Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:23:10 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lạc rừng  (Đọc 28251 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
lamchung
Thành viên

Bài viết: 4


« vào lúc: 09 Tháng Năm, 2008, 04:39:58 pm »

 
Trung Trung Đỉnh
Lạc Rừng

Phần I

Tôi rút khỏi hang đá lúc chập choạng tối. Khi ấy tôi chẳng nghĩ được gì nhiều, ngoài việc làm thế nào thoát khỏi họ, những người khác tộc mà tôi rất sợ hãi. Rõ ràng họ đang trù tính hại tôi, nếu tôi không tự tìm cách giải thoát. Mới đầu tôi giả vờ ngủ, trong lúc họ xúm quanh đống lửa nướng những con chuột, những con nhái đá. Rồi họ uống rượu cần, ăn thứ thịt nướng khét mù ấy, thì thầm to nhỏ. Tôi cố nằm im, he hé mắt quan sát. Hình như họ đang bàn cách khử tôi, và tôi lạnh xương sống mỗi lần trong số họ có người bỗng dưng nói to, hoặc bỗng dưng đứng dậy. Cuối cùng rồi cũng êm. Họ lơ mơ say, nằm ngả ngốn ngủ. Tôi lựa thời cơ chuồn lẹ ra cửa hang. Họ là đám dân chạy địch càn, hoặc đại loại giống như vậy. Còn tôi, một chú lính miền Bắc mới vô, sau trận đánh đầu tiên, bị lạc đơn vị. Họ tóm được tôi khi tôi liều lĩnh mò vào đám rẫy cũ đào những khóm sắn, kiếm cái ăn. Ba khẩu súng chĩa vào tôi khi tôi đang hí húi dùng dao găm đào. Tôi kinh hoàng ngã bật ngửa. Họ dùng báng súng đè cổ tôi xuống. Tôi giãy giụa trong cơn tuyệt vọng, hoàn toàn bản năng. Họ trói tôi bằng dây dù, giật cánh khuỷu, đẩy tôi về hang. Tôi rên rỉ khóc vì khiếp sợ và vì không hy vọng van xin để thoát. Họ lầm lũi và lạnh lùng đến căng thẳng. Mỗi người cầm một con dao quắm đi ra, đi vào. Có người khoác cả cây cung, hình như để uy hiếp tôi. Tôi không thể tả được nỗi sợ hãi và tủi phận của mình, cho mãi tới khi có một người trẻ tuổi đi đâu đó về. Anh ta cũng trạc tuổi tôi. Người trẻ tuổi cởi trói cho tôi trong khi những người kia sôi nổi bàn tán gì đó. Hình như họ đang nói về tôi thì phải. Tôi không biết tiếng họ, chưa có khái niệm gì về phong tục tập quán cũng như lề lối sinh hoạt của họ. Tôi thấy người trẻ tuổi nhìn tôi không có vẻ ác ý và tôi nhìn lại, thầm hy vọng anh ta hiểu cho hoàn cảnh của tôi. Tôi thấy anh ta cũng đóng khố cởi trần, nét mặt cương nghị, từng trải nhưng non tơ và hiền hậu. Tôi lả người tựa vào vách đá sau khi dây dù được tháo và anh ta mỉm cười, nói tiếng Kinh:

- Mày tụt tạt, ưng theo địch à ?

Tôi run lẩy bẩy, mếu máo, chẳng hiểu tụt tạt nghĩa là gì, nhưng qua cách nói của anh ta, đoán là xấu, liền nói:

- Không. Em không tụt tạt. Em bị lạc đơn vị.

Gần như cùng lúc tôi vừa nói xong, một ánh chớp nhóa ngay trước mặt sau tiếng “phựt!” khô khốc. Tôi co rúm lại. Mũi tên cắm phập củ sắn tươi trên gờ đá, phía sau gáy tôi. Họ cười rộ lên thích thú. Tôi vẫn run lẩy bẩy.

- Mày ở đơn vị nào?

Người trẻ tuổi kéo tôi dậy ngay ngắn, hỏi. Tôi nhanh nhảu trả lời:

- Em ở... ở Chín Nhăm.

- Tầm bậy! Tầm bậy quá! - Anh ta thốt lên và đứng dậy gãi ở khoeo chân. Một con vắt to mọng rơi xuống đất. Anh ta nhặt con vắt ném vào lửa rồi nhìn tôi, nói:

- Mày nói tầm bậy!

- Em ở Chín Nhăm thật mà. - Tôi phân bua.

- Bộ đội Chín Lăm không có tụt tạt! - Anh ta khẳng định rồi ngồi xuống, đối diện tôi.

Tôi vẫn run lẩy bẩy một cách thảm hại. Trong người tôi không có giấy tờ. Không có gì hết. Anh ta cầm củ sắn có mũi tên xuyên qua, nói gì đó với mấy người kia, rồi bảo tôi:

- Được. Còn thử thách coi cái đã! - Anh ta đặt củ sắn sát than lửa, nướng. Rồi vít cần rượu uống. Tôi len lén nằm xuống. - Làm cách mạng không phải bình thường đâu.

Anh ta liếc nhìn tôi làu bàu. Tôi im thít. Họ bắt đầu ê a hát. Mỗi người hát một phách, nhưng lại có vẻ cùng chung một nội dung. Tôi giả vờ ngủ. Lòng thầm mong họ cứ hát thế. Và sau đó tôi ngủ thật.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Ba, 2021, 11:28:39 am gửi bởi ptlinh » Logged
lamchung
Thành viên

Bài viết: 4


« Trả lời #1 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2008, 04:46:55 pm »

Tôi bị họ bỏ quên trong xó tối có tới vài ngày. Tôi thấy người trẻ tuổi cùng mấy người đàn ông thay nhau đi, chiều chiều gùi về hang những gùi sắn lớn và vài thứ rau rừng. Còn mấy người đàn bà suốt ngày quẩn quanh bên đống lửa, với nồi súp sôi ùng ục, bốc mùi hăng hắc. Họ ăn sắn với thứ súp ấy. Tôi cũng được họ cho ăn, nhưng vừa chạm môi đã ói ra. Súp có mùi thum thủm rất dễ sợ. Cuối cùng tôi chỉ ăn sắn nướng với muối. Những người đàn ông về tới hang đá là sà ngay vào hút rượu cần. Họ uống được một lúc là nghiêng ngả hát ề à. Hát nhỏ và dai, tưởng như không bao giờ dứt, với một vài giai điệu đều đều, buồn não. Thỉnh thoảng có người nhớ tới tôi trong cơn say. Họ không bắn dọa tôi nữa. Nhưng họ nhảy nhót quanh tôi, như thể tôi là con vật sắp đem ra tế thần.

Máy bay Mỹ quần đảo suốt ngày đêm trên đầu. Chúng bắn đại liên cả đêm. Thỉnh thoảng bom nổ rung chuyển và sau đó là tiếng hú của đạn pháo. Nhưng ở trong hang đá này thì rất bình yên. Tôi sống trong trạng thái mê muội, u tối và nơm nớp lo sợ. Thực ra tôi không hẳn là tù binh. Nhưng càng không phải là khách. Những người đàn bà gần như chẳng chú ý tới tôi.

Họ cho tôi ăn và quên tôi ngay sau khi tôi nằm xuống chỗ của mình. Lúc nào tôi cũng mong người trẻ tuổi. Có anh ta, dù sao cũng bớt căng thẳng. Cái hang đá trên triền núi cao chất ngất này, vừa ngóc ngách lại vừa thoáng, rất lạ lùng là có một khe nước rỉ ra. Họ khéo léo bắc cái máng bằng nứa, nước chảy tong tỏng suốt ngày đêm, đủ cho việc nấu nướng và uống rượu cần. Hình như nhu cầu về nước của họ cũng chỉ có thế. Tôi bị ngứa ngáy khắp người và tôi rất thèm ánh sáng, thèm thoát được ra khỏi cái hang này, trước hết là tắm, còn sau đó muốn thế nào cũng được. Và tôi đã làm theo ý muốn của mình. Tôi ép người trườn theo lối mòn giữa hai khe đá sắc, định tuột xuống hố thì có tiếng hô, không to nhưng rất gắt:

- Đứng lại! Mày ưng trốn lũ tui theo địch à?

Tôi chưa kịp hoàn hồn thì bị hích một cú đau điếng, bằng mũi súng, từ phía sau. Và tôi ngã sấp. Tôi co rúm người vì sợ hãi. Ba bốn người xúm vào trói tôi như trói con vật. Họ nói gì đó gay gắt lắm. Người trẻ tuổi sau khi hô tôi đứng lại, giờ đây lạnh lùng cùng cánh đàn ông đẩy tôi về lại hang đá, không nói thêm lời nào. Anh ta lặng lẽ nhìn tôi. Tôi nằm quay mặt vào vách đá, khóc. Tôi khóc cho thân phận khốn khổ của mình. Trước khi vào Nam chiến đấu, tôi không thể hình dung được số phận tôi lại rủi ro theo kiểu này. Tôi khóc, nhưng lại sợ, nên chỉ co người, cố ghìm tiếng nấc.

Càng ghìm nén, hình như tiếng nấc càng bật ra to hơn. Và tôi hoảng hốt giụi mặt vào đầu gối. Chưa bao giờ tôi cảm thấy cô đơn, tủi thân đến chừng ấy. Hồi còn ở đơn vị huấn luyện, và cả khi hành  quân vào Nam, tôi chỉ nghĩ tới những trận đánh lớn, những tiếng hô xung phong, và tôi luôn mơ trở thành  dũng sĩ diệt Mỹ. Mọi điều giờ đây đảo ngược đến khủng khiếp thế này ư? Nó nhanh đến thế này ư? Giống như trong cơn ác mộng. Tôi đã đái ra quần từ lúc nào? Và tôi bị sặc khói đạn, đã bóp cò súng từ lúc nào? Rồi tôi vấp ngã trong khi cố ngóc dậy chạy theo bóng anh Tự và anh Hùng, nhưng chẳng thấy họ đâu cả. Hai người được phân công kèm tôi vì tôi là lính mới. Tôi rú lên khi bị hất vào bụi gai. Không còn súng. Không còn gì cả. Sau đó là khói và im lặng. Im lặng đến rùng rợn. Tôi không còn nhận ra địa hình và tôi không dám hành  động gì. Sau đó là điên loạn, sợ hãi và hoang mang. Tôi chạy vào phía núi, leo ngược lên, chui được vào một cái lán cũ , người ta làm từ hồi nào và không biết để làm gì. Tôi cuống lên vì sợ hãi và chỉ có sợ hãi choán ngợp tôi. Đôi lúc tôi cảm thấy ứ nghẹn khi nghĩ tới anh Tự và anh Hùng. Tôi không thể tin được trận đánh ấy gọi là trận đánh. Chúng tôi phục kích và bị chúng phục lại! Tất cả chỉ có thế. Sau sự sợ hãi và hoang mang là tới đói. Tôi chỉ nghĩ tới cái ăn và cái uống. Tôi lần theo một con đường mòn, vừa mong gặp người lại vừa sợ hãi. Con đường ngóc ngách và hun hút dẫn tới những cây sắn già xen kẽ cây rừng. Tôi còn mỗi con dao găm và tôi hặm hụi đào sắn. Họ tóm được tôi không ồn ào trong khi chính tôi vô cùng hoảng loạn.

- Anh có tên gì? - Người trẻ tuổi sau khi uống rượu, ngồi sát vào tôi vừa cởi trói cho tôi vừa hỏi. Nhìn nét mặt anh ta, tôi biết, anh ta có vẻ thương hại tôi. Tôi quệt nước mắt cố ngồi dậy, lắp bắp:

- Em tên Bình. Còn anh? - Tôi mạnh bạo hỏi.

- Tui có tên Bin. - Anh ta toác miệng cười, gọi tôi là Bìn và bảo:

- Mình có chung tên, làm anh em theo phong tục được.

Tôi mừng quá, túm tay anh ta và “túm” lấy cái tên Bìn, mặc dù chưa hiểu phong tục thế nào. Tôi chỉ cảm thấy đây là dịp may sau chuỗi ngày chỉ còn run sợ và kinh hoàng ấy. Bin kéo tôi lại bên ghè rượu, nói rất nhiều với những người kia và họ ồ, à rối rít. Có người cao hứng vừa nhảy nhót vừa hát rồi một người huơ tay, kéo tôi, ấn cần rượu vào tay, bắt uống. Tôi run rẩy nhìn Bin cầu cứu, Bin bảo:

- Mình với anh uống chung một can.

Tôi không hiểu, nhưng không dám từ chối. Tôi rất sợ làm họ phật lòng, và tôi uống cùng Bin đến khi Bin buông cần, tôi mới dám buông cần theo. Tôi cảm thấy vị đắng và chua nồng của rượu cần xộc lên gờn gợn và tôi chếnh choáng. Từ bé, tôi chưa hề uống bia hoặc rượu lần nào. Hơn nữa, bụng tôi đang rất đói. Bin khoác tấm đồ hoa lên người tôi, bảo tôi nằm xuống, cạnh  đống lửa. Và tôi ngủ say, đến nỗi, khi tỉnh dậy mới biết là mình đã ngủ suốt từ tối hôm qua tới chiều hôm nay.

- Anh có bắn súng giỏi không? - Bin hỏi trong khi tôi đang ăn sắn nướng với thứ súp đặc sệt quết lên lá chuối, đắng ngòm. Thực ra, nếu không có vị đắng ấy làm sao nuốt trôi?

- Có chứ. Mình bắn được. - Tôi tin rằng trả lời như thế đúng hơn. Tôi rất sợ Bin hiểu lầm.

- Một là anh ở lại đây làm du kích với tụi tui, - Bin nói trong khi đặt khẩu CKC trước mặt. - Hai là anh ưng tụt tạt?

Tôi nắm tay Bin đánh bạo:

- Mình ưng đánh địch mà.

Bin khoác súng lên vai bảo tôi đi theo. Tôi lo sợ nhìn Bin nhưng cũng ngoan ngoãn cùng Bin ra rừng. Bin định làm gì tôi? Tôi vừa leo lên những mỏm đá sắc, vừa nghĩ tới chuyện, nếu Bin có ý định hại tôi, tôi sẽ liều. Không còn con đường nào khác. Tôi cố ý đi cách Bin một quãng cần thiết, lén thủ một hòn đá bằng nửa nắm tay, nếu có chuyện, tôi sẽ ném cật lực vào mặt đối phương! Rồi tính sau.

Chúng tôi leo tít lên chỏm núi có nhiều cây bằng lăng, hoa rắc như mưa bụi. Dây leo chằng chịt trên những thân cây đại thụ và những mỏm đá chênh vênh. Có tiếng reo của thác đổ. Bin bảo:

- Thác Đăk-xút trên cao ấy.

Tôi ngước theo hướng chỉ của Bin và thầm nghĩ, giá được lên thác nhỉ. Từ bé tôi chưa hề được trông thấy thác nước. Bin đưa súng cho tôi bảo ngồi chờ. Tôi thấy Bin quan sát trên những vòm lá. Chợt một con sóc rúc lên. Nó đuổi một con sóc khác. Hai con cùng leo trên dây phía trước mặt. Bin ngoắc tay tôi, bảo:

- Anh bắn thử con sóc đi!

Tôi có cảm giác bỗng dưng con sóc to chạy sau dừng lại. Tôi chớp đúng khoảnh khắc ấy, giương súng, bóp cò. Cái dây rừng to bằng cổ tay bung ra, con vật rơi cùng tiếng reo của Bin:

- Anh bắn giỏi hung!

Tôi cũng hoàn toàn bất ngờ và tôi cho rằng, đó là sự may mắn tiếp theo giúp tôi chiếm được cảm tình của Bin và tốp người kỳ lạ này. Bin tụt xuống khe sâu, tìm bằng được con sóc. Nó bị nát bét phía sau. Tôi nghĩ tới mười ngày phép mà tôi được Trung Đoàn thưởng sau khi bắn bài ba đoạt giải nhất. Lần ấy, tôi đã hôn em dưới chân đê.

Tôi trở về hang đá cùng Bin với một niềm vui mới. Tôi cứ xấu hổ mãi vì sự đa nghi của mình đối với Bin. Tôi đã lén thả viên đá tự vệ ấy xuống khe ngay sau khi Bin đưa súng. Bin tả lại chiến công bắn con sóc ấy của tôi với mọi người. Họ nhìn tôi thân thiện hơn trước nhiều. Tôi cảm thấy tôi đang có khả năng được giải thoát. Họ lại ép tôi uống rượu. Tất nhiên tôi không thể từ chối.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Năm, 2008, 08:21:59 pm gửi bởi hoacuc » Logged
lamchung
Thành viên

Bài viết: 4


« Trả lời #2 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2008, 04:49:28 pm »

Tôi vẫn âm thầm nuôi ý định và mưu mô trốn khỏi họ, mặc dù giờ đây tôi đã nguôi ngoai, không còn cảm thấy cô đơn đến hoang mang, đến tuyệt vọng nữa. Nhưng tôi không thể cứ phải sống thế này! Cái khoảng cách giữa tôi và họ không còn quá cách biệt và điều ấy sẽ tạo cho tôi cơ hội. Những người đàn bà đã cười với tôi. Họ gồm bốn người và ba cháu nhỏ. Suốt ngày họ vẫn chỉ quẩn quanh với bếp lửa và nồi súp đắng. Sao lại thế nhỉ? Tôi không hiểu. Nhưng đúng là bếp lửa không nguôi rực rỡ nơi góc hang tối, thỉnh thoảng họ mới ra khỏi hang để bổ củi. Họ hạ những cây thẳng đuột bằng chiếc rìu nhỏ. Dáng họ vung rìu rất uyển chuyển và khéo léo, tựa như múa vậy. Củi tươi mà cháy rất đượm, đầu các thanh củi xùi ra thứ nước vàng vàng, thơm ngậy. Bốn người đàn ông kia, hình như là chồng của họ, cùng với Bin suốt ngày ra rừng kiếm cái ăn và nắm tình hình địch. 

Địch thả biệt kích khắp núi khắp rừng, Bin bảo tôi thế. Máy bay chúng thả bom liên hồi. Pháo từ các cao điểm giội nát những chòm rừng nghi vấn. Chúng tôi ở đây, một địa thế bất ngờ, thật khó có thể hình dung được con người lại có thể len lỏi trên cái triền núi cao dốc đứng này để ở. Tôi không thể không tắm và họ đã cho tôi hai quả bầu khô đựng nước, ra phía sau tảng đá rửa ráy. Họ vẫn chưa cho tôi ra khỏi hang đá.

Một buổi chiều khi tôi vừa lơ mơ tỉnh dậy đã thấy Bin và cánh đàn ông ngồi trước cửa hang với cái vẻ nghiêm trang ít thấy. Tôi lân la lại gần Bin và nhận ra trên tảng đá lớn, có một cụ già ngồi hút rượu cần. Cụ hút rượu chậm rãi, trong một cái ghè nhỏ xíu. Tôi chưa bao giờ thấy một cụ già, già tới chừng ấy. Cụ ngồi trên tấm dồ, ở trần, da trên người cụ nhăn nhúm dễ sợ. Nó vừa khô vừa mốc thếch. Cụ không có râu, tóc lưa thưa, đôi mắt nhỏ tinh anh liếc nhìn tôi và tôi lạnh xương sống vì cái nhìn ấy. Tôi có cảm giác đôi tai cụ xệ xuống vai với một cái lỗ kéo dài bỗng dưng động đậy. Cụ khẽ rung rung người. Tôi nép sát vào Bin. Bin bảo:

- Anh đừng sợ. Book KRă đấy.

Tôi không hiểu.

Bin giải thích:

- Già Phới đấy.

Tôi cung kính tới trước cụ, chắp tay cúi chào. Cánh đàn ông bật cười. Cụ già thả tay xuống, miệng chóp chép nhai cái gì đó. Nếp da trên cổ cụ chợt rung rung, phát ra thứ âm thanh tựa như tiếng rít. Cụ duỗi chân rồi huơ tay. Một người cầm cái tẩu đã nhồi thuốc sẵn, gắn vào môi cụ. Người khác cầm thanh củi đượm than châm cho cụ bập thuốc. Cụ bập chậm rãi nhưng chắc. Khói thuốc từ từ lan ra hai bên mép.

- Lũ mình có nhiệm vụ bảo vệ Book KRă Phới.

Bin nói và tôi hiểu. Bảo vệ già Phới là một nhiệm vụ thiêng liêng.

- Già Phới bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? - Tôi hỏi.

Bin nhăn mặt. Cậu ta bảo các già làng khác hồi còn nhỏ đã thấy Book KRă Phới già thế này rồi, ai mà đếm được tuổi. Rằng già Phới đang kỳ thay răng, thay tóc, tôi khẽ rùng mình.

- Có tình hình mưa to, nắng to, khổ hung đấy.

Bin nói với nét mặt rất nghiêm trọng.

- Sao thế nhỉ?

Tôi hỏi ngớ ngẩn.

- Sao gì? Nó thay tóc, thay răng, không phải bình thường đâu. - Tôi hiểu và hỏi lại:

- Bin à, thế mấy hôm rồi già Phới ở đâu?

- Ở trong rừng trong núi chớ ở đâu. - Bin phản ứng. - Anh hỏi lung tung quá!

Tôi câm họng. Họ dìu già Phới vào hang, đặt già ngồi bên đống lửa. Bin lại bảo tôi đừng sợ, cứ ngồi gần già Phới coi thử. Già Phới hiền lắm, vì già Phới là của chung dân làng mà. Tôi cố ra vẻ tự nhiên ngồi sát già. Già khẽ gật gật đầu. Bin cầm tay tôi đặt vào lòng bàn tay già Phới, nói gì đó. Già Phới nhếch môi cười, nhưng chẳng ra cười. Tôi run rẩy nhìn Bin, Bin ghé tai tôi, nói nhỏ:

- Nó yêu cầu anh có tình cảm trước mặt nó đó.

Tôi không hiểu. Bin giải thích:

- Nó ưng anh có hành động ăn thề đấy.

- Làm thế nào được, Bin? - Tôi cầu cứu cậu ta.

- Bình tĩnh thôi. - Bin nói.

Cánh đàn ông khiêng vào ghè rượu mới. Tôi có cảm giác họ có vô vàn rượu cần giấu quanh đây. Họ rộn ràng mở ghè, cắm cần, rộn ràng mời già Phới. Già chỉ nhấp môi rồi đưa cho tôi. Tôi nhìn Bin. Bin cười, bảo:

- Anh uống đi. Hôm nay có yêu cầu to cho anh đấy.

Người ta đặt can. Mỗi can đổ hết một quả bầu loại nhỏ nước lã. Tôi bặm môi hút, lòng tự nhủ, có chết cũng phải uống. Không thể để họ mếch lòng. Bin nghiêng cổ nhìn can đã rời khỏi mặt nước trong ghè rượu, nói:

- Tốt hung rồi, cho anh nghỉ ngơi được.

Tôi tựa lưng vào vách đá, cảm thấy hơi men đang bốc lên mặt, rồi lên đầu. Họng tôi hình như có cục gì đó lờm lợm đang dâng lên, dâng lên. Tôi cố nuốt cái cục buồn nôn ấy xuống. Họng tôi chợt nóng như có lửa, trời đất chao đảo, đổ hoa cà, hoa cải, xoay chong chóng. Tôi nghe có tiếng cười, tuy nhỏ nhưng rất rõ. Có một bàn tay rất mềm níu cổ tôi rồi hình như tôi được đỡ nằm xuống với một động tác nhẹ nhàng. Rồi tới một bộ ngực đàn bà đầy ứ trùm lên mặt tôi. Tôi ngộp thở. Lại tiếng cười. Thoáng cái, tôi sặc sụa vì người ta đổ nước lạnh ồng ộc từ quả bầu rất to vào mặt tôi. Tôi co người rên rỉ. Chợt tôi bị dựng dậy. Người ta ấn vào mồm tôi cái cần rượu.

- Anh uống nữa đi, không phải uống rượu để ngủ đâu!

Tôi nghe rất rõ tiếng Bin và tôi lại uống. Hình như có bầy kiến lửa từ trong vòi rượu thi nhau chạy vào người tôi, bò tới khắp các thớ thịt, rồi đồng loạt đốt. Tôi ngắc ngoải hút rượu một cách rồ dại. Đúng là rồ dại. Và tôi vẫn còn nghĩ được, thà chết còn hơn sống mà cứ nơm nớp. Say thì say! Tôi tự khuyên. Họ dựng tôi đứng lên. Tôi lảo đảo tựa người vào vách đá, loáng thoáng nghe tiếng rì rầm, loáng thoáng cảm thấy không khí nghiêm trọng và ai đó ấn vào tay tôi vật gì nặng trịch. Tôi sững người, ngã lăn ra đất. Có tiếng cười của phụ nữ và tiếng hát trầm của đàn ông. Tôi cố không để say, ít nhất là trong suy nghĩ. Bin lôi tôi dậy lần nữa. Tôi quờ tay nắm chắc gộc củi đỏ rực Bin vừa đưa. Bin bảo:

- Anh Bìn! Anh có dám cho lửa ăn chỗ đùi này không?

Không hiểu sao tôi lại bỗng có nghị lực đứng thẳng lên và tôi nhận rõ họ muốn gì. Tôi giật phanh cúc áo, ưỡn ngực, gí gộc củi đỏ nhòe vào da thịt mình. Tôi nghe có tiếng “xèo xèo” và tiếng rú. Không phải tiếng rú của tôi mà là của phụ nữ. Có ai đó giằng gộc củi khỏi tay tôi và Bin ôm ghì tôi, áp ngực cậu vào ngực tôi như để che chở. Tôi đổ xuống tay Bin, không phải vì run sợ mà vì say rượu. Đúng là say rượu. Khi tỉnh dậy, tôi thấy tôi nằm cuộn khoanh trong tấm dồ, sát chân già Phới, toàn thân nhầy nhụa những máu và mật ong. Người ta đổ mật ong vào vết thương cho tôi. Tôi khát. Tôi sờ soạng tìm bầu nước. Một cánh tay mềm nâng đầu tôi dậy, đặt miệng tôi vào miệng quả bầu đựng nước. Nước ngọt chạy rân rân, mát lịm. Tôi tỉnh, nhưng đầu đau nhoi nhói.

- Bin đâu rồi? - Tôi hỏi.

Chị ta không hiểu. Tôi cố ngồi dậy. Người đàn bà đặt bàn tay già Phới lên vai tôi. Tôi không dám cựa quậy. 
Cánh đàn ông đã ngủ như chết. Có tiếng nổ rất đanh của pháo khiến tôi tỉnh hoàn toàn. Tôi hiểu tôi đang ở đâu và đang lâm vào tình cảnh thế nào. Người đàn bà chúm môi thổi lửa. Khuôn mặt chị ta bầu bầu. Hoa lửa bay chới với trong hang đá tối đen. Mấy chú nhỏ ngủ như những con chuột con khẽ cựa quậy. Tôi ngả người xuống định ngủ tiếp, chợt thấy người đàn bà vạch vú. Bộ ngực đồ sộ của chị ta từ từ áp vào miệng già Phới. Già Phới bú! Tôi nín thở quan sát, cảm thấy hai bắp đùi chị ta rướn lên, xích sát đầu tôi. Tôi lặng lẽ xoa xoa hai bắp vế ấm nóng ấy cho tới khi thiếp đi, trong trạng thái bình yên đến vô cùng. Hình như tôi mơ thấy một dòng sông, nước trong leo lẻo. Một con cá rất to uốn lượn nâng tôi lên khỏi mặt nước. Con cá mềm mại đùa giỡn với tôi và tôi trườn mình trong làn nước ngọt lịm. Đâu đó rất xa như có tiếng ai hát. Giọng hát êm đến nỗi, tôi tưởng như mình được bay lên. Đầu tôi đã gối lên đùi người đàn bà. Chị ta đang thổi đinh-yơng. Chị kia nằm chống tay lên má hát. Đinh-yơng là nhạc cụ chỉ dành riêng cho đàn bà con gái, sau này tôi mới biết.

Đó là một chùm ống nứa được bó kết lại giống như cái khèn. Người đàn bà ngồi hơi nghiêng, đầu lắc lắc thổi. Âm thanh bập bùng thoáng nhẹ như lời tâm sự phát ra từ tít sâu trong tâm tưởng con người. Nó rung lên, chập chờn phía sau giọng hát rất êm với giai điệu mềm đến nao lòng. Già Phới cũng đã ngủ. Tôi se sẽ trườn đầu ra khỏi đùi người đàn bà. Chị ta nâng đầu tôi đặt trở lại. Hai người đàn bà ngừng thổi đinh-yơng và hát. Họ rì rầm tâm sự. Tôi chìm vào giấc ngủ thật sâu của tuổi mười tám... 
 
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Năm, 2008, 08:24:36 pm gửi bởi hoacuc » Logged
lamchung
Thành viên

Bài viết: 4


« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2008, 04:52:22 pm »

Sau chừng một tuần được bôi nước mật, vết thương trên ngực tôi khỏi hẳn, để lại một vết sẹo dài, một cái dấu son chứng giám cho lời thề nguyện của tôi được gia nhập cộng đồng, được làm con Bah Nar. Tôi học tiếng Bah Nar, học việc của người đàn ông Bah Nar. Tôi đã từ bỏ ý định trốn khỏi họ, nhưng trong lòng vẫn khắc khoải mong có dịp tìm trở về đơn vị. Bin dẫn tôi vào rừng săn thú, kiếm cái ăn, và tôi đã phát hiện ra khả năng săn bắn của mình không đến nỗi tồi. Chúng tôi bám địch, dựa theo hai triền núi, luồn sâu vào rừng già. Bin chỉ cho tôi ký hiệu các bãi chông thò và bật thử một cái thò cho tôi coi. Đó là một cái cần bằng thân cây to cỡ cổ tay uốn cong lẫn trong bụi. Đầu cần cắm một mũi lao sắc nhọn vót từ cây le già. Khi chạm vào dây bẫy, lẫy tuột khỏi dây, cần bật mạnh, đập vào thân cây phía trước, mũi lao phóng đúng tầm ngực người ta, chết không kịp kêu một tiếng. Tôi rùng mình thốt lên:

- Khiếp nhỉ! - Bin co người rút mũi lao ra khỏi thân cây, nói:

- Con mang, con nai, con cọp có chết rồi đấy.

Tôi như đứa trẻ, cái gì cũng phải hỏi Bin. Chính Bin là người thầy đầu tiên dạy cho tôi biết sống trong cuộc chiến, cần phải làm gì và cần phải tránh những thứ gì. Bin dẫn tôi lên chốt Mỹ, nơi chúng mới đổ thêm đồ tiếp tế. Tôi bám theo Bin. Bin luồn lẹ và tôi cũng luồn lẹ. Bin bảo:

- Cho anh coi thằng Mỹ tắm nước xe bay, tức cười lắm.

Chúng tôi ép mình trên những hõm đá, rồi trườn lên, trườn lên, tới khi áp sát bãi đổ quân của Mỹ trên đỉnh núi thì dừng lại. Thấy tôi run, Bin bảo:

- Coi chơi thôi mà, sợ gì. 

Tôi trấn tĩnh, gật đầu. Những chiếc trực thăng bay vòng tròn. Một chiếc chúi mũi xuống, nghiêng nghiêng. Nó xoay quanh, loay hoay một lúc rồi đứng im trên không. Tôi nhìn rõ cả thằng lái, thằng xạ thủ lăm lăm súng. Vòi nước phun xoe xóe xuống bãi trống. Những tên Mỹ từ trong các chiến hào liều lĩnh ào ra, trần như nhộng, vừa tắm vừa la hét inh ỏi. Một số khác khuân những thùng hàng tiếp tế tập trung ở một góc bãi. Khi chiếc máy bay bốc lên cao, bọn Mỹ hò nhau nhào về các công sự. Bin bảo tôi nằm chờ. Cậu trườn theo thân cây đổ rồi theo cái rãnh đầy lá khô vừa bị cánh quạt trực thăng táp vào. Bin bò hướng lên. Trời nắng như đổ lửa. Đất khô bắt nước bốc mùi nồng khé. Tôi cố cưỡng lại cơn run, tì súng vào một gốc cây. Bin làm trò gì thế này? Tôi vừa sợ vừa giận Bin. Liều lĩnh để làm gì? Bóng Bin đã khuất trong đám cây đổ ven bãi trống. Nếu Bin có chuyện gì tôi sẽ giải quyết thế nào? Tôi cố nén mình xuống, nén nghĩ ngợi hoang mang. Nhưng sao lại thế nhỉ? Nằm đây xem đủ chán rồi, lại còn mò vào nữa để làm gì? Biết trước thế này chắc tôi cũng bò theo Bin. Có tiếng súng nổ chát chúa, tiếng hò la của bọn Mỹ. Đạn nổ liên hồi. Tôi không thể phân biệt được tiếng súng gì. Tôi ghìm người dưới gốc cây, miệng cắn chắc một mẩu gỗ từ lúc nào. Bọn Mỹ bắn có tới năm phút, và tôi thấy lâu vô cùng. Liệu Bin có việc gì không? Có thể chúng phát hiện ra Bin? Nếu không chúng bắn làm gì? Chợt tôi giật thột quay súng lại khi có một viên sỏi ném vào tôi từ phía sau. Bin ôm một bao gì rất to, toác miệng cười, vẫy tôi. Mồ hôi túa ướt sũng quần áo và tôi nhẹ bẫng người, trườn trở lui.

Chúng tôi theo cái khe khô chuồn xuống suối. Bin ném cái bao khi chúng tôi tới chỗ an toàn, nói:

- Mình no, thằng giặc Mỹ bị đói rồi!

Hai anh em tôi mở bao đồ hộp ra “liên hoan”. Thịt hộp, ca hộp, sữa gói, cafê, ca cao, đường viên, muối gói, đủ thứ… Kể cả những viên xăng khô, thuốc lá Salem mỗi gói bốn điếu, hút vào tê lưỡi vì mùi bạc hà. Bin ăn, Bin uống rất thành thạo. Còn tôi thì khỏi nói, cái gì cũng lạ. Bin bày cho tôi cách ăn, cách uống. Đó là bữa tiệc trong chiến tranh đầu tiên của tôi. Một bữa tiệc vừa lạ lùng, vừa ngon và vừa có cái gì đấy giống như sợ, chứ không phải sợ. Bin hỏi:

- Thằng Mỹ có buôn làng không nhỉ?

Câu hỏi đột ngột của Bin chứa đựng một cái gì đấy rất sâu xa. Tôi ngước nhìn Bin nhai kẹo cao su, một thứ kẹo nhai để mà nhai nhưng ngọt và thơm vô cùng. Tôi chợt nghĩ ra cách trả lời:

- Nó không gọi là buôn làng. Nó gọi là thành phố. To lắm.

Thực ra, tôi trả lời như thế chẳng đáp ứng được gì cho Bin. Bin có gương mặt hơi vuông, mắt sáng, đầy lông tơ. Giá Bin được đi học, chắc Bin giỏi hơn tôi rất nhiều.

Chúng tôi lèn đồ hộp vào hai cái bồng bằng bao cát, để đem về cho già Phới, cho lũ đàn bà con nít. Bin ngáp dài, nói:

- Mình ưng ngủ quá.

Chúng tôi chui vào bụi mắc võng. Bin ngủ ngay sau khi võng đung đưa được vài nhịp. Còn tôi thì không ngủ được. Tôi nghĩ liên miên về những ngày qua, cả về miền Bắc với những ngày trọ học sơ tán, với những đêm lần mò ra đồng ăn trộm khoai tây của hợp tác về luộc. Tôi nhớ cái hôn ở chân đê hôm được về thưởng phép. Tối hôm ấy tôi rủ được cái Hằng đi chơi và tôi hôn nó ngay sau khi tới gốc cây đề ở chân cống Thiên Bồng. Tôi chẳng thấy sướng gì. Cái Hằng giãy giụa trong tay tôi và tôi quyết hôn bằng được, thế thôi. Rồi nó chạy. Tôi chạy theo nó về làng. Ấy thế mà khi trở lại đơn vị, tôi khoe với chúng bạn rằng, tôi đã có người yêu.

- Nói phét, - tiểu đội trưởng Lâng quả quyết. - Tao đố mày hôn được cái Thiêm con bà chủ.

Tiểu đội trưởng Lâng đã ngoài ba mươi, có vợ và một con. Anh rất khoái bày trò cho cánh tôi tán tỉnh các cô gái nơi đóng quân. Nhà chúng tôi trọ có cô Thiêm rất xinh, đang học lớp chín. Thiêm thường đi học về muộn. Tối hôm ấy ở bãi tập về, tiểu đội trưởng bảo tôi:

- Mày giả vờ ở lại tìm lựu đạn bị mất, tao về trước, tuyên bố phạt mày không cho ăn cơm tối.

- Để làm gì?

- Để mày ăn cơm với con Thiêm, tha hồ mà tán.

Tôi làm y lời anh. Trời chập choạng tối, tôi còn nằm trên gò hóng gió thì cô Thiêm ra gọi. Cô bảo các anh ấy đi họp hết rồi, về ăn cơm với cô cho vui. Tôi giả vờ buồn, lủi thủi xách súng theo cô về. Thiêm bảo:

- Anh Lâng ác thế!

Tôi vẫn làm mặt buồn đi sau cô. Gần tới nhà, tôi nói:

- Thiêm ăn cơm đi, tôi không dám ăn đâu.

Không ngờ cô Thiêm giận dỗi khóc. Tôi sợ quá đứng ở bụi tre dỗ Thiêm. Lúc ấy tôi biết anh Lâng đang theo dõi tôi, có thể cả thằng Khôi, thằng Hiễn nữa. Tôi mạnh bạo cầm tay Thiêm. Thiêm thút thít khóc rồi vùng vằng khi tôi liều lĩnh kéo cô vào lòng, hôn. Thế mới gọi là hôn. Tôi quên rằng tôi đang diễn kịch. Thiêm níu cổ tôi chặt quá khiến tôi ngạt thở. Hai đứa cùng ho. Anh Lâng và thằng Khôi lừng lững đi qua, vừa đi vừa đằng hắng. Thiêm chạy về nhà. Tôi lủi thủi về theo, trút quần áo ra giếng tắm giặt. Chợt Bin cựa quậy trên võng rồi cậu ngồi dậy, giụi mắt, hỏi:

- Anh Bìn không ngủ à?

Tôi sực tỉnh, nhìn Bin ngơ ngẩn.

- Mình ưng tắm quá. - Bin nói.

- Tắm thì tắm. - Tôi phụ họa.

Hai anh em tôi cởi truồng nồng nỗng, xuống suối. Bin vốc từng hụm nước tự hất lên mặt, lên người, rồi mới nhào xuống, trong khi tôi đã đằm mình dưới nước. Bin ngậm nước phun vào mặt tôi, bảo:

- Anh Bìn có thắc mắc tui nhiều không?

Tôi cười:

- Có đấy, làm gì nào?

Bin té nước tới tấp vào mặt tôi. Tôi lặn.

- Anh Bìn có chơi nước giỏi hung. - Bin nói khi chợt nghe có tiếng đề pa và sau đó là tiếng hú, rồi tiếng nổ của đạn pháo. Pháo bắn liên hồi. - Thằng Mỹ phát hiện mất đồ hộp cho pháo bắn lung tung đấy.

Chúng tôi lên bờ, ngồi hút thuốc. Chợt Bin đứng dậy:

- Anh Bìn ngồi đây, tui leo lên cây coi địa hình.

Nói rồi Bin thoăn thoắt leo lên tít ngọn cây gì vừa to vừa cao. Tôi hồi hộp chờ. Một lúc sau Bin xuống, bảo:

- Anh chờ nhé, em đi lấy dù.

Bin xưng “em” nghe rất ngộ. Tôi cuốn võng chờ. Bin đem về mấy tấm dù pháo sáng màu đỏ và trắng. Bin mừng rỡ:

- Mình tổ chức làm cờ trêu chọc.

Tôi không hiểu. Tôi làm theo Bin. Chúng tôi rọc những tấm dù, lấy phần dù màu đỏ, dùng dao găm chọc lỗ, lấy dây dù luồn qua, như khâu, vì không có kim. Mảng dù được ghép lớn như một lá cờ. Hai anh em kiếm một cây cao. Bin trèo lên, cột vào một cành cây như là cột cờ. Rồi chúng tôi kéo lên. Lá cờ bay trên chỏm rừng. Chúng tôi khoác bồng chạy theo suối, một lúc sau dừng lại, Bin vừa thở vừa nói hồ hởi:

- Được rồi đấy, tha hồ cho mày bắn thí xác!

Tôi thở không ra hơi. Bin nhìn tôi cười, xốc bồng leo lên một mỏm núi. Tôi leo theo.

- Mình leo lên dông coi thử.

Đúng lúc ấy tiếng máy bay trinh sát L19 bay vè vè. Rồi tiếng phản lực và sau đó là bom. Bom nổ rung chuyển. Tôi giật bắn người mỗi lần có đợt bom và nhất là tiếng gầm rít, tiếng hú của máy bay phản lực. Ở ngoài Bắc tôi đã chạy báo động nhiều lần, nhưng không sợ bom mà chỉ sợ tiếng rít ấy. Có tới hai tiếng đồng hồ, hết bom rồi pháo. Rồi lại bom. Chỏm rừng ấy thành đồi trọc. Tôi leo theo Bin lên một chạc ba cây để nhìn xuống ung dung. Thật là một trò chơi ngẫu hứng không thể hình dung được.

Làng Đê Chơ Rang của Bin giờ đây không còn được như xưa nữa. Nó phải chia thành nhiều tổ, mỗi tổ vài gia đình, vài du kích, vài trẻ nít, vài ông bà già, chiếm lĩnh một vài khe núi, một vài suối nước, một vài chỏm rừng. Bộ đội chủ lực ở trong hậu cứ, thỉnh thoảng hành quân xuống đánh to trên đường 14 và đường 19 hoặc các căn cứ Mỹ ở Chư Thoi, Chư Dệt, Măng Yang. Sâu nữa là đánh Plei-Ku. Bộ đội tỉnh, bộ đội huyện đánh các chốt, các đồn dân vệ. Còn du kích thì lo bảo vệ dân làng, chỉ đạo bà con bám đất. Làm rẫy to không được thì làm rẫy nhỏ. Đơn vị tôi là của Mặt Trận B3 tăng cường xuống tỉnh, chuyên đánh đường giao thông. Lẽ ra hôm ấy tôi chạy lên phía Tây thì về được hậu cứ của đơn vị. Nhưng tôi lại chạy xéo, hướng lên cánh rừng phía Đông Bắc, thành thử lọt vào tay du kích. Có lẽ đơn vị cho rằng tôi mất tích rồi!

Tôi cứ ngẩn ngơ nghĩ ngợi mãi về cái điều oái oăm ấy. Và tôi nói với Bin. Bin nhăn mũi bảo:

- Làm du kích không phải chuyện bình thường đâu mà anh tính toán.

- Nhất định rồi. - Tôi phải nói hùa theo.

- Một là du kích cũng đánh địch, - Bin giải thích. - hai là bộ đội hy sinh, bộ đội chết có bổ sung nhanh. Còn du kích, - Bin chun mũi. - phức tạp hung mà.

- Phức tạp là thế nào? - Tôi hỏi.

Bin chau mày, cố tìm từ:

- Nó phải chờ lũ con nít biết lớn mới bổ sung tốt chớ.

Tôi “à” một tiếng cảm thấy thật ngộ nghĩnh quá. Cái lối lập luận của Bin chẳng có cách nào tranh luận được. Đúng là miễn bàn! Thỉnh thoảng thấy tôi có vẻ buồn buồn, Bin gợi chuyện:

- Anh Bìn có bắt vợ chưa?

Tôi bật cười. “Bắt vợ” có lẽ là lấy vợ đây, tôi nghĩ và trả lời:

- Mình chưa bắt được vợ.

- Chờ đánh xong thằng giặc Mỹ à? - Bin lại hỏi.

- Ừ. Đánh xong thằng Mỹ mình còn đi học nữa. - Tôi tâm sự.

- Học xong đại học rồi lấy vợ cũng chưa muộn. 

- Biết lâu, biết mau. - Bin nói. - Biết sống, biết chết!

Cái cách diễn đạt của Bin dần dần tôi cũng quen, cũng hiểu.

- Chắc là không lâu đâu. - Tôi nói, không phải để động viên Bin, mà thực ra để tự trấn an mình. Tôi cảm thấy nghèn nghẹn ở nơi họng, nước mắt cứ chực trào ra. Trước đây tôi không thế. Tôi không nhớ từ khi lớn lên tôi có khóc lần nào, chỉ vì một lời nói hay một cuộc tâm tình. Tôi được hưởng sự nuông chiều của cả nhà, đến mức tôi không biết ân hận là gì. Ngay cả cái hôm nhận được giấy báo trúng tuyển, u tôi vì lo lắng cho sức khỏe và tính khí chẳng ra gì của tôi mà khóc, tôi cũng không thấy mủi lòng. Tôi tránh cái nhìn và những lời dặn dò lặp đi lặp lại của u, không phải vì tôi quá cảm động mà vì tôi không thích nghe nữa. Ấy vậy mà giờ đây, cứ hơi tý là tôi muốn trào nước mắt.

- Anh Bìn có được học chữ bao lâu? - Chợt Bin lại tò mò hỏi.

- Mình học mười năm. - Tôi trả lời cho qua chuyện. Bin trố mắt nhìn tôi như thể tôi là kẻ xa lạ đang giễu cợt cậu.

- Anh giỡn tui à? Làm cái gì học mười năm?

- Học văn hóa.

- Chô cha, tui tưởng có một năm đủ lâu hung mà.

Tôi hiểu ý Bin muốn nói gì, nhưng quả tình, tôi không thể giải thích ngay cho cậu hiểu được rằng, học xong mười năm phổ thông, người ta còn phải học tiếp năm bảy năm đại học nữa. Tôi tự thấy hình như mình mắc lỗi vì đã khoe ra mười năm học, trong khi Bin chưa có một ngày ngồi trên ghế nhà trường. Có lẽ sự lúng túng của tôi đã giúp Bin hiểu ra ý nghĩa của sự thực. Cậu toác miệng cười:

- Chậc. Ở miền Bắc có sướng hung nhỉ.

Tôi kể miền Bắc có nhiều nhà máy to, nhiều cánh đồng rộng, nhiều con đường lớn, nhiều hợp tác xã cao cấp, nhiều nông trường, công trường… Cái gì ở miền Bắc cũng to, cũng đẹp. Bin cố hiểu, cố hình dung. Nhưng nhìn mặt cậu, tôi biết, dẫu tôi có nói thế nào thì cậu cũng chỉ lơ mơ hiểu được là đẹp là to. Không thể kể cho Bin hiểu theo sự mong muốn của mình. Và tôi một lần nữa trở nên lúng túng. Vốn từ Bah Nar của tôi không đủ diễn đạt và vốn từ tiếng Kinh của Bin cũng không đủ lĩnh hội. Cuối cùng Bin chộp vai tôi, reo lên:

- Tui nói thiệt, tui ưng miền Bắc to đẹp hung. Mai mốt thống nhất tui ưng bắt vợ miền Bắc to đẹp. Anh Bìn có trách nhiệm lo giúp tui chuyện đó nghe.

Tôi bắt tay Bin “quyết tâm nhất trí”. Rồi chúng tôi cùng cười vang. Rõ ràng Bin đã giải tỏa cho tôi bằng khả năng khôi hài hóm hỉnh của mình.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Năm, 2008, 08:29:31 pm gửi bởi hoacuc » Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #4 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2009, 08:07:34 am »

Tôi đã đọc truyện này do bạn lamchung đăng ở đây. Và chờ mãi chờ mãi để dọc tiếp phần còn lại nhưng quá lâu không thấy bạn post tiếp. Nên tôi đã tìm được bản đầy đủ để đọc trọn vẹn truyện này. Tôi đã có ý định gởi tiếp phần còn lại để cho mọi người cùng đọc nhưng lại ngại bạn lamchung vì sợ bạn nghĩ rằng tôi tranh phần của bạn để lên quân hàm.

Hôm nay vào đây thấy truyện này vẫn chưa được post tiếp, tôi xin phép bạn lamchung được làm nốt phần việc dang dở của bạn nhé. Mong bạn thông cảm tôi chỉ muốn chia xẻ cùng mọi người thôi vì đã từng đọc dở dang rất khó chịu khi chờ đợi. (Và số bài của tôi cũng đã rất nhiều, tôi đã được vào tất cả các mục của quansu rồi - Mod, Min giúp tôi tính số bài này cho bạn lamchung nhé - Thank)
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Bảy, 2009, 08:50:36 am gửi bởi trachvandung » Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #5 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2009, 08:09:21 am »

*
Tôi và Bin lãnh nhiệm vụ bám địch, nắm tình hình, còn anh Yơng, anh Ru, anh Miết có nhiệm vụ lo cho già Phới, lo cho lũ đàn bà con nít có cái ăn. Thực ra không phải chỉ có hai chị, mà còn có mấy bà, mấy cô nữa ở những hang đá lân cận. Dân làng chia nhau sống tản mát để giữ đất. Tôi rất sợ phải làm rẫy. Chỉ cầm rìu, cầm rựa một ngày là bàn tay tôi phồng rộp lên, những túi da chứa nước vàng vỡ ra, máu và nước vàng nhoe nhoét, xót lên tận óc. Không khóc mà nước mắt cứ trào ra. - Một lần, hai ba lần rồi quen thôi, anh Bìn ạ! Bin bảo tôi thế. Nhưng tôi không thể quen.
Từ bé tôi chưa hề phải làm một việc gì nặng, kể cả mấy tháng luyện tập ở Yên Tử. Mấy tháng luyện tập tôi được phân công làm báo tường cho trung đội rồi đại đội, nhằm phục vụ cho các phong trào thi đua của đơn vị. Thế mà bây giờ không thể không làm. Tôi lấy khăn mặt quấn vào bàn tay ra rẫy theo mọi người. Nhưng đó chỉ là hành động biểu hiện tinh thần cố gắng, chứ thực ra, tôi chẳng thể chặt nổi một cây nào. Anh Yơng bảo tôi ở nhà giúp chị nuôi. Tôi quẩn quanh mãi cũng chán. Giúp chị nuôi cũng phải làm gì cho ra giúp chứ. Tôi không thể bổ củi, không thể nhúng tay xuống nước. Còn chế biến món ăn ư? Chẳng có gì để chế biến cả. Tôi cảm thấy ngượng và buồn khi thấy mọi người quan tâm tới mình. Mỗi khi chiều xuống, anh Ru đào rễ cây gì vàng ươm, giã nhỏ, trộn lẫn với nước mật ong, bảo tôi đắp vào chỗ đau. Vết phồng khô nhanh, nhưng nếu cầm rìu nữa, nó lại tóe máu. Bin hiểu tâm trạng tôi, một hôm cậu ghé tai tôi nói vẻ quan trọng:
- Tui và anh lo việc nắm địch, kết hợp săn bắn cải thiện. Anh Yơng nhất trí rồi. Nó nói anh không có làm rẫy được tốt đâu.
Tôi mừng vì có việc làm. Chúng tôi được ưu tiên ăn cơm  không, muốn đi lúc nào tùy thích. Cả muốn ngủ lúc nào cũng  không ai thắc mắc. Cái máu ham săn bắn có trong tôi tự thuở nào  mà giờ đây được dịp kích thích tôi hăng thế. Càng ngày tôi càng  thạo, càng thạo càng ham. Có hôm đang đêm chợt tỉnh, chợt cảm  thấy rạo rực, thế là lặng lẽ xách súng đội đèn vào rừng. Cái phút  ra đi bất chợt ấy, tôi biết, mọi người nín thở chờ tôi. Họ chờ tới khi  nào nghe tiếng súng mới thi nhau bàn luận, đố nhau xem hôm nay  được ăn thịt con gì. Và vì thế, tôi quyết đã ra đi là không được về  không. Không thể để sự mong mỏi của mọi người thành ra hẫng  hụt. Tôi bắn đèn giỏi hơn Bin. Bin bắn ban ngày giỏi hơn tôi. Hai  anh em ngầm thi nhau kiếm thịt rừng. Được con thú to, anh Yơng  chia cho bà con ở những tổ khác. Bắn được con nhỏ thì xách về  hang nấu canh chua lá bứa. Có bữa cả hai anh em cùng lập công,  chúng tôi ăn thịt thay cơm, thay sắn, no cả hang đá. Say cả hang  đá. Đã từ lâu rồi bà con anh em ở đây gọi ăn củ mì, tức củ sắn là  ăn cơm. Gạo chỉ dành cho người đau ốm. Bin bảo tôi, ngày mùa  tuốt lúa được ăn no cơm một tháng. Lúa tuốt xong rồi, bàn giao  kho cho bộ đội. Một hôm Bin bảo tôi:
- Bộ đội miền Bắc quen đánh địch giỏi, quen chết giỏi, nhưng không quen ăn củ mì, không quen phát rẫy.
Tôi tranh luận với Bin, rằng tất cả mọi công việc người ta đều có thể quen, nhưng chết thì chỉ có một lần, không cách gì quen được. Bin vẫn không đồng ý. Cậu một mực cãi:
- Tui có ở chung anh em bộ đội miền Bắc rồi chớ. Nó có chết quen thật mà. Một đứa, hai đứa, ba bốn năm đứa...
Tôi tỏ ý ái ngại cho sự hiểu sai của Bin, cho sự bất đồng ngôn ngữ giữa chúng tôi. Nhưng Bin không nghe nữa. Cậu bảo:
- Chết quen được thật mà. Bộ đội nó có chết nhiều hung mà vẫn có sống, có được bổ sung.
À ra thế. Lại bổ sung! Đã chẳng có lần Bin bảo tôi, bộ đội chết liền có bổ sung, chứ còn du kích chết thì phức tạp lắm. Du kích chết phải chờ lũ con nít lớn lên mới bổ sung được. Cái mà Bin gọi là "quen" có lẽ nằm trong khu vực tư duá ấy.
*
Lẽ ra tôi phải hiểu ngay những điều Bin vừa tâm sự quan  trọng đến nhường nào. Nhưng hồi ấy tôi còn quá non nớt và thiếu  kinh nghiệm sống nên vẫn cho rằng Bin có lối nghĩ đơn giản. Sự  thực hoàn toàn ngược lại. Mãi sau này tôi mới được biết, sở dĩ tôi  được đi săn bắn với Bin không phải do tôi có tài săn bắn, càng  không phải vì tôi yếu sức, không quen phát rẫy. Chính tôi đã bảo  mọi công việc người ta đều có thể quen. Vậy hà cớ gì tôi được liệt  vào hàng ngoại lệ, không phải làm quen với con dao quắm và cái  rìu? Tôi không hề nghi ngờ sự tin tưởng của bà con anh em, nhưng  đầu óc kiêu ngạo non trẻ của tôi lại nghĩ, chính vì tôi có tài săn  bắn hơn người mà tôi xứng đáng được hưởng ưu đãi như vậy. Tôi  không biết rằng, ngày ngày họ vẫn quan sát tôi và họ thường  xuyên "giao ban" với nhau về diễn biến tư tưởng của tôi nữa. May  mà tôi không có biểu hiện gì đáng ngại, ngoại trừ sự kiêu ngạo  ngấm ngầm của tuổi trẻ và sự nôn nóng muốn lập công. Tôi chăm  chỉ đi săn, chăm chỉ chế biến những món ăn lạ miệng để chứng tỏ  tôi luôn có ý thức trách nhiệm và tư tưởng an tâm ở lại, hơn là tình  thế buộc tôi phải ứng phó. Người hiểu tôi nhất vẫn là Bin. Bin  chẳng những hiểu tôi mà cậu còn tỏ ra ngưỡng mộ. Mỗi khi có  chuyện gì quan trọng cần trao đổi, Bin thường tỏ ra gần gũi, thân  thiết một cách lộ liễu và thế nào cậu cũng xưng "em" với tôi.
- Hồi hôm họp anh Yơng có yêu cầu em nói cho anh rõ một vấn đề quan trọng. Anh Yơng biểu phải có bí mật. Tôi tưởng Bin vẫn còn muốn thử tôi nên làm mặt lạnh lùng:
- Mình nói thật. Mình không ngại gì hết.
- Ngại gì. Chuyện bí mật của du kích tổ mình thôi mà. Tôi chìa tay tự tin, bắt tay cậu:
- Có nhiệm vụ gì quan trọng cũng được. Mình đã thề rồi mà. Bin gỡ tay tôi ra, cười hồn nhiên:
- Một là tui nói cho anh rõ, - Bin lại "tui". - du kích làng mình bắt được một thằng tù binh Mỹ có lâu hung rồi, nhưng chưa dẫn nó đi trả cho cấp trên. Bây giờ anh Yơng ưng giao nhiệm vụ cho tui và anh đem trả nó thì nó khóc. Nó biểu ưng ở lại cùng du kích. Anh có ý kiến gì không? Tôi sửng sốt vì có chuyện lạ lùng như vậy. Vấn đề tù hàng binh chứ đâu phải chuyện đùa. Hồi mới nhập ngũ, chúng tôi được học rất kỹ. Đó là một trong những chính sách tạo nên chiến thắng, nhưng lại rất dễ vi phạm kỷ luật, nếu ta lơi lỏng,
du di, tùy tiện. Tôi nhớ như in gương mặt nghiêm khắc của đại đội trưởng Hồi và chính trị viên trưởng Nhuận, hôm lên lớp cho chúng tôi về vấn đề này.
Tôi sực làm nghiêm với Bin:
- Ở lại là thế nào? Phải giải ngay nó về cho cấp trên để cấp trên khai thác.
Bin ngạc nhiên với thái độ của tôi. Cậu hỏi lại:
- Nhưng nó có gùi hàng, phát rẫy giỏi hung anh Bìn ạ. - Thế bây giờ nó ở đâu? - Tôi hỏi.
- Ở chung với anh em ngoài rẫy phía trước chớ ở đâu. - Nó chạy theo ta hay ta bắt được nó?
- Chô cha, bắt được nó chớ.
Tôi bỗng thấy mình trở nên có vai trò quan trọng. Không thể  hiểu nổi vì sao lập trường quan điểm của mấy anh du kích này lại  thấp đến mức không thể nào thấp hơn đến như vậy. Rõ ràng là  mình đang đánh nhau với nó, đang suốt ngày đêm phải chịu đạn  bom của nó, sống chui, sống lủi cũng tại nó, vậy mà lại đơn giản và  thiếu cảnh giác đến như vậy? ý nghĩ ấy kích thích tôi và tôi cảm  thấy máu quan điểm lập trường có tự trong tôi từ hồi nào được dịp  trỗi dậy, mạnh tới mức, tôi một mực đòi hoặc giải ngay nó về cho  cấp trên khai thác. Còn nếu không thể làm việc đó thì chỉ có mỗi  cách là giải quyết nó đi. Không có cách thứ ba. Không có chuyện  ăn chung, ở chung, lại còn cả cho nó tập nói tiếng mình nữa thì  thật vô nguyên tắc, chẳng còn ra thể thống gì. Hình như lúc ấy tôi  còn nói gay gắt hơn những gì tôi vừa viết ra đây. Bin tỏ ra nhận  thức được ý nghĩa nghiêm trọng của sự việc. Cậu chớp chớp mắt,  nói:
- Để tối nay họp, tui nói cho mấy anh rõ.
Tôi yêu cầu Bin đưa tôi ra chỗ rẫy phía trước coi thử cái thằng Mỹ ấy thế nào. Nhưng cậu ngập ngừng:
- Hay là tui và anh gặp anh Yơng nói chuyện...
Đó là lần đầu tiên kể từ khi lạc vào đây, Bin nhượng bộ tôi. Chúng tôi bỏ cuộc đi săn để trở về nơi ở.
- Anh Yơng đi họp cán bộ rồi.
Mấy người đàn bà thông báo cho chúng tôi như vậy. Và tôi dấn thêm một nấc thang nữa:
- Hay mình cứ ra rẫy coi thử.
Bin nhìn tôi, một lúc sau mới gật đầu.
*
Không có anh Yơng, nhưng có anh Miết và anh Ru. Hai anh  được anh Yơng phân công vừa làm rẫy, vừa coi chừng tên Mỹ.  Thực ra việc làm những cái rẫy cỏn con ở phía trước kiểu này,  chẳng qua chỉ là nhiệm vụ phải làm để giữ đất, để tạo không khí  bình yên, chứ còn thu hoạch chỉ có ý nghĩa cải thiện. Hơn thế, làm  rẫy là một thói quen không thể bỏ. Để có rượu uống. Để có rau ăn.  Để có bắp luộc, mía lùi. Để không bao giờ thiếu cà đắng và những  thứ ăn vặt suốt ngày ăn, và đặc biệt là để có cái làm suốt ngày  làm. Tôi nhận ra điều này không mấy khó khăn khi Bin bảo:  "Chắc anh Yơng đi yêu cầu cấp trên cho gạo và muối". Sự xuất  hiện của tôi và Bin khiến anh Miết và anh Ru rất phấn khởi. Hình  như hai anh đã phải chốt ở đây quá lâu rồi. Tôi thực sự ngạc nhiên  thấy tên Mỹ cởi trần, đóng khố, đang oằn mình bổ những nhát rìu  rất quyết liệt và chính xác vào thân một cây muồng vừa to vừa  rắn. Hắn có vẻ như rất quen với nếp làm, nếp sinh hoạt ở đây. Tôi  khoác súng lừ lừ tới gần nhìn hắn. Hắn vẫn chăm chú làm, chỉ  thoáng ngửng lên nhìn tôi, thoáng nhoẻn miệng cười, rồi lại tiếp  tục công việc. "Bờ tở mới", anh Ru bảo hắn. Hắn buông rìu, dùng  hai cánh tay quệt mồ hôi mặt rồi lại nhìn tôi. Có lẽ sự có mặt của  tôi làm hắn chột dạ. Vẻ mặt hắn chùng xuống, nhưng hắn cố  gượng nói với anh Miết:
- ĐYk! ĐYk! Giọng hắn ồm ồm như hút hơi. Anh Miết ném cho hắn cái bi đông Uạ. Hắn ngửa cổ tu một hơi dài. Rồi lại tu tiếp một hơi nữa.
- Mắt kia?
- Tôi đứng trước mặt hắn, hỏi bằng tiếng Bah Nar.
Hắn run run chỉ chỉ vào bộ ngực lông lá của mình nhìn tôi. Tôi nhắc lại:
- E mắt kia?
Hắn hiểu. Miệng hắn lắp bắp:
- Mắt ing Kon-Lơ. Kon-Lơ.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Bảy, 2009, 08:33:44 am gửi bởi trachvandung » Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #6 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2009, 08:09:51 am »

Tôi thực sự cũng chẳng còn biết hỏi gì thêm vì thậm chí vốn từ Bah Nar của tôi có thể còn thua cả hắn nữa. Bin đứng nói gì đó khá nhiều với anh Miết, anh Ru. Có lẽ cậu đang phân giải những điều mà tôi vừa nói với cậu về lập trường, quan điểm, vì trong những câu dài dặc của cậu, tôi nghe rõ các từ ấy. Rồi Bin bảo tôi:
- Mình ăn cơm ở đây, chiều về gặp anh Yơng.
Tên Mỹ được anh Miết, anh Ru cho nghỉ. Được nghỉ là hắn  xin xuống suối tắm ngay. Tôi tò mò nhìn theo cái dáng vừa gầy  vừa cao của hắn khoác cái gùi to gấp đôi gùi thường, trong gùi  chứa đầy những quả bầu khô đựng nước. Hắn đi chân đất. Tôi chợt  mỉm cười thỏa mãn, thầm nghĩ. Cái trò này là của mấy anh du  kích buộc hắn phải thực hiện. Chỉ trong vòng vài phút hắn đã gùi  lên một gùi nước. Các động tác lên gùi, xuống gùi thành thạo của  hắn không gây được chút cảm tình nào đối với tôi. Tự nhiên, không  hiểu sao tôi lại bỗng thấy máu mình sôi lên, chỉ muốn nã vào mặt  hắn một băng đạn. Đó là bộ mặt giả ngây ngô, giả khuất phục của  bọn cướp nước, của quân xâm lược. Lần đầu tiên tôi nhìn tận mặt  một tên xâm lược da đỏ au, mắt xanh lè, mũi diều hâu, tóc tai,  lông lá đều vàng như lông chó. Không thể đơn giản với bọn này  được, tôi nghĩ. Chúng chỉ có thể lừa được mấy anh du kích rừng  sâu chứ cánh bộ đội miền Bắc chúng tôi thì đừng có hòng! Tôi treo  võng chờ cơm, tiếp tục những ý nghĩ nặng nề về tên tù binh và  mấy anh du kích đơn giản đến cả tin này. Thế nào gặp anh Yơng  tôi cũng phải nói cho ra nhẽ. Phải nâng lên quan điểm thì mới hy  vọng mấy anh này nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề. Tôi  lại loay hoay nhớ tới gương mặt lúc nào cũng nghiêm túc một cách  sâu sắc của chính trị viên Nhuận. Anh được chúng tôi, không chỉ  chúng tôi, những thằng lính, mà cả cán bộ cấp tiểu đoàn vẫn gọi là  "cây lý luận". Giá bây giờ có anh ở đây thì mọi việc sẽ đâu vào đó  ngay. Cái đận tôi bị kiểm điểm vì tội làm báo tường cho thằng Ton,  thằng Hiễn, thằng Chính để chúng nó giặt quần áo, vác củi thay,  chẳng phải từ đơn giản chuáển sang quan điểm lập trường là gì?  Tôi tự nhận thức được lúc ấy cả lũ chúng tôi đều quá đơn giản vấn  đề, quá du di tùy tiện, coi việc rèn luyện cả tinh thần lẫn thể xác  chỉ là những công việc giản đơn mà không nghĩ được hậu quả sâu  xa của nó. Trung đội trưởng Từ và tiểu đội trưởng Lâng cũng chỉ  phân tích được đến mức chúng tôi làm thế là sai, là đối phó, nhưng  ý nghĩa sâu xa của cái sai ấy, của hành động đối phó cập nhật ấy, thì phải đến chính trị viên Nhuận mới phân tích được thấu tình đạt lý, chỉ ra nó sai ở chỗ nào. Vâng. Xét về tình thì đồng chí Bình thương bạn nhưng không biết cách thương. Đáng lẽ đồng chí phải hướng dẫn cho anh em biết cách làm thế nào để viết được bài ca dao, hò vè, thì lại đi bao sân, làm hộ. Nếu bảo vì đồng chí Chính không biết chữ thì đồng chí phải tranh thủ dạy cho đồng chí mình học. Thế mới gọi là thương nhau. Làm hộ đã là sai, xét về lý, đồng chí Bình lợi dụng khó khăn của anh em đã vô hình trung thành ra kẻ bóc lột. Anh em đồng chí cùng giai cấp với nhau mà lại bóc lột lẫn nhau thế, đau lòng lắm các đồng chí ạ. Rồi anh kết luận:
- Tóm lại, nếu đồng chí Bình coi nhẹ việc rèn luyện thân thể thì nay mai đồng chí không đủ sức để vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu, có đúng không?
- Dạ, báo cáo chính trị viên, đúng ạ.
-  Ấy đấy. Thế thì đồng chí về tự làm bản kiểm điểm, phải nhấn mạnh về nhận thức, đứng trên lập trường quan điểm của giai cấp mình. Còn đồng chí Hiễn, đồng chí Ton và đồng chí Chính thì về tiểu đội, trung đội kiểm điểm thêm, sau đó phát biểu nhận thức mới với tập thể cũng được. Nhận thức phải đi trước một bước các đồng chí ạ. Anh vừa ngừng nói, tiếng vỗ tay rào rào dậy lên. Tôi cảm động đến ứa nước mắt. Thế rồi về doanh trại, tôi thao thức suốt đêm để làm cái bản kiểm điểm dài tới ba trang. Tôi phân tích rất kỹ về nhận thức non nớt của mình. Chính vì có bản kiểm điểm chân thành ấy mà tôi được chính trị viên tiếp tục cho làm báo tường của đại đội. Tôi mừng cuống lên vì sự rộng lượng của cấp trên. Có thể nói, chính trị viên hiểu được không những tình cảm của tôi mà còn tỏ tường cả nguyện vọng của tôi nữa. Giờ đây nghĩ lại, tôi vẫn thấy lòng tôi xao lên một tình cảm sâu nặng.
- E mắt kia: tên gì, mày tên gì?
Không riêng gì tôi mà cả đại đội, hầu như ai cũng ít nhất một  lần được anh chỉ bảo, động viên trực tiếp. Bản thân sự việc thực ra  cũng chỉ là một tình tiết nhỏ nhặt trong sinh hoạt, nhưng nếu ta lơ  mơ thì cái nhỏ ấy sẽ đẻ ra vô vàn cái sai mà rốt cuộc, chỉ làm tổn  hại tới ý chí của người lính. Nhận thức ra vấn đề thì ta cảm thấy  thật nhẹ nhàng. Bằng không, ta vô tình tự biến mình thành kẻ tụt  hậu...
- Anh Bìn, dậy ăn cơm nào.
Bin vỗ vào võng gọi, làm tôi giật mình. Tôi ngồi dậy. Trước mặt tôi là rá sắn lát nấu như cơm đã được đánh nát vụn. Một cái hăng-gô cà đắng ninh nhuáễn, nắp hăng-gô đựng muối hầm. Anh Ru bê từ bếp Hoàng Cầm ra một soong canh chua lá bứa nấu với ốc và cá vụn, cua đá và cả mấy con ngóe. Anh đặt soong canh, chỉ vào tên Mỹ đang cầm cái nắp hăng-gô chờ ăn, nói với tôi:
- Nó bắt được ốc và cá đấy. Giỏi hung thằng Mỹ này.
Thằng Mỹ nhìn tôi và Bin mỉm cười rồi cầm cái thìa, chỉ vào soong canh mời tôi bằng tiếng Bah Nar:
- Xa. Xa bé!
Tôi xúc một bát sắn nấu và ít cà đắng, rắc muối lên rồi ngồi lọt  trong võng nhai. Thực lòng tôi không muốn ngồi chung, ăn chung với tên tù binh xâm lược. Nhưng với anh Ru, anh Miết và cả Bin nữa họ lại coi chuyện đó là quá bình thường. Trên cả bình thường. Tôi lặng lẽ ngồi ăn. Anh Ru lùa đũa khoắng một vòng nồi canh rồi vớt cho tôi con cua đá. Tôi kiên quyết từ chối. Nhưng anh còn cương quyết hơn. Anh dằn tay tôi xuống, nói:
-  Lúc bắt được con cua này, mình định nướng cho anh, ưu tiên con Kinh mà.
Tôi miễn cưỡng nhận và thầm cám ơn anh, nhưng tôi vẫn xé con cua làm đôi, bỏ vào ca của anh một nửa. Anh ngập ngừng rồi chẳng hiểu nghĩ thế nào, lại gắp nửa con cua từ ca mình, bỏ sang nắp hăng-gô cho thằng Kon-Lơ. Kon-lơ gật gật đầu ra vẻ biết ơn. Hắn ăn những miếng rất to. Cái lối ăn miếng to ấy là kinh nghiệm ăn sắn vụn với cà đắng và muối hầm, vì nếu ta ăn miếng nhỏ, cảm giác đắng sẽ tăng lên, thậm chí ta sẽ không tài nào nuốt nổi. Cứ phải tọng đầy mồm, nhai rõ to, tự nó sẽ tạo nên cảm giác ngon miệng. Nhất là khi nuốt, cằn cổ sẽ không bị cái lưỡi khôn ngoan đẩy cứng thức ăn trở lại. Đánh lừa được cái lưỡi của chính mình là nghệ thuật ăn kham khổ của chúng tôi, chỉ nhằm để nạp được năng lượng vào trong cơ thể. ấy thế mà đến cả nghệ thuật ăn của chúng tôi hắn cũng đã thành thạo thì quả thằng này không phải thằng vừa! Hắn nuốt một cách không mấy khó khăn trong khi tôi phải dựa vào nước canh mới lùa qua được cái họng khó tính, quen với cơm ngon từ hồi bé. Giữa trưa nắng gắt. Máy bay mo-ranh, một loại máy bay trinh sát của Mỹ có tiếng kêu đều đều cứ bám riết lấy chúng tôi, mặc dù chúng tôi đã cố tình làm ngơ, không để ý tới chúng. Nhưng sự dai dẳng của chúng, thêm nữa, trưa nay chúng  bay hai chiếc, chiếc này vòng lên, chiếc kia chao xuống buộc chúng  tôi phải cảnh giác. Thằng Mỹ Kon-Lơ buông nắp hăng-gô, tôi thấy  nửa con cua vẫn còn nguyên. Hắn liếc rất nhanh qua cái ca US của  Bin rồi xé làm đôi, bỏ vào đó một nửa. Bin xúc thêm một xêu sắn  đã được đánh nhuyễn với canh và cà đắng, thành một thứ sền sệt  cho vào mồm, đoạn buông thìa, chấm cả ngón tay vào muối, mút,  rồi cầm miếng cua, xé nhỏ lên ăn. Cậu ăn chậm rãi nhưng thật  ngon lành.
*
Hai chiếc mo-ranh bắn hỏa mù xèo xèo, sau đó là rốc-két nổ  đinh tai phía bên kia hẻm núi. Tôi cuốn võng. Anh Miết, anh Ru  vơ vội đồ đoàn. Bin vẫn ngồi chõ vào soong canh mò thêm được con  nhái lớn hơn đầu đũa. Cậu bê cả cái soong lên húp. Thằng Mỹ  Kon-Lơ đón chiếc soong từ tay Bin bỏ vào gùi. Có tiếng đề-pa của  loại pháo cỡ lớn nổ "ùng" rất to rồi ngay sau đó liên tiếp những  tiếng nổ mà tôi không thể phân biệt được. Chúng tôi không ai bảo  ai, cùng lăn xuống hầm. Thằng Mỹ ngồi sát bên tôi, mặt tái nhợt,  căng thẳng. Hắn cố không động cựa, không thở to. Nhưng trò đời,  càng cố thì càng lộ liễu.
- Thằng Mỹ có càn to hung rồi.
Bin nói, và leo lên khỏi hầm. Nhưng cậu tụt ngay trở xuống.  Tiếng nổ rất đanh ngay trên đầu chúng tôi. Tôi ôm mặt cho đất  trên nóc hầm rơi xuống, cảm thấy ngực bị những cú thoi giật nảy  lên. "Nó bắn nát rẫy mình rồi", anh Ru nói, hình như anh đang  nằm co dưới góc hầm, giọng run lẩy bẩy. Bin nói câu gì đó rất gay  gắt với anh rồi dựng anh ngồi trở lại. Cử chỉ thô bạo của Bin khác  hẳn với cá tính thường ngày của cậu khiến tôi chột dạ. Pháo địch  đã chuáển làn. Chúng tôi cùng nhau nhảy lên. Riêng có anh Ru là  cứ lập bập leo lên tụt xuống. Mặt anh cắt không còn hạt máu. Tôi  ngạc nhiên vì sự khiếp đảm của anh Ru. Tôi cứ tưởng các anh đã  quá dạn dày với bom đạn, đã quen với tiếng nổ. ấy thế mà anh Ru  lại khác. Anh ngã bật ngửa khi tiếng máy bay phản lực xẹt sát  trên đỉnh rừng cùng với tiếng bom, có lẽ trúng đám rẫy mới phát.  Tôi giúp anh khoác dây gùi vào vai để kịp theo Bin đang ra hiệu  cho tên Mỹ đeo cái gùi của hắn.
- Mình phải về thôi. - Bin nói.
- Tình hình có phức tạp hung đó.
Anh Miết khoác gùi đi trước. Rồi đến tên Mỹ Kon-Lơ. Anh Ru lật đật theo hắn. Bin bụm miệng kéo tôi lại, khẽ nói:
- Chô cha. Du kích tan hoang! Tan hoang, du kích tan hoang.
Và cứ thế, cậu vừa đi vừa hát, cái bài hát kỳ lạ mang lời "con   Kinh" dựa theo một làn điệu dân ca Bah Nar. Nó vừa chứa chất một nỗi niềm thật cay đắng, chán chường, lại vừa hóm hỉnh khôi hài. "Tan hoang... Du kích tan hoang... ờ... Tan hoang ờ tan hoang... tàn hoang". Không. Tôi không thể diễn đạt được, chẳng một thiên tài nào có thể diễn đạt được tâm trạng của chúng tôi trong lúc vừa chạy địch càn, vừa hát bài hát tự chế giễu mình và để động viên mình. Bin hát say sưa. Tất cả chúng tôi đều hát theo. Duá chỉ có anh Ru là cứ cặm cụi bước. ừ nhỉ, còn tên Mỹ Kon-Lơ, hình như hắn cũng hát, nhưng chắc chắn hắn không thể hiểu được ý nghĩa của bài hát là thế nào. Lúc ấy tôi nghĩ thế.
*
Chúng tôi phải rời chỗ ở. Mới tờ mờ sáng mà máy bay trinh sát các loại của địch đã lượn sát sạt trên các triền núi. Rồi chúng phóng hỏa mù, bắn rốc-két, kêu pháo bầy nã cấp tập. Giữa trưa thì chúng thả bom. Bom hết đợt này tới đợt khác chồng lên nhau. Có dấu hiệu chúng càn lớn, sẽ đổ quân nống ra. Đoàn người lếch thếch dìu nhau trườn qua các khe, các hõm núi đá, tuột xuống dốc. Lúc này tôi mới biết là chúng tôi ở độ cao như thế nào. Vì càng tụt xuống, càng thấy còn phải tụt xuống nữa. Khó khăn nhất là cõng già Phới, bế già qua hết khe này, vực khác. Nhưng nhiệm vụ ấy đã có thằng Kon-Lơ đảm nhiệm. Hắn đã được anh Yơng cho đi giày và đó là một đặc ân khiến hắn làm cái việc cõng già Phới không phải ai cũng làm được dễ dàng như thế. Tôi và Bin lại được anh Yơng giao cho đi trước trinh sát, mở đường. Khi có tình hình căng thẳng Bin trở thành một con người khác. Cậu rất ít nói. Chúng tôi dẫn "đoàn quân" xuống được hố ĐYk, một loại rừng toàn cây giống như cây dừa, mọc dưới thung sâu. Anh Yơng cho mọi người chặt lá đák làm lán ở tạm, trong khi địch đã đổ quân trên các điểm cao, quanh thung lũng. Tôi và Bin phải quay lại xóa dấu vết, bố phòng bằng chông thò và nắm tình hình. Mặt trời đã nghiêng hẳn sang bên kia sườn dốc. Hai anh em tôi leo ngược lên, khi tới một mỏm đá, định  tìm chỗ quan sát địa hình thì nghe tiếng xì xồ, thoang thoảng  trong không gian mùi thuốc thơm. Bin ấn tôi nép sát một gốc cây  to. Tôi ngước lên, cảm thấy chỗ này rất giống chỗ tôi bắn con sóc  hôm nào. Tôi phát hiện được con chó béc-zê phía bên kia hõm đá  khi nó vừa giương tai hướng sang phía chúng tôi. Rồi lố nhố mũ  sắt, lố nhố những tên Mỹ phanh nút áo ngực. Trong khoảnh khắc  tôi và Bin nhìn nhau. Bin chỉ ngón tay sang phía địch ra hiệu cho  tôi làm theo cậu. Chúng tôi cùng giương súng. Khoảng cách qua  bên kia hõm đá ước chừng hai mươi mét. Và tôi lẫy cò. Hai phát  súng nổ gần như cùng một lúc. Tôi thấy rõ con chó nảy tung lên.  Nó ôm vào một thân cây rồi văng ra. Những tên Mỹ nháo nhào  trong khoảnh khắc rồi tiếng súng nổ.
Tôi và Bin cùng tụt rất nhanh xuống khe. Bin kéo tôi leo  ngược lên phía bên kia núi. Khi chúng tôi tới được một hốc đá thì  pháo địch nã cấp tập. Rồi lại máy bay phản lực bỏ bom và sau đó  là tiếng tàu rà, tiếng cánh quạt trực thăng. Bin dẫn tôi đi cắt  rừng, về được nửa đường thì hai anh em ngồi thi nhau thở. Bin hỏi  tôi:
- Anh bắn thằng Mỹ hay bắn con chó? - Mình bắn con chó.
Bin reo lên:
- Thế thì cả thằng Mỹ và con chó cùng chết rồi, anh Bìn ạ. Tui bắn thằng Mỹ.
Chúng tôi mừng quá cùng ôm lấy nhau. Sự thực thì lúc ấy tôi chẳng nhìn rõ cụ thể một tên Mỹ nào. Tôi thấy cái ức con chó có đốm trắng và tôi nhắm vào đó. Tôi cứ tiếc là không hiểu sao lúc ấy không bắn vào những cái đầu lố nhố. Bin nắm tay tôi lắc lắc:
- Không phải đã hết thằng giặc Mỹ đâu mà tiếc, anh Bìn ạ.
Mỗi lần, để biểu lộ tình thân với tôi, bao giờ Bin cũng "anh Bìn ạ", nghe rất dễ thương. Bin dẫn tôi về tới chân Dốc Thở - một con dốc dưới rừng già vừa dài vừa gập ghềnh chứ không cao. Cái tên Dốc Thở, Bin bảo nó đã có từ thời đánh Pháp. Tôi vừa đói vừa khát vừa thèm ngủ. Mà trời cũng xế chiều rồi. Thực lòng tôi chỉ muốn được ngồi, được thả lỏng cơ thể hoặc nhào xuống nước mà lặn ngụp cho nguôi cơn đói, cơn khát. Cái tính háu đói từ hồi bé được dịp hành hạ tôi. Tôi cảm thấy mồ hôi vã ra, tay chân run, mắt đổ hoa cà, hoa cải. Tôi lại nghĩ tới cơm không cùng canh cua  rau đay hoặc canh ốc nấu với chuối xanh, đậu phụ, cho thật nhiều tía tô và ớt bột. Chao ơi, giá mà có một bát ô-tô canh ấy trộn thêm cơm nguội vào mà húp, rồi thì đi với đứng hay làm bất cứ việc gì cũng được. Nhưng Bin vẫn cứ lúi húi đi. Hình như Bin cũng đang nghĩ về một món ăn nào đó. Nhà bác học Niu-tơn hay cụ Mít-surin của tôi mà buộc phải leo dốc vào lúc đói, giữa rừng thế này, ắt hẳn cũng phải nghĩ tới cái ăn thôi. Là tôi nghĩ thế. Chợt Bin vấp vào một rễ cây, ngã giúi giụi, đập mặt vào một tảng đá bên cạnh đường. Tôi vội đỡ Bin dậy. Máu trong miệng Bin trào ra. Bin gạt mạnh tay tôi rồi cậu há hốc mồm, đưa ngón tay cái vào miệng, đẩy mạnh lên phía hàm trên. Trong khoảnh khắc ghê rợn ấy tôi thấy Bin bụm miệng, nhổ phì phì, tuyền máu là máu.
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #7 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2009, 08:11:06 am »

- Đau quá anh Bìn ạ. - Bin nói như thanh minh cú gạt tay vừa rồi.
-  Hai thằng răng của em nó bị đập vào đá, nằm chéo lên nhau thế này này.

Bin vắt chéo hai chân diễn tả. Tôi đưa cho Bin cái khăn mặt, bảo cậu ngậm chặt để cầm máu.
- Không. Để em bắt nó về đúng chỗ đã.
Nói rồi Bin lại há mồm, đưa ngón tay cái ngược lên đẩy. Tôi đứng phía sau nắm chắc gáy cho Bin làm động tác ấy.
- Có được rồi anh Bìn ạ. Bin nói và ôm đầu, gục xuống hai  đầu gối, thỉnh thoảng lại lấy cái khăn mặt đang ngậm ra, nhổ. Tôi  bảo Bin:
- Hay là mình nghỉ ở đây, sáng mai về sớm được không?
Bin tựa hẳn vào một gốc cây, người cúi gập, hai vai thỉnh  thoảng run giật lên khiến tôi ớn lạnh. Tôi tự động dọn chỗ mắc  võng cho Bin. Cậu chẳng nói chẳng rằng, ôm đầu lên võng nằm cò  khoăm trông rất tội nghiệp. Thực ra nếu bình thường, có cố hết  mức hai anh em tôi về tới nơi tạm trú cũng phải nửa đêm. Nhưng  nằm lại đây thì cũng chẳng có gì ăn. Dù sao, trước hết tôi cũng cứ  nhóm lên một đống lửa, rồi nghĩ kế. Tôi chỉ có một con dao găm  anh Ru mới cho và cái ống cóng bằng lon sữa gui-gô. Còn thắt lưng  của Bin thì đủ cả: nào ống cóng, bi-đông, ca Uạ, dao găm, lựu đạn,  túi đựng cơm vắt. Tôi reo lên khi thấy trong cái túi ấy lạo xạo. Thì  ra Bin đựng gạo và muối. Thế này thì lên tiên rồi, tôi nghĩ và xách  súng xuống dốc tìm nước.
Tôi chưa bao giờ thấy có một hõm suối nước chảy lờ đờ lại có  nhiều hoa gì vàng và đẹp đến ngơ ngẩn như thế. Tôi thốt giật  mình khi xuống bãi cát có một vạt bướm bay túa lên. Giá Bin  không bị đau răng, và giá như tôi không trong trạng thái đói meo  hành hạ thì thế nào tôi cũng phải ngồi trên những tảng đá kia  ngắm cảnh chiều đang buông xuống rừng già. Có thể tý nữa tôi sẽ  xuống đây tắm một cái. Nhưng bây giờ thì phải lo nấu nước cho  Bin súc miệng. Nếu Bin đồng ý cho "huá động" hết số lương thực  dự trữ "chiến lược" của cậu, tôi sẽ nấu cho Bin một cóng cháo cua  hoặc ốc, hoặc có thể cả cá nữa. Cá và cua thì không thể nói trước,  nhưng ở chỗ hõm suối này không thể không có ốc. Tôi nhớ tới  những con ốc đá bụ bẫm thuở thiếu thời, chị gái tôi đem từ đồng về  và tôi cho muối, hạt tiêu vào miệng ốc rồi nướng, vừa nướng vừa  ăn một cách ngon lành. Nhất định tôi phải mò ít ốc và tôi hình  dung thấy cảnh cái ống cóng của tôi đầy ốc treo trên lửa. Nước ốc  sôi trào ra. Tôi sẽ mút ốc luộc trừ bữa và sau đó lể cho Bin một ít  nấu cháo. Thực tình tôi chưa ăn cháo ốc bao giờ. Nhưng lúc này  mà có ốc nấu cháo thì còn gì bằng? Tôi lại nhớ tới những tối mùa  hè, cả nhà ngồi ngoài hiên quanh rổ ốc vặn. Tôi lăm lăm đồng hai  xu trong tay bẻ đít ốc và mút lia lịa. Mùi thơm của ốc vặn còn  vương mãi theo tôi. Cũng như mùi của những con ốc biêu "cụ"  nướng trong bẹ chuối và đất sét tôi và thằng Thướng, thằng Khang  leo lên lò vôi ngoài bờ sông nướng. Thằng Thướng có tài bắt ốc,  không ai có thể tài hơn. Nó bảo bọn ốc sống thành đàn vì chúng rất  ham vui, ham tụ tập. Đặc biệt là rất ưa những chỗ nước chảy lờ đờ.  Cứ có chỗ nước chảy lờ đờ là thế nào nó cũng tìm ra tổ ốc. Nó bảo  tổ ốc cũng như tổ ong. Phát hiện được tổ ốc ta có thể bắt sạch sành  sanh cả họ hàng hang hốc ba đời nhà nó. Gô nước đang reo thì Bin  ngồi dậy, nét mặt cậu đã trở lại bình thường. Bin đưa chiếc khăn  mặt đẫm máu cho tôi. Tôi chụm củi tập trung dưới ống cóng rồi  xuống suối giặt khăn. Một loáng nước hồng hồng máu vừa loang  khi tôi nhúng khăn xuống suối. Tôi khoát mạnh tay rồi vò thật kỹ,  đầu tôi lại nghĩ tới thằng Thướng và những con ốc. Thôi, tranh thủ  trời chưa tối hẳn, ta mò một ống cóng ốc lên luộc cái đã. Rồi sẽ tính  sau. Tôi vừa nghĩ vừa luồn chân xuống những kẽ đá ven bờ thăm  dò. Đúng là ốc chỗ này nhiều thật. tôi vội lên bờ trút quần áo, định  bụng mò nhanh một ít, nếu nhiều thì ăn xong tôi sẽ xuống mò tiếp.  Loáng một cái tôi đã mò được cả ký ốc.
Thế này thì nhất định tôi phải mò một bọc đem về cho đám bà con anh em. Tôi nghĩ tới nồi súp của mấy chị ình ịch sôi suốt  ngày đêm mà có ốc cho vào. Tôi nghĩ tới đống than hừng đỏ vừa  nướng ốc vừa hít hà ăn. Vâng, đích thị tôi đã phát hiện ra cái tổ ốc  đây rồi. Tôi hồ hởi đem ốc về và Bin bảo hai cái răng cửa của Bin  bây giờ đã thôi đè chéo lên nhau. Nó đã biết nằm im không chảy  máu nhưng lại làm cho cậu đau nhiều hơn khi nãy. Tôi bảo Bin  muốn không đau thì đừng nghĩ tới nó. Tốt nhất là ngồi dậy, lấy  dao găm đập đít ốc cho tôi lể để có cái nấu cháo cải thiện. Theo Bin  thì cháo ốc cứ để nguyên cả con nấu, sau lúc ăn cháo là mút ốc,  hoặc vừa ăn vừa mút có ngon hơn. Tôi thì thế nào cũng được, miễn  là có cái ăn tươi. Hai ống cóng nước sôi tôi chế vào bi-đông, phần  còn lại pha nước muối, dành cho Bin súc miệng. Nước muối ấm có  tác dụng sát trùng và giảm đau. Tôi bắc một hăng-gô ốc và một  hăng-gô cháo với tâm trạng nôn nóng đầy phấn khích. Gô ốc vừa  sôi trào ra lửa là tôi bắc xuống ngay. Tôi không hề khách sáo khi  Bin bảo anh cứ ăn ốc đi, em chưa ăn được. Em chờ ăn cháo vậy. Tôi  mút hết ống cóng ốc nóng cũng nhanh như khi tôi mò được chúng.  Tôi bảo Bin luộc tiếp gô nữa, ăn xong nhất định tôi sẽ xuống hõm  suối mò thật nhiều đem về làm quà cho lũ anh em bà con. Bin ừ  hử lên võng nằm. Tôi để mặc cho cậu nghỉ. Chắc bây giờ chỗ răng  bị đập vô đá của cậu mới đau dữ. Các cụ chả bảo, thứ nhất đau  mắt, thứ nhì giắt răng là gì. ở đời không ai học được chữ ngờ! Đúng  là tôi đang gặp may, đang rét vớ chiếu manh. Thực chưa bao giờ  tôi thấy ở đâu có nhiều ốc tụ lại một chỗ nhiều ghê gớm đến như  thế. Rõ ràng tôi đang vớ được không phải một tổ mà có lẽ hàng  chục tổ ốc. Tôi chỉ cần lặn xuống, vốc ốc lên. Mỗi cú lặn là một vốc  ốc có tới chục con. Tôi mở tấm áo mưa, trải ra mép nước và cứ thế  hì hụp lặn ngụp say sưa như con rái cá. Bin thấy tôi ôm về một bọc  và tôi kể cho cậu nghe cái tổ ốc trời cho hấp dẫn tới mức, cậu muốn  xuống xem xem cái tổ ốc thế nào.
Vâng, giá như tôi đừng quá say sưa với chiến tích bắt ốc và thỏa mãn với số ốc đã mò được thì đâu có chuyện gì đáng tiếc xảy ra. Nhưng thấy Bin có vẻ thán phục khiến tôi hào hứng. Sau khi mút hết một cóng nữa, tôi bảo Bin xuống cùng tôi, coi tôi mò, mặc dù trời đã tối. Tối với sáng thì có quan trọng gì đâu. Tôi biểu diễn cho Bin xem đâu được vài ba vốc ốc với vài ba cú lặn ngắn thì bỗng quơ phải một cái xác người chết. Hình như vì quá khiếp đảm mà tôi đã nhảy dựng lên, ú ớ chỉ xuống nước rồi hất tung hết ốc, vội ôm quần áo kéo Bin chạy về chỗ ở. Tôi không đủ bản lĩnh để nói rành mạch cho Bin rõ sự tình. Hình như cậu cũng hiểu chuyện gì đã xảy ra, vì trong các động tác và những lời ú ớ của tôi, tôi đã lặp  đi lặp lại cái câu "Có xác người... Người chết...". Tôi nhớ là cú lặn  ấy, khi tôi vừa quơ tay định vốc ốc thì cái xác chết vật vờ cứ áp sát  vào mạng sườn tôi. Tôi gần như quàng tay qua lưng hay đùi gì đó.  Cái cảm giác rùng rợn khi tôi quơ tay đụng phải, nó vừa nhầy  nhầy trơn truội mà lại cứ dập dềnh, tuồng như có một sức hút nào  đó, cứ hút chặt vào tôi. Tôi nhào lên bờ với toàn bộ sức mạnh mà  tôi có. Đúng là nếu không có vẻ mặt bình tĩnh của Bin, hẳn sự  khiếp đảm của tôi sẽ còn kéo dài không biết đến bao giờ. Tôi sực  nhớ tôi vừa ăn hết cả hai ống cóng thứ ốc khủng khiếp này và tôi  đã co người nôn thốc nôn tháo. Tôi cố móc họng cho nôn hết. Đúng  là vừa rồi tôi đã ăn chúng ngon lành chưa từng thấy. Thảo nào mà  ốc lại tụ về đây đông đến thế và chúng lại béo ngậy nữa chứ. Trời  ạ! Sao mà cái số tôi lại lâm vào tình cảnh khủng khiếp rùng rợn  thế này! Tôi tiếp tục móc họng và quyết tâm nôn hết. Nôn hết!  Không thể để vương lại một chút xíu nào. Rõ ràng là Bin đã hiểu  chuyện gì rồi, nhưng sao cậu ta lại có thể bình thản đến lạ lùng  thế kia? Tôi nhắc lại cho cậu rõ và cậu thản nhiên đổ cháo vào ca  rồi húp, mặc cho tôi đòi đổ cả cóng cháo đi.
- Đổ làm gì. - Bin nói.
- Mình có khó khăn hung mà. Để sáng mai coi thử... - Lại còn phải coi gì nữa?
- Có chớ. Phải coi thử xem xác thằng địch hay xác anh em mình chớ.
- Để làm gì?
- Chô cha, tui ớn anh quá. Xác anh em mình thì phải lo làm  tử sĩ chớ.
Đúng là tôi không còn nghĩ được điều gì cho rành mạch  nữa. Chính vì câu nhắc nhở bình thản ấy của Bin đã giúp tôi bình  tĩnh lại. Nhưng tôi vẫn cứ bị cái xác chết vật vờ hút vào người ám  ảnh. Ngày bé, hơn một lần tôi đã được thấy xác của người chết  đuối. Con sông Hóa quê tôi vào mùa mưa lũ gần như năm nào  cũng xảy ra một hai vụ đắm đò. Lũ trẻ trâu chúng tôi mỗi lần  nghe có chuyện người chết trôi đều táo tác gọi nhau đi xem. Xem  rồi sợ, nhưng không hiểu sao vẫn cứ phải nháo nhào tới được tận  chân đê để ngày mai dọa nạt những đứa yếu bóng vía. Vẻ mặt thất  thần hốt hoảng của tôi may mà chỉ có Bin biết. Cậu loay hoay  chụm củi thêm vào đống lửa, nom như một ông già. Rồi cậu lấy từ  đáy bồng ra một khúc sắn luộc đã tai tái khô, có mùi thiu thiu,  nhưng vẫn còn ăn được, bảo tôi:
- Anh Bìn sợ làm gì, ăn củ mì đi. Tui đã một lần có uống nước phải máu anh em mình rồi đó. Chu cha, ớn lắm! Rồi Bin kể, hồi năm ngoái, sau khi đi theo bộ đội đánh đồn Kan-Nắk, đêm về mấy anh em quen uống nước ở cái giếng gần nơi tập kết. Vòi nước thì chỉ có một mà anh em mình có bốn năm người. Thế là tiện nước trong giếng, cứ mạnh ai nấy vục mặt xuống uống. Uống cho đã. Rồi ngủ cho đã. Sáng ra một anh phát hiện thấy giếng nước đỏ lòm kêu toáng lên. Máu! Máu người! Té ra đêm hồi hôm có anh Thiêng ở cánh Bắc đường về bị thương. Y sĩ Quảng xử lý vết thương xong, lười không giặt cái áo đầy máu, cứ vo lại, ném xuống giếng ngâm. Gọi là giếng nhưng thực ra đó chỉ là vũng nước do anh nuôi khơi theo mạch ngầm... Bin kể đến đây thì bậm miệng cười, rồi nói:
- Chô cha. Làm sao được? Có móc họng nôn ọe cũng không thấy máu nữa đâu. ớn muốn chết.
Bin chùi chân lên võng, ngáp. Chỉ sau cái ngáp ấy vài chục giây Bin đã cất tiếng ngáy nho nhỏ.
Đêm yên tĩnh kỳ lạ. Tôi mơ màng nghe có tiếng máy bay rì rì  rất xa từ tít trên cao cùng với tiếng bom cũng rất xa. Câu chuyện  của Bin mà tôi lọc ra để kể trên đây chính là liều thuốc giải cho tôi  cơn run cùng những cảm giác rùng rợn. Tôi lẩn mẩn nướng lại  miếng sắn khi nãy Bin cho rồi ngồi nhai. Tôi nhai chậm rãi cho  đến khi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay. Khi tôi tỉnh dậy  nhìn sang võng Bin không thấy cậu đâu. Đống lửa than cũng đã  tàn. Trong khoảnh khắc mơ hồ giữa mơ và tỉnh, tôi xách súng lần  xuống hõm suối. Một cảnh tượng mà tôi không tài nào phân biệt  được là tôi đang run sợ hay mừng vui khi thấy Bin đang cố tình lôi  từ dưới nước lên, không phải xác người mà là xác một con lợn rừng  đã đến hồi thối rữa.
- Chô cha, tiếc hung anh Bìn à. Nó bị thương rồi xuống đây tìm nước uống đó mà.  Hình như Bin đã quên hẳn cái răng đau của mình và tôi cũng chẳng còn nhớ tới những con ốc lẽ ra khi tối tôi đừng vội vàng đổ hết đi. Một lũ nhặng xanh không biết từ xó xỉnh nào đã nhanh chóng xuất hiện ngày càng đông. Hai anh em tôi rời hõm suối trở về chỗ để đồ đoàn, gần như không ai nói với ai thêm lời nào nữa. Trời đã hưng hửng sáng. Chúng tôi khoác bồng, tiếp tục lên đường. Tôi lại bắt đầu thấy đói nhưng miệng lưỡi cứ đắng chát, nôn nao, chỉ mong nhanh về tới nơi bà con anh em để buông mình xuống  võng. Nhìn cái dáng vừa đi vừa chạy của Bin tự dưng tôi trào lên  một tình cảm mà nếu nói ra ắt không ai có thể nói ra được bằng  lời.
*
Gần trưa thì anh em tôi về tới nơi tạm trú của tốp bà con anh em. Tôi thấy hầm tránh pháo đã đào xong. Lán trại đã tạm ổn nên ngồi ăn sắn luộc. Bin nhào tới ché rượu cần, vừa hút rượu, vừa kể chuyện chúng tôi bắn thằng Mỹ và con chó. Hình như cậu kể cả chuyện cái răng đau cùng tổ ốc và xác con lợn rừng. Mọi người xúm xít vào nghe cười nghiêng ngả. Riêng thằng Kon-Lơ là vẫn lụi hụi dùng xẻng đập thình thịch trên nóc hầm. Anh Yơng ra hiệu cho nó nghỉ. Anh chỉ vào ghè rượu, nói với nó:
- Éc xít bé! Tên Mỹ lắc lắc đầu rồi nhún vai: - Inh quá!
Rồi hắn cầm quả bầu nước, tu ừng ực. Tôi đang đói nên ăn rất ngon. Mọi người bảo tôi uống rượu nhưng tôi từ chối. Tôi rất lấy làm lạ, là trong tình thế này, không hiểu sao họ vẫn gùi được rượu theo để uống. Tôi đưa cho Bin nửa củ sắn nướng chị vợ anh Yơng mới cho cùng ít mật ong. Bin bảo tôi:
- Anh Bìn có thành tích to hơn mình.
Tôi tưởng Bin nói đùa, nhưng cậu nói thêm:
- Anh bắn được con chó ấy, không phải chuyện bình thường đâu.
Tôi không tranh luận với Bin vì giờ đây hai mí mắt tôi cứ díu vào nhau. Tôi chui vào lán già Phới, rúc vào tấm dồ sặc mùi khói của già, ngủ. Tôi hy vọng một lúc nào đó tôi sẽ lại được mục kích cảnh chị vợ anh Yơng cho già Phới bú. Tôi thích được xem chị ta ưỡn người, áp bộ ngực đồ sộ vào miệng già. Và tôi hy vọng chị ta sẽ lại đặt đầu tôi lên bắp vế cho tôi ngủ. Cả buổi chiều còn lại, tôi ngủ như chết. Khi tôi tỉnh dậy đã thấy Bin nằm cạnh. Bin ngủ, miệng há hốc, đầu gối lên một hòn đá, nom đến tội.

« Sửa lần cuối: 28 Tháng Bảy, 2009, 08:13:08 am gửi bởi trachvandung » Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #8 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2009, 08:22:02 am »

*
Tôi không có thời gian để nhớ nhà, nhớ miền Bắc. Nhất là  nhớ những thằng bạn thân của tôi ở trường cấp Ba, cùng với các  đồng đội tôi ở đơn vị cũ. Tôi cứ ngỡ như tôi đã xa các bạn lâu lắm  rồi. Thực ra tôi nhập ngũ tới nay mới được bảy tháng. Bảy tháng ở  nhà trôi đi rất nhanh. Nhưng bảy tháng vừa qua của tôi thì thật là  dằng dặc. Mà trong bảy tháng ấy, có tới hai tháng huấn luyện êm  đềm trên núi Yên Tử và một tháng hành quân dã ngoại thật tươi  vui. Tôi bước vào đời lính cũng như bước ra khỏi lớp học, để rồi lại  bước vào một lớp học khác. Cuộc chia tay tuá có rầm rộ, vì tôi được  nêu dương. Nhưng nó vẫn lặp lại hầu hết các cuộc chia tay trước.  Cái lâng lâng lãng mạn của người đi xa với người ở lại thực ra  chẳng có gì đặc biệt. Các bạn kéo nhau lên huyện cùng tôi. Tôi  nhập vào đám tân binh, nhận quân trang, mặc áo, và lên xe. ở đơn  vị mới, như tôi đã kể, tôi được phân công làm báo tường, một việc  quá dễ đối với tôi, nhưng lại quá khó với nhiều người. Tôi được  miễn hầu hết các cuộc hành quân tập luyện với bài hát "mười hòn  gạch đổi mười thằng giặc, ta vác nặng trên vai...", để ở lại doanh  trại làm những bài thơ, bài văn cổ động. Cái trò làm thơ làm văn  đổi lấy củi và giặt quần áo của tôi bị lộ thật là rủi và cũng thật là  may cho tôi. Nếu không có chuyện ấy, hẳn những ngày nóng bỏng  trên thao trường, từ bài một đến bài ba của khoa mục bắn súng,  tôi cũng tìm được cách trốn ở nhà. Và giờ đây hẳn tôi chẳng phát  hiện ra tài bắn súng của mình. Tôi thầm cám ơn chính trị viên  Nhuận đã nghiêm khắc.
Tôi cho rằng chính những ngày tập bắn ấy đã cứu sống tôi, dẫu giờ đây đơn vị tôi có thể đã liệt tôi vào danh sách những người mất tích. Thực ra tôi chẳng quan tâm nhiều tới điều đó. Tôi còn nguyên lành và tôi vẫn sẽ ngấm ngầm nuôi mộng đến một lúc nào đó có dịp, là tôi sẽ trở về với đồng đội. Tôi không có mấy kỷ niệm với đơn vị mới, bởi khi chúng tôi hành quân tới trạm cuối cùng của đường dây Xã Hội Chủ Nghĩa, theo cách gọi hồi bấy giờ, thì đơn vị cũ được lệnh phân tán. Người ta chia nhỏ cánh lính mới chúng tôi, bổ sung cho các đơn vị phía trước, để lính cũ kèm ra trận. Tôi mới quen được hai người, đó là anh Hùng và anh Tự. Và giờ đây, sau trận đánh ấy, có thể các anh cũng chẳng nhớ tới tôi. Thỉnh thoảng sau những trận đánh vớ vẩn, sau những ngày chạy hết rừng này, núi  nọ,  có  đôi  khi  tôi  và  Bin tư tỏi một con gà, con sóc, trong khoảng thời gian thư thái ấy, tôi chợt nhớ lại và tôi ứa nước mắt. Bin phát hiện được, cậu chỉ vào tôi làm mặt nghiêm, nói:
- Anh Bìn có tư tưởng không an tâm công tác cách mạng.
Tôi  không thể phân giải cho Bin thông cảm, đành phải cố biểu hiện  bằng hành động. Tôi nhận ra cuộc chiến trong cái lối nhỏ ngóc  ngách, giữa rừng già đầy chông thò và những con người bé nhỏ mà  tôi lạc vào đây, có cái gì đó thật bí hiểm. Tôi và Bin không có cùng  tiếng nói, không có cùng phong tục, tập quán, nhưng lại có chung  một ý chí, cái ý chí ấy có sẵn từ trước khi chúng tôi nhập cuộc rất  lâu rồi. Rằng ở đây chỉ có một tư tưởng, và sự thể hiện tư tưởng ấy  chỉ có một cách, một con đường, ấy là không sợ khó khăn gian khổ,  không quản ác liệt há sinh. Bin không biết chữ. Cả nhóm anh em  bà con ở đây cũng không ai biết chữ. Chiến tranh đối với họ là công  việc hàng ngày. Và họ quen chịu đựng khó khăn, gian khổ một  cách tưởng như bản năng, nhưng thực ra rất có ý thức. Cái ý thức  ấy cũng giản đơn và dễ hiểu rằng, muốn tồn tại thì phải nắm được  địch tình. Cần thì đánh, không cần thì chạy trốn. Mà hình như  chạy trốn là chiến thuật sắc sảo nhất, có nhiều kinh nghiệm nhất  của họ. Tôi lọt vào đây hoàn toàn thụ động. Tôi chỉ còn một cách là  tự khuyên mình, hãy làm theo họ, hòa đồng cùng họ. Tôi phải làm  thế nào để họ chấp nhận tôi, như họ đã từng chấp nhận, không thủ  tục, giấy tờ. Điều ấy chỉ có thể gọi tên nó là niềm tin. Nếu họ  không tin thì đừng nói tới bất cứ chuyện gì. Hiểu vậy, nhưng tôi  vẫn không thoát khỏi tâm trạng lo ngại, cầm chừng. Nhiều lúc cứ  chạy quẩn quanh mãi trong vùng rừng Hố ĐYk, tôi cảm thấy họ  chẳng có phương án, kế hoạch gì. Đúng hơn, họ không có sự chỉ  huá, chỉ đạo thống nhất. Và tôi đã lầm. Có tới hơn mười ngày, cả  mấy tốp bà con anh em chúng tôi chạy lê chạy lết, quẩn quanh mãi  với những triền núi, lòng thung không vượt ra khỏi vùng rừng Hố  ĐYk gai góc và ẩm thấp ấy. Tất nhiên thằng Mỹ Kon-Lơ cũng được  theo. Hắn vẫn phải đi chân đất và trần lưng đào hầm. Có lẽ công  việc mà hắn say sưa nhất chính là cầm xẻng. Hắn trở đầu xẻng  cuốc đất vừa khỏe vừa thành thạo không ai có thể theo kịp. Mỗi  lần có tiếng rít của đạn pháo và tiếng nổ gần, Kon-Lơ cố kìm chế  nỗi sợ bằng cách hùng hục làm. Công bằng mà nói, một mình hắn  đảm đương công việc đào hầm, đảm đương việc gùi cái gùi to gấp  ba lần gùi của mọi người trong những ngày qua, đã khiến tôi  không còn nghĩ tới chuyện trả hắn cho cấp trên nữa. Nhất là  những lúc phải qua khe, qua suối, thay vì hai ba người cáng già  Phới thì chỉ cần một mình Kon-Lơ cũng làm được. Già Phới ngồi  trên lưng hắn gọn gàng với cái vẻ yên tâm hơn bất cứ hình thức di  chuáển nào. Trời cho hắn có sức khỏe cơ bắp vừa dai dẳng vừa  mạnh mẽ, và hắn đã không nề hà bất cứ việc gì khi được phân  công.
Tất nhiên, hắn không được phép nề hà. Tôi bật cười nghĩ tới  thân phận hắn có cái gì đó gần gần với hoàn cảnh của tôi. Chắc  cũng có những lúc hắn tự xác định cho mình phải thể hiện thế nào  đừng làm mếch lòng những người du kích đã tóm được hắn. Rõ  ràng hắn đã gặp may, ít nhất là cho tới thời điểm này. Hình như  hắn không muốn có sự thay đổi nào khác. Sự yên tâm với những  công việc nặng nhọc đã tạo được cho hắn một vị thế nhất định mà  một tên tù binh bình thường có lẽ không bao giờ dám mơ tưởng. Về  phía những người du kích, tôi thấy họ gần như không có sự cảnh  giác đề phòng nào, ngoài việc tên Kon-Lơ phải đi chân đất và tất  nhiên, không có súng trong tay. ấy là cái hình thức bên ngoài, vì  đối với tôi, chỉ đến khi bị họ tóm lại, tôi mới biết rằng, không lúc  nào tôi lọt khỏi sự cảnh giác của họ. Và điều ấy hẳn tên Mỹ này  phải nhạy cảm hơn tôi. Hắn mà trốn chạy thì chỉ có hoặc thoát  thân, hoặc toi mạng. Mà toi mạng là chín mươi chín phẩy chín  phần trăm. Chứ còn đối với tôi, thú thực, lúc trốn tôi không hề  nghĩ tới chuyện lỡ bị họ bắt lại sẽ diễn ra thế nào. Tôi không nghĩ  họ có thể nã súng vào tôi vì dù sao tôi cũng là đồng chí đồng đội  của họ. Nhưng càng ngày tôi càng giác ngộ ra rằng, sự thể không  hoàn toàn như tôi nghĩ. Đã chạy trốn khỏi họ, tức là chạy trốn  nhiệm vụ được cách mạng phân công. Chạy trốn khỏi nhiệm vụ  được cách mạng phân công, tức là phản bội cách mạng. Đã là kẻ  phản bội cách mạng thì còn để làm gì? Đó là câu hỏi đồng thời  cũng là câu trả lời. Dù anh là ai. Dù anh là ai! Tôi nhấn mạnh câu  này vì chính anh Ru bị người ta trói giật cánh khuỷu, tất nhiên là  sau khi người ta bắt được anh bỏ mọi người chạy trốn, định chuồn  xuống ấp đi chiêu hồi. Sau này tôi mới biết thêm, anh Ru chính là  người trốn lính từ dưới ấp chạy lên rừng theo du kích. Lúc ấy vào  khoảng ba bốn giờ sáng, tôi đang ngủ mê mệt trong nhà hầm vì cả  ngày hôm qua, tôi, anh Ru và Bin đi bám địch quá căng thẳng. Tôi  lơ mơ nghe có tiếng lao xao, rồi tiếng chân chạy thình thịch liền  vùng ngay dậy theo bản năng. Tôi vơ vội cây súng, nhảy ra khỏi  hầm. Một cảnh tượng kinh hoàng khiến tôi không đủ trí tưởng  tượng để buộc phải nhận ra, kẻ đang bị trói lại chính là người mới  cách đây vài tiếng còn rất thân tình với tôi. Theo tôi, anh là một  người tốt mặc dù có hơi nhát. Tôi không nhớ từ lúc ba chúng tôi  được anh Yơng, anh Miết phân công đi bám địch, anh ta đã có biểu  hiện gì. Chẳng lẽ lúc trèo lên cây cao, bắc ống nhòm quan sát địch  và nhìn thấy ấp chiến lược khi chiều của anh ta đã không qua được sự cảnh giác của Bin? Và bây giờ hành động bỏ trốn của anh ta, sau cuộc trao đổi chớp nhoáng của ba người, đã đi đến một quyết định nhanh chóng là, tôi và Bin phải dẫn anh ta vào sâu trong rừng. Tôi cứ nghĩ anh Ru chuáến này bị phạt nặng chứ tuyệt nhiên không nghĩ đến việc phải khử anh ta.
Nhưng tôi đã lầm. Chúng tôi dẫn anh Ru đi dọc triền dốc giữa hai khe núi, tất nhiên anh vẫn bị trói. Không phải chỉ có Bin và tôi, mà ngay sau đó anh Miết và anh Yơng cùng khoác súng dẫn theo tên Mỹ Kon-Lơ cầm xẻng. Gần như cả tốp người không ai nói với ai lời nào trong suốt quá trình tên Mỹ đào hố, đóng nọc. Một cây nọc lớn hơn cổ tay đóng cứng ở đầu hố và ngay lập tức anh Ru bị trói vào đó. Chỉ tới lúc ấy anh Ru mới rú lên. Trời ơi, tôi không biết có tiếng rú nào rùng rợn hơn tiếng rú của anh Ru. Và tôi đã úp mặt vào thân cây gì rất to đúng lúc cả hai mũi lê đồng loạt  bật  lên,  đồng loạt lao vào tiếng rú từ hai phía. Tôi khuỵu xuống, có ai đó xốc tôi dậy trong tiếng thở dốc của mọi người. Bằng bản năng, tôi ngồi bệt trên miệng hố cào đất như điên như dại hất xuống, trong lúc anh Miết, anh Yơng ngồi hút thuốc. Bin đưa cho tôi một đoạn cây và tôi cứ thế bẩy đất xuống. Thằng Kon-Lơ dùng xẻng đào thêm đất từ phía trên cao cho tôi cào và chẳng bao lâu anh Ru đã nằm dưới đó. Hình như tên Mỹ phải dìu tôi một đoạn dài vì chân tôi run quá, không thể đứng lên về theo các anh được.
- Căm thù thằng Mỹ ngụy một, căm thù thằng chiêu hồi một trăm! Buổi sáng hôm ấy, anh Yơng tập hợp số bà con anh em dưới quyền chỉ huá tuyên bố như vậy. Không khí căng thẳng bao trùm lên từng khuôn mặt, nhưng không ai nói thêm lời nào. Tôi bị sốc, không cách gì hết run và nôn khan vì thực ra, trong bụng tôi cũng chẳng còn gì để nôn ra nữa. Tôi cứ bị dáng hình nhỏ thó lanh lợi của anh Ru ám ảnh. Không lúc nào tôi quên được con cua đá anh Ru nhường cho tôi và cả con dao găm chế từ lưỡi lê, anh tặng tôi, mặc dù sau này tôi hiểu được hậu quả do tội ác mà bọn chiêu hồi gây nên đối với những người du kích khủng khiếp đến chừng nào. Cứ sau mỗi lần có một tên chiêu hồi chạy thoát thì bài hát "du kích xơ rơ, du kích xang rang" lại được nhắc tới. Không phải chỉ có một việc phải chuáển ngay chỗ ở, mà bom pháo của Mỹ lập tức oanh tạc tan tành cả khu rừng do bọn chiêu hồi chỉ điểm. Có những tên dẫn cả bộ binh thám báo tập kích vào chỗ đóng quân của ta. Cái luật định phải giết ngay kẻ nào chiêu hồi, tất nhiên  nếu bắt được, không ai phản đối. Không ai phản đối vì những ai đã  từng phải chạy địch, phải chôn đồng chí, đồng đội, chôn bà con anh  em mình do bom pháo địch căn đúng tọa độ khu vực trú quân do  bọn chiêu hồi chỉ điểm, đều muốn có hình thức hành hình chúng  nặng hơn. ấy vậy mà tôi vẫn cứ không thoát khỏi tâm trạng buồn  thương tiếc nuối và đã có lúc tôi lại tự hỏi, liệu có phải anh Ru  định chiêu hồi thật không? Chẳng lẽ anh Ru vừa hiền lành, ít nói,  vừa lanh lợi trong những công việc thường ngày thế lại đi chiêu  hồi? Nhưng rõ ràng anh ta đã khai với họ rằng anh ta sợ máy bay  và pháo nên ưng trốn. Vậy là anh ta đã bị bắt quả tang! Chẳng lẽ  anh Yơng, anh Miết, và cả Bin nữa, đương không lại đổ tội cho anh  ta, để giết anh ta? Không! Một trăm lần không. Một ngàn lần  không. Không bao giờ có chuyện ấy!
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #9 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2009, 08:22:24 am »

- Không phải một mình anh Ru bị giết như thế đâu anh Bìn ạ.
Bin nói với tôi khi đến bữa ăn trưa tôi hoàn toàn không nuốt nổi một tí nào.
- Năm nào chả có một hai đứa đi chiêu hồi.
Bin nói thêm và tôi không kìm chế nổi đã ôm lấy Bin khóc. May mà Bin hiểu tình cảm của tôi đối với anh Ru.
- Hình như cậu cũng rất thương anh ta, nhưng thương là một chuyện còn công việc lại là một chuyện khác.
- Mình cứ quẩn quanh mãi trong Hố Đăk này à?
Tôi hỏi Bin trong lúc cậu đang ngồi lau súng.
- Có chớ. Mình sắp đi chỗ khác rồi chớ.
- Đi đâu?
- Thằng Mỹ ở trên dông thì mình ở dưới hố. Nó xuống hố thì mình lại lên dông chớ còn đi đâu? Chiều nay có họp chung tổ bá Phới mình đó. "Tổ bá Phới" tức là nhóm bà con anh em chúng tôi đây. Hình như nhiệm vụ chính là lo cho già Phới và thêm nữa là trông coi thằng tù binh Mỹ Kon-Lơ. Cho tới bây giờ, quả thật, tôi vẫn chưa thể nào hiểu nổi nhiệm vụ chính của chúng tôi làm gì. Giữ đất đã đành, nhưng chẳng lẽ không còn cách nào khác hơn là cứ chạy quẩn quanh mãi thế này?
*
Tôi không ngờ cuộc họp chính thức "tổ bá Phới" anh Miết,  anh Yơng và Bin đã không ai mảy may có ý định bảo tôi cùng dự.  Điều ấy khiến tôi vừa giận vừa buồn lo. Không được dự họp có  nghĩa là tôi vẫn chưa được họ coi là thành viên chính thức. Vậy mà  tôi đã nhiều lúc quên rằng, mình chỉ là một tay súng dự bị, một  thành viên dự bị! Tôi cứ ngỡ những gì làm được của tôi trong  những ngày qua đã đủ để chứng tỏ tôi yên tâm công tác và sẵn  sàng nhận bất cứ việc gì, dù khó khăn đến mấy cũng kiên quyết  hoàn thành. Té ra tôi được họ nhìn nhận như thế này đây! Tôi cảm  thấy đầu óc ê chề, vừa căng thẳng vừa chán nản đến buồn tủi,  thầm trách Bin đến mức tôi không còn thiết gì nữa. Cứ nghĩ đến  cái chết của anh Ru là tôi lại run bắn lên, không hẳn vì sợ mà có lẽ  còn hơn thế. Tôi không thể cắt nghĩa nổi. Trong lúc mọi người họp  mình không được họp, chỉ khác với tên Mỹ Kon-Lơ là tôi được nghỉ  ngơi - trước khi đi họp Bin bảo tôi cứ mắc võng mà nghỉ ngơi. Còn  tên Mỹ thì lại hì hụi đào hầm. Chẳng lẽ tôi lại cùng ra cầm xẻng  đào chung với hắn? Tôi cảm thấy hắn có một vẻ mặt vô cảm trong  tất cả mọi tình huống, điều ấy càng khiến tôi căm thù hắn hơn.  Nếu không có hắn, có thể tôi đã được các anh nhìn nhận khác.  Nhưng chẳng lẽ các anh lại nỡ coi tôi là người ngoài cuộc? Không!  Bằng chứng là các anh đã trao súng cho tôi và cho phép tôi đi bám  địch, thậm chí tôi đã lập công, dù không lớn, nhưng ít nhất tôi  cũng đã bắn được một con chó mà theo Bin, con chó quan trọng  hơn cả một tên Mỹ. Tôi úp mặt xuống võng, không khóc mà nước  mắt cứ tự nó tuôn ra. Tôi chỉ mong cho thời gian qua mau. Qua  mau tất cả mọi sự kiện để may ra tôi lại được trở về với vị trí của  mình. Tôi thèm được cầm súng đi bám địch hơn lúc nào hết. Hình  như có tiếng người lao xao ngoài cửa nhà hầm. Tôi nằm im, giả  như vô tình, giả như đang ngủ và tôi chợt nghe có tiếng tàu rà  (một loại máy bay trinh sát của Mỹ) bay rất thấp. Trời đã nhập  nhoạng tối. Hình như tên Mỹ đã được nghỉ tay. Hình như các anh  đã họp xong và hình như họ cũng đang nghe tiếng tàu rà và đang  phán đoán tình hình. Tôi ngồi dậy đúng lúc Bin nhảy xuống hầm.
- Mình tưởng anh ngủ. Anh không ngủ à?
Bin hỏi để mà hỏi. Tôi không buồn trả lời lặng lẽ đứng dậy cuốn võng. Tiếng máy bay sà thấp hơn. Không phải tiếng một  chiếc mà có tới vài ba chiếc cùng bay một lúc, cùng sà xuống ngay trên chỏm rừng. Có tiếng kèn đám ma, tiếng trẻ con khóc, tiếng lợn kêu, tiếng gà cục tác và cả tiếng người ta ơi ới gọi nhau lúc gần lúc xa. Tôi chưa kịp hiểu thì Bin đã lấy võng ra vừa mắc vừa nói:
- Anh Bìn cuộn võng làm gì? Mình nút lỗ tai lại, đừng nghe bọn máy bay kêu chiêu hồi, ớn lắm.
Tôi mắc võng trở lại.
- Mình có lệnh cấp trên cho cử người xuống ấp diệt ác ôn, mai  mốt làm xong việc ấy thì mới được rút về phía sau anh Bìn ạ. - Bin  nói.
- Chô cha, ớn cái thứ xe bay của thằng giặc Mỹ kêu chiêu hồi này quá. ấy là đúng lúc tiếng loa từ trên những chiếc máy bay sà thấp gọi "các chiến binh cộng quân Bắc Việt, hãy trở về với chánh nghĩa Quốc gia...", lúc dội lên rõ mồn một, lúc như hút hơi chìm vào đêm tối mênh mông của rừng già.
- Bin này, - tôi không thèm để ý tiếng máy bay chiêu hồi, bắt chuyện. - anh đã xuống ấp nhiều lần chưa?
- Chắc có một trăm lần rồi anh Bìn ạ. - Ấp có xa đây không?
- Gần con mắt, xa cái chân đi. Anh đã được coi ống nhòm rồi còn gì?
- Ừ. Nhưng mà mình vẫn không xác định được.
- Địch lo càn quét, nống ra bảo vệ cho bầu cử. Mình không lo diệt được ác thì làm sao phá được kìm kẹp... Bin nói như là tự nói với chính mình. Tôi tò mò, hỏi:
- Bọn địch bầu cử gì hả Bin?
- Chô cha, ớn anh quá. Địch nó bầu... cán bộ cho nó mà. Tôi
chỉ muốn hỏi chuyện thêm, nhưng Bin đã bật bọc võng, tỏ ý muốn
được yên.
- Bin này, - tôi níu võng Bin hỏi câu nữa. - bao giờ thì anh em mình xuống ấp?
Bin nằm trong bọc võng, nói ra:
- Một là phải giải quyết vấn đề thằng Mỹ Kon-Lơ. Hai là phải lo cho boók Phới và lũ đàn bà con nít được an toàn. ớn quá. Thôi,  ngủ cho khỏe rồi mai triển khai.
Tôi ngồi thẫn thờ trên võng nghĩ  ngợi lung tung. Biết đâu họ lại thử tôi? Nhưng họ làm thế để giải  quyết cái gì? Việc họ giữ tên Mỹ Kon-Lơ ở lại đây chỉ vì chưa có dịp  đưa hắn về phía sau nộp cho cấp trên, hay vì họ cố tình giữ hắn lại  để đảm đương những công việc nặng nhọc? Có lẽ cả hai. Nhưng đối  với tôi thì phải khác chứ. Họ đã chẳng giải thích cho tôi rằng, ở  đâu trên đất nước này cũng là làm cách mạng, cũng là đánh Mỹ.  Bộ đội không thiếu người vì bộ đội lỡ chết có bổ sung ngay. Chứ  còn du kích thì lúc nào cũng thiếu. Thiếu mà sao họ xử anh Ru  như vậy có khiếp không? Cứ nghĩ tới anh Ru người tôi lại bủn rủn,  không còn dám nghĩ thêm gì nữa. Bất giác một mảnh đất trên  vách nhà hầm lở xuống, khiến tôi giật bắn người và tôi rời võng ra  cửa hầm ngồi. Trăng sáng ngằn ngặt. Cái nỗi lo cứ chập chờn giờ  đây lại mỗi lúc một dâng lên rõ ràng hơn. Tôi không đủ kinh  nghiệm để suá xét xem điều gì đang thực chất diễn ra, nhưng tôi  mơ hồ nhận thấy, dường như tôi đang được nhìn nhận thỏa đáng,  mặc dù họ không nói ra.
Tôi khao khát được nghe một lời bàn bạc về công việc, nhưng  tôi cũng đủ tỉnh táo để hiểu được rằng, tất cả mọi công việc đối với  tôi đều quá ư mới mẻ, và dù nếu có bàn bạc thì chỉ là hình thức  biểu hiện lòng tin. Tôi cố chuáển hướng những nỗi lo vượt ra khỏi  mặc cảm để trở về với những kỷ niệm thời thơ trẻ, hy vọng nó vực  tôi ra khỏi tình cảnh mà tôi đang mắc phải. Tôi nhớ tới cái ước mơ  được trở thành nhà bác học như Mít-su-rin khi tôi suốt ngày hì hụi  ghép cây mà chả bao giờ đạt được một kết quả nào. Trong tất cả  các công trình của tôi ngày bé, với mảnh vườn cạnh bể nước trồng  đủ thứ cây tôi cho rằng, có thể ghép với nhau ấy, nó chẳng hề có ý  nghĩa gì đối với thầy u tôi và với cả bọn bạn tôi nữa. Nhưng lúc  này nó lại trở nên trọng đại đối với tình cảm của tôi. Cái bàn tay  non nớt vụng dại không sao điều khiển được con dao nhíp để bổ lớp  vỏ mỏng đầy gai của nhánh hoa hồng ghép sang gốc tầm xuân, đôi  lúc đã khiến tôi phát khóc. Mảnh vườn nhỏ của tôi là cả một thế  giới bí ẩn đầy hấp dẫn, nhưng cả nhà tôi thì lại nhìn nhận nó như  một trò nghịch ngợm. Có lần dây dưa chuột của tôi, được tôi tách  vỏ, cho quấn với dây bí đao, gần như chúng đã gắn được vào nhau,  sắp đến ngày cắt gốc thì bị một trận tàn phá do con lợn sề sổng  chuồng khiến tôi điên tiết cầm cái roi rọc chuối đánh đến nát bét  vào lưng nó, và cả đàn con của nó. Thế rồi, để trả thù con lợn sề tội  nghiệp, tôi đã rủ thằng Thướng bí mật bắt nó "đi tơ" với con lợn  đực giống có bộ lông trắng như cước của nhà chị nó. Nhưng cả cái  việc ấy cũng chẳng đem lại kết quả gì, vì chúng tôi đâu có biết là  bọn lợn "đi tơ" cũng phải đúng thời điểm của chúng. Tôi chợt nghe  tiếng mơ ú ớ của Bin từ trong hầm vọng ra và cả tiếng rên từ phía  căn hầm của thằng Kon-Lơ bên cạnh. Hắn nằm dưới căn hầm  nông choèn, nền hầm lót lá khô rồi trải cái võng ka-ki cứng quèo  của hắn lên. Còn anh Yơng và anh Miết thì nằm trên hai cái võng  mắc châu đầu vào nhau dưới căn hầm nửa chìm nửa nổi do thằng  Kon-Lơ đào đắp suốt những ngày qua. Đó là một thứ nhà hầm dã  chiến rất tiện cho việc xử lý các tình huống khi cần thiết. Nhóm  già Phới và những người đàn bà rất ít khi nằm võng. Họ trải  những tấm bao cát. Tổ bá Phới: tổ bố Phới mình đó. Hàn trên lá  cây thay chiếu dưới căn nhà hầm không mái, nói đúng ra, đó là  một cái hố rộng, khoét vào sườn dốc, che phất phơ những tấm tăng  đủ kích cỡ. Cửa ra vào nơi họ ở là một đống củi ngún khói. Tôi  không dám tò mò đi lại, mặc dù tôi rất thèm đi lại, thèm tới bên  đống lửa. Khuáa lắm rồi. Tôi biết giờ này là giờ gác rất nghiêm  ngặt của ai đó đang theo dõi mọi động tĩnh và tôi đành lặng lẽ  quay xuống hầm.
*
Sự lo lắng thái quá, đến mức nghi ngờ của tôi đối với Bin và  những người du kích về việc sắp được xuống ấp diệt ác ôn khiến tôi  thức trắng đêm, để sáng ra, tôi nhận thấy thái độ của mọi người  gần như không có biểu hiện gì đáng nghi ngại. Anh Yơng gọi riêng  tôi và Bin ra giao nhiệm vụ tối nay xuống ấp, mà theo cách nói của  Bin là "không phải chuyện bình thường". Tôi thấy mấy người đàn  bà thu dọn đồ đoàn có vẻ như sẵn sàng lên đường. Còn tên Mỹ  Kon-Lơ thì ngồi trước cái bồng bằng bao cát đựng đồ đoàn của hắn  hong hóng chờ lệnh. Già Phới ngồi sát một gốc cây to trước cửa  nhà hầm, miệng ngậm ống điếu với cái vẻ ung dung tự tại chưa  từng có. Tôi đoán rằng việc xuống ấp diệt ác ôn có lẽ chỉ mình tôi  và Bin hoặc có thêm anh Miết. Tôi thấy anh Yơng nói gì đó có vẻ  quan trọng lắm với Bin và anh Miết bằng tiếng Bah Nar. Trong  những câu nói ấy đôi lần anh nhắc tới tên tôi và tên tên Mỹ. Rồi  anh đưa cho Bin một tờ giấy nhỏ. Tôi giả vờ không quan tâm,  nhưng thực ra tôi đã liếc nhanh thấy vài hàng chữ đánh máy có  đóng dấu phía góc dưới với một chữ ký rất to: Bá ĐYk.
- Cho anh Bìn coi này. - Bin đưa cho tôi tờ giấy sau khi hai anh em đã xuống hầm.
- Chô cha! - Bin than vãn.
- Cứ diệt ác, diệt ác miết miết.
Thực ra, cho mãi tới giờ này, tôi vẫn chưa thể hình dung  được việc xuống ấp diệt ác sẽ diễn ra thế nào. Ngay cả chuyện ấp  chiến lược đối với tôi cũng mới chỉ là một khái niệm hết sức mù mờ  mà tôi đọc được qua báo chí, rằng đó là trại tập trung, nơi địch  gom dân lại làm "hàng rào người" trước khi có hàng rào kẽm gai,  nhằm bảo vệ các cơ quan đầu não của chúng. Chính vì vậy mà dân  trong ấp luôn luôn coi mình đang ở trong kìm kẹp, ngục tù. Họ lúc  nào cũng mong ngóng có quân giải phóng tới giải thoát cho mình.  Chỉ cần sự có mặt của chúng tôi, tức thì họ sẽ vùng lên ngay. Cái  kiến thức mỏng manh và đơn giản ấy dù sao cũng giúp cho tôi có  điểm xuất phát để nhận thức về địch tình. Và đúng là nếu không  có nó, chắc gì sau này tôi đã nhận ra những diễn biến phức tạp mà  chỉ có người trong cuộc mới có thể hiểu được. Tôi nhớ tới những lần  đi nắm địch cùng Bin và anh Ru, cứ mỗi lần trèo lên chạc ba của  cây dẻ rất to, bắc ống nhòm nhìn qua khoảng không để thấy được  phần nào cảnh trong thung lũng An Khê, với những đàn máy bay  lên xuống, với con đường nhựa ngoằn ngoèo cùng những đám nhà  mái tôn lấp lóa. Đám nhà mái tôn đó chính là ấp chiến lược của  chúng, Bin và anh Ru bảo tôi thế.
-  Thằng ác ôn này, - Bin nói thêm. - Nó có bà con với anh  Yơng đó... Tôi mù mờ nhận ra giữa Bin và anh Yơng có chuyện gì  đó không hoàn toàn chịu nhau. Tất cả mọi hoạt động của những  người du kích ở đây đều lệ thuộc vào quyết định của anh Yơng.  Vậy thì việc diệt tên ác ôn, dù hắn là người nhà mà anh vẫn cứ  quyết định, chứng tỏ anh có lập trường tư tưởng vững vàng, chứ cớ  sao Bin lại nói với tôi bằng cái vẻ ít thiện cảm thế nhỉ? Tôi đem tờ  giấy Bin vừa đưa ra cửa hầm coi. Đó là bản tuyên án tử hình tên  ác ôn Nhi-ép hay Nhớp gì đó, vì bản đánh máy quá mờ, lại xen cả  chữ Bah Nar và chữ phổ thông. Theo bản án, hắn có nhiều nợ máu  với nhân dân, hiện làm liên gia trưởng trong ấp Plei Mố hay Mó,  với chữ ký rất to: Bá ĐYk.
Logged
Trang: 1 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM