Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:35:16 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Binh đoàn mang tên một dòng sông  (Đọc 87580 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #40 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:18:40 pm »


Vẫn thủ tục quen thuộc, tôi bắt đầu:
- Báo cáo chú và gia đình, đơn vị cháu là đơn vị 95 - Sư đoàn 325 - Binh đoàn 2 là đơn vị anh hùng đã lập nhiều chiến công trong hai cuộc kháng chiến cứu nước. Hiện nay, đơn vị cháu đang đóng quân tại huyện Lục Ngạn - Bắc Giang. Là đơn vị chủ lực đủ quân, nhiệm vụ chính là huấn luyện sẵn sàng chiến đấu...

Sau phần giới thiệu về đơn vị tôi hỏi những chi tiết liên quan đến chính trị về gia đình và bản thân Minh để ghi vào hồ sơ. Khi được hỏi về nguyện vọng gia đình, ông Bình nói:
- Cháu Minh là con cả trong gia đình tôi, các em còn đang đi học, mẹ cháu đau ốm luôn, hiện vẫn đang nằm viện, bà thì đã già yếu nên tôi phải lấy vợ sớm cho cháu để có người làm. Gia đình muốn xin cho cháu hoãn nhập ngũ năm nay vì con nó còn nhỏ.

 Chắc lại không muốn cho con đi bộ đội đây mà - nghĩ vậy nên tôi nói:
- Gia đình cứ yên tâm, đơn vị và địa phương sẽ xem xét lại trường hợp của Minh nhà ta, nếu không nằm trong diện được hoãn hoặc miễn thì vẫn phải nhập ngũ đợt này.

Chúng tôi chào gia đình ra về. Do phải cất tài liệu nên tôi ra sau, lúc đó đồng chí Đào - xã đội phó và đồng chí Phán - trợ lý huyện đội đã ra ngoài sân. Tôi đứng dậy định đi ra thì bố của Minh níu lại.
- Anh cố gắng giúp đỡ em nó và gia đình tôi.

Ông nói rồi giúi vào tay tôi một nắm tiền loại mười nghìn đồng. Tôi đoán khoảng hai, ba trăm nghìn gì đó. Tôi thật sự bị bất ngờ, liếc nhìn mọi người, bà cụ, bố Minh và Minh đều nhìn tôi chờ đợi. Nhìn khuôn mặt già nua khắc khổ, buồn rầu của bà cụ, tôi cũng thấy có nét gì đó rất quen. Đúng rồi, mỗi khi nói đến hoặc phải chứng kiến những chuyện bất công, những điều trái ngang, bà tôi cũng thường như vậy. Bà tôi suốt một đời chắt chiu lo cho con cháu, nay đã gần tám mươi tuổi nhưng có miếng gì ngon vẫn nhường con nhường cháu. Có lẽ, những người mẹ, người bà Việt Nam đều như vậy cả . Còn thằng bé trên tay Minh kia, chắc chỉ bằng thằng Thanh - con anh trai tôi.

Gạt tay ông Bình, tôi nói:
- Chú không cần phải làm như vậy đâu, đây là nhiệm vụ, trách nhiệm của chúng cháu, chú cất tiền đi.
Ông Bình vẫn ngần ngừ, cố giúi nắm tiền vào tay tôi và nói:
- Gia đình không có nhiều, biếu các anh mấy đồng uống nước, mong các anh nhận cho.
Tự nhiên thấy mặt nóng bừng, tôi nói:
-Chú cất tiền đi, lỡ người ta nhìn thấy hiểu lầm ảnh hưởng đến bản thân cháu và đơn vị, chú sẽ phải chịu trách nhiệm đấy.
- Vâng... vâng!

Ông Bình nói và miễn cưỡng bó nắm giấy bạc vào túi, vẻ mặt lộ rõ sự thất vọng. Tôi không nói gì nữa, xoay người định bước ra. Nhưng rồi, nghĩ thế nào, tôi quay lại nói:
- Gia đình cứ yên tâm, cháu sẽ báo cáo cấp trên cùng hội đồng nghĩa vụ quân sự xem xét lại trường hợp của Minh.
- Vâng... Vâng... các anh cố gắng giúp đỡ, gia đình sẽ không quên ơn các anh đâu. - Ông Bình rối rít đáp lời.
Mặc dù ông nói vậy, nhưng nhìn vào mắt ông, tôi thấy hình như ông chưa hẳn tin vào điều tôi nói.

Tôi ra về mà lòng cứ thấy băn khoăn, day dứt. Tuy đã nghe nhiều chuyện tiêu cực của thời kinh tế thị trường, nhưng chẳng lẽ có người dân lại nhìn bộ đội bằng con mắt như vậy sao? Bao năm học trong trường sĩ quan, công sức thầy cô dạy bảo, cả cuộc đời cha mẹ chắt chiu chăm sóc, nuôi nấng ta, chẳng lẽ chỉ đáng mấy trăm ngàn thôi sao?! Hay mình quá dại dột, không thức thời, không biết tận dụng cơ hội? Là trưởng đoàn, tôi biết mình đủ khả  năng gạt một vài trường hợp ở lại mà không ai ý kiến gì.

Ngay ngày hôm sau ông Bình đến nhà chúng tôi trọ có vẻ tự nhiên hơn, ông nói rành mạch:
- Các anh lo giúp em nó, tốn kém bao nhiêu các anh cứ nói để gia đình lo liệu.

Như có cái gì đó chạy qua thái dương, nhưng tôi vẫn cố gắng kìm chế. Mấy trăm ngàn so với những người giầu có chẳng đáng là bao, nhưng với tôi nó bằng cả tháng lương thiếu úy và chắc chắn nó có thể nuôi sống gia đình ông cả tháng trời. Bất chợt tôi thấy rùng mình, nếu tất cả mọi thứ đều có thể mua bán được thì sẽ chẳng còn gì là quý giá nữa. Tôi nói với ông, giọng lạnh lùng:
- Chú cứ về đi, nếu lần sau có gì đề nghị, chú cứ đến cơ quan Huyện đội, chứ cháu không giải quyết công việc ở nơi đây.

Ông chào tôi ra về. Nhìn những bước chân nặng trĩu và dáng đi như tàu lá héo kia, tôi đoán chắc ông đang nghĩ tôi chê số tiền đó là ít!?

Tôi đem những băn khoăn báo cáo với đồng chí hướng - Tiểu đoàn phó quân sự, anh nói:
- Cậu làm thế là đúng đấy! Chúng ta không thể đánh mất danh dự, sự nghiệp của mình, truyền thống của đơn vị vì những đồng tiền đó được, tiền thì bao nhiêu tiêu cũng hết. Nhưng cậu nhớ kiểm tra lại trường hợp đó xem, nếu khó khăn quá thay người khác cũng được.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #41 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:18:59 pm »


Thế rồi những ngày công tác tại Gia Lộc cũng hết, quân số đã chốt, chỉ chờ bàn giao. Tối trước hôm nhận  quân về đơn vị, chúng tôi đi chào bà con quanh xóm.

Về đến nhà thì đã muộn. Đến cổng tôi nghe tiếng bà cụ gọi:
- Cường ơi! Có cô nào chờ cháu từ tối đây này!

Tôi hồi hộp tự hỏi: "Ai vậy nhỉ? Mình có quen ai ngoài Hoài đâu”. Hoài chính là cô bé đã húc xe đạp vào tôi hôm đầu tiên đến Gia Lộc. Sau cái "va chạm định mệnh" ấy, trái tim tôi luôn ấp ủ hình bóng của em. Tình cờ một hôm đến nhà chú Vần - Trưởng thôn để liên hệ công tác, tôi gặp lại em. Em là con gái của chú Vần. Từ hôm đó chúng tôi trở nên thân thiết và tình cảm đến với chúng tôi rất tự nhiên và trong sáng.

Chắc không phải là Hoài rồi, vì tôi vừa chia tay em. Ai nhỉ? Tôi bước vào nhà...
- Bà ơi! Cô ấy đâu rồi?
- Đó! Bà chỉ người đàn ông đang ngồi ở ghế.
- Thế mà cháu cứ tưởng thật!
Tôi nhận ra đó là chú Bình, bố của Minh. Tôi rót nước mời chú rồi chủ động hỏi.
- Chú gặp cháu có chuyện gì không ạ?
Chú Bình chậm rãi:
- Nghe cháu Hoài nói ngày mai các anh về đơn vị, hôm nay, tôi mới dám sang gặp các anh, trước hết là cám ơn các anh đã cho em Minh hoãn nhập ngũ năm nay, sau là mong các anh thông cảm về chuyện "tiền nong” hôm trước.
Nghe nhắc tên Hoài, tôi giật mình ấp úng.
- Dạ! Thế Hoài là ... ?
Như hiểu được thắc mắc của tôi, ông giải thích:
- Hoài là cháu họ nhà tôi! Thế mà tôi đâu có thấy Hoài nói gì?
- Chú cẩn thận quá, chuyện ấy có đáng gì đâu ạ.
- Gia đình, đặc biệt bà cụ nhà tôi cứ áy náy mãi vì đã hiểu sai về các anh bộ đội.
- Thưa chú! Bộ đội chúng cháu đều là con em của nhân dân, đi đến đâu cũng được nhân dân đùm bọc giúp đỡ, nên cháu nghĩ, ở cương vị của cháu chắc ai cũng sẽ làm như vậy thôi! Được chú, gia đình, bà con hiểu và thông cảm là chúng cháu mừng lắm rồi. Ông vui vẻ ra về không quên chúc chúng tôi lên đường mạnh khỏe, công tác tiến bộ.

Nhìn lên bầu trời với muôn ngàn vì sao lung linh, tôi bỗng thấy thanh thản lạ thường. Những người  nông dân thật thà, mộc mạc nhưng vẫn sâu sắc biết bao...

Bỗng có bàn tay ai đó vỗ vào vai tôi. Tôi quay lại, nhận ra Cường:
- Lại nhớ cái Hoài phải không? - Cường vừa hỏi vừa nháy mắt trêu.
- Không hẳn thế anh ạ!
- Thôi, đi ngủ đi, mai còn nhận quân. Nhiều sao thế này, nhất định mai trời sẽ đẹp! - Anh Cường nói rồi đi vào nhà.

Tôi theo chân anh Cường vào nhà, lòng vẫn miên man suy nghĩ ngoài kia, bầu trời đầy sao lấp lánh.


                                                                     Trại sáng tác văn học Binh đoàn Hương Giang
                                                                                      Tháng 11 năm 2002
                                                                                               B.H.C

« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 07:35:06 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #42 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:19:20 pm »


 NGUYỄN VĂN HIỆP

ANH TẤN


Tôi được mời đến dự lễ kỷ niệm ba mươi năm ngày thành lập tiểu đoàn 32 ôtô vận tải anh hùng.

Thời tiết mấy ngày hôm nay xấu quá. Trên bầu trời, từng đám mây đen vần vũ, mưa rơi rả rích, đến sáng nay thì càng xấu hơn. Mưa tầm tã. Mưa như trút  nước. Tuy vậy, trong hội trường vẫn rất đầy đủ, những mái đầu bạc, những mái đầu hoa râm và cả những mái đầu xanh kề bên nhau kín hội trường. Tất cả đại diện cho các thế hệ kế tiếp nhau từ ngày đầu thành lập tiểu đoàn cho đến bây giờ. Trong không khí trang nghiêm, chúng tôi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm, những chiến tích và truyền thống hào hùng qua ba mươi năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của đơn vị.

Trong dòng hồi tưởng đó, bỗng có tiếng lộc cộc gõ trên nền đá hoa đều đều rồi dừng lại nơi cưa vọng vào tai tôi. Tôi ngước nhìn ra phía đó. Sát sau cô gái tiếp tân là một người đàn ông cao gầy với chiếc nạng gỗ, mái tóc đã bạc, làn da đen, đặc biệt nơi đuôi mắt phải có một vết sẹo to bằng ngón tay làm xếch lên hàng lông mày lưỡi mác. Trong phút giây, tôi sững người nhận ra đồng đội. Anh Tấn – đúng! Đúng anh Tấn rồi. Mắt tôi chợt nhòa đi. Hình ảnh của chiếc nạng gỗ đưa tôi trở về quá khứ ...

Những ngày cuối năm 1974 đầu năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào thời kỳ ác liệt, với khí thế hừng hực "Tất cả vì tiền tuyến", "Tất cả vì miền Nam ruột thịt". Chiến trường đang vẫy gọi chúng tôi, những chiến sĩ lái xe mới ra trường tiếp tục vào bổ sung và tăng cường trên huyết mạch giao thông mà quân thù đang điên cuồng chống phá quyết liệt, hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến. Tôi và Thủy cùng quê ở Đông Anh - Hà Nội được điều về nhận nhiệm vụ ở đại đội 3 - tiểu đoàn 32 Vận tải - Cục Hậu cần - Binh đoàn 2.
Sau khi làm xong thủ tục, tôi đi xuống lán ở. Qua  những ngày hành quân vất vả, đặt chiếc ba lô nặng trịch xuống đất, tôi đặt mình nằm xuống. Lán ở vắng tanh. Tất cả đều đi làm nhiệm vụ. Trong cái âm u dưới tán lá rừng, cơn buồn ngủ kéo sập mí mắt tôi lúc nào không biết nửa.

Chợt tôi giật mình tỉnh giấc. Có tiếng nói cười lao xao rõ dần, chắc là cánh lái xe đã về. Rồi một giọng cất lên:
- Này các cậu, cô tiểu đội trưởng thanh niên xung phong hôm nay xinh đấy chứ?
- Cô nào? Cô nào hả? - Tiếng lao xao hỏi lại.
- Cái cô dáng cao cao, da trắng, tết tóc đuôi sam ấy. Dân Hà Nội gốc đấy!
- Cũng được. Một giọng ồm ồm thổ bùn cất lên - Nhưng so với cô y sĩ của mình thì còn kém vài chân kính ...
- Thôi, cậu dừng có nói phét! Cái tướng cậu mà có người yêu xinh thì cô em "Zin-khơ" của mình chạy bằng nước lã.
 - Không tin hả?- Lại giọng nói ồm ồm cất lên – Sau này hòa bình thì các tướng sẽ rõ. Tứ đại mỹ nhân mà nhìn thấy cô em của mình chắc cũng phải lấy tay che mặt.
 
Tiếng cười rộ lên. Tôi cũng thấy vui vui, thầm nghĩ: Anh này bẻm mép thuộc diện "Một tấc lên trời" đây.

Chợt tiếng anh trung đội trưởng, người mà tôi gặp lúc mới đến vang lên:
- Tiểu đội 3 được bổ sung thêm lính mới nhé. Dân ven đô đấy.
- Đâu? Đâu? Tài mới của tiểu đội đâu rồi?- Cùng với cái giọng đặc trưng, tôi thấy một anh bước vào trong lán. Cái bóng cao kều che đi một phần ánh sáng, tôi thoáng thấy một nụ cười và hàm răng trắng lóa:
- Ái chà! Trắng trẻo thư sinh quá. Dáng này thì  "dài lưng tốn vải" lắm đây.
Đó là người đầu tiên của tiểu đội mà tôi được gặp. Tên anh là Tấn quê ở Hưng Yên.
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 07:35:47 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #43 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:19:57 pm »


Chúng tôi nhanh chóng hòa mình cùng đơn vị mới. Có lẽ trong khói lửa ác liệt của chiến tranh con người ta sống gắn bó gần gũi, yêu thương và tình cảm với nhau hơn. Tiểu đội chúng tôi có mười một chiến sĩ lái xe, phần lớn đã có nhiều kinh nghiệm. Tôi trở thành đứa em út của tiểu đội ấy.

Đầu năm 1975, đại đội chúng tôi nhận được lệnh vận chuyển đạn, gạo từ Cam Lộ vào A Sầu, A Lưới và Nam Đông dọc theo hướng của chiến dịch. Trên các con đường quân sự làm gấp, từng đoàn xe hối hả nối đuôi nhau với quyết tâm “Sống bám xe, bám đường, chết kiên quyết dũng cảm", "Tất cả để chiến thắng", "Tuyến trước đạn gạo chưa đủ, chiến sĩ kho ăn ngủ không yên" cuốn chúng tôi trong những ngày tăng cung, tàng chuyến, mặt mũi ai cũng sạm lại, cảm giác đặt đâu là ngủ đấy. Chỉ có ý chí và quyết tâm mới làm con người ta bền bỉ và dẻo dai đến thế.

Giữa tháng, giai đoạn chuẩn bị cho chiến dịch Huế - Đà Nẵng đến thời kỳ cao điểm, tiểu đội chúng tôi nhận mệnh lệnh chuẩn bị kỹ càng phương tiện để vận chuyển phục vụ chiến dịch. Đúng vào ngày mưa tầm tã con đường 10C lầy lội và trơn trượt bởi cái thứ bùn đỏ quạch. Chúng tôi vận chuyển đạn dược từ kho K3 vào khu vực Động Truồi, Ngầm Truồi để tập kết. Xe của tôi đi ở gần cuối đội hình, phía sau là xe anh Tấn và Thuỷ. Trong cái âm u của đêm rừng, xe tôi trườn đi chậm chạp, tiếng bánh xe lăn trên bùn lầy lép  nhép. Phía sau ánh sáng vàng ệch của chiếc đèn gầm,  trời tối đen, đặc quánh, căng mắt ra cũng chẳng thấy gì, cảm giác như có thể cắt ra được thành từng miếng. Không còn tiếng ầm ì của bom đạn, những giây phút lặng đi đến rợn người của chiến tranh như báo hiệu cái ác liệt đang đón chờ phía trước.

Chợt tôi giật thót người. Có ánh sáng trắng vút lên bầu trời. Pháo sáng! - Tôi nghĩ, rồi nghiêng người nghe ngóng. Không có tiếng máy bay, không có tiếng rít lên của pháo đạn. Có lẽ chúng bắn canh đường. Tranh thủ ánh sáng ấy, tôi nhấn ga cho xe chạy nhanh thêm. Bỗng: khục, khục, chiếc xe giật lên, tiếng máy lịm đi rồi tắt ngấm. "Thôi chết, xe có vấn đề rồi". Tôi lo lắng thầm nghĩ. Cầm vội chiếc đèn pin, tôi lao ra khỏi buồng lái, bật tung nắp ca-bô, hơi nóngtràn lên mặt tôi bỏng rát. Trong ánh đèn đã bịt đi còn nhỏ xíu, tôi vội lần dây cao áp bật nhẹ má bạch kim,  tiếng cao áp kêu tanh tách, xanh lét mập đều. Điện tốt! Sao lại thế nhỉ? Tôi loay hoay lần tìm cuống quýt, mồ hôi chảy ròng ròng nhớp nháp. Ánh sáng của chiếc pháo sáng chợt run rẩy rồi vụt tắt trên bầu trời.
- Xe cộ chuẩn bị thế nào mà nằm chềnh ềnh ở đây, định làm mồi cho địch hả?
Tôi giật mình quay lại. Mải loay hoay, không để ý, anh Tấn đã đứng phía dưới từ lúc nào! Tôi quay ra chăng để ý đến giọng gắt gỏng của anh, mặt nhăn nhó:
- Chẳng hiểu sao xe đang chạy lại lịm đi như lả đói. Mà hôm ttrước, em đã kiểm tra và chuẩn bị kỹ rồi cơ mà ...
- Cơ mà cái gì? Không nhanh lên đến Ngầm Truồi là dính vào giờ cao điểm thì có nước ăn cám - Vừa nói anh vừa leo lên bađờxốc - Đưa đèn pin đây cho tao, đã kiểm tra điện chưa?
- Rồi, điện tốt - tôi đáp.
Anh cúi gập người trên nóc máy một lát chợt hỏi:
- Sao bơm xăng lại nặng thế này. Hôm trước có kiểm tra bơm xăng và đường tuy-ô không?
-Có - tôi đáp
- Kiểm tra trong thùng xăng xem.

Tôi bước về phía sau, bùn thụt sâu đến lưng ống chân nhão nhoét. Mở nắp thùng xăng, tôi đưa tay về phía ống hút rồi vuốt sâu xuống dưới. Tôi chợt sững người, có miếng giẻ to bằng ngón tay đã bịt chặt lấy miệng ống từ lúc nào. Tôi liền kéo miếng giẻ đó ra, phải rồi, đây là miếng giẻ tôi đã dùng để lót nắp thùng xăng, thế nào mà lại rơi xuống đáy bị hút vào miệng ống. Hôm chuẩn bị xe, tôi đã chủ quan không xúc rửa, cứ nghĩ là vẫn tốt. Thế mà...
- Đây rồi anh ạ - Tôi nói vọng lên - Giẻ bít đường  xăng. Em sơ suất quá!
Anh Tấn kéo sập nắp ca-bô xuống rồi nói:
- Khẩn trương lên để bám đoàn, còn đứng ngẩn ra đâý à. Tao bơm xăng rồi đấy.

Tôi lên xe xoay nghiêng chìa khóa điện. Tiếng máy gầm lên, chiếc xe lại tiếp tục lao đi trong đêm tối.

Ngầm Truồi đã hiện ra phía trước. Đây là nơi trọng điểm mà địch thường bắn phá. Có lẽ vì thế mà cánh lái xe gọi đây là "Ngầm tử". Xung quanh ngầm chi chít những hố bom, bộ đội công binh và thanh niên xung phong đã tốn bao công sức và xương máu để phá bom và san lấp, nhưng ngày nào cũng phải hứng chịu thêm những quả bom tạ càng làm hoang tàn, chằng chịt, nham nhở thêm những hố nông, sâu. “Bằng mọi cách phải vượt qua ngầm". Ý nghĩ đó thoáng qua, tôi vội rà phanh, đạp ly hợp, giảm số. Chiếc xe chở đầy hàng nặng nề trườn xuống, ánh đèn ngầm loang loáng theo gợn nước lan ra. Tiếng xèo xèo  từ ống xả, từ thân máy bốc lên hơi nước nóng hầm hập. Tôi nhấn ga khi buồng lái đã ghếch lên, một khoảng sáng bờ bên kia đã tiếp vào bánh trước. Bỗng: “Uỳnh" - Một cụm sáng bùng lên cách bên phải xe một đoạn, đất đá văng lên ràn rạt, khói xộc vào trong buồng lái cay xè. Tiếng gầm rú rít lên như xé toác bầu trời. Tôi giữ chắc vô-lăng, nhấn ga, tiếng máy gằn lên giận giữ. Mặc kệ những tiếng nổ chát chúa, xe tôi vẫn lao đi. Hai tai tôi ù đặc, máu sôi lên, chỉ còn đôi mắt căng ra nhìn về phía trước để lách xe qua những hố bom. Chợt tôi thấy mình hẫng đi. Chiếc xe chao nghiêng như muốn đổ. Ánh sáng chói lòa và một tiếng nổ lớn trùm lên giật mạnh. Ngực tôi căng tức như muốn nổ tung, hoa cà, hoa cải như muốn vãi bung trong mắt, miệng sặc sụa những khói bom. Tôi lao ra khỏi ca-bin. Một mảng bên phải thùng xe vỡ toác, lửa bốc lên ngùn ngụt. Phải cửu được hàng! Tôi kéo vội chiếc chăn lao đến trùm lên chỗ cháy, hơi nóng lan nhanh tiếng lép bép to dần. “Nguy quá! Không nhanh lên thì làm mồi cho địch tập trung bắn phá dội bom". Đang nghĩ thế, tôi chợt thoáng thấy một bóng người lao đến. Anh Tấn. Anh đã vượt lên từ lúc nào rồi lao vào chỗ cháy, trong tay cầm chắc chiếc chăn thấm nước. Đám cháy lụi dần... Từ quần áo và chiếc chăn của anh tỏa ra mùi khét lẹt, mặt mũi đen sạm, nhem nhuốc. Anh lao xuống quát lên:
- Lên xe tiếp tục chạy.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #44 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:20:24 pm »


Tôi lao lên xe, bỗng thấy tay anh chộp chặt bả vai tôi giật mạnh, ngã dúi. Người anh đè lên tôi, đúng lúc đó một tiếng nổ đanh gọn, chát chúa vang lên. Khói, đất đá trùm lên chúng tôi nghẹt thở. Tôi vội trồi người lên: Nguy rồi! Người anh Tấn mềm nhũn, anh đã bị thương vào đùi, máu ra ướt đẫm. Tôi cởi chiếc áo đang mặc, băng tạm vết thương cho anh. Một lát, anh tỉnh lại, giọng nói yếu ớt đứt quãng:
- Để mình nằm đây.... mau cứu xe... cứu hàng!
Tôi ôm lấy anh không nỡ rời bước. Giọng anh gấp gáp :
- Sơn ... nghe anh!
Tôi ghé vào tai anh, nghẹn ngào, cương quyết:
- Anh Tấn ... Em không thể... !

Tôi bế xốc anh lao đến bên ca-bin. Đặt anh bên ghế phụ rồi nhào lên tay lái. Chiếc xe rùng rùng lao đi trong lửa đạn. Lên đến Động Truồi, tôi đưa anh vào đội điều trị 16 của Viện quân y 43. Lúc này, anh đã  lả đi mặt nhợt nhạt. Tôi ôm ghì lấy anh, đôi môi mặn chát.
Giọng người y sĩ vang lên:
- Anh ấy ở đây đã có chúng tôi, đồng chí cứ yên tâm mà tiếp tục thực hiện nhiệm vụ.
Tôi quay lại nhìn anh, khuôn mặt thân thương giờ đang thiêm thiếp, rồi vội vã chạy đi...

Chiến tranh kết thúc, tôi còn ở lại phục vụ trong quân đội hai năm nữa, sau đó chuyển ngành. Nhiều lúc nhớ đến anh, tôi vẫn tự vấn mình: "Giá như, giá như...". Nhưng có bao giờ sửa lại được cái "giá như" ngày ấy. Đôi lần, tôi có dò hỏi tin tức về anh thì được biết anh đã chuyển về tuyến sau, rồi đi điều trị ở một tuyến an dưỡng nào đó.

Lễ mít tinh kỷ niệm kết thúc, tôi chạy đi tìm anh. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau mừng mừng, tủi tủi rồi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm ngày xưa. Cái tiểu  đội có mười một anh tài ngày ấy giờ chỉ còn lại có mấy người - Tôi nói:
- Thằng Thủy về cùng đợt với em, giờ ở Plây Cu. Sau chiến tranh nso về quê lấy vợ, đến năm 1981 thì đi xây dựng vùng kinh tế mới. Còn em thì chuyển về bên thương nghiệp, năm ngoái thì nghỉ hưu. Em được hai cháu, cháu trai đầu học đại  học mới ra trường, cháu gái thử hai thì đang học dở ...
Dừng lại một lát, tôi hỏi:
- Còn anh thế nào?
Anh nhìn tôi chậm rãi: "Cuối năm 1979, mình xây dựng gia đình. Vợ mình vẫn là cô y sĩ ngày xưa đã chăm sóc mình suốt thời gian mình ở trạm. Thú thực đã nhiều lần mình lẩn trốn tình cảm của cô ấy vì sợ với cái nạng gỗ kia, mình sẽ thành gánh nặng cho cô ấy trong suốt cuộc đời. Nhưng cô ấy yêu mình và cô ấy chấp nhận hết tất cả. Cuối năm 1977, vợ chồng mình sinh. một cháu gái; năm 1979, sinh một cháu trai. Cả hai anh em lúc nhỏ thật bụ bẫm, dễ thương. Ai ngờ cử đến tháng thứ tám, thứ chín là chân tay chúng teo tóp dần, đầu phình to ra. Đi khám thì bệnh viện kết luận: Vợ mình bị chất độc màu da cam, cái vết thương ấy còn đau đớn gấp trăm ngàn lần vết thương ở ngoài da thịt, cậu ạ! Cách đây năm năm thì cô ấy bị liệt hẳn".
Anh ngừng lại, giọng nói chợt nghèn nghẹn:
- Gia đình mình, hai vợ chồng và hai đứa con giờ chỉ còn lại một bàn chân...

Tôi nắm chặt tay anh, bàn tay cứng cáp năm nào đã đẩy tôi ngã xuống, che chở cho tôi trong vòng lửa đạn, giờ gầy gò khẳng khiu, xương xẩu. Những vất vả khó khăn của cái gia đình có bốn con người ấy dồn lên cơ thể chỉ còn một bàn chân khiến hai vai anh rũ xuống. Tôi thầm thán phục anh. Anh đâu chỉ đứng lên trong cuộc sống này với một bàn chân ấy, mà đứng lên bằng chính chí ý nghị lực phi thường của ruột người lính được rèn luyện, hun đúc trong khói lửa ác liệt của chiến tranh. Người lính của Binh đoàn Hương Giang anh hùng.

Tôi ôm chặt lấy anh, chiếc nạng gỗ chợt xiêu xiêu như muốn đổ, mắt tôi nhòe đi. Tôi thốt lên giọng tắc nghẽn... Anh Tấn!


                                (Theo lời kể của đồng chí Phạm Thanh Sơn, Cựu chiến binh - Đông Anh - Hà Nội)
                                          Trại sáng tác văn học Binh đoàn Hương Giang, tháng 11 năm 2002
                                                                             N.V.H

« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 07:42:02 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #45 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:21:18 pm »


PHẠM THỊ LOAN


NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI

Đã lâu tôi mới có dịp rảnh rỗi ghé về thăm đơn vị cũ đóng quân trên địa bàn xã Dĩnh Trì. Từ nơi ở đến nơi làm việc của đơn vị cách nhau 1 kilômét. Con đường đất đỏ dẫn chúng tôi đến nơi làm việc chạy dọc theo xóm Núi, một xóm nhỏ dưới chân đồi heo hút năm nào nay đã thay đổi đến ngỡ ngàng. Ngọn đồi cao vợi nay tràn ngập ánh điện bởi trạm trung chuyển điện cao thế đã được xây dựng đồ sộ ngay trên nền bạt bớt của quả đồi. Hình ảnh cái xóm nhỏ chân chất thuần nông, heo hút năm xưa, nay đã rực rỡ hẳn. Sự thay da, đổi thịt của xóm làng là công sức của bàn tay, khối óc bao con người dang ngày đêm vượt lên trên khó khăn của cuộc sống nông nhàn để vươn lên xây dựng quê hương mình giàu đẹp. Nhìn dòng người tất bật ngược xuôi, gánh hàng đủ các loại, đầy ắp trên vai kĩu kịt rảo bước tới chợ làng, bất giác trong tôi trỗi dậy hình ảnh của anh Kỳ nơi xóm nhỏ này. Trong một đợt tôi theo đoàn cán bộ của Viện 43 Cục Hậu cần đến thăm và tặng quà anh vào dịp tết cuối năm 1996. Cuộc gặp gỡ ấy với những gì mắt thấy tai nghe là cả một bức tranh sống động về hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ trong chiến đấu cũng như trong lao động, xây dựng, bảo vệ đất nước, vượt lên khó khăn của gia đình góp phần xây dựng quê hương mạnh giầu. Hình ảnh đẹp đẽ ấy đã được anh Kỳ và đồng đội của anh là những cán bộ chiến sĩ Cục Hậu cần để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân xóm Núi qua câu chuyện mộc mạc anh kể với chúng tôi.

Anh Kỳ quê Thạch Hà, Hà Tĩnh, xây dựng gia đình với chị Bằng quê tại xóm Núi. Anh chị ngụ cư ở đây. Tình yêu của anh chị xuất phát từ sự cảm thông sâu sắc của hai trái tim mất mát hợp cùng lại với nhau để gánh vác cho nhau những vất vả trong cuộc đời.

Anh Kỳ là người đàn ông đã từng có vợ. Nhưng rồi vợ anh mất, để lại cho anh một cháu trai.

Chị Bằng cũng đã từng lập gia đình. Chồng chị đi chiến đấu rồi hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979, để lại cho chị một cháu gái khi ấy mới vừa tròn một tuổi.

Hai người góa bụa đơn côi đến với nhau, xây dựng tổ ấm gia đình sau bao mất mát, thua thiệt mà họ phải gánh chịu, những tưởng cuộc đời sẽ xuôi chèo, mát mái nhưng sự thật lại trớ trêu.

Niềm khát khao của anh chị được có đứa con chung với nhau nhưng chiến tranh đã để lại trong anh chất độc màu da cam - vậy là anh, chị không thể có con chung.

Với đồng lương hưu trung tá 920.000 đồng mỗi tháng, anh chị thuộc diện có thu nhập cao nhất trong cái xóm nhỏ chân chất thuần nông này, cũng là niềm an ủi lúc tuổi già đủ ăn, đủ tiêu. Nhưng cháu gái con anh chị lại mắc bệnh viêm cầu thận nặng từ năm mười ba tuổi.

Để cứu con vượt qua căn bệnh, anh lại bắt đầu cuộc sống đầy khó khăn, bươn chải. Ngoài việc đong thóc, xát gạo kiếm cám chăn nuôi, nhận thầu hai sào ao nuôi cá, anh còn nhận thêm những ruộng trũng cạnh ngòi nước (mà dân ở đây gọi là ùng) những ùng này anh chị cấy lúa một vụ, khi nước dâng cao, dân làng bỏ cấy, anh chị lại cấy rau tăng vụ và đánh bắt cá tự nhiên để lấy tiền thêm thắt vào chữa bệnh cho con. Mặc dù đã đưa đi khắp các bệnh viện, hết lang nọ thầy kia mà cháu vẫn chưa khỏi bệnh.

Anh tâm sự với chúng tôi :
- Nghĩ thương cháu quá, bố mất lúc cháu còn quá nhỏ.
Giọng trùng xuống, anh nói tiếp:
- Có lẽ đời sinh ra tôi và run rủi cho tôi gặp cô ấy để cùng nuôi con cho nhau hay sao ấy!... Thôi thì mọi việc đã sắp đặt, hai chúng tôi chung mà lại riêng, trái lại riêng mà lại chung.
- Nói cho đúng ràng: Hai đứa con đều là của chúng tôi - anh cười đôn hậu. Trên khuôn mặt già nua của anh sáng lên niềm vui, ánh mắt trìu mến nhìn con gái, anh kéo cháu ngả đầu vào vai mình. Bàn tay khô ráp chai sần nhùng vất vả, anh đưa lên vuốt nhẹ mái tóc con. Rồi anh đưa tay kéo cậu con  trai vào lòng mình, tất cả chúng tôi đều nghẹn ngào xúc động.

Câu chuyện rồi cũng đến hồi kết thúc bởi cái tết đang từng giờ, từng phút nhích lại gần, mọi nhà rộn rã gói bánh chưng xanh. Chúng tôi ra về mà lòng chạnh hỏi: có mấy người được như anh Kỳ!

Năm tháng qua đi, dân làng xóm Núi nay đã thay đổi quá nhiều, không biết anh và gia đình thế nào?

Tôi quyết định ghé thăm anh chị. Tìm mãi mới ra cái ngõ nhỏ ngày nào. Vẫn đấy, cảnh xưa người cũ, vẫn khoảng tường trình đất đồi rêu phong đã phủ kín, thỉnh thoảng có khoang đất bị xói lởm chởm bởi nước mưa. Căn nhà xưa vẫn vậy, cả anh chị và cháu  gái đều đang ở nhà. Trông anh chị già hơn, mái tóc anh nay đã bạc đi nhiều. Cháu gái đã ra dáng một cô thiếu nữ, cười nói rất vui. Tôi hỏi:
- Sắp cho cô ăn cỗ chưa?
Cháu cười nói:
- Bất cứ lúc nào cô muốn ạ.
Rồi chạy ra ngõ với đám bạn đến chơi. Anh chị vui mừng mời tôi uống nước và nói :
- Khổ quá, nó đi mấy tuần nay mới về - bạn nó đến chơi.
Tôi mừng quá vội hỏi:
- Thế cháu làm ở đâu? Lương có khá không?
Anh chị vội nháy tôi:
- Không, cháu đi chữa bệnh đấy chứ làm lụng gì đâu!
Chị buồn bã phân trần: .
- Cô đi lâu nay mới về nên không biết, cháu phải đi chạy thân nhân tạo, nếu dừng hai tuần là cháu chết ngay. Tôi sững sờ nghe câu "chết ngay" ở miệng anh chị mà tôi cảm thấy cái chết nó nhanh và nhẹ nhàng làm sao!
Anh kể tiếp:
- Mấy năm vừa rồi khổ lắm cô ạ. Nhà túng bấn đến cạn kiệt vì đi các viện đều không chữa được, nay cháu đi chạy thận nhân tạo. Ngoài tiêu chuẩn bảo hiểm và  tiêu chuẩn ưu tiên con liệt sĩ ra, cháu còn phải tiêu hết 1.500.000 đồng một tháng vào các khoản như: Thuê nhà ở, điện nước, tiền ăn, tiền tàu xe đi lại.
Anh trầm ngâm giây lát rồi nói tiếp:
- Nghĩ lại cái ngày cho cháu đi chạy thận nhân tạo, tất cả mọi thủ tục lo lắng như mọi người, chưa biết đơn từ xin chế độ cho cháu nên cơ cực lắm. Gia đình lúc bấy giờ dốc hết từ lợn, gà đến thóc lúa, đi vay mượn hàng xóm, vay cả ngân hàng mà chẳng đủ. Thậm chí dân làng cũng như mình với vài sào ruộng cấy cộng thêm chăn nuôi thì lấy đâu ra dư dật nhiều  mà cho vay mãi, thành ra có lúc chẳng vay nổi nữa. Mà bệnh của cháu dừng lại là cô biết đấy! Chết ngay! Ngày xưa, trước quân thù chỉ xác định một sống hai chết không quan trọng, chỉ biết đánh thật hăng. Vậy mà đứng trước cái sống, cái chết của con kề nhau chỉ trong gang tấc mà lòng tôi rối bời. Bất chợt tôi nghĩ đến đơn vị xong cũng mất mấy ngày đấu tranh tư tưởng mãi mới dám làm đơn xin trợ cấp khó khăn, vì mình về rồi, mà nhiều người cũng khó khăn chứ không riêng gì mình. Hơn nữa, ngày xưa còn bao cấp nó khác, nay cơ chế thị trường, ai cũng có đồng lương cả. Có tí quỹ vốn là công sức của anh em trong đơn vị lao động suốt cả năm trời. Xoay đi, tính lại, không biết vơ víu vào đâu nên anh liều làm đơn gửi Đảng ủy chỉ huy Cục Hậu cần giúp đỡ. Cô có biết không. Lúc cầm đơn ra đến ngõ có các ông bạn trong hội cựu chiến binh đến chơi, biết việc nói:
"- Cũng khó đấy ông ạ, Nhưng thôi cử đi xem. sao, may ra là phúc cho cháu ". Vậy là anh đi mà không tin tưởng sẽ có kết quả. Thế nhưng may quá cô ạ, khi  đem lá đơn lên, đọc xong các anh trong lãnh đạo Cục đồng ý ngay, các anh ấy nói:
- Thôi dù ít, dù nhiều chúng tôi biết anh và gia đình đang rất khó khăn. Lúc này anh rất cần đến đơn vị, mà cuộc sông của cháu đang rất cần chúng ta, vì vậy còn nước còn tát, đơn vị sẽ hỗ trợ anh gọi là một chút không nhiều". Một lần nữa: Cháu lại được cứu sống.

Còn thời gian sau này nhờ có chính sách đãi ngộ của Đảng và Nhà nước đối với gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng cho nên gia đình bớt được một phần khó khăn.

Anh cho biết thêm: Tất cả khoản lương hưu 920.000 đồng anh dành trọn cho con gái, còn anh chị và cháu trai bươn trải thêm đê sinh sống và kiếm tiền chu cấp thêm cho cháu gái.

Anh nói với tôi rất thật lòng:
- Thôi thì cháu trai đã lớn và có vợ rồi, cho nên hai vợ chồng cháu tự lo thu xếp cho nhau. Nghĩ đi thì cũng áy náy lắm vì vợ chồng cháu cũng vất vả, xong nghĩ lại thì trách nhiệm mọi mặt mình phải lo cho cháu gái để cháu tiếp tục sống.
Tôi hỏi cắt ngang lời anh:
- Thế đoàn thể có ai giúp gì không ạ?
Anh chưa kịp nói thì cháu đã xen vào:
- Có cô ạ! Cả bà Trương Mỹ Hoa cũng đến thăm và tặng quà. Cả ông Nguyễn Trọng Nhân bên hội chữ thập đỏ, rồi cả Bệnh viện Bảo vệ bà mẹ, trẻ em cũng đến.
Cháu còn ghé sát tai tôi nói: Bà Trương Mỹ Hoa còn điện thẳng về cơ quan tỉnh Bắc Giang thế là tỉnh cũng cử người lên thăm và cho quà cháu nhé.
Quay qua anh, tôi hỏi tiếp:
- Thế sau lần trợ cấp ấy đơn vị mình thế nào anh?
Anh vội vàng nói:
- Có, có đấy cô ạ! Năm nào Viện 43 Cục Hậu cần cũng vào thăm và tặng quà cháu nhân dịp tết. Riêng Đảng ủy, chỉ huy Cục Hậu cần đã xuống thăm và tặng quà cháu với danh nghĩa là thăm gia đình chính  sách khó khăn. Tôi trân trọng lắm chứ cô: dẫu ít, dẫu nhiều, tôi thấy cái đẹp đạo đời, nó có trước, có sau, nó có nghĩa, có nghì, nó sâu nặng nghĩa tình người ở lại, người về địa phương. Cục Hậu cần đến với tôi nó còn là tình cảm đồng chí, đồng đội, mà cái nghĩa tình ấy, sứ mệnh tôi đang gánh vác suốt cuộc đời với bố cháu là người đã khuất. Đúng lúc tôi gặp khó khăn nhất thì có đồng đội ở bên!. Đúng lúc cháu gặp hiểm nguy nhất thì đơn vị đã cứu cháu qua cơn nguy hiểm...
Chị Bằng cảm động nói thêm:
- Nếu không có các anh chắc chị không chữa nổi cho cháu đâu em ạ!

Với lời nói mộc mạc từ sâu thẳm đáy lòng mình, chị đang thầm cảm ơn anh, cảm ơn đồng đội của anh đã giành lại cho chị niềm hạnh phúc lớn lao mà chị tưởng như đã tuột khỏi tay từ lâu lắm rồi!


                                                                                Trại sáng tác văn học Binh đoàn Hương Giang
                                                                                                          P.T.L

« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 07:43:53 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #46 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:22:17 pm »


VÕ XUÂN TRÍ


TÔI VÀ ANH


Xong khóa huấn luyện tân binh tại tiểu đoàn 2, đơn vị 9, Sư 304, tôi và một số anh đã tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm - Đại học Tổng hợp (nay là Trường Khoa học Tự nhiên và Xã hội) được trên điều về nhận công tác tại trường Văn hóa Binh đoàn 2.
 
Trường ra đời ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta vừa kết thúc. Trường được xây dựng mãi tận trong Long Bình - Đồng Nai. Nhiệm vụ của trường là giảng dạy bổ túc văn hóa gồm các môn: Toán, Lý, Hóa, Văn cho các đối tượng là cán bộ, chiến sĩ trong binh đoàn chưa học hết phổ thông trung học, thậm chí phổ thông cơ sở và ôn tuyển sinh, tạo nguồn đào tạo cho các trường sĩ quan trong toàn quân.

Được về nhận công tác tại trường là một vinh dự với chúng tôi. Bởi chúng tôi biết, mình vừa làm tròn nghĩa vụ với Tổ quốc vừa được rèn luyện thêm chuyên môn.

Vừa đặt chiếc ba lô, treo chiếc áo K82 còn đo bụi đường lên móc, đã nghe tiếng anh Hoàng Khắc Huệ cười đón:
- Xin chào! Các chú đã về đây rồi à. Đi đường có mệt không?

Sự cởi mở, chan hòa của anh trưởng ban khiến tôi thấy bớt đi phần nào nỗi lo lắng, e sợ.

Sau buổi gặp gỡ chóng vánh, chưa kịp làm quen với các anh trong ban, chúng tôi đã nghe anh Huệ nêu khái quát sự ra đời, nhiệm vụ và đặc điểm của trường. Nghỉ ngơi hai ngày để chuẩn bị, chúng tôi được giao nhiệm vụ ngay.

Tôi được phân công thay đồng chí Ánh dạy lớp 10B (hệ bổ túc văn hóa hồi ấy gồm 8, 9, 10A và 10B).
Tôi phân vân:
- Ấy chết, sao lại thế. Báo cáo anh, em mới ra trường, kinh nghiệm chưa có, anh cho em vừa kiến tập vừa đảm nhiệm lớp dưới, vì em...

Vẫn nụ cười sảng khoái, hồn nhiên, cách nói bộc trực của người con xứ Nghệ, anh Huệ ôn tồn nói:  
- Chú này, thế là không thực hiện đúng lời thề thứ hai, trong mười lời thề danh dự của quân nhân rồi: Chống lệnh là kỷ luật đấy nhé !

Anh lại cười to, phá tan bầu không khí im lặng của căn phòng. Cả bọn chúng tôi cùng cười theo trước cách vận dụng dí dỏm của anh.

Tôi biết, mình không còn cách lựa chọn nào khác, nên bỗng thấy lo lắng trước nhiệm vụ được giao. Dường như hiểu được nỗi băn khoăn, lo lắng của tôi, tan buổi họp, anh Huệ động viên:
- Có gì, chú cứ hỏi kinh nghiệm anh Ánh, anh Khang. Nhưng phải vững tin ở mình, vạn sự khởi dầu nan mà.
Anh vỗ nhẹ vào vai tôi rồi cười xòa như muốn nhắc: Hãy cố lên.

Từ phòng họp, tôi lặng lẽ, đăm chiêu đi về nhà nghỉ. Chiều hôm đó, mọi người náo nhiệt chơi thể thao, tôi ngồi thu mình trong căn phòng lợp lá cọ đã mục nát loáng thoáng mạng nhện. Nên bắt đầu gì đây? Tôi lục ba lô, lấy ra mấy quyền vở chép tay ở trường, tranh thủ đọc lại. Chưa yên tâm, tôi mạo muội lên thư viện, mặc dù đã đến giờ đóng cửa, cố nài chị thủ thư cho mượn mấy quyển giáo khoa.

Sau một tuần, vừa tu sửa nơi ăn chốn ở, vừa chuẩn bị giáo án, tôi cảm thấy đã có  thể bước vào giảng dạy được rồi.

Sáng thứ hai, tôi thức dậy trước cả kẻng báo thức cố đọc lại giáo án, hình thành trong đầu từng phần của một tiết học. Keng! Keng! Keng! Dứt ba tiếng kẻng tôi đi sau anh Huệ, ngập ngừng bước vào lớp học. Vừa đặt chân vào phòng, tôi bị cuốn hút bởi lớp học khá đông, toàn là những người bằng tuổi anh, tuổi chú của tôi. Cố trấn tĩnh, nhưng không tài nào giấu được bộ mặt bối rối, lúng túng đã đỏ ửng. Anh Huệ cười, nhìn xuống lớp, tiếng xì xào cũng lặng dần:
- Tôi xin giới thiệu, đây là thầy Trí - vừa nói anh vừa chỉ tay về phía tôi - Anh tiếp: Thầy Trí đây sẽ thay thầy Ánh, đảm nhiệm giảng dạy môn văn cho đến lúc hết khóa.

Một tràng vỗ tay rào rào vang lên. Tôi nhìn xuống lớp nở một nụ cười thân thiện, thay cho lời chào.

Anh Huệ chào lớp rồi đi ra. Còn lại tôi với hơn bốn  mươi học viên lớn tuổi. Tôi bỗng thấy lúng túng, miệng cứng lại, chưa biết nên nói câu nào đầu tiên. Lâu sau, tôi nghĩ ra cách giới thiệu tên tuổi, quê quán, học trường nào. Tôi không quên nói thêm đặc điểm cá tính, trình độ hạn chế mong các anh giúp đỡ, góp ý. Giờ học hôm ấy, tôi chỉ củng cố lại bài của anh  Ánh đã lên lớp tiết trước, đồng thời đề ra một số quy định: Nào là phải có bằng ấy quyển ghi chép, nào kiểm tra bài cũ, cho bài tập về nhà. Tôi định, tiết sau mình sẽ thực hiện đúng quy định đã đề ra.

Đúng như quy ước, tiết sau, tôi kiểm tra bài cũ.

Tôi gọi lần lượt ba đồng chí lên bảng, chỉ duy nhất một đồng chí trả lời được, còn hai đồng chí kia (anh  Hưng và anh Sơn) báo cáo là chưa chuẩn bị bài. Tôi tỏ ra thất vọng, khá bực mình vì sao lại có chuyện học viên không thuộc bài, mặc dù câu hỏi của tôi đưa ra có gì là khó đâu? Tôi không ngần ngại "tặng" cho họ những điểm kém, coi đó là sự cảnh cáo về tinh thần học tập của học viên. Sau khi nhận điểm kém, khuôn mặt của anh Hưng, anh Sơn trông buồn bã và trầm lặng hẳn.

Giờ học cứ thế trôi qua nặng nề. Tôi giảng, viết, thuyết trình, nêu câu hỏi gợi mở. Oái oăm thay, tất cả những câu hỏi tôi nêu ra, chẳng có ai xung phong xây dựng bài. Tôi buồn lắm, tự cho rằng: Có lẽ đây là hình thức lớp phản đối mình đây.

Cuối tiết học, dành ít phút củng cố dặn dò tôi bộc lộ sự không hài lòng của tôi với lớp và đồng thời phê bình hai đồng chí không chuẩn bị bài.

Từ lớp ra về, tôi đi thẳng vào phòng trưởng ban, với vẻ mặt cau có. Thấy anh Huệ đang hí hoáy ghi chép ở bàn, tôi chào và kể lại ngay sự tình buổi học hôm nay.

Nghe xong, anh phá lên cười. Bao giờ cũng vậy, anh hơn chúng tôi là nụ cười sảng khoái, vô tư, có phần hồn nhiên thái quá:
- Chú đúng là một anh mới ra trường!

Tôi tưởng nghe xong câu chuyện của tôi, anh sẽ  đứng về phía tôi mà chỉ trích các học viên lười học chứ. Đằng này, anh lại chê tôi là giáo điều, sách vở, mới ra trường.
Anh hạ giọng nói nghiêm túc:
- Chú chưa biết học viên của mình mà vội đánh giá chụp mũ. Chú không biết đấy thôi. Học viên của chúng ta là những người lớn tuổi, bỏ học đã lâu. Họ lăn lộn trong chiến trường, nay hòa bình, do nhu cầu phát triển của quân đội họ về đây tiếp tục đèn sách. Với lại lớp chú cũng có mấy trường hợp rơi vào tình trạng khó khăn đặc biệt.

Tôi lắng nghe, và đặc biệt chú ý đến: "Có mấy trường hợp khó khăn đặc biệt". Lẽ nào, hai trong số những người không thuộc bài sáng nay lại rơi vào hoàn cảnh đó? Chia tay với anh Huệ, lòng tôi cứ mãi phân vân.

Buổi tối sinh hoạt xong, tôi xin phép trưởng ban xuống nhà ở của học viên chơi. Nói là chơi, chứ thực tình tôi muốn xem các anh học đêm thế nào, nhân tiện tranh thủ tìm hiểu anh Sơn, anh Hưng.

Từ xa, trong dãy nhà lá cọ, nằm cạnh đồi bạch đàn, le lói những ánh đèn dầu. Thấp thoáng, những mái đầu đang mải mê dán mắt vào sách vở. Tôi nghe nhiều tiếng tranh luận lúc to, lúc nhỏ, thỉnh thoảng lại có tiếng người cười phá lên xen lẫn tiếng ho...tiếng ho sặc sụa... Cách nhà ở chừng mười mét, tôi bước nhẹ lại cố lắng nghe xem các anh tranh luận điều gì với nhau.
- Anh Lành ơi - em khai căn số 38 sao mãi không được nhỉ, được 6 dư 2 thì đưa nó vào đâu cho đúng hả anh?

Một anh nào đó hỏi những người xung quanh đầy khẩn thiết. Tôi nghe tiếng anh lớp trưởng chậm rãi: Có thế mà chú mày không làm được, nếu dư 2 thì chú mày xếp vào mâm bảy.

Cả phòng cười ồ lên với câu nói hài hước, hóm hỉnh của anh lớp trưởng. Tôi cũng khẽ cười vì cách tính toán đặc chất lính của các anh.

Tôi bước vào phòng, lên tiếng đánh động:
- Em chào các anh!

Cả phòng đang huyên náo, bỗng im bặt. Mọi người vội vã mặc áo quần, rối rít chào hỏi. Tôi thấy mình tự tin hơn vì la liệt khắp phòng là những quyển vở đang mở ra, người thì kê lên hòm, kẻ nằm choài ra giường...Bất giác tôi liên tưởng, sao giống cái thời mình đi học thế.

Sau mấy câu chào hỏi xã giao, tôi bày tỏ ý định của mình với đồng chí lớp trưởng. Nghe xong, đồng chí lớp trưởng cười kín đáo, rót thêm nước vào chén cho tôi, chậm rãi kể.

"Đúng là thầy có hỏi, chúng tôi mới dám bộc lộ. Về việc thầy cho điểm kém lớp chúng tôi không phản đối vì mình học yếu, không thuộc bài thì nhận điểm yếu là xứng đáng. Trường hợp anh Hưng và anh Sơn không thuộc bài cũng có nguyên nhân cả. Chuyện là thế này thầy ạ:
- Các anh đó quê mãi Quảng Bình, Quảng Trị. Gia đình các anh đạc biệt khó khăn: Vợ yếu, con dại. Chẳng may, năm 1985 cơn bão số tám đổ bộ vào miền Trung gia đình các anh nằm trong mắt bão. Sau một đêm, cơn phẫn nộ của thiên nhiên đã đánh sập nhà của, cuốn trôi đồ đạc gia đình theo dòng nước ra biên. Nhận được tin xấu trên đã cho các anh về khắc phục hậu quả kèm theo là những trợ cấp ít ỏi. Thời gian mà thầy Ánh lên lớp bài đó các anh khôn được nghe thành thử, các anh không thuộc bài, hiểu bài là chuyện bình thường".

Đồng chí lớp trưởng nói giọng bùi ngùi, thương cảm. Tôi nghe mà bỗng cảm thấy hối hận về sự nóng vội của mình. Tất cả mọi người trong phòng đều im lặng, nghe rõ tiếng lá bạch đàn ngoài sân xào xạc, tiếng côn trùng râm ran đâu đó.
- Tôi xin hứa với thầy, lớp tôi sẽ cố gàng, không để thầy phiền lòng nữa đâu - Anh lớp thượng hạ giọng.

Đêm đã khuya, tôi chào các anh ra về. Nằm trên giường, tôi cứ dằn vặt mình. Sao mình vô tình quá. Sao trước khi làm việc với lớp mình không tìm hiểu tâm tư, tình cảm, cảnh ngộ các anh, để rồi ngày đầu  đến lớp, đã để lại ấn tượng không hay trong lòng anh em học viên.

Thời gian sau đó, tôi nhận thấy không ai khác, chính anh Sơn và anh Hưng lại là người hăng hái học tập nhất. Hầu như giờ nào của tôi, các anh đều tích cực đóng góp ý kiến xây dựng bài. Mỗi lần trả bài kiểm tra, tôi đều động viên khen ngợi các anh làm tăng không khí của lớp. Khoảng cách giữa giáo viên và học viên không còn nữa thay vào đó là mối quan hệ anh em,  đồng chí đồng đội thắm thiết.

Khóa học kết thúc. Các anh về lại đơn vị tiếp tục công tác theo sự phân công của tổ chức. Tôi không có điều kiện gặp gỡ đủ gương mặt anh em trong lớp nữa.

Riêng tôi, từ ấy đến nay vẫn là người giáo viên của trường Quân sự - Binh đoàn Hương Giang, vẫn là người chèo đò đưa bao khách sang sông.

Khi viết lại những dòng này tôi luôn mong mỏi rồi đây những học viên cũ của tôi sẽ đọc được, để qua trang sách lại dành ra ít phút cùng tôi sống lại những ngày là học viên dưới mái trường Văn hóa – Tân Thanh - Lạng Giang. Những tháng ngày vô giá ấy sẽ mãi không bao giờ trở lại nữa...


                                                                                                              V.X.T
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 07:44:58 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #47 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:23:00 pm »


PHAN BA


TRÊN CHIẾC GHẾ ĐÁ


Người đàn ông tập tễnh bước tới chiếc ghế đá trống trong vườn hoa. Một đứa bé xách hòm gỗ ào đến.
- Đánh giầy, chú!
Người đàn ông chỉ vào đôi dép nhựa dưới chân mình. Cả hai cùng phá lên cười rồi cùng gieo người xuống ghế đá.

Đứa bé chừng mười hai tuổi đưa bàn tay khẳng khiu gõ nhè nhẹ vào chiếc hòm gỗ đặt trên đùi, đôi mắt tinh nhanh phóng về phía người khách hàng hụt ngồi cạnh, bỗng nó thốt lên:
- Ơ! Cụt mất bàn tay! Sao vậy chú?.
- Đạn Mỹ! - Người đàn ông trả lời gọn lỏn.
Đứa trẻ gật gù cái đầu. Rồi với vẻ quan tâm nó lại hỏi :
- Thế còn cái chân lập bập của chú?
Chú thương binh chăm chú nhìn cậu bé rồi cười hiền từ:
- Cũng là đạn Mỹ.

Đứa nhỏ tròn miệng phát ra tiếng "ồ! ồ!" đầy vẻ thán phục xen lẫn sự ngạc nhiên.
- Chuyện chiến tranh ấy mà.
Người thương binh đưa cánh tay cụt lặng lẽ xoa mái tóc hoe đỏ nắng gió của cháu đánh giầy, rồi chậm rãi từng lời một.
- Cháu chưa ngày nào được cắp sách đến trường ư?
 Nó quay mặt đi vẻ láu táu biến mất, chòm tóc hoe đỏ lúc lắc, bàn chân di di trên những hòn sỏi tạo nên những âm thanh lạo xạo, lạo xạo.
Rồi đột nhiên, đứa bé ôm chiếc hòm gỗ đứng vụt dậy.
- Cháu phải đi đây? - Nó nói bằng giọng buồn bã nhưng đầy quả quyết.
Được vài bước, nó ngoảnh lại:
- Hôm nào chú đi giầy da, cứ đến chỗ này cháu  đánh cho thật bóng loáng. Cháu không lấy tiền đâu.

Đến lượt người đàn ông quay mặt đi.
Trên cao, những chùm lá xanh rờn, lao xao.


                                                                                                                P.B
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 07:47:12 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #48 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:23:42 pm »


BÙI XUÂN TƯƠI

VƯỢT THÁC


Rầm rầm...
Bụi nước bắn lên trắng xóa cùng dòng thác cuốn theo chiếc bè vầu dài chừng hơn hai mươi mét. Bốn đồng chí đứng trên bè dùng sào chống đỡ để cho con rồng tre khỏi đâm vào bờ. Tiếng hô tiếng thét chìm vào tiếng thác đổ. Hai đồng chí đứng phía sau bè cầm sào chạy lên phía đầu giúp đỡ. Không kịp rồi. Từng mảng bè vầu cứ nối tiếp nhau cắm vào bờ sông,còn đoạn đuôi bè bị dòng nước đẩy mạnh ôm ngang hòn đá chắn giữa dòng. Cả bốn đồng chí Dúng, Loan, Chưng, Hậu bỏ sào sợ hãi nhảy phắt lên bờ đứng chôn chân nhìn chiếc bè vầu bị dòng thác phá tan ra từng mảnh, xoong nồi, hoa phong lan bắn ra trôi theo dòng nước.

Đầu thượng nguồn con sông Lục Nam, vào mùa cuối năm nước cạn lắm, có đoạn cạn trơ ra những hòn đá to đen vì rêu bám, có thể đi bộ được qua sông, mà không ướt chân có chỗ thắt lại chỉ rộng khoảng hơn một mét làm cho nước chảy xiết, có đoạn lại phình to ra rộng hơn một trăm mét, nước trong xanh chảy lững lờ nhìn thấy cả đáy sông. Sang chiều ngày thứ hai đơn vị chúng tôi gồm sáu chiếc bè vầu mới đi được hơn hai mươi kilômét đường sông, từ xã Tuấn Đạo, huyện Sơn Động đến đầu của xã Đồng Cốc huyện Lục Ngạn, từ phía trước, trên con thác, Tuấn cho bè của mình từ từ tạt vào bờ và quay lại gọi với về phía tôi, đại phó ơi bè của anh Dúng xuống thác bị vỡ rồi. Tuấn - quê ở Huế dáng người cao, đậm, nước da ngăm đen, là trung đội phó kiêm chức và là cây văn nghệ của đại đội. Tuấn có giọng hát xứ Huế rất hay, hồi còn chưa đi bộ đội Tuấn đã phải theo cha đi rừng nên Tuấn có nhiều kinh nghiệm đi sông nước.

Năm ấy đơn vị chúng tôi huấn luyện bộ đội ở nhiều vùng quê khác nhau về đây song nhiều hơn vẫn là quê Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh và Huế.

Tôi bàn với anh em trong đơn vị đưa bè sát vào bờ, nếu để bè ở giữa dòng, khi đến gần con thác nước chảy xiết hơn thì không xử lý kịp, cho anh em ghim  lại bè xong, toàn đơn vị chạy xuống để giúp đỡ bè của Dúng. Song tất cả đều bất lực, toàn bộ bè đã bị bẻ gãy, dòng thác cuộn lên như muốn nuốt chửng, dấn chìm và phá tan bè vầu của Dúng. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu. Không thể kéo toàn bộ chiếc bè tre dài hơn hai mươi mét ra khỏi dòng thác điên cuồng kia được, phải làm lại từ đầu thôi.
 
Tôi cùng mấy đồng chí xuống tháo dỡ con bè rời ra từng mảng, đưa qua thác xuống dưới đóng lại từ đầu, sau đó lần lượt đưa từng bè qua thác. Tôi phân công: Tuấn, Hoàng và Loan đứng đầu bè, dùng sào đẩy, lái không cho đầu bè đâm vào bờ. Ba đồng chí khác đứng phía sau, dùng sào đẩy không cho đuôi bè ôm vào hòn đá. Tôi và hai đồng chí khác đứng ở hòn đá, khi thân bè áp vào thì đẩy hất ra. Làm cho con rồng tre cứ thế lồng lên uốn mình lao theo dòng nước. Theo cách đó, lần lượt năm bè vầu còn lại qua thác an toàn. Thác này, nhân dân địa phương gọi là “ Thác mắc".

Củng cố lại bè xong, chúng tôi đi thêm được một đoạn thì trời chạng vạng tối. Tia nắng yếu ớt cuối ngày đi ngủ đông, để lại phía sau chân trời những đám mây đen, vàng loang lổ, tạo ra một thứ ánh sáng hư vô hắt xuống mặt sông. Những bóng dáng nhỏ bé nhấp nhô cong lưng chống sào đẩy cho những con rồng tre nặng nề tiến về phía trước. Tất cả lặng đi chỉ còn nghe tiếng những cây sào chọc xuống mạt nước nghe lõm bõm, khô khốc. Từ xa, tôi nhận ra phía trước mặt có một rặng tre, những làn khói xanh nhẹ bay lẫn trong rặng tre làm mất đi cái mầu xanh của lá, rồi từ từ lan rộng, hòa vào khoảng không yên tĩnh. Vẳng nghe xa xăm tiếng lợn đòi ăn, tiếng của lũ trẻ gọi nhau í ới nhà ai đó. Tôi cho đơn vị tiến vào khu rặng tre trước mặt ghim bè lại đó để nghỉ qua đêm. Ở đó là một bản nhỏ chỉ có năm nóc nhà nằm sát bờ sông. Tôi cho đơn vị dừng lại và cùng Hoàng lên bờ đi liên hệ cho đơn vị chỗ nghỉ ngơi ăn tối.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #49 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:24:31 pm »


Hoàng quê ở Thanh Hóa, là trung đội trưởng kiêm chức, Tuổi còn trẻ, song rất có năng lực trong chỉ huy, là xạ thủ bắn B41 giỏi và là cây ghi-ta của đơn vị. Chúng tôi vào một gia đình gần đó, căn nhà làm bằng gỗ lợp ngói máng đã lâu, khói bếp đã bám vào đen kịt, làm cho nó càng cũ hơn theo thời gian.
- Chào bác ạ - Tôi lên tiếng.

Không ai trả lời, mấy đứa trẻ quần áo nhếch nhác mặt mũi nhọ nhem than bếp nấp sau cánh cửa ngó nhìn chúng tôi ngơ ngác. Từ trong nhà người đàn ông dáng cao, hơi gầy bước ra, ông có lẽ khoảng chừng năm mươi tuổi. Lướt nhìn qua chúng tôi, ông nói bằng tiếng Kinh khá rõ.
- Các anh hỏi gì đấy.
Tôi nhanh nhẩu trả lời:
- Dạ thưa bác, anh em bộ đội chúng cháu đóng quân ở thôn Hạ Long xã Giáp Sơn, thuộc đơn vị 18, Đoàn 325, Binh đoàn Hương Giang. Do điều kiện đơn vị khó khăn, nhà ở dột nát hư hỏng nhiều, được trên cử đi khai thác tre vầu về tu sửa củng cố chống sập, chống dột cho đơn vị, về đến đây thì trời đã tối, anh em chúng cháu không thể đi tiếp được, chúng cháu ghé lại đây vào xin phép bác và bà con thôn bản cho chúng cháu nghỉ tạm một đêm.
Tôi vừa trình bày xong, ông nói ngay:
- Không được đâu à. Nhà chật lắm không ngủ được đâu.
- Thưa bác, anh em chúng cháu chỉ xin được nghỉ ở ngoài bờ tre kia thôi ạ - Tôi nói rồi chỉ ra phía bờ sông.
- Không được đâu. Đi tìm chỗ khác thôi - vừa nói người đàn ông vừa hất tay ra hiệu cho chúng tôi đi tìm chỗ khác.

Tôi và Hoàng lặng lẽ đi ra phía bờ sông. Sự mệt mỏi cộng với cái đói cái rét càng làm tăng thêm nỗi buồn của người lỡ độ đường. Tôi bước đi mà lòng trống vắng. Nhìn vào khoảng không trước mặt, tôi cứ thầm hỏi đi đâu bây giờ? Tất cả chỉ là trùng trùng rừng núi. Đơn vị gần ba mươi đồng chí, người ngồi ủ rũ, người nằm uể oải rải khắp bờ sông. Thương anh em lòng  như quặn lại. Tôi bàng hoàng như nghe tiếng trách của đồng đội bên tai, đơn vị tin yêu gắn cho hai chữ "trách nhiệm" bên mình. Vậy mà tôi lại để anh em trong hoàn cảnh thế này sao? Tôi quyết định cùng Hoàng quay trở lại ngôi nhà ấy. Nhìn thấy ông, tôi nói ngay: "Dạ thưa bác ngày đầu tiên chúng cháu đi bè trên sông, đường còn chưa thuộc chúng cháu biết đến đâu bây giờ. Thực lòng ban chiều anh em chúng cháu đưa bè qua thác, kinh nghiệm không có, bè vỡ hết cả, phải khó khăn vất vả lắm anh em đơn vị mới  đến được đây. Trời đã tối rồi, đi tiếp thì lại phải ngồi lại ngoài sông như đêm qua thôi. Đêm qua cả đơn vị chịu rét suốt đêm, nếu đêm nay cũng vậy thì ngày   mai anh em chúng cháu không còn đủ sức để đi tiếp được. Bác và bà con trong bản thương tình mà giúp đỡ anh em đơn vị chúng cháu hoàn thành nhiệm vụ trên giao". Nói đến đây người tôi run lên, nước mắt như trực trào ra.

Người đàn ông nhìn tôi như muốn thông cảm và đo độ tin cậy về những điều tôi vữa trình bày. Rồi ông bảo:
- Thôi được, anh cho đơn vị nghỉ ngoài đó nhưng phải đảm bảo an toàn cho chúng tôi. Tôi vui sướng như trút đi gánh nặng trên vai. Cảm ơn ông rối rít.

Khụ... khụ... khụ... - Có tiếng cụ già ho nặng nhọc từ trong nhà vọng ra. Tôi hỏi bác, bác bảo: "bà ốm mấy hôm nay rồi, cứ về chiều thì lại sốt đấy".
- Sao gia đình không cho bà đi viện? - tôi hỏi.
- Đã đi chợ mua thuốc cho bà uống rồi mà vẫn chưa khỏi.

Ngay lập tức, tôi cho Hoàng ra gọi đồng chí Toán - y tá đơn vị vào khám cho bà, và báo cho đồng chí Dúng tập trung toàn đơn vị lên bờ nhận nhiệm vụ. Đồng chí y tá đơn vị đã có mặt khám bệnh cho bà cụ kiểm tra, đo huyết áp với động tác thành thạo về chuyên môn. Toán nói: Bà chỉ bị viêm phế quan và sốt nhẹ thôi. Tôi nhắc Toán kiểm tra cẩn thận và cử luôn cậu ta ở lại điều trị cho bà.

Tôi xin phép gia đình ra tập trung giao nhiệm vụ cho đơn vị. Tập trung đơn vị, tôi quán triệt công tác tư tưởng, kỷ luật dân vận, phân công nhiệm vụ tổng dọn vệ sinh toàn bộ khu vực thôn bản và tổ chức nấu cơm cho đơn vị. Ai vào việc đấy. Thế là tiếng nói tiếng cười cứ xôn xao rộn ràng xóm nhỏ. Bà con trong bản đổ ra xem đơn vị hăng hái quét dọn vệ sinh đường ngõ, hình như ai cũng mừng vui phấn khởi. Nỗi vui mừng hiện ngay trên nét mặt mỗi người. Tình cảm bộ đội với nhân dân như đang được đong đầy vào trong thôn bản.

Thấy đơn vị đang chuẩn bị dùng ni lông dựng lán trại nghỉ ngoài bờ sông. Một bà nhanh nhẩu chạy sang nhà bác chủ, bà vừa đi vừa chỉ tay về phía bờ sông nói “đừng để cái bộ đội ngủ ngoài đó rét chết nó à, cho bộ đội nó vào nhà tôi ngủ đi". Mấy bà mấy chị gần đó cũng thêm vào nhưng họ nói bằng tiếng dân tộc nên chúng tôi không hiểu gì cả. Sau đó bác chủ nhà đi đến chỗ tôi, bác bảo tôi - "Anh cho bộ đội vào các gia đình gần đó để nghỉ".
 
Thế là tôi cùng bác đi vào các gia đình xin phép nghỉ trọ, vào gia đình nào hỏi họ cũng đồng ý ngay.

Trời đã tối. Mọi nhà đã lên đèn. Các bộ phận đã  hoàn thành xong công việc, đơn vị chia cơm ăn ngoài sân nhà bác chủ. Bác cẩn thận thắp chiếc đèn treo ra ngoài hiên nhà cho bộ đội ăn cơm. Tôi sực nhớ ra hình như vẫn còn ba hộp cá, tôi bảo Hoàng lấy ra hai hộp đưa vào cho bà và các cháu trong nhà còn để lại một hộp phòng khi có ai đau yếu để bồi dưỡng cho họ.

Ăn cơm xong, các bộ phận cử người canh gác bè và chia nhau về ngu Ơû các gia đình gần đó. Bác chủ mời chúng tôi vào trong nhà uống nước. Bác pha trà, lấy thuốc lá ra mời chúng tôi cuốn hút và vui vẻ tâm sự với chúng tôi. Bác tên là "Tíu"  người dân tộc Sán Dìu, là thanh niên xung phong thời chống Mỹ, bác tham gia làm tuyến đường Trường Sơn. Ngày ấy gian khổ vất vả lắm. Nào là mưa rừng, muỗi vắt, sốt rét. Nhiều người chết vì sốt rét chứ chưa kê chết vì bom đạn, vì vậy khi nhìn thấy bộ đội đi khai thác vất vả rét mướt, anh em trẻ chưa quen sông nước, tôi thấy thương lắm. Nhưng vì sợ như mấy lần trước, mấy bọn đi bè qua đây cũng ăn mặc quần áo bộ đội cả, lên bờ tre nghỉ nhưng họ không xin phép ai, sau đó họ nhổ trộm sắn, khoai, rau, có lực lượng đi qua còn lén vào bắt lợn bắt gà của dân, nên lúc đầu chúng tôi chưa dám cho các anh nghỉ nhờ. Đến đây Hoàng nhanh nhầu xen vào "Thế bây giờ bác tin anh em chúng cháu là bộ đội thật chưa?" - Bác gật đầu cười nói: "Tin chứ, nhìn thái độ phong cách cư xử của các anh chúng tôi tin chứ, thế mới đúng là bộ đội Cụ Hồ. Bộ đội là con em của dân mà".

Trời đã về khuya, các bộ phận được phân công về từng gia đình đã lặng im không còn tiếng rì rầm chuyện trò to nhỏ. Thôn bản đã chìm trong không gian tĩnh lặng, vẳng nghe tiếng thác reo rì rào từ xa vọng lại. Gió bấc thổi nhẹ, thỉnh thoảng có tiếng kêu gọi nhau đi tìm ăn vọng sâu vào vách núi nghe rờn rợn.

Chúng tôi xin phép bác đi ngủ, nằm chưa ấm lưng tôi đã chìm sâu vào giấc ngủ ấm áp tình quân dân. ánh sáng ban mai chiếu qua khe cửa khiến tôi choàng tỉnh dậy. Gia đình đà chuẩn bị sẵn mâm cơm thịnh soạn trên bản. Bác Tíu mang rượu ra mời chúng tôi. Cơm nước xong, đơn vị chia tay gia đình và bà con thôn bản. Người đi, người ở lưu luyến mãi không thôi. Thời gian và nhiệm vụ không cho phép chúng tôi kéo dài cái giờ phút chia tay ấy, bà con trong bản người cho sắn, cho khoai, cả rau xanh nữa. Bác Tíu vào nhà lấy bịch thuốc Lạng Sơn và hai cuộn giấy. Bác bảo chúng tôi mang theo đi đường hút cho đỡ lạnh.

Bà cụ già được y tá tiêm cắt sốt đêm qua hình như đã khá hơn, cũng chống gậy ra để tiễn đưa chúng tôi. Bà bảo chúng tôi đi sông nước cẩn thận và thỉnh thoảng nhớ về thăm bà. Nghẹn ngào tạm biệt bà con xóm nho, chúng tôi xuống bè xuất phát.

Mặt trời vừa nhô lên khỏi ngọn núi phía xa, ánh nắng ban mai dọi sáng cả khúc sông, nhưng chưa đủ ấm để làm tan đi những giọt sương đêm đậu dầy như dát bạc trên tầu lá. Gió bấc thổi nhẹ vào mặt sông tạothành những đợt sóng vỗ nhẹ vào cạnh bè kêu lách tách, tạo ra những chùm bọt nước màu trắng đục cố níu bám vào bè vầu chúng tôi. Bè đã nhổ neo đẩy xa bờ tre xóm nhỏ, bà con chòm xóm vẫn bồng bế nhau đứng trên đó nhìn chúng tôi cho đến khi chiếc bè cuối cùng của đơn vị trôi khuất dần ở đoạn sông uốn khúc. Lòng chúng tôi như mang theo những người thân yêu ruột thịt của mình trên những chiếc bè vầu bồng bềnh kiên nhẫn trên sông.


                                                                                                              B.X.T
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 07:49:08 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM