về phong trào "Thanh nữ cộng hòa" do bà Trần Lệ Xuân chủ trương?” Xuân Hồng phân vân lắm. Có nên nhắm mắt ca ngợi bừa "đệ nhất phu nhân" hay là bày tỏ lập trường, lên án mụ ta? Không rõ chị Năm Trăng và Mỹ Lê sẽ giải quyết ra sao? Cô có nên viết vài câu trả lời chung chung vô thưởng, vô phạt không? Cô sẽ không làm như thế vì cô là nữ sinh giỏi văn nhất, nhì của trường. Cách tốt nhất là cô không viết chữ nào, nộp nguyên giấy trắng. Kẻ địch muốn qua khẩu khí của bài văn để truy tìm ra người thảo truyền đơn nhưng cô không cung cấp bằng chứng cho chúng. Mỹ Lê tán thành cách xử lý của bạn song chị Năm Trăng chưa thật hài lòng. Chị phân tích:
    - Mình giữ vững lập trường nhưng không làm găng, không khiêu khích kẻ thù trong trường hợp không cần thiết.
    - Chị bảo em nên như thế nào?
    - Chúng ta đi học để làm gì? Để trở thành luật sư bác sĩ, kỹ sư hay để nắm lực lượng sinh viên? Nếu tổ chức yêu cầu cô Mỹ Lê lưu ban hoặc học xuống một lớp, cô có chấp hành không?
    - Em xin phục tùng ngay.
    Mỹ Lê nhớ đến các bạn cô và chính bản thân cô . Cô đến trường học đâu phải vì mảnh bằng, vì chiếm được địa vị nào đó trong xã hội sau khi tốt nghiệp. Lý tưởng thiêng liêng vì Độc lập - Tự do của Tổ quốc đã thôi thúc cô. Cô có lẽ sống của mình. Đang học ở trường này quen thầy, quen bạn, tiện đường đi lại, bỗng nhận lệnh chuyển trường là mọi người răm rắp tuân theo. ở trên thế giới này, chưa có thí sinh giỏi nào nhận nghiêm lệnh: "Phải thi hỏng". Trong cuộc đua tài, có ông bố, bà mẹ nào mong con không đậu? Thi trượt người sinh viên sẽ khó giải thích trước bè bạn, họ hàng cùng những người thân ruột thịt. Thi trượt, đúng là điều sỉ nhục với các thí sinh cắp sách đến trường thi nhưng với những ai ở trong lực lượng thành đoàn lại khác hẳn.
Logged

Nếu có 1 ước muốn trở thành sự thật
Tôi chỉ muốn trở thành 1 người lính đảo
VoMinhGiang
Thành viên
*
Bài viết: 91


Sống trên đời sống cần có một tấm lòng.


« Trả lời #22 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:00:55 am »

    Dương Mỹ Hòa thường đến với ba chị em Năm Trăng, Xuân Hồng, Mỹ Lê. Các chị rất quý đứa em gái ham học, chăm làm, mê hoạt động. Mỹ Lê thường giao việc rải truyền đơn cho em gái để kèm cặp em. Chị luôn đi cách xa Mỹ Hòa để tập dượt cho em, canh gác, bảo vệ an toàn cho em. Mỹ Hòa đang là nữ sinh song cô chưa ra dáng thanh nữ. Cô mơn mởn, ngây thơ, ít chú ý tới ăn diện. Mỗi lần đi rái truyền đơn, Mỹ Lê mặc quần trắng, áo dài trắng, đạp xe phía trước, thong thả, nhàn nhã như cô giáo sau giờ làm việc Mỹ Hòa đạp xe sau chị khoảng 20 mét. Cô mặc quần đen, áo cánh trăng. Cô giắt truyền đơn trong người. Theo ám hiệu quy định trước của chị, cô thả từng tờ truyền đơn xuống đường hoặc ném qua cổng từng nhà. Sau một thời gian dài, cô bàn với các chị:
    - Ta không nên dùng xe đạp nữa vì không bảo đảm truyền đơn đến tay người nhận. Em sẽ bỏ truyền đơn vào thùng gánh nước, qua nhà nào em gài vào cổng nhà đó là chắc ăn nhất.
    Mỹ Hòa xin làm thí nghiệm. Mỹ Lê đi sau canh chừng cho em. Mỹ Hòa quen gánh nước giúp má nên cô quẩy đôi thùng rất tự nhiên, cô thả từng tờ rơi vào mỗi nhà khá thuận lợi. Chị Năm Trăng hoan nghênh sáng kiến của cô em gái, tuy nhiên vẫn cảnh cáo:
    - Mỹ Hòa không được quay lại địa bàn lần thứ hai. Em chớ chủ quan. Em còn non lắm, chưa đủ kinh nghiệm chống lại bọn an ninh, mật vụ đâu.
    - Dạ , em nhớ !
    - Chỉ cần một người dân nhận được truyền đơn nhân danh Chính phủ Cách mạng lâm thời là sẽ có hàng trăm, hàng nghìn người biết rõ nội dung trong một, hai ngày.
    - Dạ!
    Mỹ Hòa nhớ lời dặn của chị Năm Trăng. Chị là chỉ huy của chị Mỹ Lê và của cô nhưng cô không sợ mà rất yêu chị. Chị hiền dịu hay cười, nói chuyện tiếu lâm rất có duyên. Nếu không được chị Mỹ Lê rĩ tai, cô không sao biết được là nhà chị Năm Trăng rất giàu, chị biết lái cả ô tô. Chị Năm không khảnh ăn, mặc lại xuềnh xoàng và cũng phải đi dạy thêm để có tiền chi tiêu. Ba chị ở chung nhà song rất ít khi đỏ lửa. Các chị có ít thời gian quá nên không ai nghĩ đến đi chợ, nhóm bếp, xào, nấu. Mỹ Hòa rất thương các chị. Thi thoảng, vào chiếu chủ nhật, cô thường lo bữa ăn tươi để bồi dưỡng sức khỏe cho các chị, để trong bữa cơm thân mật cô được nghe nhiều chuyện lý thú qua các chị. Cô ở cạnh má lâu hơn chị Mỹ Lê nên cô được má truyền đạt nghệ thuật nấu nhiều món ăn, làm đủ loại bánh mứt kẹo, do đó cô tưởng mình khéo tay hơn mấy chị nhưng cô đã nhầm. Chị Năm Trăng, Xuân Hồng, Mỹ Lê đều giỏi nội trợ. Chị Hai của cô thái thịt dẻo quẹo, rất nhanh. Kỹ thuật rán cá của chị Năm không ai chê nổi. Thì ra, bữa ăn của các chị: sáng qua quít nấm xôi, trưa gặm cái bánh mỹ ba tê, tối ra đầu phố ăn cơm ở quán bà Béo là do các chị của cô phải dành mọi giờ rảnh rỗi để hoạt động cách mạng. Cô thương mấy chị quá. Tuần trước, cô mua con gà mái về khao mấy chị. Trước khi giết thịt, cô chợt nảy ra sáng kiến: Em tính ta buộc truyền đơn vào chân gà, đến sẩm tối ta thả gà ra. Ai bắt được gà sẽ có truyền đơn. Mấy chị chấp thuận ngay đề nghị ngộ nghĩnh của cô em gái. Chị Xuân Hồng chọn điểm thả gà. Chị đưa Mỹ Hòa đi. Gần một giờ sau, hai chị em ôm gà về. Xuân Hồng vừa cười vừa thuyết trình:
    - Mấy bà coi nè, con nhỏ trói chân gà từ sáng đến giờ nên gà bị tê chân, quáng gà. Tôi đuổi mãi nó cũng không đi.
    - Con nhỏ giấu truyền đơn ở đâu?
    - Đây nè. Con nhỏ buộc dưới cánh gà sáu loại truyền đơn khác nhau. Nhỡ người ta nhúng gà vào nước sôi thì sao?
    Mỹ Hòa cãi :
    - Ai muốn làm thịt gà đều phai cắt tiết. Người ta sẽ cầm chân, giữ cánh gà. Chỉ tức là con gà này không chịu chạy.
    Chị Năm Trăng trêu Mỹ Hòa:
    - Con Ba nó mua phải gà rù rồi. Gà đang ngủ gục nè.
    Mỹ Lê gỡ thế kẹt cho em gái:
    - Em Ba tính khao tụi mình. Chị Năm lo gia vị. Em và Mỹ Hòa làm thịt gà.
    - Còn tôi? - Xuân Hồng hỏi
    Mỹ Lê phân công luôn:
    - Bà lo gạo nếp cho nồi cháo.
    Vì các chị chuyên lo thảo truyền đơn, bận nhiều việc khác nên Mỹ Hòa gánh vác phần rải truyền đơn. Cô bàn riêng với chị ruột:
    - Tại sao ta không viết khẩu hiệu?
    - Mày tính làm việc đó ngon lắm sao?
    - Ta chọn gạch non hay phấn màu. Chị canh chừng đề em viết.
    - Cô tính viết trong bao lâu? Cô không thể chiếng mặt ra chỗ có ánh sáng diện vì mỗi nét chữ đều có dấu vết để lại.
    - Ta cắt khẩu hiệu, dán lên vải, căng ở chỗ đông người.
    - Tôi cho cô tiền, cô mua vải về làm thử coi.
    - …
    - Ba! Em và mấy chị đểu không rành kẻ chữ, cắt chữ. Cho dù có khẩu hiệu, chị em ta đâu thể căng nổi ngang đường vì ta không biết trèo, không có người bảo vệ.
    Mỹ Hòa chịu thua lý lẽ chị Hai đưa ra nhưng cô không bỏ cuộc. Một hôm, cô mua về mười quả bóng bay cờ lớn nhất Cô bàn:
    - Tối nay em buộc truyền đơn vào từng quả bóng, em thả.
    Chị Xuân Hống hường ứng ngay:
    - Hay đó ! Coi chừng kẻo tụi nó trông thấy điểm em thả bóng.
    - Em thả vào tám, chín giờ tối sẽ ít bị chú ý.
    Hai chị Mỹ Lê, Năm Trăng không tiện ngăn em. Mỹ Hòa còn ít tuổi, hiếu động, luôn nghĩ cách làm cho công việc đạt hiệu quả cao nhất. Mỹ Lê hỏi em:
    - Lúc cô mua bóng về có ai trông thấy không?
    - Những người quanh đây thấy cả mà, chị Hai.
    - Nếu người ta tố cáo em thả bóng, em cãi sao nổi?
    - Em lcó lên gác thượng em thả nên không ai biết.
    - Mỹ Hòa! Chị tính là bữa nay ta thí nghiệm thả bóng chơi không gài theo truyền đơn.
    - Dạ .
    Đúng giờ hẹn, mấy chị em mang bóng lên sân thượng. Bóng đã xẹp hơi không bay lên nổi. Làm cách nào đây Chị Năm Trăng tháo dây thun ra sức thổi. Xuân Hồng, Mỹ Lê, Mỹ Hòa làm theo chị Năm. Vì hơi thổi ngắn lại không có kỹ thuật thối nên bóng cứ xẹp dằn. Giống như những lần trước, chị Xuân Hồng lại trêu Mỹ Hòa:
    - Nè , trông mấy quả bóng xẹp thả khác gì bánh đa nhúng nước. Mấy làm gì với mấy thứ này, Mỹ Hòa?
    - Chị liệng đi.
    Mỹ Lê đưa ra nhận xét với bạn nhưng với mục đích biểu dương, an ủi em ruột:
    - Bồ tính coi. Chị em ta đểu thua sáng kiến nhỏ Ba. Em Ba ưa tìm tòi, chịu suy nghĩ, chắt sẽ thành công.
    Xuân Hồng gật gù , tán thưởng:
    - Mấy chị thua nhỏ Ba rồi. Chị cho em tiền, em mua mười quả bóng khác thế vào. Ta mua hàng vào lúc 5 giờ chiều, bóng sẽ không bị xẹp.
    Mỹ Lê nhớ đến ý kiến trao đổi riêng với chị Năm Trăng. Chị Năm không thật đồng tình với kế hoạch Mỹ Hòa vì chưa bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người thả bóng nên tìm cách gạt đi:
    - Mình thả bóng nhưng mình không theo dõi được kết quả, không biết bóng rơi xuống địa bàn nào, ai nhặt được truyền đơn?
    Mỹ Hòa thừa nhận:
    - Ta hủy kế hoạch này đi mấy chị. Chị Năm nói đúng. Nếu tụi chúng mò ra nơi thả bóng sẽ tìm ra người làm việc này dễ dàng. Tốt nhất là em lại "đi gánh nước".
    Mỹ Hòa lo chuẩn bị "trận địa". Buổi chiều, sau giờ học, cô nữ sinh Dương Mỹ Hòa mặc đồng phục quần trắng, áo dài trắng, đạp xe qua nhiều ngõ hẻm để nghiên cứu địa bàn. Cô không thể sắm vai người gánh nước thuê ở khu phố thừa thãi nước máy. Cô chọn những gia đình gần đường, dễ gài truyền đơn ở cửa chính, cửa sổ hoặc thả qua hàng rào. Sẩm tối, cô quẩy đôi thùng rỗng, bên trong bỏ bó truyền đơn. Cô lấy ra mỗi lần hai chục tờ giắt trong người để dùng. Cô không "cho phép" máy chị đi cùng. Các chị ấy xinh đẹp nên rất dễ bị con trai bám theo trêu ghẹo, tán tỉnh. Hơn nữa, các chị không thạo gánh nước và không ai có bộ cánh của dân làm thuê như cô. Cô thận trọng song táo bạo, sáng tạo thực hiện việc các chị giao cho với niềm hào hứng vô biên. Khác với các chị, cô khỏe hơn, chi tiêu đỡ tốn kém hơn vì cô không cần may nhiều áo quần mốt mới, ghét son phấn và dễ ăn uống kham khổ. Cô không phải phụ giúp má nữa. Hàng ngày, cô chỉ cần bớt ra vài giờ dạy thêm cho mấy học sinh bậc tiểu học là cô đủ tiền nuôi mình ăn học và đi hoạt động cách mạng. Cô dành dụm chắt chiu từng đồng. Cô hạn chế tới mức thấp nhất mọi nhu cầu riêng cho mình để vài tháng có khoản tiền nhỏ đưa má. Chị Sáu thường gạt đi:
    - Má đủ sức lo cho các em con. Con đã lớn, con cần may mặc, ăn diện cho khỏi thua chị kém em.
    - Con thương lũ nhỏ quá? Tụi nó xa ba, xa má. Chị Mỹ Lê và con không có điều kiện gần gũi các em. Hay là má đưa tụi nó lên Sài Gòn?
    - Dì Bẩy nhận nuôi thằng Tư. Dượng Bẩy làm ở nhà băng của Pháp nên Tư Linh đủ điều kiện ăn học đến đầu, đến đũa. Cậu Tư, dì Năm mày đón Bẩy Thiện, út Hiếu về rồi. Hai thằng Ba Vĩ, Mười Tuân không muốn lên Sài Gòn.
    - Thiệt vậy a, má?
    - Nội, Ngoại không chịu rời hai cháu. Tụi nó thương bà, lo bà buồn. Theo má, đó chỉ là cái cớ thôi. Hai đứa bị mấy ông du kích xã hớp hồn rồi. Thằng Ba Vĩ, Mười Tuân mê đánh giặc quá chừng.
Mỹ Hòa đồng tình với ý kiến phân tích của má. Cô nhớ lần gặp hai em gần đây nhất. Thằng Ba Vĩ chín tuổi chỉ hơn Mười Tuân một tuổi nhưng có vẻ "người lớn" hơn em, khôn hơn em. Tuy nhiên, thằng Mười Tuân to con hơn, tinh nghịch hơn anh. Tụi nó mới cắp sách đến trường ít lâu song rất có ý thức phân biệt bạn, thù. Hai đứa trẻ khôi ngô, bụ bẫm, la cà vào đồn dịch. Những tên lính bảo an yêu trẻ, dẫn chúng đi chơi, mua quà bánh cho chúng ăn. Ba Vĩ Mười Tuân cười vui, hò hát, trò chuyện cởi mở với bọn lính song không lúc nào quên lời dặn của các chú du kích. Hái đứa đã mang về cho các chú hàng trăm viên đạn và hơn chục quả lựu đạn. Hôm Mỹ Hòa về quê, chính thằng em tám tuổi đã chỉ cho cô những căn hầm bí mật của Nội. Mười Tuân đã mời" chị:
    - Nếu chị Ba giỏi lội (bơi), chị lội sang bờ bên kia, lặn xuống chỗ gốc chuối sẽ thấy hầm bí mật
    Mỹ Hòa không muốn làm phật lòng đứa em nhỏ tuổi song cô thoáng chút ngần ngại. Từ thành phố về, cô chỉ mang theo bộ quần áo mồi duy nhất và cô không còn thời gian gội đầu nếu tóc bỉ dính bùn, đất. Mười Tuân không đoán nổi ý chị Ba. Cậu lộ ý tiếc rẻ :
    - Uống quá? Em đâu ngờ là chị không biết lội.
    Mỹ Hòa tươi cười:
    - Chị lội giỏi lắm. Chị có thể mò cua, bắt cá dưới' nước được.
    - Sạo Chị xem em lội nè!
    Mười Tuân vứt quần đùi lao xuống ao. Sợ em chết đuối Mỹ Hòa bơi theo. Cô lặn sâu, chui vào hầm. Mấy phút sau, cô quay ra. Mãi lúc này Mười Tuân mới chú ý tới bộ quần áo dài của chị. Nó trách:
    - Chị Ba dở ẹt. Em tắm mỗi ngày năm lần mà chả bao giờ bị ướt cả .
    Nó vừa lặn, vừa bơi, tay chân đập loạn xạ. Mỹ Hòa thích thú ngắt ai đứa em nhỏ. Chả ai dạy nó bơi cả. Nhà có ao, nó cứ nhảy đại xuống bơi theo kiểu chuồn chuồn đạp nước. Lúc đầu nó bỉ chìm, bị sặc, phải uống nước nhưng rồi nó nổi dần, bơi xa, lặn sâu. Mỹ Hòa gọi em:
    - Nè, Mười? Chị về đây. Em có muốn lên Sài Gòn với má và hai chị không?
    Mười Tuân ngỡ ngàng quá! Nó không thể rời quê nội vào lúc này. Nó chưa kiếm đủ trăm viên đạn để tặng các chú du kích. Nó mê những căn hầm bí mật quá. Ai sẽ sống trong những căn hầm? Chắc chắn là các cô, các bác thời chín năm, là bạn của ba, của má. Những năm qua, Mười Tuân còn nhỏ, nó không biết đường đi từ nhà Ngoại sang nhà Nội và nó cũng không ngờ ở bên Nội có nhiều điều bí mật quá ư lý thú mà trước đây chưa bao giờ anh Ba Vĩ hé lộ cho nó biết. Nó đã xin anh Ba Vĩ cho nó đổi chỗ : "Anh sang ở với Ngoại, em về sống với Nội" nhưng anh Ba Vĩ không ưng. Đúng là nó chưa biết đan rổ, rá, chưa thể phụ giúp Nội được nên nó đành ở lại thị xã Gò Công với Ngoại. Ở đây ngán lắm, ngày nào nó cũng trông thấy lính ngụy. Lính ngụy nhan nhản ngoài đường, vào cả trường học, rạp hát, sân banh. Ở đây, nó không trông thấy các cô chú du kích hoặc chiếc hầm bí mật nào. Anh Ba Vĩ sẽ đón nó mỗi tháng bốn lần vào ngày chủ nhật. Nếu nó lên Sài Gòn với chí Mỹ Hòa, nó sẽ không được tung tăng chạy nhảy với anh Ba Vĩ nữa. Nó từ chối:
   - Chị Ba! Em và anh Ba lên Sài Gòn, Nội và Ngoại sẽ rất buồn.
   - Chị sẽ thưa chuyện với bà .
   - Để thủng thẳng chờ hết năm học đã, chị Ba.
   Mỹ Hòa chịu thua ý này của em. Cô nghiêng đầu rũ rũ mái tóc. Tóc cô rậm, dày nên lâu khô. Cô hỏi em:
   - Em xem, đầu chị có lấm bùn không?
   - Sạch trơn mà, chị Ba!
   - Em vào trong nhà lấy gương, lược và cái khăn ra đây giùm chị.
    Mười Tuân chạy vụt đi. Mỹ Hòa đứng dậy, cởi áo, cởi quần vắt cho kiệt nước rồi lại mặc vội vào. Lẽ ra lúc nãy, cô nên cởi quắn áo để trên bờ nhờ Mười Tuân giữ hộ nhưng cô không làm như thế. Dù là chị ruột, cô ý tứ không mặc coóc-xê, xi-lip trước đứa em tám tuổi.
Mười Tuân đưa gương, lược cho cô. Cô dùng khăn lau khô tóc Cô soi gương. Đúng là tóc và mặt cô không bị lấm bùn vì nước ao nhà không đến nỗi dơ lắm và vì đường vào hầm khá thuận lợi.
Logged

Nếu có 1 ước muốn trở thành sự thật
Tôi chỉ muốn trở thành 1 người lính đảo
VoMinhGiang
Thành viên
*
Bài viết: 91


Sống trên đời sống cần có một tấm lòng.


« Trả lời #23 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:05:28 am »

    Hôm đó, khi chia tay với Mười Tuân, Ba Vĩ, cô thèm cuộc sống của các em quá! Nếu bây giờ má cho phép cô tự lựa chọn ở đâu, dứt khoát, cô không về thị xã Gò Công với Ngoại mà cô sẽ xin về sống chung với Nội. ở với Nội, cô được tham gia du kích, được phát súng, được xông vào đồn giặc. Hai đứa em ruột của cô hạnh phúc hơn cô. Chúng nó kiếm được đạn, lựu đạn về cho du kích. Chúng nó biết hầm bí mật, bãi chông của xóm. Còn cô, cô chỉ quanh quẩn với truyền đơn, khẩu hiệu, tuyên truyền giác ngộ quần chúng. Cô kém chúng nhiều quá? ở Sài Gòn, cô sống trong nhà lầu đầy đủ điện nước, được học văn hóa, có kiến thức nhưng cô chưa bao giờ sờ đến khẩu súng. Cô chạnh nhớ tới ba. So với các em, cô hiểu ba nhiều hơn. Ngày chia tay với ba, cô đã chín tuổi, còn mấy đứa đang nhỏ xíu. ấy thế mà tụi nó đi theo con đường của ba sớm hơn cô. Nay mai nếu gặp lại ba, tụi nó sẽ có biết bao thành tích khoe với ba, còn cô? Mỹ Hòa tự hứa sẽ phải làm gì đó cho xứng đáng với ba. Cô phải giúp má lo gánh vác việc gia đình. Cô đến nhà dì Bẩy. Dì là em ruột má. Trong những năm chống Pháp, dì rất ham hoạt dộng, đã được công nhận là cán bộ phụ nữ cấp huyện. Sau năm 1954 dì Bẩy lập gia đình. Dì dượng rất yêu Tư Linh. ở với dì dượng, Tư Linh được ăn ngon, mặc đẹp, không phải lao động song cậu không thích như thế. Tư Linh tự giặt quần áo. Tuy mới 11 tuổi song cậu đã hiểu được hoàn cảnh gia đình mình. Hôm lên Sài Gòn, cậu dặn Ba Vĩ:
    - Bữa nào Mười Tuần, út Hiếu lên cơn hen suyễn mày phải giúp tụi nó. Má, chị Hai, chị Ba lên Sài Gòn rồi, tao cũng lên trên đó nên mày phải trông chừng các em. Thằng Bẩy Thiện hay nghịch, đừng để nó chơi gần bờ ao, dễ chết đuối lắm.
    Tư Linh vào học trường tư. Tháng đầu, cậu học đuối vì chưa quen thầy, cô và còn mặc cảm mình là anh nhà quê ra tỉnh. Từ tháng thứ tư trở đi, Tư Linh luôn là học sinh giỏi nhất, nhì của lớp. Cậu rất chăm học. Cậu học không phải cho riêng mình mà còn vì má, vì các chị và cần phải làm gương cho bốn đứa em. Cậu ham học còn vì ba cậu. Nội, Ngoại và bất cứ người thân nào đều nói là ba cậu học rất giỏi, cậu mang "gien" của ba. Cậu chưa biết “gien” là gì song cậu tự hứa phải làm sao để xứng đáng là con của ba, để nay mai gặp lại ba, cậu không bị xấu hổ.
    Mỹ Hòa đã hiểu chủ trương của má với Tư Linh Cô không phản đối và cũng không thực sự tán thành. Cô không ba phải, bỏ phiếu trắng mà là cô rất khó xử. Có điều gì đó cô chưa hiểu hết má cô. Má tìm mọi cách để bắt liên lạc với tổ chức Má khuyến khích chị Hai và cô tham gia hoạt động cách mạng. Má không rầy la khi biết Ba Vĩ, Mười Tuân lấy cắp đạn, lựu đạn từ đồn giặc giao cho du kích. Má ủng hộ Nội làm hầm bí mật, nuôi giấu cán bộ trong nhà nhưng với Tư Linh, má lại định để cậu ấy đứng ngoài cuộc. Mỹ Hòa chưa yêu, chưa làm vợ nên cô chưa lường hết tấm lòng người mẹ. Má cô là bà trường tộc của họ Dương và Dương Công Linh sẽ là trưởng tộc kế tiếp ba cô Tư Linh đón chị Mỹ Hòa với niềm vui đặc biệt. Mỹ Hòa hợp với cậu hơn chị Mỹ Lê vì chị Hai hơn cậu tới chín tuổi, chị có vẻ người lớn khi cậu đang còn là con nít. Ngày má bị bắt (1957), chị Mỹ Hòa 12 tuổi, cậu lên bảy nhưng cả hai thích chơi ô ăn quan, nhảy dây với nhau. Tối ngủ, cậu rất muốn nằm cạnh chị Mỹ Hòa nhưng cậu đành phải nhường cho bốn đứa em. Năm đó, Bẩy Thiện, út Hiếu mới hai tuổi. Chúng nó không rời chị Ba nửa bước. Mỹ Hòa kiểm tra sách vở của em. Cô thực sự hài lòng vì chữ Tư Linh rất đẹp, quyển vở nào cũng bọc họa báo và không hễ có mép vở nào bị quăn. Các bài kiểm tra, bài thi nào của Tư Linh cũng đạt điểm cao nhất với lời phê khá ưu ái của cô giáo. Mỹ Hòa không có điều gì chê trách em trai. Cô mở sắc, đưa cho em một ít tiền, Tư Linh gạt đi:
    - Chị Ba gửi về quê cho lũ nhỏ. Tụi nó cực hơn em nhiều.
    Dì Bẩy vào, ngồi xuống cạnh, âu yếm vuốt tóc Tư Linh:
    - Thằng nhỏ kỳ quá, ăn gì, mặc gì cũng nghĩ đến bốn đứa em.
Dì Bẩy khen Tư Linh hết lời: "Thằng nhỏ rất có ý, nó quét nhà, lau nhà, đánh cốc chén. Nó biết đi chợ mua cà phê, mua thuốc lá giúp dượng Bẩy". Mỹ Hòa thực sự hài lòng vế Tư Linh. Tư Linh khôn trước tuổi, đã có ý thức tự lập tự lo cho cuộc sống của mình, không để má và hai chị phiền lòng.
    Mỹ Hòa kể chuyện với má kèm theo những nhận xét của mình về các em. Má vui lắm. Đang nhớ tới những kỷ niệm về các con, bỗng má ngồi lặng thinh, cặp mắt nhìn xa xăm. Thoáng u buồn lại đến với má. Má nhớ các con vô cùng. Có bà mẹ nào muốn sống xa con, xa chồng. Vào năm 1961, má đã xa ba bảy năm. Suốt thời gian đó, má chỉ nhận vẻn vẹn được tấm bưu thiếp của ba. Ba đang ở nơi nào đó được gọi là Cẩm Phả.  Mỹ Hòa đã mượn về tấm bản đồ chỉ cho má biết nơi ba đang sống. Chao ôi, Cẩm Phả xa xôi quá Biết ngày nào má ra thăm ba hay ba trở lại miến Nam được. Tội nghiệp ba. Ba sống ngoài đó trơ trọi một thân, một mình không người thân thích. Mỹ Hòa đã nghĩ cách thông tin tới ba. Cô mua năm tờ bựa thiếp, gửi ở năm địa điểm khác nhau với nội dung không trùng lắp, trừ chi tiết má sanh hai em: em trai và em gái. Chả rõ ba cô có nhận được tin nhà không? Cô kể chuyện này với má. Má khen cô hiếu thảo, luôn nhớ tới người sinh ra mình. Má đưa ra dự kiến:
    - Má sẽ rút thằng Mười Tuân và con út Hiếu lên sống chưng với má .
    - Rủi má đi công chuyện, hai đứa có lo được cho nhau không? Còn Bẩy Thiện thì sao?
    - Tao tính rồi. Hè này, má sẽ đưa hai đứa gởi dì ứt Khuê. Thằng Bẩy khỏe mạnh, cứng cáp cứ để nó ở quê với cậu Tư rồi tính sau.
    Dì út lớn tuổi hơn má, quê ở Củ Chi. Dì đang làm nhiệm vụ giao liên, đưa rước cán bộ vào cứ. Dì gầy gò da đen xạm, chỉ võ vẽ đọc chưa thông, viết chưa thạo song dì đảm trách "một cánh quán" đặc biệt. Dì đón tiếp lính ngụy sĩ quan ngụy và cảnh sát ở ngay tại nhà mình, cười cười nói nói với bọn chúng, lo đãi chúng bữa nhậu thịnh soạn. Dì khéo léo làm công tác binh vận, lôi kéo, phân hóa bọn ngụy. Các anh cần cử đoàn cán bộ từ căn cứ vào hoạt động nội thành hoặc đưa khách từ thành phố vế cứ đều phải "thỉnh thị" dì. Dì út Khuê thường "phán":
    - Tối nay đến phiên thằng ác ôn Ba Gà Chọi gác. Tụi nó mới tăng cường thêm một trung đội, canh phòng cẩn mật lắm.
    - Bữa nay khỏi lo. Thượng sĩ Bẩy Lùn là đệ tử ruột của tao đó. Nếu tụi bay ưng ý, tao sẽ gởi thằng đó vô cứ. Bẩy Lùn mê trở thành anh giải phóng lắm.
    - Nhủ với mấy anh là tụi nó sắp mở trận càn lớn cỡ vài trung đoàn.
    Mỹ Hòa thăm dò má:
    - Má tính cho hai đứa sống chung với dì út à?
    - Đâu phải. Dì út sẽ đưa chúng vô cứ. Mấy anh, mấy chú sẽ dạy dỗ, bảo ban, kèm cặp tụi nó, giúp tụi nó theo lý tưởng của ba con.
    - Má đã trao đổi với chị Hai chưa? Sao má không đưa em Bẩy theo?
    - Mỹ Lê tán thành ý má. Thằng Ba Chân cũng ủng hộ phương án này. Đưa ba đứa nhỏ vô cứ không có ai trông nom sẽ gây phiền hà cho mấy cô, mấy chú . Khi mọi vỉệc đã ổn, má đón thằng Bầy sau.
    - Má gặp anh Ba hồi nào?
    - Má gặp nó luôn. Nó là chỉ huy trực tiếp của má.
    Má cười :
    - Nó muốn hỏi con gái má, nó phải lấy lòng bà già vợ chớ.
    - Sao anh Ba không tìm tới. con? Bộ anh tưởng con không có ki-lô nào với chị Hai sao?
    Má dí ngón tay vào trán Mỹ Hòa:
    - Ôi cái con này. Mày tính phá chị Hai sao?
    - Đâu có má! Con ủng hộ chi Hai hoàn toàn mà, má. Chị Năm Trăng và chị Xuân Hồng mê anh Ba Chân quá trời má ơi. Chị Mỹ Lê cũng rất ưng ý anh Ba.
    - Nó nói với mày vậy sao?
    - Con biết hết trơn, hết trọi rồi, má. Thuở nhỏ, anh Ba cực lắm, má à. Anh mồ côi cả ba lẫn má. Anh giỏi nhiều nghề lắm. Anh lên Sài Gòn kiếm sống bằng nghề thợ mộc. Anh thương chị Hai thực sự.
    - Ý chị Hai mày sao?
    - Má tính ở đất Sài Gòn này còn kiếm ai hơn anh Ba?
    - Thiệt sao?
    - Chi Hai con xinh đẹp, học giỏi, thạo nội trợ, khéo giao tiếp nên có không dưới mười cậu con trai đang theo đuổi chị. Má có tính gả chị cho con ông tướng ngụy không? Hay má muốn làm sui gia với bộ trưởng, thứ trưởng? Anh Ba nghèo tiền bạc, không có xe hơi, nhà lầu như họ. Anh Ba nhỏ con, không đẹp trai bằng họ, học vấn cũng thua kém họ nhưng anh Ba có cái mà họ không có được: đó là tinh thần yêu nước. Anh Ba theo đúng lý tưởng của ba nên xứng đáng là rể của họ Dương chúng ta.
Chị Sáu chăm chú nhìn con gái. Lâu nay, chị hiểu sai về con. Với các bà mẹ, đứa con nào cũng bé bỏng. Chị nghĩ là Mỹ Hòa mới 16 tuổi, còn quá nhỏ chưa nghĩ đến trưng diện, yêu đương. Qua ý kiến của con gái, chị thấy Mỹ Hòa sâu sắc ý tứ hơn chị nghĩ nhiều. ở đất Sài Gòn này, kén được người yêu hợp lý tưởng, thật là khó. ở nhiều nước, người phụ nữ thường chỉ có chức năng làm vợ, làm mẹ, làm bà, còn ở nước ta? Chị Sáu nhớ đến ngày chia tay với chồng. Nếu chỉ đơn thuần muốn làm vợ, chị sẽ theo anh, được gần gũi để săn sóc anh. Hiện tại, có ai trách chị là đã sao nhãng chức năng làm mẹ không? Chị có bảy con, chị đã gửi bảy đứa đi bảy nơi khác nhau là vì sao? Vì "lẽ sống" của chị và các con chị. Chị nhớ con da diết nhất là khi màn đêm buông xuống nằm một mình một giường ở gia đình cơ sở. Chị dư sức kiếm đủ tiến nuôi mình, nuôi các con nhưng chả lẽ "lẽ sống" của chị chỉ có lo cho các con ăn no, mặc đẹp, học giỏi? Chị phải nghĩ đến tương lai các con. Chị phải làm sao để khỏi hổ thẹn khi gặp anh. Hai đứa con gái đầu của chị đã nối được chí hướng của ba. Mỹ Hòa . phân tích rất đúng: Năm 1961 này, Mỹ Lê đang ở tuổi 20. Con gái má chưa thật sắc nước hương trời nhưng có duyên, rất ưa nhìn. Má đã nói với con gái: "Đàn ông lên quan thì chầy Đàn bà lên tắt nửa ngày nên quan" để tự con quyết định lấy số phận của mình. Nó có thể là bà trung tá, đại tá (ngụy) lắm. Nó cũng dễ trở thành bà chủ, vợ các thương gia triệu phú, chị làm sao ngăn cản nó nổi. Chị nhỏ to khuyên nhủ con:
    - Việc riêng của con do con tự quyết định song trước khi nhận lời ai, con cần xem người đó có hợp với ba không.
    Mỹ Lê đã hiểu ý má. Chữ "hợp" má dùng không phải do tính tình chất phác, giỏi cày sâu cuốc bẫm, không rượu chè, cờ bạc mà là hợp lý tướng. Anh Ba Chân đã hội tụ đủ mọi điều kiện của má. Thời đó, má rất chuộng cái lý lịch. Lý lịch của anh Ba thì khỏi nói: Anh mồ côi, anh nghèo khổ gia đình anh ở miền quê Cần Thơ, không có ai theo địch. Từ ngày có ý chọn Ba Chân làm con rể tương lai, má tin anh lắm. Má thường đem chuyên gia đình ra bàn với anh vì "thằng đó ở cấp chỉ huy, nó có lập trường cao để khuyên má làm điều đúng. Ba Chân cũng đón được ý bà già vợ tương lai. Bà lo cho đàn con nhỏ. Thông thường "gần mực thì đen, gần đèn sẽ rạng", bà ngại thằng Mười Tuân ở thị xã Gò Công dễ ngả theo địch. Thằng đó hiếu động và Ngoại chưa đủ bản lĩnh để hướng cháu theo lý tưởng của chồng má. Ba Chân khuyên má đưa hai đứa nhỏ vô cứ và được má chấp thuận với vẻ hài lòng đặc biệt. Ba Chân không thuộc loại điển trai. Anh hiến lành, ít nói. Anh để ý đến Mỹ Lê quả bà mối Năm Trăng. Chị Năm khen Mỹ Lê hết lời song anh không dám "tiếp cận mục tiêu". Anh ngắm Mỹ Lê từ xa. Cô ấy nhỏ nhắn, rất xinh. Qua cặp mắt tinh nhanh của chị, anh đọc được nét thẳng thắn, trong trắng, hồn nhiên. Anh là cấp lãnh đạo nên anh có điều kiện thẩm tra lý lịch chị thật tỷ mỹ. Anh chợt sững người. Mọi lời đồn đại về ba của Mỹ Lê là dân buôn bè vì mê gái, ham cờ bạc đã bỏ vợ, bỏ con đểu sai tất. Mỹ Lê có ba là tinh ủy viên và má là cán bộ phụ nữ huyện. Qua lý lịch Mỹ Lê, anh hiếu thêm về má. của cô: dì Sáu Hoàn. Thì ra dì Sáu không phải mới tham gia cách mạng mà dì đã vào Đảng từ năm 1949, dì có trình độ cán bộ cấp huyện. Cần phải giao cho dì trách nhiệm nặng nề hơn. Anh dự kiến rút dì Sáu vế làm cấp phó của Ban chỉ huy quân sự thành đoàn chuyên trách về hậu cần. Dì Sáu sẽ là cấp phó của anh, anh sẽ xưng hô thế nào khi ra lệnh nếu dì Sáu trở thành mẹ vợ anh? Anh chọn cụm từ “đồng chí má Sáu” và anh vẫn giữ cách xưng hô đó khi anh đã làm đám cưới với Mỹ Lê, đã trở thành con rể của má.
    Ba Chân vẫn theo đuổi Mỹ Lê . Anh không bám theo cô từng bước, không chờ cô ở cổng trường trước giờ tan học, không viết cho cô mỗi ngày một bức thư tình nhưng nhất cử nhất động của cô, anh đều được Năm Trăng, Xuân Hồng thông báo đầy đủ. Hai cô nhận làm bà mai tự nguyện và tích cực hơn mức bình thường. Cả Năm Trăng và Xuân Hồng đều ra sức tán dương anh Ba trước mặt Mỹ Lê và luôn đề cao mọi vẻ đẹp của bạn mình với anh Ba Chân. Khi đôi bên xem chiếu "tình trong như đã, mặt ngoài còn e", hai bà mai tổ chức cho cô - cậu gặp mặt nhau. Sau lần "chạm trán" này, Xuân Hồng truy bạn:
    - Anh ta nói với bồ những gì, khai ra!
    Mỹ Lê đánh .trống lảng:
    - Ảnh nói ảnh thương mình.     
    - Không được. Phải tường thuật đúng nguyên văn kia.
    Chị Năm Trăng chen vào:
    - Thôi tha cho nó. Lúc đó nó sung sướng, nó e lệ, nó hồi hộp, nó mắc cỡ, làm sao nó nhớ đúng nguyên văn. Nè, tao hỏi thiệt, nó đã "hun" mày chưa"
    Điều này thì Mỹ Lê có thể khai thành thật:
    - Anh ấy chưa dám ngồi gần em. Anh ấy chỉ dám bắt tay hơi lâu lúc tạm biệt.
    - Hơi lâu là bao nhiêu?
    - Bộ anh chị nắm tay nhau chín, mười phút để trò chuyện à?
    - Đâu có! Anh nắm tay em lâu hơn bình thường nửa phút. Khi em nhìn anh, anh đỏ mặt, ấp úng.
    - Mày có tính kể chuyện này cho Mỹ Hòa không? Liệu con nhỏ chấp nhận hay phản đối Ba Chân làm anh rể?
    - Em sẽ nói với Mỹ Hòa. Chắc nhỏ Ba sẽ đống ý với em.
Logged

Nếu có 1 ước muốn trở thành sự thật
Tôi chỉ muốn trở thành 1 người lính đảo
VoMinhGiang
Thành viên
*
Bài viết: 91


Sống trên đời sống cần có một tấm lòng.


« Trả lời #24 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:08:19 am »

    Mỹ Hòa chia vui với chị. Cô lại lao vào học tập. công tác. Cô vẫn cay cú về chuyện khẩu hiệu. Cô không thể dung phấn viết lên tường vàng ánh nhưng cô phải có cách gì để thực hiện được ý định của mình. Một lần, khi nhặt rau, cô cầm cọng rau làm con tính nhân trên nền gạch. Cô chợt nhận ra có vết gì đỏ còn hằn lại. À phải rồi, đó là chất nhựa. Nếu dùng quả gì có nhựa viết lên tường thì sao? Quả gì nhỉ? Bí, mướp cam hay khế' Có lẽ dùng ổi hay hồng xiêm sẽ thích hợp. Mỹ Hòa bí mật mua đủ loại quả về để làm thí nghiệm nhưng kết quả chưa được như ý muốn. Cô chọn những quả mít non, cuống quả mít già để viết nhưng vẫn chưa kết quả. Cuối cùng, cô cũng tìm được "hòn phấn" thích hợp. Chị Năm Trăng gọi cô đến căn vặn:
    - Phải mày không Mỹ Hòa?
    - Điều gì vậy chị Năm?
    Mỹ Lê chen vào:
    - Em dám viết khẩu hiệu "Bác Hồ muôn năm" lên tường nhà tên đại tá?
    Mỹ Hòa tỉnh bơ:
    - Đâu phải em! Ở Sài Gòn có tới ba triệu dân, ai chả ưng điều đó.
    Chị Năm Trăng kéo Mỹ Hòa ngồi xuống cạnh mình, vuốt tóc em gái:
    - Ba nè? Em không qua mắt mấy chị nổi đâu. Mấy chị quen chữ viết của em, thuộc tính nết em. Em làm vụ đó phải không?
    - Dạ.
    - Có ai phụ giúp em không?
    - Chỉ có mình em thôi.
    Xuân Hồng, Mỹ Lê cùng hỏi:
    - Em làm cách nào để tụi nó không phát hiện được?
    Mỹ Hòa thấy không cần giấu các chị nữa. Cô lấy trong 1 cặp "đồ nghề" của mình. Đó là những quả cau già. Cô gọt vỏ cất chũm cau. Cô dùng phần còn lại của cau làm bút. Cô viết thử chữ Mỹ Lê lên tường nhà. Phải ít phút sau, nhựa cau thấm vào tường, nét chứ mới hiện lên. Chị Năm Trăng thích thú, hỏi:
    - Ai bày cho mày vậy, Mỹ Hòa?
    - Em tự nghĩ ra.
    - Sạo?
    Bị mấy chị nghi, Mỹ Hòa ức lắm. Cô thuyết trình từng bước "công trình nghiên cứu" của mình. Chị Năm Trăng tặc lưỡi:
    - Chà, chà! Con nhỏ này ghê gớm thiệt. Mỹ Hòa. Em không nên mạo hiểm như vậy, nghe!
    - Sao vậy, chị Năm? Chị khuyên em hay ra lệnh cho em?
    -Em còn nhỏ, chưa có kinh nghiệm. Rủi em bị bắt thì sao?
    - Em ráng chịu, em không khai ra mấy chị đâu.
    Mỹ Lê khuyên em gái:
    - Em phải tuân lệnh chị Năm. Chị em ta cố giữ sao cho không bị bắt. Vào tù giống má sẽ vô cùng cực khố và không còn điều kiện hoạt động nữa.
    - Dạ, chị Hai! Không biết còn mấy năm nữa ta mới gặp ba? Em nhớ ba quá! Mấy lần em nằm mơ thấy ba nhưng chả nói chuyện với ba được câu nào.
    - Nè, trước mặt má, em không được nói điều này kẻo má buồn. Ba má xa nhau bảy năm rồi. Tội nghiệp ba. Ba có bảy mặt con mà chả đứa nào nấu cơm, săn sóc ba, giặt quần áo giùm ba. Chả rõ ra miến Bắc, ba có trị dứt điểm bệnh hen suyễn không. Rủi ba ốm, ai hầu hạ ba? Lẽ ra chị nên theo ba tập kết ra Bắc.
    - Chị ở lại là đúng. Nếu chị đi, ai sẽ chăm lo cho các em trong những năm má ở tù? Nếu thiếu chị, ai sẽ đưa má và em vào tổ chức thành đoàn? Chị là trụ cột của gia đình, là bạn bè của má. Năm 1954, em đi cùng ba là đúng nhất. À, chị có biết gì vế mỏ than Cẩm Phả không?
    Mỹ Lê giở bản đồ Đông Dương cỡ 24 x 80cm lấy bút điểm một chấm nhỏ ở gần biển thuộc tỉnh Quảng Ninh, nói với em :
    - Ba ở cách xa chúng ta hơn hai ngàn kilômét. Ta không thể gọi điện thoại hoặc viết thư tới được. Em gửi bưu thiếp cho ba chưa?
    - Rồi. Em dùng năm địa chỉ người gửi, gửi từ nhiều thùng thư. Nếu tụi nó kiểm duyệt gắt gao, ba mình cũng nhận được ít nhất một bưu thiếp. Ba chưa hay má sanh Bẩy Thiện, Út Hiếu. Chị Hai!  Dì út Khuê đưa mấy đứa nhỏ vô cứ. Dì út hứa nuôi lũ nhỏ nhưng má không ưng. Má cũng không cho mấy đứa ở luôn trong căn cứ, sợ làm phiền mấy anh. Má thương lũ nhỏ, má tính từng đường đi, nước bước cho từng đứa khá chi ly, chị em ta không lường nổi đâu.
    - Chị tán thành cách xử lý của má. Cho mấy đứa vô cứ, ai sẽ trông nom kèm cặp chúng, chúng học ở đâu? Chị, em và má không thể bỏ nhiệm vụ ở Sài Gòn theo vô cứ săn sóc các em, ở với dì út Khuê càng bất lợi vì nhà dì nghèo, vùng Củ Chi luôn bị càn quét, rủi tụi nó dính tên rơi, đạn lạc thì má sống sao nổi.
    - Em chỉ muốn đưa tụi nó lên hết Sài Gòn.
    - Đâu thể đơn giản như vậy? Chị và má là đảng viên (chị Sáu Hoàn được kết nạp lại. Chị vào Đảng lần thứ hai). Em cũng đang là đối tượng của Đảng nên không ai rảnh rang chuyên lo việc nhà. Tụi nó còn nhỏ chưa thể tự lập được.
    Mỹ Hòa ngước cặp mắt đen nhìn chi. Cô phục chị Mỹ Lê lắm. Chị Mỹ Lê hơn cô nhiều quá. Chị nhiều tuổi hơn, xinh đẹp hơn, từng trải hơn. Chị tham gia hoạt động cách mạng trước cô, học giỏi hơn cô và có tài quán xuyến việc gia đình. Cô thương các em. Với tình cảm chị em cùng máu mủ ruột thịt, cô chỉ mong muốn chị em cùng sum họp một nhà lọ cho các em sung sướng nhưng cô chẳng nghĩ sâu bằng má, bằng chị Hai.
    Mỹ Lê, Mỹ Hòa rất tâm đầu, ý hợp. Hai chị em có thể nằm chung giường, trò chuyện suốt đêm không chán vế ba, về má, về các em, về công tác, học tập... Mỹ Hòa rất mừng đón tin mà chị Hai vừa thông báo: Ngày cô trở thành đảng viên, chắt không còn xa nữa.
Logged

Nếu có 1 ước muốn trở thành sự thật
Tôi chỉ muốn trở thành 1 người lính đảo
VoMinhGiang
Thành viên
*
Bài viết: 91


Sống trên đời sống cần có một tấm lòng.


« Trả lời #25 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:46:06 am »

10

    Chị Sáu Hoàn trở lại Gò Công. Cũng giống như anh Bầy Đấu, chị tìm về quê thăm mẹ chồng, mẹ đẻ và các con một cách bất hợp pháp. Chị vế quê chồng ở ấp Xóm Đình vào ban đêm. Ấp Xóm Đình ở cách xã Bình Tân, quê chị hơn 10 kilômét. Có điếu khác là: Bình Tân thuộc vùng địch kiểm soát, còn ấp Xóm Đình được xem như vùng giải phóng. Đôi khi nếu dùng lực lượng mạnh, địch cũng có khả năng càn quét qua vùng ấp Xóm Đình nhưng chúng không dám đóng quân lại qua đêm. Chị gửi thằng con thứ tư cho bà nội nuôi: Thằng Dương Linh Nhất quấn quít lấy bà nội và Nội rất yêu cháu. Nội tiếp đón con dâu hồ hởi không chỉ vì tình mẹ con mà gói ghém cả tấm lòng của người dân với cán bộ cách mạng. Nội kể cho con dâu nghe đủ mọi chuyện về chi bộ, về các anh cán bộ hồi chín năm ai còn, ai mất, ai lãnh đạo vũ trang, kẻ nào đầu hàng giặc. Câu chuyện mà Nội dừng lâu nhất là chuyện thằng Nhất và em ruột nó là thằng Quảng. Thằng Quảng kém anh một tuổi, lại sống với bà ngoại trong vùng địch, không khôn bằng anh. Mỗi khi sang thăm Ngoại, thằng Nhất thường dụ em:
    - Mấy sang với Nội. Tao chỉ cho mấy xem mấy chú du kích. ¬¬¬
    - Thiệt vậy à , anh! Mấy chú có súng khô ng?
    - Có! Có súng thiệt kèm thêm súng bặp dừa. Mà mấy phải hứa giừ bí mật, chịu không?
    - Chịu. Anh Năm nè, súng bặp dừa bắn sao đặng?
    - Mầy ngu thấy bà. Súng đó để nghi trang thôi. Đến súng thiệt còn không có đạn, mấy anh xui tao đi kiếm.
    - Anh kiếm đâu ra đạn vậy, anh Năm?
    - Dễ ợt. Mấy đứa học trò trường Vạn Thắng tụi tao vô đồn xin đồ hộp. Tụi tao lấy cắp đạn. Tụi nó bắt được, hỏi lấy đạn để làm gì? Tụi tao biểu diễn luôn: Dùng kìm nhổ đầu đạn ra, đổ thuốc đạn vào lon đồ hộp, rồi đứng ở xa, dùng đèn cầy (nến) đốt. Lửa bốc rất cao, cháy phừng phừng. Tụi nó nạt, cấm tụi tao chơi trò trẻ con nghịch ngợm đó nhưng tụi tao đâu có ớn.
    Nội không lộ ý ngăn cản việc làm nguy hiểm của cháu. Chị cũng tán thành cách xử' sự của Nội. Muốn cho các cháu có cơm ăn no, áo mặc đủ thì dễ, nhưng muốn cho các cháu gần mực mà không đen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn phải chú ý từng cách nhìn, lối nói năng, giao thiệp của mấy đứa. Nội đã là mẹ của đồng chí tỉnh ủy viên, giờ đây Nội đang dìu dết mấy đứa cháu theo con đường của ba má và các chị chúng nó đang đi. Cách đây ít lâu, hai đứa cháu gái của Nội, con Mỹ Lê và Mỹ Hòa về ấp Xóm Đình thăm quê. Hai đứa kể cho Nội nghe đủ chuyện. Thằng Nhất bám riết hai chị. Một hôm nó lục túi Mỹ Hòa tìm thấy căn cước. Nó thắc mắc hỏi:
    - Tại sao trong giấy nầy dán hình chị lại ghi tên khác, chị Ba?
    Mỹ Hòa giật lấy tấm căn cước, dọa em:
    - Đồ con nít. Không được trò chuyện người lớn.
    Giận chị, thằng Nhất khóc tức tưởi. Mỹ Lê khéo dỗ em bằng cách nêu ra các câu hỏi:
    - Em có biết ba chúng ta đang ở đâu không'
    - Em biết rồi. Ba đang ở thủ đô Hà Nội.
    - Tại sao ba không ở lại với má, với Nội và chị em mình lại ra miền Bắc?
    - Việc đó thằng Quảng cũng biết nữa chớ em. Ba của mình đi làm cách mạng mà, chị Hai?
    - Đúng rồi.
    - Em cho chị hay, ba tên chi.
    – Ba là Đấu, Dương Văn Đấu, Bẩy Đấu.
    Mỹ Lê chỉ chờ có vậy. Cô muốn dẹp lòng tự ái của đứa em ruột từ từ. Cô đặt cho thằng Nhất câu hỏi:
    - Chị Hai đố cậu Năm là khi vào vùng địch, ba có mang căn cước tên là Dương Văn Đấu không?
    Làm ra vẻ thông minh, Nhất đáp:
    - Mang tên thiệt, tụi nó dễ nhận ra ba, tụi nó dễ bắt ba.
    Chị Hai vỗ tay hoan hô :
    - Vậy đó Chị Ba cũng làm cách mạng như ba. Chị lo em còn nhỏ, em không biết giữ bí mật. Bây giờ cưng còn giận chị Ba không?
    - Hứ!
    - Chị thay mặt chị Ba xin lỗi cưng nghe. Cưng hứa là không nói với ai điếu nầy nữa nghe.
    - Dạ?
    Nhất giữ lời hứa với chị Hai, không kể điều bí mật của hai chị cho ai nghe, nhưng với thằng Quảng thì khác. Nhất tin nó lắm. Nhất sinh năm 1952. Thằng Quảng kém Nhất một tuổi nên Nhất không muốn xưng anh với nó. Nhất kể cho em nghe mọi chuyện và rủ :
    - Mấy sang chỗ tao, tao chỉ cho xem nhiều thứ lắm.
    - Thứ chi, anh?
    - Mấy chú lấy khí đá (đất đèn) cho vò bình sành, lèn đất thiệt chặt rỗi đốt cho nó nổ. úi cha, tiếng nổ to thấy bà. Mà mấy biết không? Mấy chú rào kín hết làng rồi, đêm đến đem lựu đạn gài, sáng lấy cất đi.
    Dương Nhất Quảng ở trong vùng địch. Cậu không có điếu gì để kể cho anh. Cậu mến phục anh lắm. Cậu trợn tròn mắt, há hốc miệng, chăm chú lặng nghe anh kể chuyện, thỉnh thoảng lại chêm vào hai tiếng "hay quá". Làm ra vẻ người lớn, Nhất bảo em:
    - Tao xin phép với Ngoại cho mày cùng đi, nghe?
    - Em còn học.
    - Vậy thì chủ nhật tao sang đón mấy.
    - Dạ!
    Nhất đã dành cả ngày chủ nhật cho em, dẫn em đi chơi khắp nơi.
    - Mầy có biết vì sao mấy chú đào giao thông hào này không?
    - Mấy chú chạy ở dưới nầy để đánh giặc.
    - Nè, tao chỉ cho mấy cái hầm của Nội. Nội nuôi mấy chú cán bộ trong nhà. Nội còn hầm bí mật ở dưới bụi cây này, nè. Nâng cái nắp nầy lên, mấy chui vào hầm, có đường ngách bò ra bờ sông. Nếu có báo động, mấy chú thoát theo con đường đó rất bí mật.
    Quảng nhìn anh bằng cặp mắt thán phục. Cậu rụt rè đề nghị:
    - Em ở luôn đây với anh nghe!
    - Đâu được, mấy. Mấy không nhớ lời má dặn sao? Mấy phải thay phần má, săn sóc cho Ngoại đỡ buồn. Tao có trách nhiệm với Nội.
    - Hay là anh đổi chỗ cho em.
    Điều nầy thì thật là khó xử. Thằng Quảng xin Nhất thứ gì Nhất cũng cho nhưng đổi chỗ cho nó về đây Nhất không muốn một chút nào. Nhất không biết trả lời nó như thế nào. Nhất hỏi:
    - Mấy có quen mấy chú cán bộ không?
    - Nội sẽ giới thiệu em với mấy chú.
    - Mấy có biết nấu cơm cho mấy chú ăn không
    - Em nấu cơm giỏi lắm rồi, anh Năm.
    - Mấy có dám đi lượm đạn cho mấy chú không?
    - Dám. Vây mấy có biết chỗ mấy chú gài trái, gài lựu đạn đêm không?
    - Anh chỉ cho em.
    Dương Linh Nhất bí quá. Cậu đã nêu hết lý do đều bị chú em bác bỏ. Sang với Ngoại, sống với tụi nó, Nhất đâu chịu nổi. Nhưng từ chối thằng em bằng cách nào? Nhất không muốn nói cái câu: "Tao không nhường cho mấy" mà phải tìm ra cái cớ nào đó. Ai Nhất nghĩ ra rồi. Cậu đặt thêm với em câu hỏi:
    - Mầy có biết chẻ tre, vót nan, đan rổ rá, giúp Nội đem ra chợ bán kiếm tiền về nuôi mấy chú cán bộ không?
    Quảng ớ người. Anh Nhất rất khéo tay. Bà ngoại, các cậu các dì đều khen anh đan lát giỏi. Quảng không làm được như anh. Đêm hôm đó, Quảng ngủ lại với anh. Nửa đêm, Quảng choàng tỉnh vì những tiếng nổ xé tai, tiếng mõ tre, trống, tù và, thùng chậu và tiếng hô xung phong vang khắp đó đây. Mấy chú cán bộ, du kích chạy rầm rập ngoài đường. Nội ôm hai cháu vào lòng, thì thầm bên tai các cháu: "Đồng khởi dó. Ba các cháu sắp về rồi!" Nhất và Quảng muốn đổ ra đường nhưng bị bà giữ lại. Nhất không muốn để bà ở lại một mình và sợ thằng Quảng dẫm phải mìn. Quảng cũng không dám bước ra khỏi cửa nếu không có anh Nhất cùng đi. Nội hiểu nỗi lòng hai cháu. Nội trao cho mỗi đứa cái thùng gánh nước và con dao con. Hai đứa gõ sống dao vào thùng, miệng hô xung phong inh ỏi vang cả gian nhà.
    Chị Sáu Hoàn say sưa nghe chuyện các con. Các con của chị mang dòng máu cộng sản trong huyết quản đã phân biệt rõ ta, bạn, thù. Chị mừng lắm, chị dự kiến đưa các con lên Sài Gòn cùng ở chung để có điều kiện dạy dỗ, giáo dục con nhưng chị tạm bỏ ý định đó vì cả mẹ đẻ, mẹ chồng đều không đồng ý và vì chị thấy các con của chị đã trưởng thành đúng theo ý chị mong muốn. Chị thương các con lắm. Về quê, chị gom mấy đứa nhỏ lại chung sống với mình. Chị ngắm các con mà hởi lòng, hởi dạ. Chả hiểu có phải do di truyền không mà thằng Quảng, con Hiếu đều mắc chứng hen suyễn giống ba, mỗi lằn lên cơn hai đứa ho khù khụ thâu đêm, quằn quại vì đau đớn. Ngày chưa lên Sài Gòn, Tư Linh sẵn sàng thức thâu đêm bên các em, chiếu theo mọi đòi hỏi của các em. Tư Linh hiểu tính cách từng đứa. út Hiếu đòi anh Tư gục xuống làm đệm cho nó dựa còn thằng Quảng bắt anh Tư vuốt ngực; xoa lưng. Tư Linh càng lớn, càng giống ba, giống đến mức những người quen của ba gặp nó lần đầu đều hỏi: "Mày có phải là con Bẩy Đấu không?" Thằng Nhất kém anh hai tuổi nhưng giỏi lao động nhất nhà. Nó theo Nội ra đồng, ai làm gì nó cũng bắt chước. Nó cuốc đất, nhổ mạ, cấy lúa, tát nước khá thành thạo. Nó dẫn anh Tư và mấy đứa em đi câu cá, mò cua, bắt ếch về rồi tự làm thức ăn mời má. Chị Sáu Hoàn là thầy dạy nấu ăn nhưng chị không phụ giúp, không chỉ đạo kỹ thuật cho các con. Chị khoái trá hưởng thú vui đặc biệt khi thưởng thức món ăn do chính mấy đứa con trai của chị nấu. Có một lúc thằng Quảng kéo chị riêng ra một chỗ, dắt chị vào buồng:
     - Má? Con đố má biết hầm bí mật ở đâu?
    Thằng Quảng đâu có ở với Nội. Rõ ràng là cu cậu mới được anh Nhất bày vẽ cho, bây giờ cu cậu vội khoe với má.
    Chị Sáu nhìn quanh, không nhận ra nắp hầm. Thằng Quảng ra lệnh cho chị:
    - Má úp mặt vào tường, má nhắm mắt lại để con đi trốn. Đố má tìm được con.
    Chị Sáu mở mắt sau tiếng "Xong rồi" của con. Rõ ràng là nó đang ở trong nhà này nhưng nó ở đâu? Tiếng thằng Quảng vọng ra:
    - Con ở đây má nè !
    - Con chui vào giữa bịch thóc bằng cách nào vậy
    - Má chịu chưa?
    - Má chịu.
    Thằng Quảng chui theo đường hầm ra, dẫn má vào chỗ ẩn nấp. Thì ra bịch (cót) thóc đan rỗng ruột đủ một chỗ cho người nấp khi có tiếng động. Chị Sáu vui với trò tinh nghịch của các con. Thằng Quảng đưa chị ra bụi tre, dẫn chị xem hầm bí mật khác. Đó là cái chum có nắp đậy đặt sầu trong lòng đất. Thằng Quảng giải thích với vẻ ông cụ non:
    - Quê ta trời mưa nhiều, đất dễ sụt lở lắm. Mấy chú du kích dùng cách này để hầm khỏi bị ngập nước.
    Chị Sáu Hoàn rủ Quảng ra thăm ao. Mỹ Hòa nói là ở bờ ao có hai hầm bí mật, chị phải tự mình quan sát để xác định vị trí có hầm . Chị dắt con đi bộ quanh bờ ao. Nước ao  phẳng lặng, cỏ mọc tươi tốt. Làm sao mấy cô, mấy cậu du kích đào được hầm bí mật ở đây. Chị nhớ lời kề của Mỹ Hòa: "Mười Tuân thách đố con. Con sục sạo khắp nơi vẫn không thấy dấu vết khả nghi. Con chịu thua. Em nhảy ùm xuống ao, bơi một đoạn rồi lặn. Không thấy em nổi lên, con hoảng quá. Con đang mặc quần trắng, áo dài trắng phải nhảy ào xuống nước để cứu em. Mười Tuân trồi lên. Nó cười toét miệng, xui con:
    - Chị Ba. Chị tới đây. Chị ngụp xuống, chui vào ngách này là sẽ thấy hầm.
    Con hơi ngán vì tóc con dày, nước ao bẩn. Mười Tuân khuyến khích con :
    - Không ngợp đâu, chị Ba. Anh Ba Vĩ vô hầm luôn. Emcòn nhỏ, lội dở ẹt nên anh Ba nạt em, không cho em vô trong đó .
    Vì tò mò và cũng vì chiều lòng cậu Mười, con ngụp xuống thui vào liền. Con đứng trong hầm, nước ngập tới ngực, tối như đêm ba mươi nhưng không ngạt thở vì có hệ thống thông hơi rất tốt.
    Chị Sáu Hòa không có ý định kiểm tra tại chỗ nói có hầm. Chị hỏi Quảng, Quảng phụng phịu:
    - Hầm ở đây, má nè. Anh Năm không cho con đến gần vì con bởi còn dở quá.
    Chị an ủi con:
    - Má cũng không biết lội, má ngại bị chết đuối quá. Thôi má con ta về đi.
    - Dạ!
    Thằng Quảng lon ton chạy trước. So với bảy chị em, có lẽ nó mập nhất, bắp thịt tay chân chắc nịch. Chị hỏi con:
    - Sao mỗi lần lên cơn suyễn, con cứ bắt tội anh Tư vậy? Ngoại, Nội, các dì, các cậu lo cho con không được sao?
    Thằng Quảng cười toét miệng.
    - Kỳ quá má à! Nếu anh Tư không vuốt ngực cho con, cơn suyễn lâu lui lắm. Con và út Hiếu thương anh Tư lắm.
    - Anh bận học. Nếu anh mất ngủ, anh sẽ ngủ gục trên lớp, sẽ nhận điểm xấu.
    - Tụi con ráng chịu, không gọi anh Tư nhưng không chịu nổi, má à .
    Chị Sáu Hoàn bồng thằng Quảng lên. Nó nặng quá. Nó thích thú bá cổ má, áp má mình vào má má. Thằng bé thiếu tình thương của má nên đà dồn hết tình cảm cho anh trai. Tư Linh đâu có phép thần thông hoặc đôi tay của nhà ngoại cảm mà chỉ truyền tình máu mủ, ruột thịt đến các em, xoa dịu cơn suyễn của các em. Chị hỏi con về Bẩy Thiện. Thằng nhỏ ở với em trai chị, cách Bình Tân ba kilômét. Vùng đó ở dưới sự kiểm soát của địch nhưng không gắt gao lắm. Tối nay chị phải sang đó, ngủ trọn đêm bên con. Má chồng khuyên chị:
    - Con không nên mạo hiểm. Để má nhờ người đón thằng nhó về cho con.
    - Sang đó con còn ngỏ lời cám ơn cậu Tư, dì Năm đã nuôi cháu giùm con. Con đánh du kích bất ngờ nên không hề chi, má à.
    Chị Sáu Hoàn đã đạt được ước mơ ôm Bấy Thiện ngủ trọn đêm bên con.
Logged

Nếu có 1 ước muốn trở thành sự thật
Tôi chỉ muốn trở thành 1 người lính đảo
VoMinhGiang
Thành viên
*
Bài viết: 91


Sống trên đời sống cần có một tấm lòng.


« Trả lời #26 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 08:49:02 am »

11
    Kĩ sư Dương Văn Đấu xoay dọc, xoay ngang tờ bưu thiếp Anh sẽ viết gì cho vợ, cho con? Nếu thả sức, anh có thể viết đặc kín 20 trang, 30, 40 trang giấy. Anh có biết bao điều cần tâm sự với chị. Anh nhớ các con quá chừng. Tuy nhiên anh không thể gói ghém nỗi lòng qua mấy dòng bỏ trống trong tờ bưu thiếp, nhất là loại bưu thiếp gửi công khai, ai cũng đọc được và kẻ địch đang muốn dò tìm được điều gì đó qua từng chừ trong thư. Anh đắn đo lắm.
    Trước hết, anh tự đặt cho mình câu hỏi: có nên gửi bưu thiếp không Từ Cẩm Phả đến Gò Công quê anh xa khoảng hơn hai nghìn kilômét. Quãng đường đó với những nước tiên tiến, có hòa bình, thì chỉ cần chậm nhất hai ngày là thư từ người gửi đến tay người nhận và chưa đến năm giây quay số điện thoại là hai người ở hai bên đầu dây thỏa sức trao đổi tâm tình với nhau. Còn bây giờ? Anh sẽ gửi bưu thiếp theo địa chỉ nào? Anh không thể gửi cho mẹ. Ấp Xóm Đình, nơi mẹ anh ở, là vùng kháng chiến cũ nên nhà anh thường có nhiều cán bộ cách mạng lui tới. Anh cũng không định dùng địa chỉ của mẹ vợ. Nếu vợ anh ở với cụ thì sao? Anh chọn người nhận là chị ruột. Vợ chống chị đều là dân quê chân lấm, tay bùn nên ít có khả năng bị địch nghi ngờ, dò xét. Anh cầm bụt viết nháp: "Ba là giám đốc mỏ than Cẩm Phả . Ba mới có bầng kỹ sư mỏ . Chúc Nội, Ngoại, đôi bên gia đình, em và bảy con khỏe mạnh. Ba khỏe, mập hơn trước." Anh đọc lại và nhận ra ngay sơ suất của mình. Trong bưu thiếp, cần gì phải xưng là "ba" và khoe mình đang làm giám đốc? Câu thăm hỏi xã giao ghi đủ mối quan hệ giữa mọi người cũng không thích hợp. Anh viết lại, nội dung ngắn gọn, súc tích như anh đã gửi thiếp lần trước: "Em đã đậu kỹ sư, công tác ở mỏ than Cẩm Phả - Bẩy. Anh không tin là bưu thiếp này sẽ đến tay vợ anh, các con anh nhưng nếu không gửi đi, anh chưa thật yên tâm. Anh bấm chuông. Chú liên lạc có mặt ngay tức khắc. Anh yêu chú Thắng lắm. Thắng ngoan và rất thạo việc Ngày mới về công tác, anh dự định cắt tiêu chuẩn công vụ phục vụ riêng giám đốc. Tại sao anh không thề tự giặt lấy quần áo, tự nấu lấy nước uống, nước tắm, quét nhà nấu cơm, rửa bát? Các đồng chí trong đảng ủy thuyết phục anh. Anh thanh minh:
    - Tôi quen lao động chân tay. Có công vụ, tôi bỗng như ông chủ được người hầu hạ nên rất ngượng và không đành lòng.
    - Đừng nên nghĩ vậy, anh Đấu. Đồng chí công vụ và anh đều ăn lương nhà nước, đều bình đẳng về chính trị như nhau. Anh là giám đốc, anh cần dành thời gian để lo việc lớn cho mỏ. Anh nhận cậu Thắng vào làm liên lạc là chính và chỉ giúp việc cho anh khi nào anh quá bận.
    Thắng mới 20 tuổi, học hết cấp ba. Cậu ta giao hẹn:
    - Em phục vụ giám đốc hết mình. Em chỉ có nguyện vọng là giám đốc cho em làm thợ hầm lò. Anh cười:
    - Chui vào hầm cực thấy mồ. Sức mày chịu nổi không?
    - Em khỏe lắm, giám đốc cứ tin ở em.
    - Tao tin.
    Nè Thắng Con gái lớn của tao đến tuổi gả chồng rồi ảnh nó đây nè . Nếu mày ưng nó , tao cho đó .
    - Nếu vậy em phải gọi giám đốc là ba rồi.
    Anh Đấu chỉ vào cái ảnh để trên bàn:
    - Nó đây nè. Năm 1954, tao đi tập kết nó 13 tuổi. Tên nó là Mỹ Lê.
    Anh không có ảnh nào khác. Hơn một năm gần đây ngày càng có nhiều cô gái đến với anh, nhiều người ngỏ ý xa gần khuyên anh nên lấy vợ hoặc nên tìm thú vui trăng gió cho đỡ nhớ nhà. Với ai, anh cũng giải thích nhỏ nhẹ :
    - Tôi có vợ rồi. Không bao giờ tôi phản bội cô ấy.
    Nhiều người không tin anh. Có ông bạn già còn nửa đùa, nửa thật khuyên:
    - Tao nghiệm rằng cứ một bữa không ăn là thấy bứt rứt khó chịu, một ngày không có gì cho vào bụng là đói hoa cả mắt, đứng ngồi không yên. Cái khoản kia cũng vậy. Đằng ấy chỉ nhịn dược nửa năm, một năm chứ không cai được mãi đâu.
    - Bác nói vậy để đùa vui thôi. Các vị cha cố, mấy ông hòa thượng cữ suốt đời nào có sao đâu
    - Làm sao mà mày biết được ma ăn cỗ?
    Anh sẵng giọng:
    - Thưa bác, con người ta có trái tim, khối óc. Con không thể làm chuyện bậy bạ được.
    Ở mỏ, anh chưa hễ sàm sỡ hay buông lời tán tỉnh, trêu ghẹo cô gái nào. Người ta đố nhau nghĩ cách nào làm cho “anh thầy tư” Dương Văn Đấu phá giới. Người ta còn kể cho anh nghe sự tích Cửa ông. Ngày xưa nơi đây hoang vu, chưa có người ở, là chỗ lưu đầy tướng quân Trần Khánh Dư vì tội thua trận Vân Đồn và có mối quan hệ không chính đáng với con dâu một vị có tước vương họ Trần. Rời quan, Trần Khánh Dư làm nghề bán than. Nhờ dâng bài thơ "Bán than" đầy khí phách: ". . . ở với lửa hương cho trọn kiếp. Thử xem sắt đá có bền hơn..." Vua cho ông được phục chức. Người kế tiếp ông bị đầy ra trấn ải Quảng Ninh là con thứ ba của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn tên là Trần Quốc Tảng. Vị vương gia này nuôi ý định biến vùng này thành nơi sầm uất, đông dân. Đức ông xin vua cho hàng trăm cung phi hoặc mỹ nữ từ kinh đô đến. Nhờ ơn huệ đó tất cả con trai, đặc biệt là con gái vùng mỏ này nổi tiếng là đẹp nhất nước và các cụ phụ lão địa phương quyết định đổi tên Cửa Suốt thành Cửa ông.
    Người ta luôn nhắc anh: Anh là giám đốc mỏ. Anh thừa sức có người vợ hoặc người tình trẻ và đẹp nhất vùng Cửa ông.
    Anh không tranh luận nữa. Anh chụp lại ảnh cũ, phóng to cỡ 18 x 24cm. Anh mua cái khung đẹp, trước khi lồng ảnh vào anh nắn nót viết dòng chừ: "Một vợ, bảy con đang chiến đấu ở miền Nam". Từ ngày có "tuyên ngôn" này, không còn ai gây rắc rối với anh nữa. Anh tâm sự với Thắng:
    - Tao mới nhận được bưu thiếp là vợ tao sinh thêm cho tao một trai, một gái. Tao là Bẩy Đấu, có bảy con. ở quê tao, đứa đầu gọi là Hai, con út là Tám Hiếu hoặc út Hiếu.
    Thắng trêu:
    - Nếu ba cho con làm con rể, con là Hai Thắng à?
    Anh cười khì, chống chế:
    - Khi nào nhận được tin Mỹ Lê đồng ý mày hãy hay. Chú em ra bưu điện gửi giùm anh tấm bưu thiếp này.
    Thắng vút đi nhanh chóng. Đúng là nhờ có cậu ta mà cuộc sống của anh dễ chịu hơn, thoải mái hơn, sức khỏe của anh cũng bảo đảm hơn. Ở mỏ, anh bận trăm công nghìn việc. Anh không vướng víu gia đình và chả có chuyện riêng tư gì phải quan tâm nên anh dư sức lao vào việc. Không nơi nào của vùng mỏ này anh chưa đặt chân tớ. Ngoài 40 tuổi, anh rất sung sức. Anh là giám đốc miệng nói, tay làm hoặc như nhiều người thường nói là văn võ song toàn. Anh có sức dẻo dai, bền bỉ của người nông dân ham lao động từ nhỏ, có kiến thức cùng đôi tay khéo léo của học sinh trường Bách nghệ; có trí tuệ uyên thâm của một kỹ sư mỏ, kèm theo lòng yêu mỏ tha thiết và bản lĩnh một nguyên tỉnh ủy viên, một bí thư đảng ủy nên anh luôn tìm ra việc cần làm. Mỏ của anh có cả vạn công nhân. Chỉ riêng quyết tâm phải nhớ hết tên mọi công nhân làm anh tốn biết bao thời gian, công sức. Anh phải bỏ nhiều đêm, đến nhà riêng từng người thợ. Anh đi bộ đến nhà ở tập thể, cùng ăn, cùng ngủ với công nhân, trò chuyện với anh em để hiểu hoàn cảnh từng người. Rất may là anh đã quen với khí hậu quái ác của miền Bắc. Còn nhớ năm đầu tiên đến Cẩm Phả, anh không sao chiu đựng nổi cái rét cắt da, cắt thịt tê buột cả tay chân. Trời! Từ thuở cha sinh mẹ đẻ , chưa bao giờ anh gặp rét như vậy Anh mặc cả năm chiếc áo sơ mi, khoác thêm chiếc áo bông ra ngoài mà vẫn thấy lạnh. Ngày đó, giám đốc chưa có lương và khó lòng kiếm mua được chiếc áo len, găng tay len. Buổi tối, muốn dỗ yên giấc ngủ, anh lấy cái chậu hỏng, xếp than lên trên làm lò sưởi. Những ngày đầu anh không dám bước chân ra khỏi nhà. Anh sợ rét quá. Người ta nói rét Việt Nam là rét ngọt. ở nhiều nước trên thế giới có băng tuyết, nhiệt độ ngoài trời thường là âm 15º – 20ºc nhưng là rét khô, không khí không bị ẩm nên nhiều người Việt Nam ra nước ngoài thấy dễ chịu. ở đây cái lạnh thấm vào từng lỗ chân lông anh, chui vào miệng, vào mũi anh, thậm chí tai anh tê cứng, bấm không thấy đau. Tự nhiên anh nhớ đến chuyện cổ tích anh đọc được từ thuở nhỏ. Trời rét. Anh nhà giàu lộ ý khinh thường. Gió thổi mạnh. Anh này mặc thêm áo len, áo bông rồi áo lông cừu. Thần gió trổ hết thần lực. Anh nhà giàu lên giường trải đệm lông, đấp năm sáu cái chăn dày. Thần gió không chịu thua, sai gió luồn qua mọi kẽ hở chui vào chăn, khiến cho anh chàng nhà giàu không chịu đựng nổi phải xin đầu hàng, thua cuộc. Anh nhà nghèo có cách xử sự ngược lại. Anh thiếu quần áo ấm. Anh dùng thuổng, dùng mai đào đất. Do lao động nặng nhọc, mồ hôi anh tuôn ra nhễ nhại. Anh cởi chiếc áo rách đang mặc cho đỡ nóng. Quá mệt mỏi, thần gió đành chịu hàng phục trước sức lao động bền bỉ của anh nhà nghèo.
    Giám đốc Dương Văn Đấu gật gù tán thưởng. Anh đã có biện pháp trị rét vô cùng hiệu quả. Anh không ngồi ru rú một chỗ nữa. Anh xuống hầm lò lao động cùng thợ mỏ . Anh đi bộ đến từng khu nhà của thợ. Anh quen dần với rét. Anh không cần dùng lò sưởi nữa. Anh em lo cho anh cái đệm rơm, đệm rạ. Ở Gò Công quê anh, bà con xã Bình Tân nói riêng, cả vùng Nam Bộ nói chung đều dùng lá dừa nước lợp nhà. ở miến Bắc, nhân dân dùng rạ đánh thành tấm tranh không chỉ để lợp nhà mà còn tạo nên những tấm đệm êm và rất ấm. Đã biết bao mùa rét, anh sống ở miền Bấc. Giá anh được phép viết thư về Gò Công, anh sẽ kể cho bà con nghe thế nào là rét ngọt. Lại còn nóng nữa chứ? Mùa hè, trời nắng chang chang, nắng như đổ lửa, như thiêu, như đất đa thịt người ta Suất ba tháng hè, mồ hôi anh hôn nhễ nhại khiến anh chỉ muốn cởi trần, ngâm mình trong nước lạnh. Anh thương công nhân quá? Trời nắng nóng như thế mà thợ mỏ phải chui xuống hầm lò, lao động nặng nhọc thì chịu sao nổi. Anh lo thiết kế hệ thống quạt, đem theo luông gió thoáng mát cho thợ . Cho đến bây giờ , anh đã là người dân miề n Bắc thực thụ rồi. Anh không tự xưng là Bẩy Đấu nữa mà đã quen nghe: anh Đấu, giám đốc Dương Văn Đấu. Công việc ở mỏ cuốn hút anh. Anh chỉ có thời gian nghĩ đến vợ, con khi ngả lưng trên giường. Anh tiếp tục sống những ngày Bắc, đêm Nam. Anh luôn nhớ đến lời "tuyên ngôn" anh ghi dưới tấm ảnh: "Một vợ, bảy con đang chiến đấu ở miền Nam".
Logged

Nếu có 1 ước muốn trở thành sự thật
Tôi chỉ muốn trở thành 1 người lính đảo
VoMinhGiang
Thành viên
*
Bài viết: 91


Sống trên đời sống cần có một tấm lòng.


« Trả lời #27 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 09:03:47 am »

    Chị Sáu Hoàn thao thức không sao ngủ được. Chị mới nhận được thư của anh Bẩy Đấu và cả tấm hình của anh nữa. Anh. mặc bộ complê đen, tóc rẽ. Chị ngắm hình anh mãi không chán. Các anh ở Ban giám hiệu lớp học tại Thị Vải đã lấy ảnh chị ghép chung với ảnh của anh thành tấm ảnh đôi mà chị rất ưng ý. Chị xem ngày đề ở cuối thư. Phải mất ba tháng, thư của anh từ Hà Nội mới vào tới tay chị. Dù sao, đây cũng là điếu đáng mừng. Từ nay, theo đường dây bí mật, chị sẽ biết tin anh và thông báo cho anh về mọi chuyện trong gia đình. Anh đã hiểu về người yêu của Mỹ Lê . ạnh đã viết thư riêng cho con gái và người yêu của nó là Lê Chân tức Ba Cánh: "Các con là con ba, má nhưng bây giờ các con là cán bộ, là đảng viên, là con của Đảng. Nếu tổ chức tán thành, má các con đồng ý, ba cũng ủng hộ hoàn toàn .
    Anh Bẩy Đấu chưa biết hai đứa mới làm lễ cưới. Chính Ba Cánh và Mỹ Lê cũng không biết trước ngày cưới của mình. Trong một lần vào căn cứ họp, đồng khí Hồ Hảo Hớn tức Hai Nghị, Bí thư thành đoàn nảy ra sáng kiến tổ chức đám cưới cho hai bạn. Anh gọi Lê Chân hỏi:
    - Mày với Mỹ Lê tổ chức cưới dịp này đi , tao ủng hộ .
    - Sao gấp vậy, anh Hai?
    - Mày không nghe cáu ca: "Lấy vợ thì cưới liến tay, chớ để lâu ngày, lắm kẻ gièm pha" sao?
    - Tôi đâu có ngán, anh Hai? Tụi tôi yêu nhau dù phải xa nhau hay chờ đợi năm, bảy năm cũng chả sao.
    - Nè, hai bạn đều là đảng viên, mấy khi có dịp vào căn cứ họp mặt cùng một lượt. Các bạn ngại diều gì?
    - Tôi chưa bàn với Mỹ Lê và chưa kịp xin ý kiến đồng chí dì Sáu. Anh Hai Nghị tỏ thái độ đứt khoát:
    - Tôi sẽ lo thuyết phục má Sáu, lo tổ chức đám cưới. Cậu cần thống nhất ngay với Mỹ Lê.
    Ba Cánh hỏi đùa bạn:
    - Đây là chi thị của Bí thư thành đoàn phải làm đám cưới hay gợi ý của cá nhân đồng chí Hồ Hảo Hớn tức Hai Nghị?
    Hai Nghị khoát tay
    - Việc riêng của cô cậu, nếu không ưng ý thì thôi, miễn bàn. Mình có việc về quân sự cần làm gấp, cậu giúp mình. Nè, đồng chí Lê Chân .
    - Có tôi? Ngồi xuống đây, lấy giấy bút ra!
    - Để làm gì vậy?
    - Tôi đọc nội dung công văn, đồng chí ghi lại và cho đánh máy ngay 18 bản.
    - Rõ. Viết đi! Kính gửi các đống chí ủy viên ban chấp hành thành đoàn.
    - Xong rồi!
    - Mời đồng chí đến dự cuộc họp 'Ban chấp hành vào hối ... giờ .... ngày ... để thông qua một nghị quyết đặc biệt...
    - Xong rồi!
    - Cậu chờ mình một phút để mình cân nhắc nội dung. Cậu đọc lại xem nào?
Ba Cánh đọc một mạch. Hai Nghị cười tủm tỉm, nói như ra lệnh: "Cưới cho Ba Cánh ở đâu, như thế nào, vào thời điểm nào sẽ thích hợp?" Ba Cánh bỏ bút xuống, đuổi theo bạn. Hai Nghị vừa chạy , vừa cười , nói với lại :
    - Thôi đi cha nội Việc gấp rồi, chàng đi gặp nàng sớm phút nào hay phút ấy.
    Ba Cánh bị thuyết phục. Anh đến với chị, kể cho chị nghe ý kiến của anh Hai. Mỹ Lê đã nghĩ tới chuyện này. Cô chưa bị lộ nên cô dễ dàng tổ chức đám cưới công khai, linh đình như mọi nữ sinh trung học khác: cũng đất pháo, xe hoa, cô dâu đội vương miện, mời khách đến nhà hàng... Nhưng còn anh? Anh Ba Cánh không thể công khai sắm vai chú rể. Chả lẽ trong lễ cưới lại nêu lý do chứ rể vắng mặt? Hơn nữa, cô không muốn bạn bè dự lễ cưới của cô lại là những sinh viên con quan, con nhà giàu. Chị Năm Trăng đã gợi ý nên tổ chức "đám cưới linh đình" nghĩa là chỉ cần cô đâu, chú rể, dăm người bạn bè của đôi bên tới dự, được sự chứng kiến của má là đủ nhưng Mỹ Lê chưa thật ưng ý lắm. Cô yêu anh tha thiết Cô ước mơ ngày hai người nên vợ nên chồng càng sớm, càng tốt nhưng trong thâm tâm cô còn chút ngại ngần. Cô là phụ nữ, đã từng thay má quán xuyến việc nhà nên cô hiểu những nhu cầu cần thiết tối thiểu cho một gia đình. Sau ngày cưới, hai vợ chồng cô sẽ ở đâu? ở đất Sài Gòn này, muốn kiếm căn buồng 4 hay 5 mét vuông hoặc thuê một biệt thự làm tổ ấm cho hai vợ chồng son khá thuận lợi nhưng cô và anh không thể làm như vậy. Vì cảnh giác, hai người sẽ không ở chung nhà, ăn cùng mâm. Những nữ sinh cùng trường, cùng tuổi cô thường mất rất nhiều thời gian trao đổi với bạn bè xem nên chọn Pa-ri, Luân-đôn, Nếu ước hoặc Đà Lạt, Vũng Tàu... để hưởng tuần trăng mật. Còn cô? Điều đó quá xa vời, cô chưa hề nghĩ tới. Là cán bộ hoạt động trong lòng địch, cô thực tế hơn. Cô sẽ giải quyết như thế nào nếu hai người có con? Cô khó có thể vừa nuôi con mọn, vừa hoạt động và không giây phút nào cô muốn rời địa bàn Sài Gòn, từ bỏ trận tuyến mặt đối mặt với quân thù để vô căn cứ. Vì lẽ đó, cô thực sự chưa biết nên trả lời với anh và anh Hai Nghị như thế nào. Cô kể hết mọi suy nghĩ, dằn vặt với anh và kết luận:
    - Có nhiều cách kỷ niệm ngày vui nhất của đời mình. Theo em, nếu được Bí thư thành đoàn lo tổ chức đám cưới cho sẽ là kỷ niệm đặc biệt khó quên. Tuy nhiên, em không thể chấp thuận nếu má em không có mặt. Mong anh th.ông cảm giùm em.
    - Anh tán thành. Đồng chí dì Sáu sẽ đại diện không chỉ cho họ nhà gái mà còn là người thân nhất của họ nhà trai.
    - Vậy mà anh vẫn "đồng chí dì Sáu"?
    - Anh xin lỗi, anh quen miệng. Mỹ Lê nè?
    - Dạ!
    - Anh không định che giấu lý lịch gốc của anh. Anh không thuộc thành phần cơ bản đâu. Ba anh là đốc học, má anh là con quan huyện.
    - Sao anh phải đi ở?
    - Ba má chết sớm. Bị mồ côi cả cha lẫn mẹ, bốn chị em anh phải đi ở đợ để kiếm miếng cơm, manh áo. Anh đã làm đủ nghề.
    - Vì sao anh rời Cần Thơ lên Sài Gòn?
    - Trung ương Cục rút anh Bầy Bính, thành ủy viên Cần Thơ lên Sài Gòn. Anh Bẩy đưa anh đi theo. Anh Bẩy khuyên anh học nghề lái xe. Sau hơn một năm làm tài xế xe khách Sài Gòn - Cần Thơ, anh gây ra tai nạn giao thông phải ra hầu tòa.
    - Người ta tịch thu bằng lái xe và giam giữ anh bao lâu?
    - Anh được trắng án vì lỗi không thuộc phía anh. Sau vụ đó anh Bảy giao nhiệm vụ cho anh hoạt động trong phong trào sinh viên, học sinh.
    - Anh nói với em điếu đó vào lúc này để làm gì?
    - Để chúng ta không còn điếu gì giấu giếm nhau trước ngày cưới. Anh sẽ báo cáo với anh Hai Nghị về ý kiến của em - anh xin lỗi - của chúng ta.
Anh Hai Nghị lặng nghe Ba Cánh trình bày. Anh cười hể hả :
    - Mình dự kiến trước là các cậu sẽ đồng ý. Tối nay, đồng chí má Sáu của cậu và Ba Đặng, Năm Trăng, Thu Hồng, Xuân Hồng sẽ về dự lễ cưới. Mình đã chỉ định chủ hôn và trưởng ban tổ chức rồi. Cậu thử đoán xem ai sẽ lo việc này.
    - Chịu!
    - Có khó gì. Trưởng ban tổ chức của thành đoàn (lúc đó gọi là Khu đoàn) Tư Tông sẽ làm nhiệm vụ trưởng ban tồ chức đám cưới. Anh Nguyễn Đông tức Ba Lâm được giao trọng trách làm chủ hôn. Cậu có đồng ý không
    - Xin phục từng thượng cấp - Ba Cánh cúi rạp mình trước mặt bạn.
    Bí thư thành đoàn kéo bạn ngồi xuống cạnh mình:
    - Ba Cánh nè. Tao đã chỉ thị cho Ba Lâm, Tư Tông làm đám cưới tụi mày thiệt rôm rả. Tụi nó có xe hơi, nhà lầu, khách diện đại lễ, đồ nữ trang vàng ngọc, kim cương có đầy người... Còn bọn mình? Chắc chắn không vị khách nào đi giầy da, cô dâu chú rể không thể tặng nhau nhẫn cưới nhưng hạnh phúc hai đứa mày sẽ bền vững hơn nhiều. Tụi bay khỏi lo về vật chất. À, mà hai đứa có cần coi ngày, giờ không?
    - Khỏi cần, anh Hai.
    - Nếu dì Sáu về kịp tối nay, tao tính là 4 giở chiều mai, giờ hoàng đạo, sẽ làm lễ cưới.
    - Tùy anh.
    - Ô hay, sao lại "tùy anh"? Chú rể này chả có chính kiến riêng gì cả. Nè, nếu có lên phát biểu chớ có quen miệng tự phê bình: "Nếu có khuyết điểm gì, xin lần sau sửa chữa" nghe.
    - Rõ!
    Ba Cánh vốn hiền hành, ít nói giờ đây bỗng trầm lặng hơn vì hồi hộp trước giây phút hạnh phúc đang nhích tới gần, vì xúc động trước thái độ nhiệt thành của bạn. Anh thông báo những tin tức mới cho Mỹ Lê . Mỹ Lê rủ anh đi đón má. Nghe hai con trình bày, chị Sáu Hoàn cười xòa:
    - Nghe lệnh triệu tập gấp, tao tưởng có chuyện động trời nào đó nên chả kíp chuẩn bị gì. Tao chỉ mua cho tụi bay hai con vịt bầu này.
    - Khỏi cần má à, thành đoàn lo cho tụi con đủ cả rồi. Ý kiến má thế nào?
    - Các con đã đọc thư ba. Má đồng ý theo ba: nếu tổ chức chấp thuận, má tán thành.
    Mỹ Lê quay về phía người yêu:
    - Anh đưa "đồng chí dì Sáu" về gặp anh Hai Nghị đi.
    Chị Sáu mắng con gái:
    - Con nhỏ này kỳ quá . Mày làm vợ nó nhưng là cấp dưới của nó. Chả lẽ nay mai nó hạ lệnh cho mày: Em yêu? Em sẽ đi trinh sát đồn P à?
    - Má bênh con rể rồi, con không chịu đâu.
    - Ở gia đình thằng Ba Cánh là con rể tao nhưng trong công vụ, tao phải phục tùng nó. Tụi bay đi gặp Ba Lâm, Tư Tông, tao đến chỗ Hai Nghị.
     Buổi chiều hôm sau, đúng bốn giờ, Bí thư thành đoàn Hai Nghị tuyên bố:
    - Hôm nay, thành đoàn tổ chức hôn lễ cho hai đồng chí Ba Cánh và Tư Liên (bí danh của Mỹ Lê), mời tất cả các đồng chí cùng tham dự.
    Đây là tin vui bất ngờ. Chưa bao giờ khách từ nội thành ra được dự đám cưới ở căn cứ. Khách không hề quen cô đâu chú rể, thậm chí không hay biết Ba Cánh hay Tư Liên ai là nam, ai là nữ. Do kỷ luật bảo mật vô cùng nghiêm ngặt ở căn cứ, mỗi người khách, nếu không trùm khăn rằn sẽ được phát cái mũ. Đây thực chất là cái túi được trùm kín từ đầu, tới cổ. Khi khâu túi, mấy má, mấy chị đã khoét hai lỗ nhỏ cho hai con mắt và thêm lỗ thứ ba ở miệng cho những ai nghiện thuốc lá. Vì lẽ đó, khách không biết bạn học cùng khóa của mình là ai, ở đâu, làm nghề gì, già hay trẻ? Mọi người khách đều tự giác chấp hành nội quy, không ai tò mò điều tra lý lịch người bên cạnh và cũng không tiết lộ tên tuổi mình cho bất cứ ai. Khách được hướng dẫn đến "phòng" cưới. Trưởng ban tổ chức Tư Tông bố trí khách ngồi mỗi người trong một "phòng" riêng rộng thoáng một mét vuông, có quây ni-lông kín chung quanh. Vì thiếu dĩa đựng bánh kẹo, ban tổ chức có sáng kiến cuộn tấm ni-lông làm "tường" ngăn hai phòng lên cao hơn mặt đất 20 xăngtimét để một  dĩa kẹo có thể dùng cho hai người khách. Anh Ba Lâm trịnh trọng tuyên bố:
    - Lẽ ra Bí thư thành đoàn Hồ Hảo Hớn phải làm chủ hôn nhưng Hai Nghị nhường vinh dự cho tôi vì tôi nhiều tuổi thuộc bậc cha, chú. Xin giới thiệu cô dâu, chú rể.
    Ba Cánh, Tư Liên đứng dậy chào mọi người. Tiếng pháo tay nổ lên giòn giã. Có ai đó hét to: "Xả", "Yêu cầu xả", "Hôn nhau đi", "Cô dâu chú rể song ca"
    Anh Hai Nghị đứng dậy. Anh kể về lý do tổ chức đám cưới hôm nay và bộc bạch nỗi lòng mình.
    - Các bạn! Đã có ai trên trái đất này đi dự đám cưới lại không biết mặt cô dâu, chú rể? Các bạn thử ngắm trang phục của chú rể, cô dâu. Ba Cánh, Tư Liên đều mặt đồng phục bà ba đen) và đi dép râu như mọi chúng ta. Vì phải trở vào nội thành hoạt động, Ba Cánh, Tư Liên dù rất vui lòng chiều theo yêu cầu của khách cũng không được phép "xả" (bỏ túi trùm đầu) và không được phát biểu cảm tưởng (để khỏi lộ tiếng nói) trong hôn lễ của mình. Chúng ta và cô dâu, chú rể sẽ giữ mãi mãi kỷ niệm đặc biệt đẹp này. Xin chúc cho đôi bạn hạnh phúc, bách niên giai lão.
    Pháo tay nổ giòn. Theo quy định, khách không được lên chúc mừng cô dâu, chú rể vì dễ để lộ tiếng nói của mình. (Cho đến nay - hơn ba mươi sáu năm sau ngày cưới - Ba Chân và Tư Liên đã cố sưu tầm nhưng chỉ biết được tên, địa chỉ của quá nửa số khách đến dự cưới của mình).
    Lễ cưới diễn ra rất nhanh chóng. Cô dâu, chú rể bắt tay cảm ơn từng vị khách. Khách vế "nhà ăn". Theo lệnh của Bí thư thành đoàn, cấp dưỡng tăng thêm mỗi mâm dĩa thịt lợn và chị Sáu 'Hoàn chiêu đãi khách món lòng vịt, thịt vịt xào măng kèm thêm ly rượu.
    Sau bữa tiệc, những người thân nhất đưa cô dâu, chú rể về "buồng hạnh phúc". Đây quả là "công trình đặc sắc" của Bí thư thành đoàn Hai Nghị. Anh chọn mảnh đất bằng phẳng, dọn sạch cỏ, phát quang những cây lúp xúp ở xung quanh. Anh lấy cây lá rừng rải làm đệm, trải tấm nilông phủ kín lớp lá cây và trải trùm kín tấm ni-lông bằng hai chiếc chiếu cá nhân anh vừa mượn được. Chị Năm Trăng, vốn tinh nghịch nhất đám, ngồi luôn xuống "giường cưới bình phẩm:
    - Êm hơn giường lò xo.
    Chủ hôn Ba Lâm "mắng" luôn:
    - Con nhỏ kia, bộ mày thích làm cô dâu lắm sao? Mày đồng ý thằng Ba Đặng, tao tuyên bố luôn cho.
    Chị Năm Trăng đứng dậy đến cạnh anh Ba Đặng:
    - Tụi tôi cưới là yêu cầu "xả" hết. Anh Hai, anh cho "xả” đi chớ?
     Hai Nghị đưa mắt nhìn. Toàn những người quen mặt, biết tên nhau cả. Anh gật đầu:
    - Hai đứa bay "xả" trước đi.
    Chị Năm Trăng bỏ túi trùm đầu mình và nhấc mũ cho người yêu. Anh Ba Đặng (sau này là Bí thư thành đoàn, đánh giặc rất gan dạ, bị bắt ba lần đều vượt ngục, lần cuối cùng anh bị địch bắn xuyên từ họng chui qua mồm gãy nửa hàm răng) rất lém nhưng đứng trước chị Năm Trăng, anh chịu thua. Chị Năm bạo mồm, bạo miệng hơn anh. Chị hất hàm về phía cô dâu, chú rể:
    - Bộ cô, cậu mắc cỡ ha, sao mà đứng im đó. Xả đi?
    Chị Năm gở mũ cho Mỹ Lê. Chị trêu bạn:
    - Chu cha, cô dâu không đội vương miện, không gài hoa  mà nó cũng không thèm chải đầu. Coi kìa.
    Mỹ Lê đưa tay vuốt mái tóc bị rối do đội mũ. Những người khác cũng tự động gỡ mũ. Chị Sáu Hoàn đưa tay vẫy. Hai cô đầu bếp gật đầu. Chị Sáu Hoàn nói, giọng xúc động:
    - Hôm nay tôi vô cùng hạnh phúc. Tôi có ba điều sung sướng. Thứ nhất là tôi được lên chức bà già vợ, má vợ. Thứ hai, là ba sắp nhỏ mới gởi thư. Anh Bẩy viết: "Các con là con ba má nhưng bây giờ các con là cán bộ, đảng viên, là con của Đảng. Nếu tổ chức tán thành hôn nhân của các con, má các con đồng ý, ba cũng ủng hộ hoàn toàn". Thứ ba là . . .
    Chị Sáu Hoàn nghẹn ngào, đưa khăn chấm nước mắt. Chị thổ lộ :
    - Có con gái lớn trong nhà, người làm cha, làm mẹ nào không mơ ước tổ chức đám cưới con sao cho nó không thua chị kém em, gia đình hãnh diện, mát mặt với bà con, họ hàng thân thuộc. Đám cưới Ba Cánh - Mỹ Lê hôm nay chỉ có một không hai và bà già vợ cũng thết tiệc có một không hai. Xin mời.
    Hai cô đầu bếp bưng mời mỗi đại biểu một tồ cháo vịt nóng. Khách ngồi trên "giường cưới" húp cháo xì xoạt. Ai cũng khen cháo rất ngon, ngon do tài nội trợ của má Sáu, ngon do yêu mến chú rể, cô dâu, ngon vì hương vị của "đám cưới đội mũ" ở căn cứ. Chị Sáu Hoàn tươi cười:
    - Ông bà ta có câu "Bố vợ phải đấm". Tao thay mặt anh Bẩy nên tao vừa là mẹ vợ, vừa là bố vợ. Nếu cứ phải đấm như lần này, tao còn con Mỹ Hòa đó, đứa nào chinh phục nổi nó, tao ủng hộ liền. Khoảng 10 giờ tối, khách ra về hết. Mỹ Lê vuốt phẳng tấm ni-lông trải giường, lấy hai chiếc bòng (ba lô) kê ở đầu giường thay gối. Cô ngả lưng nằm xuống, hướng vế anh:
    - Anh có cảm giác gì vế đám cưới chúng ta?
    - Tuyệt vời. Anh vô cùng hạnh phúc. Còn em?
    - Em chưa được ra ngoại quốc. Em đang nghĩ đến những khách sạn sang nhất Sài Gòn, buồng nào cũng có vô tuyến truyền hình, máy điều hòa nhiệt độ , bồn tắm nước nóng, lạnh giường lò' xo, đệm gấm... và trong tủ lạnh có đủ mọi loại rượu đắt nhất thế giới. Em có con bạn là con gái chủ hãng lúa gạo. Nó có hơn hai trăm bộ quần áo, trên một trăm đôi giầy cùng đủ loại nước hoa, son phấn. Chắc chắn những người ở khách sạn và cả con nhỏ đó không hạnh phúc bằng em lúc này.
    - Em yêu? Anh mơ ước bao giờ nước nhà không còn chiến tranh, vợ chồng mình sẽ làm đám cưới cho con chúng ta thiệt linh đinh. Anh Em tính là đúng ngày này 50 năm sau, vợ chồng ta sẽ mời các bạn cùng chiến đấu đến dự kỷ niệm lễ cưới vàng của chúng ta.
Logged

Nếu có 1 ước muốn trở thành sự thật
Tôi chỉ muốn trở thành 1 người lính đảo
VoMinhGiang
Thành viên
*
Bài viết: 91


Sống trên đời sống cần có một tấm lòng.


« Trả lời #28 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 09:05:02 am »

    Mỹ Lê có cảm giác lâng lâng, bay bổng. Mới đêm qua, cô mắc võng ở đây, anh nằm võng bên kia, thế mà giờ đây hai người đã nằm chung "giường” , đã nên vợ nên chồng, cùng nằm ngắm bầu trời đầy sao. Cô quay về phía chồng:
    - Anh! Bao giờ chúng ta sê được ra thăm thủ đô Hà Nội, được gặp Bác Hồ, gặp ba? Không hiểu ngoài đó người ta lam đám cưới như thế nào, anh nhỉ?
    - Sẽ không có đám cưới nào độc đáo và tình nghĩa hơn đám cưới chúng ta đâu. Em có hạnh phúc không?
    - Hạnh phúc tràn trề, anh à!
    - Mỹ Lê , em ? Dạ ! Em đã nghỉ đến có con chưa ?
    Mỹ Lê dốc bầu tâm sự của mình. Cô thèm sanh con song cũng ngại có con. Cô bàn với chồng về cuộc sống tương lai ở Sài Gòn. Anh thiệt dễ thương, anh đồng ý mọi lo liệu của em. Cô đặt tay lên má anh:
    - Anh yêu. Em muốn vợ chồng ta cùng thỏa thuận với nhau một điều kiện.
    Anh sửng sốt:
    - Điều kiện gì vậy, em?
    - Em xin lỗi vì em đưa vấn đề ra lúc này không rõ có thích hợp không? Mong anh thông cảm với em.
    - Việc gì mà em phải rào trước đón sau như vậy. Không ai nói ra điều này trong đêm tân hôn nhưng nếu không nói ra, em áy náy không yên. Vợ chồng mình chiến đấu trong lòng địch nên mỗi chúng ta đều có thể bị thương. Anh và em cùng quy ước: nếu người này bị què , cụt mù lòa hoặc bị bom na-pan khiến mặt mày biến dạng, người kia luôn trung thành tuyệt đối, giữ vững tình yêu.
    - Điều đó em khỏi lo. Dù em bị thương cỡ nào, anh cũng mãi mãi yêu em.
    - Trừ một trường hợp: Phản bội.
    - Anh xin thề , anh chưa hề yêu ai trước em và không bao giờ yêu người con gái khác sau em.
    - Anh! Kẻ phản bội tình yêu là rất đáng chê trách nhỉ còn tình tiết có thể tha thứ, còn kẻ phản bội Tổ quốc thì không một lý do gì biện minh nổi. Trong trường hợp anhh hoặc em bị địch bắt, nếu người này cung khai với địch, phản lại lý tưởng và lẽ sống của mình, người kia có toàn quyến cắt đứt hôn nhân không cần sự can thiệp của tòa án.
    Ba Chân ngồi bật dậy. Điều chị đề cập đến vô cùng thiêng liêng, rất nghiêm tức. Anh nắm chặt bàn tay vợ, đặt lên trái tim mình:
    - Em yêu. Với niềm vui tột cùng, anh chấp thuận và coi đây là điều khoản thiêng liêng nhất gắn bó hai chúng ta. Anh xin ký điều ước đó bằng chính sinh mệnh của mình.
    Mỹ Lê kéo anh nằm xuống, gục đầu vào ngực chồng âu yếm.
    - Anh ! Em yêu anh!
    - Anh yêu em!
    Trong lúc này, .chị Sáu Hoàn vẫn đang thao thức. Chị hạnh phúc quá. Chị lại nhớ đến anh. Anh có biết con gái đầu lòng của chúng mình đã thành gia thất không? Giờ này anh đang ở đâu, làm gì? Anh! Thế là vợ chồng ta đã xa nhau gần 8 năm rồi. Nhớ lời anh, em vẫn luôn dựa vào tập thể. Mỹ Hòa đã là đảng viên rồi. Con nhỏ tiến bộ lắm. Nó học giỏi thông minh, không thích ăn diện, chưa để ý đến bạn trai. Em sẽ hướng dẫn các con theo con đường chúng ta đã đi. Anh cứ tin ở em - Em đã lo cho Ba Cánh, Mỹ Lê nên vợ, nên chồng. Hai vợ chồng nó sẽ viết thư cho anh, kể cho anh nghe chuyện đám cưới và chuyện con Lê lấy bí danh là Tư Liên. Anh không được dự đám cưới conn. Ở thủ đô Hà Nội, ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, anh có hình dung nổi chuyện cưới của các cán bộ hoạt động bí mật trong nội thành không nhỉ? Có con gái lớn gả chồng, em cũng dự kiến nhiều phương án, nhưng điều cơ bản em cần có là các con hạnh phúc. Chị đã và sẽ viết thư cho anh. Chị có biết bao điều cần tâm sự, trao đổi, thổ lộ với anh. Chị cần động viên anh và xin ý kiến chỉ đạo của anh về việc gia đình. Sau ngày cưới, hai vợ chồng Ba Cánh trở lại Sài Gòn. Nhân danh Chính trị viên ban chỉ huy quân sự thành đoàn, Ba Cánh bàn với vợ:
    - Má rất có năng lực tổ chức. Anh định xin rút má về Ban quân sự.
    Mỹ Lê cười :
    - Má đâu rành về quân sự? Hồi chín năm, má chuyên làm công tác phụ nữ.
    - Em khỏi lo, má sẽ chuyên trách về hậu cần. Chúng ta chưa có một viên đạn, một khẩu súng, một lạng thuốc nổ nào. Nếu không được má lo tiếp tế, ta lấy vũ khí đâu để đánh giặc?
    Cũng như nhiều cô gái thời đó, Mỹ Lê không né tránh nguy hiểm cho bản thân, cho má hoặc Mỹ Hòa. Cô thừa nhận điều anh Ba gợi ý là hợp lý. Cô thăm dò chồng:
    - Em hoặc anh nên đi Thị Vải trao đổi trước với má. Nếu má đồng ý, anh hãy báo cáo với Bí thư thành đoàn.
    - Có lẽ ta không cần bàn trước với má. Anh tin là má sẽ chấp hành lệnh điều động.
    - Tùy anh.
    Không chậm trễ ,Ba Cánh đề nghị với anh Mười Hảo, thành ủy viên:
    - Chúng ta thiếu vũ khí lắm. Anh cho rút đồng chí má Sáu về phụ trách công tác này.
    Anh  Mười Hảo có những băn khoăn riêng. Hạ lệnh điều động má Sáu không khó nhưng biết kiếm ai đủ tài thay thế má ở Thị Vải? Từ ngày mở lớp học, má Sáu Hoàn đã góp phần đào tạo được nhiều cán bộ đủ khả năng thay thế má. Có điều đáng ngại là má Sáu Hoàn "công khai" quá rồi. Do không có chủ trương tung má trở lại nội thành từ đầu nên má Sáu không phải theo những kỷ luật khắt khe của lớp học. Má không phải giấu tiếng và cũng không cần bịt kín mặt khi tiếp xúc với khách. Như vậy, ở trong thành phố Sài Gòn - Gia Định này có bao nhiêu người đã biết má? Điều động má Sáu vào hoạt động nội thành có mạo hiểm không' Anh Chín Tước, Trưởng ban quân sự thành đoàn phân' tích:
    - Theo chủ trương của thành ủy, thành phố chúng ta có bao nhiêu đội biệt động? Đội biệt động của công nhân, của phụ nữ, của lực lượng vũ trang và của Đoàn thanh niên lao động chúng ta. Ta muốn đánh Mỹ, ta phải lo liệu chở súng đạn, thuốc nổ vào ém sẵn trong các kho ở các khu phố. Tôi tán thành rút chị Sáu Hoàn về và đề bạt chị làm ủy viên ban quân sự thành đoàn phụ trách về hậu cần và là Đảng ủy viên của ban. Số người biết mặt chị Sáu nhiều sẽ gây trở ngại cho chị nếu họ phản bội. Dù sao, trước khi điều động, ta cũng nên hỏi thẳng chị Sáu Hoàn.
    Má Sáu được điều động về căn cứ. Như thường lệ mỗii khi về cứ má thường tìm cách liên lạc đưa cả đàn con về theo để: Thứ nhất là mẹ con sum họp, thứ hai là má có điều kiện bồi dưỡng sức khỏe, chăm nom, giáo dục các con và tiếp đó điều quan trọng nhất là các con má được tiếp xúc với các cán bộ cách mạng, nghe các cô, các chú, bảo ban, dạy dỗ những điều hơn lẽ thiệt. Má để ý theo dõi từng việc làm, việc học và tính tình mỗi đứa con. Thằng Linh hiền, ít nói. Thằng Nhất (nó chính thức đề nghị má cho đổi tên bí danh là Ba Vĩ) trầm tĩnh, sâu, biết suy nghĩ, dám quyết đoán. Thằng Quảng (cũng đề nghị đổi tên là Mười Tuân) hoạt bát, nhanh nhẹn, thông minh nhưng thích tự do. Thằng Thiện chả thiện chút nào. Nó nghịch như mọi đứa con trai và rất thích tranh luận với các anh về mọi vấn đề. Còn út Hiếu lém lỉnh, giỏi mọi chuyện. Má Sáu Hoàn lắng nghe đề nghị của Trưởng ban quân sự Chín Tước. Má gợi ý:
    - Mấy anh giao cho tôi việc gì tôi cũng làm nhưng tôi đâu biết quân sự. Tôi càng không thể gánh vác chức vụ ủy viên ban chỉ huy quân sự thành đoàn.
    - Chị Sáu đừng ngại. Chị cần đưa cả tấn thuốc nổ vào thành phố. Chị phải đi liên hệ với nơi giao súng đạn. Chị cần có quyền điều động người, ra lệnh lập các kho. Chị còn phải ký giấy chi tiền mua nhà làm kho, mua hàng hóa nghi trang khi chở vũ khí, v.v...
    Không có cách nào từ chối, má Sáu Hoàn đành nhận lời. Mười Tuân yêu cầu được theo má. Má không nghe. Thằng đó còn nhỏ quá, tính nó lại lông bông, mê chơi, mê học, mê làm việc như nhau. Má ưng thằng Ba Vĩ hơn nhưng bà nội không muốn rời nó và ở quê nó cũng được tham gia những hoạt động của du kích mật.
Logged

Nếu có 1 ước muốn trở thành sự thật
Tôi chỉ muốn trở thành 1 người lính đảo
VoMinhGiang
Thành viên
*
Bài viết: 91


Sống trên đời sống cần có một tấm lòng.


« Trả lời #29 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 09:16:33 am »

13
    Mỹ Lê đến thăm má. Tuy ở chung cùng thành phố, cô không thể ung dung cùng chồng đi xe đò hoặc xe đạp về với má. Má thông cảm, má không nữa lời trách hai đứa. Má hỏi :
    - Tụi bay thu xếp việc riêng ra sao rồi? –
    Anh ở chỗ anh, con ở trong trường. Tụi con thuê đượm căn hộ ở lầu hai.
    - Chủ nhà có đáng tin cậy không?
    - Ông bà chủ đi vắng cả ngày. Tụi con có chìa khóa riêng, lối đi riêng. Nhà có hai cửa phía trước, phía sau.
    Chị Sáu Hoàn tin ở các con. Tụi nó có kinh nghiệm hoạt động nội thành, biết chọn nhà có đường rút lui khi có động. Chị khoe:
    - Má mới về Gò Công.
    - Tụi nhỏ khỏe không má? Con nhớ mấy đứa quá. Nội và Ngoại có trách tụi con không?
    - Nội và Ngoại rất mừng. Má thắp hương cúng tổ tiên, nói rõ là đã cho con xuất giá. Nội, Ngoại thống nhất là chưa thông báo gì cho họ hàng.
    - Má à! Má sang bên quân sự có cực lắm không
    - Cực mấy tao đâu có ngán. Tao lo là việc lớn quá, tao không cáng đáng nổi. Nhủ thằng Ba Cánh phải mách nước cho má. Nếu tao có khuyết điểm gì, nó không được nể nang mà phải góp ý, phê bình để tao rút kinh nghiệm.
    - Con sẽ nói với anh Ba.
    - Mỹ Lê nè! Về Gò Công tao lo cho thằng Quảng hơn thằng Nhất. Thằng Quảng sống trong lòng địch dễ tiêm nhiễm thói hư, tật xấu và các luận điệu tuyên truyền của địch. Má sẽ sớm rút thằng Quảng lên. Con phải chăm sóc Mỹ Hòa và thỉnh thoảng lui tới với Tư Linh.
    - Má à? Mỹ Hòa được kết nạp rồi. Như vậy là nhà ta đã có năm đảng viên: Ba, má, vợ chồng con và em Mỹ Hòa.
    - Mỹ Hòa kết nạp trước tuổi à?
    - Không. Chi bộ đã xét kỹ mới công nhận em con. Tư Linh học giỏi lắm. Dượng Bẩy, dì Bẩy yêu Tư Linh như con ruột nên tụi con khỏi lo.
    - Hồi này má bận nhiều việc lắm. Má luôn phải đi công tác vô cứ, đến các điểm có vũ khí, có lẽ má sẽ tạt qua Gò Công lần nữa.
    - Má cho con gửi chút tiền về biếu Nội, Ngoại và cho tụi nhỏ .
    Về quê lần này, chị vẫn nghe nhiều 'tiếng khen thằng Nhất. Thằng đó thường được Nội khen là được cả người lẫn nết, được cả văn lẫn võ. So với các bạn cùng lớp, nó to hơn, khỏe hơn, trắng trẻo hơn nhưng nó chưa hề gây lộn với ai mặc dù nó rất ham đánh giặc. Đặc biệt, thằng nhỏ còn học làm thơ. Chị không thạo về thơ nhưng vẫn động viên khuyến khích con. Tạm biệt Nội, Ngoại, họ hàng và bốn đứa nhỏ, chị quay lại Sài gòn. Mỹ Lê đã chờ chị. Theo đúng bài bản của chị Năm Trăng, Xuân Hồng và anh Ba Cánh vạch ra, Mỹ Lê hứa sẽ tỏ ra cứng rắn, thông báo từ từ chuyện rủi ro xảy ra để má không bị sốc. Mấy ngày qua, cô gầy rộc hẳn người. mắt sưng húp nên cô buộc phải thoa thêm ít phấn để khuôn mặt bớt phần rầu rĩ. Chị Năm Trăng nhắc nhủ Mỹ Lê :
    - Em chỉ trì hoãn thông báo với má năm, bảy phút thôi. Chị rất lo má ngất đi, má bịnh vì hay tin quá đột ngột.
    - Em rõ rồi chị Năm.
    Tuy đã hứa như vậy nhưng Mỹ Lê không sao sắm trọn vai diễn của mình. Vừa trông thấy má, cô đã chạy ào đến, ôm lấy má, gục đầu vào lòng má mà khóc. Cô khóc nức nở, khóc ngày càng to. Chị Sáu Hoàn ngơ ngác, giọng thảng thết:
    - Có chuyện gì xảy ra vậy, Hai? Nói cho má nghe đi.
    Hai chị Năm Trăng, Xuân Hồng sắm vải diễn viên phụ để hỗ trợ cho Mỹ Lê đành phải xuất đầu lộ diện:
    - Má! Tụi con đến với má đây. Má!
    Linh tính đã mách với chị Sáu Hoàn. Chị thảng thết:
    - Tụi bay giấu tao điều gì phải không Ba Cánh gặp rủi ro à?
    - Mỹ Hòa đâu?
    Mỹ Lê khóc to hơn. Cô nói trong tiếng nấc:
    - Em con bị bắt rồi, má ơi!
    "Trời!" Chị Sáu Hoàn gieo mình xuống ghế. Trời đất như quay cuồng trước mắt chị. Nhờ đã chuẩn bị trước, Xuân Hống ép má uống nước sâm trong lúc chị Năm Trăng xoa nước gừng vào thái dương, cột sống và ngực má. Chị Sáu Hoàn chưa ngất hẳn. Chị thương Mỹ Hòa vô cùng. Chị rất yêu hai đứa con gái. Mỹ Lê là con đầu lòng, có hiếu kỷ niệm gắn bó với chị hơn nhưng từ ngày lên Sài Gòn , chị sống chung với Mỹ Hòa nhiếu hơn . Mỹ Hòa rất hợp với chị vì nó lao động giỏi làm việc gì cũng khéo tay và nó rất tằn tiện, luôn nghĩ đến người thân nhiều hơn lo cho mình. Mỹ Lê, Năm Trăng, Xuân Hồng chắc rất đau lòng vì Mỹ Hòa sa vào tay giặc. Cả ba đứa săn sóc Mỹ Hòa như em ruột và lo cho chị như má đẻ của mình nên chị phải san sẻ bớt nỗi đau cho chúng. Chị không được quá ủy mị mà phải cứng rắn, đúng mức để ba đứa con gái đang gục vào lòng chị khóc sớm vơi được nỗi buồn. Chị ngồi dậy, vén lọn tóc lòa xòa xuống mặt, lấy khăn lau khô nước mắt hỏi:
    - Mỹ Hòa bị bắt trong trường hợp nào, tụi bay kề cho má nghe coi?
    Ba cô con gái quây quần bên má. Ai cũng biết tường tận chuyện xảy ra song không ai "xung phong" nói trước. Năm Trăng đành phải gánh công việc nặng nhọc này:
    - Má à, Mỹ Hòa bị thằng chỉ điểm theo dõi. Tụi nó bắt được em con với tang vật gồm hơn hai trăm tờ truyền đơn.
    Chị Sáu Hoàn thở dài:
    - Mỹ Hòa còn nhỏ tuổi. Từ thuở lọt lòng mẹ, chưa ai đập nó, làm sao nó chịu đựng nổi những trận đòn thù của bọn đồ tể? Rủi con nhỏ khai ra điều gì thì thật là tệ hại. Tụi bay đã chuyển chỗ ở chưa?
    Xuân Hống thêm vào:
    - Em Mỹ Hòa gan lý lắm, má khỏi lo. Tui con không ở chỗ cũ nữa. Thằng chỉ điểm đưa cảnh sát đến vây bắt tụi con. Con và Mỹ Lê chuyển đồ đạc, tài liệu đến chỗ ở mới. Thấy bóng cảnh sát phía trước chị Năm Trăng phi từ lầu hai xuống. Chị "lặn" mất tăm luôn, tụi con kiếm hoài không ra. Con đoán là chị Năm đã bỏ ra chiến khu, Mỹ Lê lo là chị bị bắt.
    Chị Sáu Hoàn cũng phán đoán:
    - Nó về với ba má ruột phải không?
    Mỹ Lê kể về chị Năm với mục đích giúp má khuây khỏa đôi chút vế Mỹ Hòa:
    - Tụi con rầu thúi ruột. Chị Năm biết chỗ ở mới và trường mới, liệu tụi con có cần kiếm chỗ khác không?  Tụi con đâu còn tiền để ứng trước sáu tháng tiến nhà. Con và Xuân Hồng tin chị Năm nên cứ ở nguyên chỗ cũ. Hôm qua, chị Năm về.
    - Nó đi đâu vậy?
    - Chị Năm có bạn là con gái viên đại tá cảnh sát. Con nhỏ này mê chị Năm quá chừng. Nó đón chị về ở chung phòng với nó. Chờ bọn cảnh sát lơ là lùng sục, chị Năm mới tìm đến chỗ tụi con.
    Chị Sáu Hoàn vẫn chưa quên chuyện con gái:
    - Mấy đứa chưa kể cho má nghe chuyện Mỹ Hòa.
    Hôm đó như thường lệ, Mỹ Hòa thay bộ quần trắng áo dài của nữ sinh, mặc vội bộ cánh của dân lao động, quẩy đôi thùng rỗng ra khỏi nhà. Tên chỉ điểm bám theo cô. Mỹ Hòa bị bắt quả tang ở khu Bàn Cờ khi đang rải truyền đơn. Chúng dùng còng số tám khóa tay cô, tra tấn cô tại chỗ nhưng cô chỉ khăng khăng câu trả lời:
    - Nhà tôi nghèo, tôi đi gánh nước thuê để kiếm thêm tiền trả tiền học.
    - Tại sao mày có truyền đơn?
    - Một bà già đã ném đại bó truyền đơn đó vô thùng của tôi.
    - Bà ta có quen biết mày không ?
    Mỹ Hòa lắc đầu.
    - Bà ta mặc như thế nào? Bà trạc 50 tuổi, tóc búi ngược. Bà mặc áo dài màu cánh cam, quần xa-teng, đi xăng đan. Bà nói giọng Huế: "Con cho má gởi tạm. Tụi nó đang rượt má"
    - Tại sao mấy không hô hoán lên?
    - Tôi bị bất ngờ quá. Nào tôi đã biết bà già là ai, gởi thứ gì đâu.
    Mày có biết đây là truyền đơn của Việt cộng không?
    - Biết! 
    - Nếu vậy, mày chính là nữ Việt cộng nằm vùng? Đâu phải vậy mấy ông. Đến đầu phố, tôi dừng lại xem bà ta gửi gì. Nếu có được gói tiền trong thùng thiệt là hên. Tôi rút một tờ, đọc thử. Cha trời, bà nội đó bỏ truyền đơn vô thùng của mình.
     - Sao mày không đem nộp cho nhà chức trách? Tôi đâu kịp nghĩ điếu đó. Tôi tính vứt đại cả bó này vào chỗ nào đó nhưng rồi tôi nghĩ lại. Tôi chọn cách bỏ mỗi nơi một tờ.
    - Sạo! _ Mấy tên cảnh sát tát cô, đấm đá cô.
    Tên chỉ điểm chỉ vào mặt cô:
    - Nè , mấy có biết tao là ai không? Tao lạ gì mày. Mày là Dương Mỹ Hòa học trường trung học tư thục.  Mày chối tội đâu nổi, con!
    Chị Sáu Hoàn đau nhói tận tim. Chị đã ở tù nên chị đã nếm đòn thù . Bọn đao phủ uống máu người không tanh đã từng học cách tra tấn tù nhân tại Mỹ quốc, có cách đánh người rất lão luyện. Cũng là tay đấm, chân đá song chúng biết cách ra đòn làm cho người bị đánh đau ê ẩm, đau nhói tận tim, tận óc. Mỹ Hòa của chị chịu đòn sao nổi. Có cách gì san sẻ với nộ không? Chị hỏi .mấy đứa con:
    - Tại sao tụi bay biết Mỹ Hòa bị bắt và hiểu tường tận mọi lời đối đáp của nó?
    Thấy má đã nguôi ngoại đôi chút, Mỹ Lê nhanh nhảu:
    - Tụi con và Mỹ Hòa có nhiều bạn học lắm, má ơi. Mỹ Hòa bị giữ chừng 5 phút, tụi con hay tin liền.
    - Từ hôm đó, tụi bay có cách gì hên hệ với Mỹ Hòa không?
    - Tụi con đâu dám xuất đầu lố diện. Con báo tin cho dì Bẩy. Dì Bẩy, dượng Bẩy và Tư Linh đã biết chỗ giam em con .
    - Con đến nhà dì Bẩy bằng cách nào?
    - Con chuyển ba lần xe đò. Con đi bộ cách nhà dì Bẩy gần một cây số mới quay trở lại. Con đến vào lúc nhá nhem tối nên không bị đứa nào theo dõi.
    - Má sẽ đến gặp dì Bẩy. Chị Năm Trăng an ủi má: 
    - Má à? Tụi con tính kiếm luật sư lo vụ Mỹ Hòa. Theo ông luật sư Mỹ Hòa bị kêu án nặng nhất là hai năm tù.
    - Vậy à ! Nếu Mỹ Hòa giữ vững lời cung ban đầu, tòa chỉ có thể tuyên án em con không hơn chín tháng tù ngồi vì chưa có bằng chứng gì kết tội Mỹ Hòa liên quan đến Việt cộng và khi khám nhà Hòa, tụi nó không thu được tài liệu nào của cộng sản.
    - Nếu vậy các con lo phần luật sư, má sẽ thông tin cho Mỹ Hòa. Tụi bay cần bao nhiêu tiền, má lo đủ.
    - Má à Thằng chỉ điểm tên là Thanh, trưởng toán thanh niên cộng hòa. Nó rành tụi con lắm. Mỹ Hòa cũng biết nó. Mỹ Hòa bị bắt ngày 15 tháng 4 năm 1964, tính ra em con đã 19 tuổi. Nếu Mỹ Hòa khai là thằng Thanh tán tỉnh em, em không chịu nên nó trả thù.
    - Còn tập truyền đơn? Cứ giữ nguyên lời khai cũ.
    Chị Sáu Hoàn đến nhà dì Bẩy. Dì Bẩy và Tư Linh đã đi thăm Mỹ Hòa nhưng không được gặp mặt. Những tên cảnh sát rất nể bà chủ (dì Bẩy) và con trai bà (Tư Linh) nên đã thông báo cho dì về những lời khai của Mỹ Hòa. Cô bị tra tấn nhiều nhưng không khai báo thêm điều gì. Dì Bẩy tâm sự:
    - Em có thằng đệ tử ruột bên cảnh sát. Em đã chi đậm cho nó. Nó hứa sẽ săn tin giùm em và khi cần sẽ chuyển tin cho Mỹ Hòa.
    - Coi chừng mình chơi dao hai lưỡi đó, dì Bẩy.
    - Chị khỏi lo. Em đang ráng đòi tiếp xúc với cháu.
    Trong lúc này, Mỹ Hòa nằm trong xà lim. Cô chưa ăn gì nhưng không thấy đói mà chỉ khát. Tụi nó đấm cô, đá cô. Cô hộc máu mồm, mất sưng vù, bụng quặn đau. Cô hiểu rất rõ kẻ thù bắt cô: Thằng Thanh, trưởng toán thanh niên cộng hòa. Thằng này thuộc loại “bảo hoàng hơn cả vua” nó luôn tìm cách tầng công với chủ để được cất nhắc, tin tưởng. Không rõ nó rình rập cô từ bao giờ? Liệu đã ai thông báo cho các chị Mỹ Lê, Năm Trăng, Xuân Hồng chưa? Khi áp giải cô vào xà lim, tên thượng sĩ cảnh sát đã  nói nhỏ với cô: "Dì Bẩy và Tư Linh đến thăm cô nhưng không được gặp" song cô không trả lời. Nếu nguồn tin đó đúng thì má và mọi người đã biết tin cô bị bắt rồi. "Má!", cô thầm gọi. Cô nhớ má da diết. Kỷ niệm đặc biệt về má bỗng trỗi dậy trong cô. Má ra tù vào ban đêm. Cô đã ôm má, sờ nghe, sờ lưng, nắn tay chân má. Trên người má còn nhiều vết sẹo ngang, dọc. Má gầy giơ xương. Má đã kể với hai chị em cô:
    - Nó đánh đau thấu tim, buốt óc. Má chưa có kinh nghiệm ở tù. Má đã tính khai quấy vài ba điều để đỡ bị đòn nhưng rồi má cắn răng chịu đựng vì má nghĩ tới ba và các con. Sau trận đòn thứ ba thì má không còn sợ gì 'nữa. Má tin là không bao giờ má đầu hàng tụi nó.
    Mỹ Hòa đỉnh trở mình. Hai cái còng tay, cùm chân không cho cô làm điếu đó. Cô lại nằm ngửa. Đàn muỗi cứ vo ve quanh cô mà cô không có cách gì xua đuổi được. Thôi đành mặc cho chúng nó dốt. Cô nghiêng đầu. Mái tóc dày, rậm của cô rối bù bết máu, dính đầy đất. Làm sao có cái lược để chải đầu? Đến bao giờ cô mới được gội đầu bằng nước bồ kết, hương nhu, lá sả? Cô cũng không có cái kim, sợi chỉ để vá lại cái áo bị rách. Vào tù, cô bị mất tự do, thiếu thốn đủ thứ, nào cô có ngán. ở ngoài đời, má, chị Mỹ Lê và các đồng chí của cô đã lường trước việc này. Cô nhớ lần trò chuyện với chị Mỹ Lê, nghe chị kể về điếu giao ước thiêng liêng của chị và anh Ba trong đêm tân hôn. Chị ruột và anh rể cô đã rất đúng. ở trên đời này, không ai tha thứ cho tội phản quốc. Cô sẽ xứng đáng với anh, chị, với ba, má. Ba ơi, ba có hay con bị bắt không? Giờ phút này con đang nhớ đến phút chia tay với ba hồi con mới chín tuổi :
    -“ Mỹ Hòa, con!
    - Dạ! - Con biết ba làm gì không?
    - Con biết ba làm cách mạng nè ; ba là tỉnh ủy viên nữa nè nhưng con không nói với ai đâu. Nội kề cho con nghe hoài về ba mà.
    - Ba làm cách mạng là tốt hay xấu?
    - Tốt chứ, tốt hung à, ba.
    - Chuyến này ba ra miền Bắc rất lâu ba mới về. Lớn lên, ba mong con sẽ làm cách mạng như ba nghe, con.
    - Dạ.” Ba ơi, con đã làm cách mạng như ba. Giờ đây, con bị tù, con sẽ không bao giờ phản lại lý tưởng của ba, của con. Đó là lẽ sống của gia đình họ Dương chúng ta. Ba hãy tin vào con gái ba. Con hứa với ba như vậy. Có tiếng rú, tiếng gào thét, tiếng roi quất, tiếng quát tháo ở phòng bên. Tụi nó đang đánh đòn tâm lý, khủng bố tinh thần Mỹ Hòa. "Con nhỏ nữ sinh 19 tuổi đầu sẽ phải phun ra hết mọi điếu bí mật, nếu nó chứng kiến đủ mọi cảnh tra tấn", tụi nó bảo nhau như thế.
    Có tiếng ra lệnh hách dịch ở phòng ngoài:
    - Đù má!
    Cho nó đi tàu bay. Năm phút sau Mỹ Hòa nghe tiếng quát:
    - Mày cổ khai không?
    - Tôi không biết.
    Tiếng roi vút túi bụi. Mỹ Hòa hình dung ra cảnh một đồng chí của cô bị cột chặt hai chân, trcó lơ lửng giữa nhà, đầu chúc xuống đất, đang gồng mình hứng chịu những ngọn roi ma-tơ-rắc. Cô căm thù tụi nó. Lại có tiếng hô: "Cho nó đi tàu thủy". Lúc này, đồng chí của cô hẳn dang bị dìm đầu vào thùng nước bẩn. Anh ấy bị ngạt thở, uống nước tới trương cả bụng. Tiếng tên đồ tể:
    - Mày có khai không?
    - Không.
    - Đánh!
    Những tiếng đấm đá thượng cẳng chân, hạ cẳng tay ầm ĩ dội vào tai Mỹ Hòa: Huỵch - huỵch - hự - ứ. . Không chịu nổi nữa, Mỹ Hòa hét to: Đả đảo khủng bố. Một tên hộ pháp cởi trần, mồ hôi nhễ nhại, nhảy vào xà lim giang thẳng cánh tay tát Mỹ Hòa bốn cái nổ đom đóm mắt:
    - Câm mồm. Rồi sẽ đến lượt mày.
    Đầu Mỹ Hòa ngoẹo sang bên. Máu từ mồm cô chảy ra. Cô thách thức:
    - Tao không sợ.
    Thằng hộ pháp đá ngang hông cô :
    - Mày sẽ biết tay tao. Mày sẽ phải đầu hàng. Chưa có tên Việt cộng nào thoát khỏi tay tao đâu.
Logged

Nếu có 1 ước muốn trở thành sự thật
Tôi chỉ muốn trở thành 1 người lính đảo
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM