phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #50 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:25:51 pm » |
|
LÊ THU HOÀICÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ "- Cha bố chị, con gái gì mà cứ lồng như ngựa vía. Tính lại nghịch ngợm như con trai. Rồi thì ế thôi con ạ!". Không biết bao nhiêu lần mẹ bảo tôi như thế. Nhưng tôi thì chẳng hề bận tâm đến điều đó. Ngày tôi quyết định làm đơn xin nhập ngũ, hai mắt mẹ sưng húp và đỏ mọng nước. Rất may mắn, học xong trung cấp nấu ăn tôi được điều động về nhận công tác tại Phòng Bảo đảm (Cục Hậu cần - Binh đoàn Hương Giang). Bây giờ tôi là "Lê Anh Nuôi". Trước khi về đơn vị, thầy phụ trách nói với chúng tôi: "Bằng cấp chỉ là một chuyện, kỹ năng và kinh nghiệm mới là vấn đề". Tôi ghi nhớ điều này như một cẩm nang nghề nghiệp, và luôn tự nhủ mình không ngừng phấn đấu, học tập ngay cả khi đã ra công tác. Chắc không cần phải kể thì các bạn cũng hình dung ra công việc của chúng tôi là phục vụ ăn uống cho bộ đội. Ấy thế nhưng ngoài phục vụ thường xuyên tôi rất hay được đi phục vụ các hội nghị, truyền thống, mừng công, đón danh hiệu rồi đám cưới, tiếp khách... Hình như tất cả các đơn vị trong Binh đoàn đều in dấu chân của chúng tôi. Nhưng có lẽ tôi cảm thấy thích thú, ấn tượng hơn với những lần đi phục vụ trinh sát địa hình hay phục vụ diễn tập. Bao nhiêu lần đi là bấy nhiêu tình huống, chẳng lần nào giống lần nào. Tất cả đều trở thành kỷ niệm. Còn nhớ hồi mới về phòng, lần đầu tiên thấy tên mình trong danh sách phục vụ diễn tập tôi vừa háo hức lại vừa thấy lo lo. Anh Luân (trung đội trưởng) đưa cho tôi một quyên sổ và bảo: - Em xuống kho nhận dụng cụ để chuẩn bị xếp xe nhé! Tôi liếc nhanh qua trang sổ giở sẵn thấy đề "Dự trù dụng cụ cấp dưỡng phục vụ diễn tập... " . Một dãy dài dằng dặc những danh mục: bát to, bát bé, đĩa lớn, đĩa nhỏ... thôi thì đủ thứ mà loại nào cũng nhiều. Tôi đâm hoảng! - Dạ , nhưng... nhiều thế này... mỗi mình em....! – Tôi ngập ngừng. Như đọc được suy nghĩ cua tôi, anh mỉm cười: - Được rồi. Em cứ xuống kho trước rồi anh sẽ cho cậu Tiến xuống phụ với em. - Nhưng sao phải mang nhiều dụng cụ và hàng hóa thế ạ? - Tôi mạnh dạn hỏi anh. - Lên trên đó thực phẩm khan hiếm và đắt đỏ lắm, chỉ riêng việc bảo đảm định lượng rau xanh đã là cả một vấn đề, lại còn thực phẩm khác... - Anh giảng giải. Mấy anh bạn đồng nghiệp của tôi đã từng quen rồi thì tếu táo : - Anh em mình cứ phải nắm chắc quy tắc "Tình yêu 4 M" em ạ! - Phong "hạc" úp mở. - Nghĩa là thế nào ạ? - Tôi ngơ ngác. - E hèm... - Hoan "giáo sư" lên tiếng - Nghĩa là em phải chắc chắn rằng "tình yêu của chúng ta" phải hội tụ đủ bốn yếu tố, đó là "Mắm - Mỡ - Muối - Mì" ... nếu không sẽ phải ly hôn" ... nghề! Vừa nói cậu ta vừa khoa chân múa tay khiến mọi người cùng cười vang. Sau gần hai giờ đồng hồ, ngược đường 13 (bây giờ là đường 31) chúng tôi đến Trường bắn Quốc gia khu vực 1 thuộc xã miền núi Cấm Sơn. Chúng tôi tạm dừng chân để mượn thêm một số đồ dùng và chờ lệnh. Buổi chiều, trời mưa tầm tã. Chúng tôi nhanh chóng xếp dụng cụ và hàng hóa lên xe. Con đường đất đỏ khi nắng thì bụi mù mịt, đỏ quạch nhưng mới qua một trận mưa mà những đoàn xe tải, xe kéo pháo đi qua con đường đã trở nên lầy lội, trơn và nhão nhoét. Chúng tôi phải đi trong đêm! Qua khỏi địa điểm tập kết chừng 12 ki-lô-mét, xe bị sa lầy. "Thầy tớ" chúng tôi xắn quần, đội mưa bốc bớt hàng hóa và dụng cụ cho xe đỡ nặng. Chúng tôi dồn sức rồi cùng hô "Hai... ba... nào!, nhưng chiếc xe vẫn ì ra đấy. Những bó củi được mang xuống để "Cài cầu" cho xe nhưng tình hình cũng chẳng khá hơn. Càng cố vượt ra khỏi vùng lầy thì xe càng bị "pan". Những tiếng thở gấp gáp. Quần áo ai cũng dính bê bết và ướt sũng vừa nước mưa vừa mồ hôi, nhưng chắc là không ai còn tâm trí để ý đến. Đêm càng sâu, càng đen đặc lại. Thời gian lặng lẽ trôi đi. Thỉnh thoảng lại có tiếng thở dài trong đêm. - Nếu không đến địa điểm quy định trước 3 giờ sáng thì không bảo đảm bữa sáng ngày mai cho bộ đội. Đồng chí Trưởng phòng lo lắng. Một bầu không khí căng thẳng bao bọc quanh chúng tôi. - Hay là điện về Sở chỉ huy xin chỉ thị? - Có ai đó lên tiếng. Vừa lúc đó xuất hiện một chiếc xe cẩu hàng. Không biết anh trung đội trưởng của chúng tôi nói gì với anh lái xe cẩu mà tôi chỉ nghe được một giọng nói rất vang và ấm: - Các cậu yên trí, tránh cả ra để tớ "lôi" nó lên cho. Ngày xưa tớ cũng đã từng là lính vận tải đấy? Khi chiếc xe cẩu đã chạy xa hút rồi chúng tôi mới giật mình, chẳng một ai kịp hỏi tên anh. Thế là chúng tôi đến An Sinh (Đông Triều - Quảng Ninh) lúc 1 giờ 30 phút sáng... Trời vẫn mưa! Chúng tôi ai vào việc nấy. Những bó củi chống lầy cho xe giờ dính bùn bê bết. Phương vừa rửa củi vừa nấu cơm sáng. Củi ướt – hai chị em loay hoay nhóm, loay hoay quạt. Mắt cay xè vì khói. Mặt mũi, chân tay lấm lem vừa bùn vừa nhọ. Hai chị em nhìn nhau cười mà mắt nhòe nước. Bắt đầu một ngày như thế. Chúng tôi đến Trại Mít. Gọi là Trại Mít nhưng ở đây chỉ là một mỏm đồi cao, tịnh không có một cây mít nào. Có lẽ cái tên này gắn với một sự tích nào đó! Đường từ An Sinh đến Trại Mít phải qua tám khúc suối. Con đường do đơn vị Công binh 219 mới mở. Đó là một lối vừa đủ cho xe ôtô chui qua dưới tán rừng xum xuê và lởm chởm đá. Càng đi vào sâu, con đường càng trở nên âm u. - Nếu thả mình ở đây chắc là không ra nổi- một cậu lính trẻ bâng quơ. Các anh, chị lớn tuổi, mỗi người dường như đang theo đuổi những ý nghĩ, những trăn trở riêng. Phong "hạc" và Nam "béo" ngủ gà ngủ gật. Tôi bị cuốn vào sự thích thú của cánh lính trẻ mỗi khi xe lội qua suối hay nghiêng nghiêng theo triền núi. - Chị ơi! Hay là chị em mình hát đi - Cậu Hiệu, lính mới tò te đề nghị. - Ừ, tôi hưởng ứng. - Thế thì em hát trước rồi chị hát theo nhé. Không chờ tôi trả lời, cậu ta cất giọng giả con gái. "Chân em đi trong yêu thương lắm lối nhưng em chọn lối này, em đây chọn lối này thôi!". Bất ngờ, chiếc xe chồm lên, dụng cụ va vào nhau loảng xoảng. Cậu Nam "béo" bị tung hê lên rơi gọn vào lòng chị Vân Anh! Chúng tôi được một trận cười nghiêng ngả! Buổi trưa ở Trại Mít trời nắng chang chang. Chúng tôi nấu ăn ở đỉnh đồi ngay gần một con suối. Bảy cái bếp cơ động đồng thời phát hỏa càng làm không khí nóng hầm hập. Chúng tôi, mỗi người được phân công phụ trách một phần việc. Tôi đảm nhiệm món canh cua. Sau khâu sơ chế (rửa, nhặt, giã, vắt, lọc), tôi bắt nồi lên bếp đun, nồi canh bắt đầu sôi thì có lệnh chuyển địa điểm đến chỗ mới cách đó chừng 1,5 ki-lô-mét. Thế là chúng tôi hối hả chuyển tất cả lên xe. Tôi kiếm cái chăn bông quấn kỹ xung quanh nồi canh cua cho đỡ bỏng. Đoạn đường có 1,5 ki-lô- mét mà sao dài thế, đã vậy lại xóc kinh khủng. Tôi khư khư giữ xoong canh để nó đỡ bị nghiêng nhưng đến nơi, mở ra thì nó đã bị sóng ra và hút vào cái chăn bông gần một nửa! Nước mắt tôi ứa ra. Đó cũng là lần đầu tiên tôi biết thế nào là diễn tập thực binh. Sau hàng loạt những tiếng nổ ùng oàng của mìn và cả những tiếng đạn xé gió chíu chíu, "quân xanh" bắt đầu đổ bộ. Từng tốp từng tốp "địch" chui ra từ cái bụng to tướng của những chiếc máy bay. Những cảnh này tôi tưởng chỉ có thể nhìn thấy trên phim hoặc qua những câu chuyện chiến đấu mà bố kể. Không nén nổi tò mò, tôi ấn đôi đũa đang đảo nồi thịt cho bữa chiều vào tay Phong nói nhanh: - Cậu giúp tớ, tớ đi xem một lúc! Không chờ Phong kịp phản ứng. Tôi ào đi. Chọn ruột chạc cây cao nhưng kín trong vòm lá, tôi vắt vẻo, yên tâm ngồi quan sát. Đang rất say sưa, chợt tôi nghe có ai đó gọi mình ở phía dưới. - Cậu ở đâu, Hoài ơi...! - Em ở đây! Tôi đáp khẽ và "nhảy dù” xuống đất. - Úi giời ơi! Con khỉ... - Chị Anh giật mình, cốc cho tôi một cái đau điếng rồi nói như ra lệnh: - Về ngay! Chuẩn bị hành quân tiếp. Tổ chức phục vụ bữa trưa xong, không kịp rửa bát đũa, chúng tôi bốc tất cả lên xe để đến Hoành Bồ (Quảng Ninh). Đây là lần đầu đến địa danh này, dọc đường lại thưa dân, chúng tôi vừa đi vừa hỏi đường. Con đường gập ghềnh, khúc khuỷu. Chiếc xe liên tục bị chồm lên rồi hẫng xuống, có lúc lại lắc lư chao đảo. Chúng tôi ngồi sát vào nhau cho đỡ nghiêng ngả, thế mà thỉnh thoảng những cái đầu lại “cục" vào nhau kèm theo những tiếng xuýt xoa. Những dụng cụ bằng nhôm và bằng inôx bị xóc lên dằn xuống kêu lạch cạch, loảng xoảng. Mấy chị em nữ chúng tôi bị say xe mỗi người một tư thế. Chị Phương nôn thốc nôn tháo.Thấy thế, anh -Luân thở dài: - Thế này thì lát nữa làm sao nấu được bữa chiều. Tôi đọc được trong giọng nói của anh cả sự lo lắng, băn khoăn vội nói: - Anh yên tâm, chúng em môi người cố gắng một chút là sẽ ổn thôi mà. Đến được địa điểm mới thì đã 16 giờ 15 phút. Chỉ có 75 phút để vừa tiếp phẩm vừa tổ chức nấu bữa chiều cho 120 xuất ăn. Chúng tôi nhanh chóng thống nhất phân công mỗi người một việc. Chị Anh đun nước uống, nước canh và nấu cơm. Tôi ốp trứng. Nam, Phong, Hoan và hai đồng chí chiến sĩ nhanh chóng dỡ hàng và dụng cụ để giải phóng xe đi tiếp phẩm. Anh Luân và Nam đi chợ. Số còn lại chia đôi, hai người làm rau, hai người bày bàn. Chúng tôi khẩn trương hối ha trong tư thế "chạy nước rút" với thời gian. Đến 17 giờ 30 phút mọi công việc đã hoàn tất. Có điều, sự gập ghềnh, dằn dỗi của con đường từ Trại Mít đến Hoành Bồ đã biến xoong thịt kho tàu thành xoong thịt vụn! Sau bữa ăn có ai đó nói như trách móc? - Ừ, hôm nay nhà bếp cho ăn món đặc biệt: "thịt hộp"!. Lòng tôi thoáng nặng trĩu! Đêm xuống. Một ngày đã qua. Chắc rằng, những gian khổ, vất vả đang chờ tôi vào ngày mai, vào những ngày trong đợt diễn tập này. Thấm thoát đã 7 năm có lẻ sau cái ngày đầu tiên đi phục vụ diễn tập ấy. Đã thành lệ, mỗi lần về thăm nhà, tôi lại kể cho bố mẹ nghe về những miền quê đã đi qua, những tên người tên đất vừa quen vừa lạ. Tôi còn nói cho mẹ biết về công việc đã quen, về những chuyến đi tôi không còn nhớ rõ. Kỷ niệm đã trở thành hành trang nhưng, sau mỗi chuyến đi lòng tôi lại háo hức chờ đợi... - Cha bố chị, Con gái mà giống bố, lúc nào cũng thích đi! - Mẹ lại "mắng" tôi. Tôi gục đầu vào ngực mẹ, lòng cảm thấy nhẹ nhõm, bình yên. Tháng 11 năm 2002 Trại sáng tác văn học Binh đoàn Hương Giang L.T.H
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 07:55:21 am gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #51 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:26:44 pm » |
|
NGUYỄN ĐÌNH TÚRẤT DÀI VÀ RẤT XA... Nhà âm, đó là một khái niệm không xa lạ đối với bộ đội phòng không. Còn tôi vốn quen sống trong "nhà dương", bây giờ mới có dịp được ngủ trong căn nhà âm trên một đỉnh đồi không cao lắm, trước cái lạnh đầu đông quả thật lạ lẫm và đầy cảm hứng tò mò. Gọi là nhà nhưng thực chất chỉ có mấy thanh kèo cột được dựng lên, mái thì lợp tôn và xung quanh là những tấm cót bao bọc. Quá nửa căn nhà ấy chìm sâu trong lòng đất, cửa thông với những đoạn hào ngang dọc dẫn ra các trận địa pháo. Cái "anh" pháo cao xạ bao giờ cũng vậy, cứ phải chọn đồi cao một tí, đơn độc một tí, nhưng cứ nhất thiết phải bắt cái bóng kiêu hãnh của mình xuống núi đồi. Mỏm đồi mà tôi đang có mật là trận địa trực chiến phòng không của đại đội 1. Đại đội này năm 1971 đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang. Đại đội 1 lại nằm trong đội hình của tiểu đoàn 1 . Tiểu đoàn 1 cũng được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang vào năm 1973. Tiểu đoàn 1 nằm trong đội hình của Đoàn Phòng không S73. Đoàn S73 lại cũng được nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang năm 2000. Hóa ra quanh khu vực Hố Vầu mà tôi tha thẩn mấy ngày hôm nay tới đâu cũng gặp anh hùng, đến đơn vị nào cũng là anh hùng, gặp khẩu pháo nào cũng hiểu là nó mang trên mình đầy chiến công. Và năm 1973, khi Đoàn Phòng không S73 còn đang đóng quân tại Quảng Trị đã vinh dự được đón Thủ tướng Cu Ba tới thăm. Chính trên những trận địa pháo còn sặc mùi thuốc súng đó, đồng chí Phi đen Catstrô đã giương cao lá cờ quyết thắng cổ vũ những người anh hùng chống Mỹ cứu nước, làm nức lòng cán bộ chiến sĩ toàn đơn vị. Mới đó mà đã mấy thập kỷ trôi qua. Những người lính pháo gần ba chục năm trước, liệu còn được mấy ai hiện đang công tác tại đơn vị? Với suy nghĩ ấy, tôi đã tìm và cuối cùng cũng gặp được một người lính cựu duy nhất còn "sót" lại. Người lính cựu ấy bây giờ đã tuổi ngũ tuần, lại giữ một trọng trách rất quan trọng của Đoàn Phòng không S73, đó là thượng tá, chỉ huy trưởng Đồng Văn Huế. "Vào những ngày tháng tư năm bảy nhăm, anh ở đâu và làm gì?”, tôi hỏi anh Huế và trong đầu cố mường tượng ra cảnh Binh đoàn Hương Giang cùng các binh đoàn khác đang thần tốc tiến vào Sài Gòn để tham gia trận quyết chiến cuối cùng giải phóng miền Nam. - Khi ấy tôi mười chín tuổi, bằng tuổi của những tân binh bây giờ - Anh Huế khẽ kháng tâm sự - Tôi là A trưởng A chỉ huy của đại đội 27, tiểu đoàn 6, đơn vị 245 Đoàn Phòng không S73, A chỉ huy của chúng tôi gồm có bốn chiến sĩ thông tin, bốn trinh sát, hai đo xa, nhiệm vụ của A là phục vụ trực tiếp người chỉ huy quyết định các trận chiến đấu cho đại đội. Đại đội của chúng tôi lúc ấy có bốn khẩu pháo 23 ly do bốn xe kéo, đi theo mũi Tây Thừa Thiên. Tới Ngầm Truồi, trong khi chúng tôi đang rải người ra để thực hiện nhiệm vụ thì một quả lựu đạn pháo 175 từ Phá Tam Giang kích vào hõm đá, chụp xuống tiểu đội. Lúc ấy tôi đang rải dây thông tin, sau tiếng nổ lao lên thấy bốn đồng đội của mình đã hy sinh, thi thể văng mỗi nơi một mảnh, đại đội trưởng cũng bị mảnh pháo xé nát đầu và ngực, chết ngay trên tay tôi, toàn thân vẫn còn ấm nóng. - Đó là những cái chết đầu tiên mà anh được chứng kiến kể từ khi vào chiến trường phải không?
|
|
|
|
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #52 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:27:44 pm » |
|
- Vâng, lần đầu tiên. Chỉ có một người là còn nguyên vẹn, bốn người kia phải ghép những mảnh xương thịt lại để mai táng. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh người đại đội trưởng của tôi. Anh ấy quê Thái Bình, ba mươi sáu tuổi, chưa có người yêu, rất to khỏe. Khi tôi ôm lấy anh, hình như anh muốn nói với tôi điều gì đó mà không còn đủ sức để nói. Rồi cứ thế anh xấu đi. Pháo địch vẫn tiếp tục kích tới. Cái loại 175 - Vua chiến trường ấy kinh khủng lắm. Các lỗ kích gần nhau san sát, chi chít khắp xung quanh chúng tôi. Chẳng hiểu sao tôi lại sống được? Cho đến khi tiến vào giải phóng Sài Gòn, A chỉ huy của chúng tôi là một A thiếu, đơn vị đang thần tốc hành tiến nên không còn kịp bổ sung nữa. Lúc ấy chúng tôi cũng không có nhiều thời gian để mà nghĩ ngợi về cái sống và cái chết. Trong đầu chúng tôi chỉ nghĩ đến chiến đấu sao cho hiệu quả nhất, thực hiện các mệnh lệnh của cấp trên sao cho chuẩn xác nhất. Và cứ nghĩ đến chiến thắng! - Từ Huế vào đến Sài Gòn bốn khẩu pháo 23 ly của các anh có nhả đạn lần nào không? - Nhiều chứ! Qua năm nhăm ngày đêm chiến đấu liên tục kể từ khi bắt đầu chiến dịch, tham gia giải phóng Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Phan Rang, Phan Thiết và cuối cùng là Sài Gòn, Đoàn Phòng không S73 của chúng tôi trong đội hình tiến công của Binh đoàn Hương Giang đã đưa 280 xe, 142 khẩu pháo và các phương tiện chiến đấu khác vượt qua chặng đường dài hơn 1.000 ki-lô-mét, nổ súng chiến đấu 150 trận, bắn rơi 27 máy bay, bắn cháy 10 tàu chiến, diệt trên 500 tên địch kia mà. Riêng đại đội pháo của tôi cũng nổ súng nhiều lần. Pháo 23 ly có tầm bắn hiệu quả từ 2.500 đến 3.000 mét, bắn xa là 5.000 mét. Nó có chức năng tiêu diệt các loại mục tiêu trên không nhằm bảo vệ đội hình bộ binh tiến công và khi được phép thì có thể hạ nòng bắn các mục tiêu mặt đất, mặt nước. Tôi còn nhớ mãi hôm hai chín tháng tư. Khi ấy chúng tôi hành quân đến phà Cát Lái. Các loại pháo của ta đã bắn "dập đầu" pháo địch, sức đề kháng của chúng gần như tê liệt. Nhưng rồi bầu trời Sài Gòn bỗng tràn ngập trực thăng địch chở tàn quân di tản. Thế mà bọn địch ở mặt đất lại tưởng Mỹ đổ quân vào ứng cứu, chúng liền đồng loạt ngóc đầu lên. Tàu địch trên sông cũng quay trở lại bắn vào đội hình đang tiến của ta. Trước tình huống ấy, bốn khẩu pháo của chúng tói đã hạ nòng xuống bắn thẳng vào tàu chiến địch, rồi bắn vào các ổ đề kháng ở bên kia sông, hỗ trợ cho các đơn vị của ta qua phà tiến vào nội đô Sài Gòn. Mười một giờ ngày ba mươi tháng tư chúng tôi sang được phà Cát Lái, cứ thế tiến thẳng đến dinh Độc Lập. Bây giờ nghĩ lại những ngày hào hùng đó, tôi thấy mình là người hạnh phúc vì đã được chứng kiến những phút giây lịch sử thật huy hoàng của dân tộc. - Và anh tiếp tục theo đơn vị từ ngày đó đến nay? - Giải phóng miền Nam khi tôi vừa bước vào tuổi đôi mươi. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đến việc mình sẽ được trở lại quê nhà, được tiếp tục làm ruộng rồi sẽ lấy vợ như bao chàng trai khác. Nhưng đơn vị lại cử tôi đi học. Tôi còn tiếp tục tham gia một vài chiến trường, công tác ở một vài đơn vị khác nữa rồi mới quay trở lại Đoàn Phòng không S73. Thế là cả đời tôi gắn với đồi và núi. Cả đời tôi gắn với câu ca Rất dài và rất xa...
Cả hai chúng tôi đều cười trước ca từ mà anh vừa dẫn ra. Lính pháo phải cảm ơn nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và nhà thơ Bùi Công Minh rất nhiều vì họ đã để lại một bài ca bất hủ, có thể gọi là "binh chủng ca" của những chàng trai chân sắt vai đồng. Tôi quay sang hỏi anh Huế: - Đoàn Phòng không S73 của ngày hôm nay có thay đổi gì so với chính nó hai mươi bảy năm về trước không anh? Anh Huế lắc đầu: - Cơ bản không có gì thay đổi, chỉ rút gọn hơn cho phù hợp với thời bình thôi. Và chúng tôi không gặm nhấm quá khứ. Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang mà chúng tôi vừa nhận là phần thưởng cho thời kỳ đổi mới. Hôm qua hay hôm nay thì vẫn là không thay đổi bản chất anh hùng. Phẩm chất ấy không dễ gì có được và cũng không dễ gì mất đi.
Tôi tiếp lời anh: "Thế còn những chiến sĩ của anh bây giờ thì sao, có nét tương đồng nào với chàng trai binh nhì Đồng Văn Huế năm xưa không?". Anh Huế bảo: "Cái đó thì anh cứ lên trận địa với anh em, có lẽ anh sẽ cảm nhận được nhiều hơn những gì mà tôi muốn nói".
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 08:04:32 am gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #53 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:28:38 pm » |
|
... Đó chính là lý do mà tôi đến với những mỏm đồi cao trên dưới nghìn mét, đến với căn nhà âm lạnh lẽo chôn nửa mình dưới lòng đất này. Trăng ló rạng nơi xa xa kia, hắt ánh vàng xuống những nòng pháo một thời oanh liệt. Dưới chiến hào tiếng hát của các chiến sĩ trực chiến thuộc trung đội 2 lan trong không gian, theo gió vọng khắp triền đồi. Pháo anh lên đồi cao nã vào đầu giặc Mỹ, bục giảng dưới hầm sâu em cũng là chiến sĩ, ngày và đêm xa nhau đâu chỉ dài và nhớ... Tôi nhìn sang mỏm đồi phía bên tay phải mình. Ở đó cũng có một ánh đèn leo lét, mờ nhạt hắt lên từ đâu đó dưới lòng đất. Nơi ấy là trận địa của đại đội 2. Hôm qua tôi đã leo lên mỏm đồi đó để xem các khẩu đội tập hiệp đồng chuẩn bị chiến đấu. Trong giờ nghỉ, khẩu đội trưởng khẩu đội 3 Trần Hải Vinh hỏi tôi: "Hà Nội đã rét nhiều chưa anh?". Tôi ngạc nhiên: "Sao Vinh lại quan tâm đến thời tiết ở Hà Nội?". Vinh bảo: "Mùa đông con gái Hà Nội ra đường ăn mặc rất đẹp". Thì ra vậy. Chàng hạ sĩ này sinh ra và lớn lên ở phường Thành Công, Ba Đình nên đi xa còn nhớ đến cả cái rét Hà Nội với những tấm khăn quấn cổ của thiếu nữ Hà Thành thì cũng là điều đương nhiên dù có hơi lãng mạn. Vinh sinh năm 1979, đã tốt nghiệp Trung cấp Tài chính, vào bộ đội được hơn một năm rồi, đã qua lớp huấn luyện khẩu đội trưởng. Lúc nãy tôi nghe Vinh nói về khóa nòng, thân pháo, máy nạp đạn, máy ngắm, máy hãm lùi, máy cân bằng, máy tầm, máy hướng, bệ pháo, xe pháo, chiếu sáng... tự tin và thành thạo lắm. Lại nghe Vinh hô khẩu lệnh đâu ra đấy, tay phất cờ đỏ, cờ trắng dứt khoát, gãy gọn chỉ huy các pháo thủ vào ra thao tác rất thuần thục từng động tác theo vị trí của mình. "Gào thét" bên những khẩu đại bác là thế mà rời khỏi trận địa đã nghĩ ngay đến con gái Hà Nội "vào đông" thế nào. Tôi hỏi Vinh: "Tết năm ngoái không được về có nhớ nhà không?”. Vinh cười: "Ăn tết ở nhà nhiều quá rồi nhưng tết lính có nhiều cũng chỉ xơi được có ba cái thôi. Không tranh thủ thì sau này có muốn cũng chẳng còn có hội". - Sao lại chỉ có ba cái thôi? - Thì khẩu đội trưởng như em thực hiện nghĩa vụ ba năm. Ra quân em sẽ đi theo cái nghề tài chính mà mình đã được học. Lúc ấy muốn ăn một cái tết lính chắc gì đã được?
Vinh thẳng thắn và hồn nhiên quá nhỉ? Mới ngày nào nhập ngũ, bạn bè còn đưa tiễn theo mấy chục cây số bằng một "thê đội" xe máy, rầm rộ như đi hội thể thao vậy. Và trong mắt bạn bè ngày ấy đứa nào cũng lo cho thằng Vinh thư sinh, mảnh khảnh không chịu nổi những tháng ngày quân ngũ. Ai ngờ nó lại thích ứng nhanh đến thế, mới có một cái tết thôi mà đã hạ sĩ khẩu đội trưởng rồi. "Nếu có điều kiện thì theo nghề binh chứ?", tôi hỏi. Vinh lắc đầu: "Em chưa nghĩ đến điều ấy, em vẫn xác định là mình đang thực hiện nghĩa vụ của một công dân đối với đất nước thôi". Điều ấy thì hẳn rồi. Dẫu sao thì sống trong thời bình cũng thật hạnh phúc. Mọi người có quyền lựa chọn hướng đi cho mình và đâu phải cứ tại ngũ mới là người lính. Khi đất nước cần thì mọi công dân đều là người lính kia mà. Vinh gật đầu đồng tình với tôi điều ấy. Rời trận địa, xuống tới chân đồi rồi tôi vẫn còn thấy Vinh đang phất cờ chỉ huy khẩu đội của mình diễn tập bên tháp pháo. Ngày nào họ cũng mải mê với những khẩu pháo của mình như thế. Còn bây giờ, dưới ánh trăng vàng như mật này, bên ánh đèn mờ nhòa hắt lên từ dưới lòng đất kia có Vinh đang ngồi đấy không? Mỏm đồi bên này tiếng hát đã tắt rồi. Giờ sinh hoạt đã hết. Các chiến sĩ của trung đội 2 đã vào vị trí của mình. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Thái đến bên tôi bảo: "Đêm nay anh thức cùng với pháo chứ?". Khiếp thật! Pháo mà biết thức cơ à? Như đọc được ý nghĩ ấy, Thái bảo: "Người thức là pháo thức. Anh đã thấy những quả đạn đặt bên mâm pháo rồi chứ? Nếu có mục tiêu cần tiêu diệt, pháo sẽ cất lên âm thanh của riêng nó".
Chàng thiếu úy trung đội trưởng này có lối diễn đạt hào sảng quá. Lúc chiều tôi đã được xem tấm ảnh cô bạn gái của Thái nơi túi cóc ba lô. Chỉ là một tấm ảnh kỷ niệm thôi, Thái bảo với tôi thế. Sao lại là kỷ niệm?. "Bọn em có cảm tình với nhau từ hồi học cấp ba, nhưng khi em chọn Học viện Phòng không để vào học thì cô ấy có vẻ buồn. Cô ấy sợ em phải đi xa. Bộ đội có mấy khi được ở gần nhà. Bây giờ thì quả là em đã ở một nơi rất xa cô ấy. Khoảng cách địa lý đã làm ngọn lửa được thắp lên trước đó yếu dần đi ..." .
Lại một câu chuyện tình man mác buồn thường gặp ở những sĩ quan trẻ. Tuổi trẻ bao giờ cũng đi liền với tình yêu. Và tình yêu có mấy khi thôi đỏng đảnh? Tôi đã không thể "thức cùng pháo" như lời rủ rê của Thái khi nãy. Tôi chui vào trong nhà âm tìm chỗ ngả lưng. Vừa chợp mắt được một chút đã nghe thấy còi báo thức rồi. Tôi cùng những người lính pháo rời mỏm đồi chưa kịp quên tên, rời căn nhà âm chưa kịp lưu hơi ấm để bàn giao trận địa trực chiến lại cho trung đội khác lên thay thế. Trên đường về sở chỉ huy, tôi thấy từng đoàn bộ đội đang hành quân lên những mỏm đồi để bắt đầu một ngày huấn luyện mới. Bóng họ lẫn vào với keo, bạch đàn và vải. Họ mất hút rất nhanh như thể đã hóa thân vào chút sắc xanh thưa thớt của núi đồi đang giăng mắc trước nền trời đông chuyển màu xám trắng. Và tiếng hát của họ như còn vương lại đâu đó quanh những triền dốc thoải, quẩn bên những tán keo bông vàng, ngập ngừng bên những chiến hào đầy hoa cỏ. Bỗng nhiên tôi cũng lẩm nhẩm hát theo họ, với những câu hát đã xưa cũ nhưng hôm nay, dường như, lại rất mới mẻ đối với tôi.
Rất dài và rất xa, là tháng ngày thương nhớ...
Hố Vầu, đầu đông 2002 N.Đ.T
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 08:06:01 am gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #54 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:30:57 pm » |
|
ĐỖ BÍCH THỦYMỘT NGÀY Ở ĐƠN VỊ XE TĂNG ANH HÙNG "... Xe tăng 843 do đại đội trưởng Bùi Quang Thận trực tiếp làm trưởng xe dẫn đầu, tiếp theo là xe 390 của chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn tiến thẳng vào Dinh Độc Lập. Xe 843 húc đổ cổng phụ, xe 390 húc đổ cổng chính, trung úy Bùi Quang Thận cầm lá cờ giải phóng chạy lên cắm trên nóc dinh tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Lúc ấy là 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975...". Hình ảnh này đã vĩnh viễn đi vào lịch sử oanh liệt của dân tộc, là niềm tự hào của nhiều triệu dân Việt Nam. Đó là những chiến công như thần thoại của đơn vị xe tăng 203 anh hùng. Năm 1975 lịch sử ấy cũng là năm đơn vị 203 tròn mười tuổi, cũng là năm đơn vị được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng là đơn vị đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp được nhận danh hiệu cao quý này. Và hôm nay, hai mươi bảy năm sau đại thắng mùa Xuân 1975, đơn vị 203 nằm trong đội hình Binh đoàn Hương Giang lại đang án ngữ ở một vùng phía Bắc Tổ Quốc. Chiến tranh đã lùi xa, và cũng đã rất xa chiến trường xưa, những cỗ xe tăng nặng vài chục tấn vẫn mang trên mình dấu vết một thời đạn bom khói lửa lại lặng lẽ giấu mình giữa một vùng núi non trùng điệp, mịt mờ sương khói... Tôi, cũng như nhiều người ở thế hệ lớn lên trong thời bình, khi đến với họ thì những vinh quang, oanh liệt một thời đã được lặng lẽ cất đi Cái phải đối mặt là những nhiệm vụ trong thời kỳ mới, không phải là nặng nhọc và vô cùng vất vả... C26 sửa chữa, một trong 5 đại đội trực thuộc của đơn vị, một trong những cánh tay không thể thiếu của kíp xe tăng khi lên đường - đầu giờ chiều một ngày đầu đông. Ở rừng, mùa đông đến sớm. Trời hanh và gió nhưng vẫn không át nổi mùi dầu mỡ sực lên. Trong xưởng có hai chiếc T34 đang được tháo dỡ bảo dưỡng định kỳ. Trưởng nhóm sửa chữa chiếc thứ nhất là thiếu úy Nguyễn Ngọc Trường - thợ sửa chữa cơ tăng. Cùng với Cường còn hai thợ sửa chữa cơ tăng và một thợ sửa chữa điện tăng nữa là Trần Văn Phương, Nguyễn Văn Trung và Nguyễn Minh Hùng. Bốn người là một nhóm để tiến hành tất cả các khâu của quy trình bảo dưỡng một chiếc xe tăng theo định kỳ. Bốn người bọn họ, làm việc liên tục cả ngày nghỉ, trong vòng nửa tháng đến hai mươi ngày thì hoàn tất ruột chiếc xe. Mỗi năm, chỉ riêng bảo dưỡng đã có 9 - 10 chiếc xe tăng được đưa vào xưởng. Mỗi lần bảo dưỡng đều phải trải qua các giai đoạn tháo dỡ động cơ và các bộ phận khác bên trong xe cạo gỉ lòng xe, hiệu chỉnh các thông số kỹ thuật, thay các bộ phận hỏng hóc, xuống cấp. Phương dẫn tôi sang chiếc xe tăng thứ hai, một nhóm bốn người khác đang làm việc, chiếc xe này đã được tháo dỡ xong, hai người đang cúi lom khom trong lòng xe, cạo gỉ bằng một dụng cụ chuyên biệt. Gỉ sắt rơi thành từng đống dưới nền bê tông. Phương bảo, cạo gỉ xong phải rửa một lượt bằng dầu, lượt tiếp theo dùng bàn chải sắt, đánh bằng xà phòng và nước sạch, xong bằng ấy công đoạn đã mất đứt ba ngày. Tôi hỏi thiếu úy Nguyễn Ngọc Trường: - Tháo toàn bộ phần "ruột xe" ra thì phải vặn bao nhiêu cái ốc? Cả tổ cười rộ lên: - Ôi trời, ai mà đếm được. Có mà hàng thúng. Trường nói thêm: - Chỉ riêng số cờ-lê dùng để mở được hết các con ốc đã lên đến hơn một trăm loại rồi chị ạ. Có những con ốc ở các vị trí đặc biệt thì phải có loại cờ-lê chuyên dụng, cờ-lê hình chừ Z hoặc chữ L mới lách vào được. Phương chỉ cho tôi xem một khay ốc mới được tổ bên kia tháo ra. Đúng là "một thúng" ốc thật. Thế này thì ai mà nhớ được có bao nhiêu chiếc ốc lớn ốc bé, ốc mẹ ốc con đã từng qua tay mình. Và phải mất đứt một ngày rưỡi với bốn người cho phần vặn các con ốc. Tất cả đều làm bằng tay, dùng sức người là chính. Tháo ra đã khó, lắp vào càng vất vả, vì khi lắp còn phải hiệu chỉnh lại các thông số kỹ thuật cho chuẩn xác. Hình như do suốt ngày tiếp xúc, hít thở các loại dầu mỡ nên da dẻ ai cũng xanh tái như người sốt rét. Khẩu trang cũng không thấy đeo, có người bảo, đeo khẩu trang một lúc còn chịu được chứ đeo cả ngày khó chịu lắm, mà ngửi mùi dầu mỡ nhiều năm nay rồi nên cũng quen. Cái vất vả của người thợ sửa chữa không ai tính được, số lượng công việc cũng không gạch đầu dòng liệt kê ra được. Ấy nhưng khi ra trận, khi kíp xe tăng được ngồi trong khối sắt lừ lừ lao thẳng vào quân địch, nã pháo ùng oàng thì mấy anh lính thợ lại không được hưởng cái cảm giác trực tiếp tấn công kẻ thù, đành ngậm ngùi chịu "phận". Trường cũng như Phương, Hùng, Trung đều ít nói. Hỏi đâu trả lời đấy. Không thấy ai kêu khổ, kêu vất vả Dường như hàng trăm bộ phận trong chiếc xe tăng này đã quá thân thuộc với họ. Mỗi chiếc xe tăng ở đơn vị này, dù thuộc loại nào cũng đều đã kinh qua chiến đấu. Nghĩa là chúng đều đã mang trên mình một câu chuyện lịch sử có thể giống hoặc không giống nhau. Chính vì thế mà mỗi khi nhận về xưởng một chiếc xe tăng là T34 hay T54, T59 mỗi người trong xưởng đều có một tư thế nâng niu, trân trọng. Chiếc ghế trưởng xe đã rách một miếng da này có thể người ngồi trên nó đã hy sinh, ô kính nhỏ hơn bàn tay trước ghế lái kia có thể vẫn còn vương vài giọt máu đồng đội trong một trận tấn công quyết liệt nào đó. Phương kể, nhiều lần, khi tháo dỡ xe bảo dưỡng anh em thợ vẫn còn nhặt được vài viên đạn các loại giắt trong các khe, kẽ. Đó là đạn đã được sử dụng trong một trận đánh nào đó gần ba mươi năm trước còn sót lại. Khi kíp xe ở lại doanh trại huấn luyện tại chỗ thì thợ sửa có việc trong xưởng, khi xe đi dã ngoại thì thợ sửa cắp "tráp" đi theo, bất kể mưa nắng, nóng nực hay giá rét thì anh thợ sửa chữa vẫn như một bác sĩ cơ động, xe trục trặc ở đâu thì ngả đồ ngay ra đấy mà mổ xẻ. Cũng ở C26 này đã có một sáng kiến giúp ích rất nhiều cho việc huấn luyện chiến sĩ mới, đó là mô hình mạch điện thân xe T54. Trước đây, khi huấn luyện cho anh em chiến sĩ mới, giáo viên phải mô tả bằng cách vẽ lên giấy, thậm chí phải chui vào xe, thì lần này chỉ cần sử dụng mô hình này là sau đợt huấn luyện chiến sĩ đã có thể nắm được toàn bộ mạch điện trên xe, có thể tháo lắp được các bình điện, sửa chữa khắc phục các trục trặc trong mạch điện...
|
|
|
|
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #55 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 03:32:41 pm » |
|
Sở dĩ tôi tiếp cận với cánh thợ sửa chữa nói ít làm nhiều trước khi đến gặp anh em lái xe là bởi trong thâm tâm tôi vẫn cho rằng, nếu không có những người thợ này thì những cỗ xe tăng nặng nề đã có tuổi thọ nhiều chục năm kia hẳn là không thể còn phát huy được sự dũng mãnh của nó. Thời gian và khí hậu khắc nghiệt ở nước ta không cho phép lơ là sự chăm sóc với chúng. Đến cả kính ngắm đêm và đèn hồng ngoại ở nhiều xe còn phải niêm phong, dán kín đê tránh sự hủy hoại của thời tiết miền núi khắc nghiệt. Anh thợ sửa chữa cũng như anh thông tin đảm bảo liên lạc, dù chỉ là một khoảng cách ngắn từ trưởng xe tới lái xe, pháo thủ thì cũng không thể hét lên bằng liệng trong tiếng gầm rú của động cơ; cũng như anh công binh dọn đường, lo cầu phà; cũng như anh vận tải chở đạn dược, lương thực thực phẩm; cũng như anh quân y lo sức khỏe cho từng thành viên đang ngồi trong lò nướng là chiếc xe tăng kia... đều không thể thiếu mỗi khi đoàn quân sắt thép này ra trận. Thậm chí chỉ là khi ra thao trường. Trước mỗi ngày chiếc xe lăn bánh, xích nghiến ken két trên đường bêtông, là tất cả năm bộ phận phục vụ này đã phải hoàn tất công việc.
Có những người đầu tiên phát minh ra một loại xe dũng mãnh như xe tăng không bao giờ tưởng tượng được rằng sau này nó sẽ được sử dụng trong những hoàn cảnh đặc biệt như thế nào. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược quân đội ta đưa xe tăng vào cuộc là trận đánh cứ điểm Tà Mây trong chiến dịch Khe Sanh năm 1968. Xe tăng 555 do trung đội trưởng Lê Xuân Tấu chỉ huy đã lừng lững xông thẳng vào cổng chính của cứ điểm mở đường cho bộ binh và công binh tiến vào tiêu diệt địch. Lần đầu tiên xe tăng xung trận, địch bất ngờ, bộ đội ta được tiếp thêm khí thế, chúng ta đã chiến thắng giòn giã. Đây là trận đánh mở màn của xe tăng đơn vị 203, là trận mở ra một truyền thống của Binh chủng Tăng Thiết giáp: Đã ra quân là đánh thắng. Sau này, có người phải thú thật rằng khi xe tăng ta lần đầu tiên ra trận, trong lòng họ lo lắng không tả xiết. Lần đầu tiên, bộ đội ta, từ nhân dân lao động mà ra, tiếp xúc, sử dụng với một loại vũ khí hiện đại, liệu rồi vận mệnh của trận đánh đầu tiên sẽ ra sao? Nói dại, nhỡ có thất bại thì những trận sau tinh thần anh em chiến sĩ sẽ giảm sút đi rất đáng kể. Sau trận đánh chiếm Tà Mây, bộ đội ta tiếp tục tiến đánh căn cứ Tà Vây của địch. Lần này những cỗ xe tăng cồng kềnh nặng nề đã lội hẳn xuống lòng sông Sê Pôn. Con sông Sê Pôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông có đoạn dốc đứng, một lần nữa địch hoàn toànbất ngờ, không thể tưởng tượng được xe tăng ta có thể vận động được theo hướng này. Và lần thứ hai tác chiến hiệp đồng binh chủng, xe tăng 203 lại giành chiến thắng. Cho đến tận ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến, chiếc xe 843 hùng dũng húc đổ cổng sắt Dinh Độc Lập lại một lần nữa in đậm và mãi mãi khắc ghi vào lịch sử dân tộc hình ảnh của một binh chủng đã ra quân là đánh thắng.
Đó là chuyện hôm qua.
Trong một chiếc T54 mang phiên hiệu 060 tại đại đội 2, tiểu đoàn 1 có thiếu úy Đoàn Đình Nghĩa - trưởng xe, chuẩn úy Trịnh Văn Cường - lái xe, chuẩn úy Nguyễn Văn Dũng - pháo thủ và hạ sĩ Nguyễn Tiến Anh - nạp đạn. Đây là một kíp xe hoàn chỉnh. Trong khoang xe chật hẹp, các cửa chưa sập lại đã thấy đặc sệt mùi dầu mỡ đến nghẹn thở. Khi xe nổ máy, các của xe đã khép chặt, kín tới mức có thể ngập trong nước mà trong xe vẫn khô ráo, thì ngay lập tức cơ thể sẽ phải chịu tác động cùng lúc của: Bụi, rung, xóc, ồn với cường độ cực lớn và mắt cũng phải làm việc hết khả năng có thể. Mùa hè, nếu nhiệt độ bên ngoài 37 độ C thì trong xe phải lên đến 40 độ C, và sau ba giờ đồng hồ trong xe thì ai nấy đã mặt tái nhợt, có thể sút hàng kg trọng lượng vì mất nước. Chính vì cường độ hoạt động quá cao mà khẩu phần ăn của lính xe tăng phải lên đến 12.500 đ/ngày, cao gấp đôi so với lính bộ binh. Và việc tuyển chọn, huấn luyện lính xe tăng cũng phải đặt yếu tố sức khỏe lên hàng đầu. Trung tá Nguyễn Đức Long, Phó chủ nhiệm Phòng Chính trị đơn vị cho biết, mỗi đợt nhận tân binh về, sau ba tháng huấn luyện thì chỉ chọn được 15 đến 20 người là cùng, trong số 250 - 300 người. Những người đã qua tuyển chọn này tiếp tục qua một khóa đào tạo nữa rồi mới về đơn vị, rồi còn đứng ngoài ngắm nghía, lý thuyết chán chê mới được leo lên xe, vào đúng vị trí.
Con đường từ trục đường chính vào đơn vị chỉ khoảng 3 - 4 ki-lô-mét, đất đỏ sục lên bụi mù, trời mưa thì ngập ngụa bùn, thứ bùn vừa dẻo vừa mịn, bám vào lốp xe thì chỉ có cách dắt bộ. Một sĩ quan đưa tôi từ binh đoàn xuống giải thích: Chưa làm được đoạn đường này là bởi còn để cho xe tăng đi. Vì để chịu được độ nặng của xe và sức nghiến của xích thì ngoài nền đường vững chắc ra còn phải tăng vật liệu lên gấp nhiều lần so với đường nhựa hoặc bê tông thông thường, cũng như đòi hỏi kỹ thuật thi công khắt khe hơn nhiều. Cho đến nay, mỗi khi xe tăng rời đơn vị lên khu trường bắn cách đó mấy chục ki-lô-mét đều phải nhờ đến một loại xe chuyên dụng từ Bộ tư lệnh Binh chủng lên vận chuyển giúp để không làm hư hại đến đường giao thông chính. Mỗi chiếc KAMAZ như thế chỉ chở được hai chiếc xe tăng một chuyến mà cấp đơn vị, binh đoàn vẫn chưa thể tự trang bị được.
Họ đang giữ một khoản tài sản quốc gia trị giá nhiều tỉ đồng trong tay, và dù chỉ một mảnh kính ngắm bằng nửa bàn tay bị nứt vỡ thì muốn thay cũng phải nhập ngoại. Thiếu úy Trường tại xưởng sửa chữa cho hay, hầu như tất cả các bộ phận của xe, nếu muốn thay thế hiện chúng ta đều phải nhập ngoại (mà nhập ngoại với những loại xe sản xuất gần đây còn dễ chứ xe cũ, sản xuất cách đây vài chục năm thì càng khó). Cũng đã có nơi thử sản xuất xích xe nhưng chất lượng không thể đảm bảo như xích nguyên bản. Do vậy, áp dụng kinh nghiệm từ thời chiến tranh, khi xích xe xuống cấp, không đảm bảo độ an toàn nữa thì cánh thợ nhà ta gỡ tung toàn bộ xích ra rồi đảo lại vị trí, đặt mắt tốt bên cạnh mắt đã yếu, xe lại tiếp tục chạy. Việc tháo và lắp hàng trăm cái mắt xích xe tăng thật không thể đơn giản, Trường cho biết phải dùng búa loại 10 ki-lô-gam mà quai lớn mới đánh được các chốt xích tuột ra. Thử làm một phép tính, mỗi chốt xích phải quai ít nhất ba lần. Mười chốt xích là ba mươi lần, một trăm chốt xích là 300 lần, hai trăm chốt xích là 600 lần. 600 lần, 800 hoặc 1.000 lần cho một lần tháo gỡ hai tấm xích của một chiếc xe tăng thì với hàng trăm chiếc, đời một người thợ khi còn mặc áo lính ở đơn vị xe tăng này sẽ phải qua bao nhiêu quai búa? Bao nhiêu năng lượng đã tiêu hao chỉ riêng cho việc quai búa, chưa kể đến độ độc hại do tiếp xúc trực tiếp với dầu mỡ?
Núi rừng xanh thẫm đang yên ả bỗng chốc ngả nghiêng, không gian như bị băm vụn ra bởi tiếng xích sắt nghiến rợn người xuống mặt đường. Chiếc xe nặng nhọc sục vào đất đỏ thành từng quầng, từng quầng nối tiếp nhau, đặc sệt. Tôi đưa tay kéo thử cần lái trong chiếc xe tăng, chiếc cần gần như không nhúc nhích. Một trong số những lái xe bảo mỗi lần kéo như vậy là bốn mươi ki-lô-gam đấy. Một quả đạn pháo cũng nặng gần bằng ấy, mà mỗi người nạp đạn phải nạp mấy chục quả mới hết một cơ số đạn.
Họ chỉ còn rất ít thời gian để chăm cho luống rau, ao cá, vườn cây ăn quả. Trung tá Nguyễn Đức Long bảo tôi, sang năm, quãng tháng sáu tháng bảy cô lên thì tha hồ mà ra vườn bẻ các loại quả. Ở trên cao, thời tiết thất thường, tắt ánh mặt trời là rét căm căm, nhưng chỉ 8 - 9 giờ sáng, mặt trời lên là quả đồi trơ trọi lên cao lại hứng cho bằng hết cái nóng nực hanh khô. Lại có người bên đại đội quân y đùa, mùa này mà đi chọn vợ là chính xác nhất, bởi da dẻ các cô có đẹp hay không chỉ đem "phơi" dưới nắng này một ngày là rõ. Sau một ngày đánh vật với chiếc xe tăng ai nấy đều mệt mỏi, rã rời, bóng đêm xuống sớm, trả lại cho rừng núi, cho cả đơn vị sự yên tĩnh như chưa hề có những tiếng gầm rú của động cơ. Ngay sát với con hào cua doanh trại, bà con người Tày, người Dao, người Hoa vẫn đang cố vun nốt mấy gốc ngô đang đến độ trổ hoa. Bầu trời bình yên, mặt đất bình yên, cuộc sống đang trôi đi theo nhịp điệu đều đều, trôi đi như ngày như tháng, chỉ có những cỗ xe tăng và những kíp lái đã đổ mồ hôi bên trong nó là không một phút được ngơi nghỉ.
Có một giọng hát nào đó lanh lảnh vút lên giữa ruộng ngô: Anh bay lên trời em cũng đuổi / Anh trốn vào sao em cũng tìm / Em cũng một mình chờ anh tới / Mong đợi phương xa anh đến tìm... giọng hát ngưng lại một lúc, im bặt, rồi một giọng nam từ trong khu nhà của đại đội thông tin lại nối theo, khàn khàn: ới anh bộ đội ơi... nữa chứ! Tiếng cười đuổi nhau lan xa trên mặt ruộng ngô xanh mướt, lẫn vào đất trời đang buông rèm...
Binh đoàn Hương Giang Tháng 11-2003 Đ.B.T
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 08:07:28 am gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #56 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 04:10:06 pm » |
|
HOÀNG KIM THẤTDẤU ẤN NGƯỜI LÍNH ĐƠN VỊ 66 ANH HÙNG Chúng ta có chung niềm vui, niềm tự hào về bề dày chiến công oanh liệt hào hùng ngót nửa thế kỷ của đơn vị 66 Sư đoàn Vinh Quang mà các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã xây đắp nên. Ra đời từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, do yêu cầu phát triển lực lượng vũ trang lúc bấy giờ. Từ các đại đội độc lập, hình thành các tiểu đoàn Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Gô Tô (Ký con), Hoàng Diệu. Bằng trận đánh tiêu biểu vào thị xã Hà Đông ngày 20 tháng 3 năm 1947 đã trở thành ngày truyền thống của đơn vị 66. Là một trong những đơn vị ra đời sớm, lớn lên dưới sự lãnh đạo của Đảng, của cấp ủy sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng, sự tin yêu đùm bọc của nhân dân các địa phương, dấu chân người lính đơn vị đã in khắp mọi nẻo đường đất nước và trên đất bạn. Trong kháng chiến chống Pháp, đơn vị 66 đã tham gia hầu hết các chiến dịch lớn như Hòa Bình, Trung Lào, Quang Trung, Trần Hưng Đạo. Đơn vị được Bác Hồ về thăm năm 1955 và tặng cờ quyết chiến quyết thắng, lá cờ ấy là nguồn lực vô cùng to lớn, là tài sản tinh thần vô giá dẫn dắt bước chân cua người lính đơn vị bước tiếp trên chặng đường chông gai, vượt qua muôn ngàn thủ thách và chiến công sau lẫy lừng hơn chiến công trước. Cuộc trường chinh chống đế quốc Mỹ xâm lược, tên tuổi của đơn vị được đánh dấu bằng những nét vàng chiến công chói lọi như trận Plây Me 1965 trận đầu ra quân đánh Mỹ, đơn vị 66 đã cùng các đơn vị đánh bại lữ đoàn kỵ binh số 1 của Mỹ ở thung lũng Ia Đrăng trên chiến trường Tây Nguyên. Trận đánh Mỹ ở Ia Đrăng là trận đánh tiêu biểu vì ý chí quyết thắng của cán bộ, chiến sĩ đơn vị với tinh thần nắm thắt lưng Mỹ mà diệt, là ý chí biết đánh và quyết thắng là chiến công vang dội nhất, oanh liệt nhất, là điểm đỉnh sáng chói nhất của thời kỳ cả miền Nam đánh Mỹ. Chiến công của đơn vị là nỗi kinh hoàng của lữ đoàn kỵ binh số 1 được mệnh danh là Anh cả đỏ của Mỹ đã gây cho bọn xâm lược nỗi khiếp đảm, mà ngày nay còn chấn động nước Mỹ. Chiến công của đơn vị còn gắn với những địa danh Khe Sanh, Làng Vây 1968, đường 9 Nam Lào 1971, Thượng Đức 1974 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975. Có mặt ở những thời điểm lịch sử Mậu Thân 1968, ở mặt trận khốc liệt, nóng bỏng hè 1972 ở Quảng Trị, thử thách cam go ở Thượng Đức, cao điểm 1062 Quảng Nam - Đà Nẵng 1974. Cán bộ chiến sĩ Đơn vị 66 vào chiến dịch Hồ Chí Minh với nhuệ khí: Thần tốc, táo bạo, quyết thắng. Khí thế của Đơn vị thọc sâu trong đội hình của Binh đoàn thần tốc dọc Duyên hải miền Trung. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị 66 cùng Lữ đoàn xe tăng 203, cùng với lực lượng của toàn binh đoàn vượt qua chặng đường ngót ngàn ki-lô-mét tiến thẳng vào Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của chính quyền ngụy. Mũi tiến công của xe tăng 843 do đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy đến trước húc vào cánh cổng phụ, xe tăng 390 mang lá cờ giải phóng kéo lên đỉnh Dinh Độc Lập ngụy Sài Gòn lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng tháng 4 năm 1975. Lực lượng thọc sâu do đơn vị phó đơn vị 66 Phạm Xuân Thệ chỉ huy kịp thời có mặt tiến vào phòng khánh tiết bắt sống nội các Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Chính quyền ngụy Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ, miền Nam hoàn toàn giải phóng, kết thúc cuộc trường chinh giải phóng dân tộc suốt 30 năm. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị 66 một lần nữa vinh dự được chứng kiến thời điểm lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam trong niềm vui đại thắng Tổ quốc thống nhất. Chúng ta rất tự hào trong chiến công chung ấy, đơn vị có 66 tập thể được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều anh hùng tiêu biểu mà tên tuổi các anh được nhiều người nhắc đến, đó là anh hùng trong thời kỳ chống Pháp: Đặng Đình Hồ, Hoàng Khắc Được; anh hùng trong chống Mỹ: Lê Xuân Phôi, Trần Hữu Bào, Trần Công Đoàn. Còn có hàng ngàn đồng chí được công nhận là dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt xe cơ giới, dũng sĩ bắn máy bay. Với 2.040 đồng chí được tặng Huân chương Chiến công các loại, 7.667 đồng chí được tặng bằng khen, giấy khen trong chiến đấu, làm rạng danh tên tuổi của một sư đoàn thiện chiến. Chặng hành trình hơn nửa thế kỷ ấy, lớp lớp các thế hệ người lính đơn vị tiếp bước dưới ngọn cờ quyết thắng kế thừa, tiếp thụ những tinh hoa của cha anh đi trước, chắt lọc kinh nghiệm qua khói lửa của chiến tranh, biết rèn luyện mình không mệt mỏi, với mồ hôi trên thao trường cũng đúc lên thành thép đã làm nên chất lính của đơn vị. Suốt 50 năm, biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã đi qua, có người ở đơn vị thời gian ngắn, có người đã từng chiến đấu dăm bảy năm, cũng có người đã đóng góp công sức, trí tuệ, máu xương ngót vài chục năm, còn có người cống hiến trọn cuộc đời binh nghiệp cho đơn vị. Dẫu ngắn hay dài, mỗi người lính của đơn vị 66 đều có kỷ niệm của riêng mình về đơn vị anh hùng trong khói lửa chiến tranh hay trong hòa bình xây dựng đều có niềm vui, niềm tự hào là người lính đơn vị, biết trân trọng quá khứ, thuỷ chung tình đồng chí, trọn tình vẹn nghĩa với bạn bè, cùng chia sẻ sướng vui, gian khổ cùng đồng đội, đã không hề tiếc máu xương mà hy sinh phấn đấu vì danh dự của đơn vị anh hùng. Trong những ngày chúng ta gặp lại nhau hàn huyên những chuyện của hôm qua, chuyện về đời thường, chuyện về ngày mai. Trong những cuộc hội ngộ còn rất nhiều chiến hữu chưa có điều kiện gặp mặt, nhưng chúng ta không thể nào quên tên tuổi, địa danh, chiến công của họ, những gương mặt thân quen của đồng đội, đồng chí chúng ta, cùng vui buồn sướng khổ sống chết có nhau. Giờ đây, mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi cương vị công tác. Dù ở đâu! Làm gì! Chúng ta vẫn có chung niềm cảm xúc, niềm tự hào đã từng chiến đấu, xây dựng đơn vị qua các thời kỳ oanh liệt hào hùng với biết bao chiến công, bao kỷ niệm không thể phai mờ trong màu xanh quân phục bình dị, ở đó đọng lại niềm tự hào, nét đặc trưng chân dung người lính đơn vị 66.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 08:07:56 am gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #57 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 04:10:45 pm » |
|
Trong những ngày vui trong không khí hòa bình đất nước đi lên trong thời kỳ đổi mới, quân đội ta đang xây dựng chính quy, từng bước hiện đại, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ đơn vị 66 ngày đêm ra sức rèn luyện về mọi mặt để xứng danh người lính Cụ Hồ. Có được ngày hôm nay chúng ta kính cẩn nghiêng mình bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn các đồng chí của chúng ta đã anh dũng chiến đấu, hy sinh oanh liệt vì nước, vì dân. Tổ quốc trong lòng các anh, đồng đội vẫn luôn bên anh, các anh đã cống hiến tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì thống nhất đất nước, vì chủ nghĩa xã hội. Tên tuổi của các anh đã hóa thân vào mùa xuân vĩnh viễn, tên các anh mãi mãi là bài ca bất diệt mà các thế hệ mai sau không thể nào quên. Chiến công của các anh ở khắp mọi nẻo đường đất nước và ở cả đất nước Chăm Pa, đất Chùa Tháp. Ngay tại mảnh đất Vĩnh Phúc, nơi hiện tại đơn vị đóng quân, trong chiến dịch Trần Hưng Đạo cách đây 48 năm, trong cuộc đọ sức với quân xâm lược Pháp, các chiến sĩ của đơn vị 66 đã anh dũng chiến đấu, có người đã ngã xuống, góp phần tô thắm địa danh giàu truyền thống này. Còn vô vàn đồng đội chúng ta, có người để lại một phần cơ thể ở chiến trường, có người bị chất độc màu da cam của đế quốc Mỹ để lại di chứng cho bản thân và cho con cái phải gánh chịu, sự mất mát ấy là vô cùng to lớn.
Chúng ta tự hào về đơn vị 66 anh hùng, cái nôi đã nâng bước cho mỗi chúng ta và trong cuộc hành trình đầy gian khổ và vinh quang với truyền thống oanh liệt hào hùng ngót nửa thế kỷ qua. Lớp lớp cán bộ, chiến sĩ ta hôm nay hiểu sâu sắc rằng, thành quả mà chúng ta có được là sự kết tinh của một chặng đường hơn nửa thế kỷ, ở đó có cả mồ hôi, máu và nước mắt của các thế hệ cha anh, là tài sản không gì có thể so sánh được. Lớp người kế tục truyền thống đơn vị hiện nay xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ công lao to lớn của lớp cha anh đi trước đã làm rạng danh, tạo dựng cho đơn vị 66 anh hùng một vóc dáng oai hùng chứa đựng những tố chất đa dạng, sinh động tựa huyền thoại. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn cấp ủy, chính quyền, nhân dân các địa phương đơn vị đã từng đóng quân trên mọi miền đất nước và trên đất bạn Lào, Campuchia đã cứu mạng, che chở, giúp đỡ tận tình về mọi mặt và giành cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị một tình Cảm đặc biệt thật cao quý, thiêng liêng. Lớp cán bộ, chiến sĩ của đơn vị hôm nay xin nguyện làm tất cả những gì có thể để không phụ truyền thống đơn vị đã có Thời gian đi về phía trước để lại quá khứ đáng tự hào mãi mãi không chút mờ phai. Sự lấp lánh của những chiến công thực sự có ý nghĩa khi lớp người kế cận hôm nay biết trân trọng, kế thừa, tiếp thụ để phát triển. Tự nó sẽ có tác dụng củng cố niềm tin yêu cho thế hệ trẻ, tiếp thêm sức mạnh mới cho lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đơn vị say mê rèn luyện về mọi mặt vững bước tiến vào thời kỳ mới với niềm tự hào là người lính của đơn vị 66 anh hùng.
H.K.T
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 08:09:02 am gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #58 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 04:11:33 pm » |
|
NGUYỄN ĐÌNH TÚKHÔNG CHỈ LÀ KHOẢNH KHẮC Sau bộ phim Khoảnh khắc chiến tranh (kịch bản: Hà Đình Cẩn, đạo diễn: Trần Phi) ra mắt công chúng và được Giải thưởng Ban Giám khảo Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13, nhiều ý kiến cho rằng chỉ có điện ảnh quân đội làm phim mới điều được quân đông như thế, mới điều được xe tăng, pháo binh, tạo cảnh chiến trường thật như thế chứ các nhà làm phim bên ngoài thì chịu. Quả là nhờ có những thước phim như thế, thế hệ hậu sinh mới ít nhiều hiểu được thế nào là chiến tranh, dù chỉ là khoảnh khắc, dù chỉ là tiếp cận bằng nghệ thuật, bằng tâm thế của người ngoài cuộc. Còn tôi sau khi xem phim xong, cứ tò mò một câu hỏi: Không biết các nhà làm phim lấy bối cảnh ở đâu? Quân tướng ấy, xe pháo ấy, núi rừng ấy, khói lửa ấy, tiếng nổ ấy là thật hay giả, giữa thời buổi đất nước thanh bình này họ lấy đâu ra được những "chất liệu” ấy đề mà làm phim? Và rồi câu trả lời đã có khi tôi biết đạo diễn Trần Phi đã dẫn đoàn làm phim xuống "nằm" hằng năm trời ở Trường bắn Quốc gia khu vực I (TB1) để có được những cảnh quay đậm "sắc màu” chiến tranh như vậy. Và cũng nhờ điều này mà tôi biết thêm rằng trên đất nước ta vẫn còn những nơi đang diễn ra những hình ảnh thu nhỏ của "chiến tranh", vẫn còn những người lính đang hàng ngày sống bên bom rơi đạn nổ, vẫn còn những khoảnh rừng ám màu khói súng, những khoảng trời rền vang âm thanh chiến trận và chiến tranh không phải là thứ đã bị lãng quên đối với người lính thời bình. Trường bắn TB1 thuộc sự quản lý của Binh đoàn Hương Giang có diện tích rộng tới trên ba chục cây số vuông nằm trên đất của 84 thôn, 3 xã, 4 huyện, vắt qua hai tỉnh trung du và miền núi. Chỉ nghe các địa danh thôi đã thấy gợi lên toàn núi rừng xa xôi, heo hút. Nào Cầu Ma, Đèo Váng, Cống Lầu, Bản Chu, Bản Piềng. Nào Pò Khưa, Khuổi Bốc, Nà Danh, Nốc Mỏ, Đồng Cuồm, Suối Cai. Và địa danh ở đây gắn với rất nhiều "Sơn", như Biên Sơn, Giáp Sơn, Kim Sơn, Quý Sơn, Thạch Sơn, Sơn Động, Cấm Sơn. Phải rồi, hai từ Cấm Sơn lại làm người ta liên tưởng đến những câu thơ của nhà thơ liệt sĩ Thôi Hữu: Tôi lên vùng Cấm Sơn /Đi tìm thăm bộ đội / Đây bốn bề núi, núi / Heo hút vắng tăm người / Đèo cao rồi lũng hẹp/ Ngóng đợi tin xuôi ngược / Chỉ thấy mây xanh bát ngát trời... Hơn 50 năm trước Thôi Hữu lên Cấm Sơn với một "tình trai mạnh" như thế. Còn những ngày này, tôi lên Cấm Sơn, lên với Trường bắn TB1 với cái không khí náo nức của cảnh tượng: Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về... Quả là bộ đội hành quân ngập các nẻo đường. Họ đang đổ về các vị trí tập kết, đang lẫn trong sắc lá xanh của cây rừng, đang thấp thoáng bên những hầm hào công sự, đang mang vác gánh gồng mọi thứ trên đôi vai của mình. Họ đang tập dượt một chuyến đi vào chiến trường và sắp tới, sẽ thực hiện trên các tình huống của một cuộc chiến tranh giả định. Trường bắn TB1 là nơi diễn ra những đợt diễn tập của các đơn vị trong toàn quân với nhiều cấp độ khác nhau. Người lính không có thao trường chẳng khác gì nhà nông không có ruộng. Với trên ba chục cây số vuông này, các quân binh chủng đã có được một thao trường lý tưởng để “rèn quân luyện cán". Trường bắn TB1 có nhiều ải bắn dành cho nhiều nội dung diễn tập như xe tăng, pháo binh, bộ binh, phòng không... Để làm công tác đảm bảo cho việc diễn tập bắn đạn thật thành công, trường bắn có nhiều đơn vị làm công tác bảo vệ đường biên, bảo dưỡng trang thiết bị và nuôi dưỡng môi trường sinh thái. Những người lính làm nhiệm vụ này không đơn giản như chúng ta vẫn tưởng. Họ là những người lính luôn sống bên "khoảnh khắc chiến tranh". Các đơn vị diễn tập đến rồi đi, còn những người làm công tác đảm bảo ở đây hầu như ngày nào cũng sống với tiếng đạn nổ, tiếng quân reo, tiếng gầm rú của phản lực, tiếng xích sắt nghiến vào lòng đất, tiếng hô khẩu lệnh, tiếng thu phát tín hiệu thông tin, cùng với những âm thanh ấy, là những thắc thỏm lo âu tên sai đạn lạc luôn hằn ám lên từng khuôn mặt cán bộ, chiến sĩ nơi trường bắn bốn mùa heo hút gió này. Tôi đến đại đội tăng ngay sau khi đơn vị diễn tập vừa rút đi. Hàng dãy xe tăng còn đang nằm bên vạt đồi chờ bảo dưỡng duy tu để phục vụ cho những lần bắn sau. Thượng úy Nguyễn Văn Đông, đại đội trưởng, chỉ vào những vệt xích bám đầy đất đá bảo: “Anh xem, những con chiến mã già nua của chúng tôi sau mỗi lần xung trận bẩn thỉu như thế này đây. Chúng tôi lại phải làm vệ sinh cho nó, vỗ về chải chuốt cho nó thật bóng bẩy để rồi lại bàn giao cho đơn vị khác đến diễn tập. Bảo dưỡng duy tu nhưng anh "chàng" tăng này phải qua những công đoạn vất vả lắm anh ạ!". Tôi bảo: - Thì lấy nước phun rửa qua là xong, có gì đâu? Đông cười: - Không đơn giản thế đâu. Chúng tôi phải dùng búa tạ đập xích cho đất đá rời hết ra rồi dùng nước xà phòng phun rửa, kỳ cọ cho thật sạch cả trong và ngoài. Nhưng đấy mới chỉ là một công đoạn. Sau đó chúng tôi còn phải sửa chữa mọi hỏng hóc, bảo đảm cho xe ở tình trạng kỹ thuật tốt rồi mới tiếp tục đến công đoạn niêm động cơ và pháo súng. Khi niêm phải nổ máy cho xe nhiệt độ cao lên. Dầu nhớt phải đun qua cát, sôi bốn tiếng đồng hồ mới được múc ra để đổ vào các xy lanh đưa vào các máy. Với súng pháo lại phải kỹ càng hơn nữa. Chúng tôi phải dùng thông nòng đánh rửa nòng pháo sạch đến mức đưa vải trắng vào kiểm tra không còn một vết bẩn nhỏ. Sau đó tuốt dầu bo, rồi dùng than xoan đánh sạch những chỗ han gỉ (nếu có), cuối cùng lại dùng dầu bo và mỡ đun qua cát để niêm, đồng thời làm sạch chích khí. Kỳ công lắm! Đấy là chưa kể quá trình bơm dầu khí vào hãm lùi đẩy lên của nòng pháo, rất cực nhọc. Bốn, năm người làm trong hàng tháng trời mới xong. Có thế khi xung trận nó mới hạ gục được những mục tiêu cần tiêu diệt chứ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
phonglan
Thành viên

Bài viết: 500
Nụ hoa và cây súng
|
 |
« Trả lời #59 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2010, 04:12:21 pm » |
|
Đông nói say sưa về các bước bảo quản xe, đôi lúc hứng chí còn nhảy cả lên tháp tăng chỉ chỏ từng bộ phận cho tôi xem. Nhìn Đông không có dáng của một anh lính xe tăng vì anh eo vóc người thư sinh, mái tóc rẽ ngôi bên hơi điệu đàng, lại cả giọng nói nhỏ nhẹ như một anh giáo làng. Đông quê ở Hà Tây, năm nay ba mươi tuổi rồi. Đông bảo: "Năm ngoái có người đưa ra Chũ tán một cô học Trung cấp Y đang thực tập ở bệnh viện huyện. Ngay trong buổi nói chuyện đầu tiên cô ấy đã ngỏ ý là không muốn lấy chồng xa. Thế là mình đành phải nói dối mình là người Bắc Giang. Ai ngờ Hai hai tháng mười hai cô ấy mang hoa vào tặng, tới cổng trường bắn cứ hỏi "Anh Đông Bắc Giang", mọi người bảo ở đây chỉ có "Anh Đông Hà Tây thôi". Sau hỏi mãi người ta mới chỉ đến chỗ đại đội tăng. Hôm ấy thấy cô bé mang hoa đến tặng mà mặt cứ buồn buồn. Rồi cô ấy giận cho đến hàng tháng trời. Mãi sau này cô ấy mới bảo: "Ngay lần gặp đầu tiên anh đã nói dối em, mà bọn em thì rất tin bộ đội, hôm ấy em thất vọng ghê gớm!". Mình đành chống chế: "Anh làm thế vì anh đọc ở đâu đó một câu nói rằng nói dối là tội lỗi nhưng trong tình yêu thì nói dối có thể được tha thứ". - Anh tán gái cứ hay như trong phim ấy. Thế bây giờ chuyện của hai người tiến triển đến đâu rồi? - Tôi hỏi . - Có lẽ đầu sang năm bọn mình sẽ tổ chức. Nhiều thứ phải lo quá, quê thì ở xa, nhà cửa không có, đồng lương thượng úy không biết sẽ duy trì được cuộc sống gia đình ở mức nào?
Suy nghĩ của Đông cũng là suy nghĩ của rất nhiều sĩ quan trẻ đang phải sống xa nhà hiện nay, trong đó có tôi người viết bài bút ký này. Nhưng mà thôi, khó khăn thì lúc nào mà chẳng có. Cố gắng mà khắc phục. Rồi thì hạnh phúc sẽ đến, mọi thứ sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn, có tình yêu là may mắn rồi, có tình yêu sẽ có được tất cả kia mà, phải không chàng thượng úy thích "tầm chương trích cú?".
Rời đại đội tăng tôi muốn đến với những đơn vị bảo đảm còn lại nhưng đại tá chỉ huy trưởng trường bắn Vũ Đăng Bình bảo: Muốn đi hết khu vực trường bắn này phải mất hàng năm, ngoài các đơn vị bảo đảm còn các đơn vị bảo vệ, đơn vị trồng rừng, chưa kể các đội công tác bám nắm địa bàn, anh muốn đến với những người lính gác đạn hay đến với những người lính phủ xanh đất trống đồi trọc?".
Tôi biết gần chục năm qua các đơn vị trồng rừng của trường bắn đã trồng mới và khoanh nuôi bảo vệ rừng rất tốt, trung bình mỗi năm trồng mới được 300 héc ta, trồng dặm khoanh nuôi rừng tái sinh được 400 héc ta, gieo ươm hàng vạn cây con các loại. Nhưng cái việc trồng rừng nghe ra không có gì lạ, còn cái việc "gác đạn" là thế nào nhỉ?. "Chúng tôi có hai đơn vị làm công tác bảo vệ trường bắn - Đại tá Vũ Đăng Bình tiếp tục - Anh cứ thử hình dung trong mấy trăm cây số vuông này liên tục có các đơn vị đến diễn tập. Đã diễn tập là có bắn đạn thật. Đã bắn đạn thật thì có viên nổ, viên không, viên rơi trúng mục tiêu, viên ra ngoài đường biên. Làm sao để hạn chế đến mức thấp nhất những điều không may mắn xảy ra, thì đó là nhiệm vụ của các đội bảo vệ của chúng tôi". - Trong khi đó phạm vi khu vực trường bắn của các anh vẫn còn tám mươi tư thôn thuộc mười ba xã? Mà như anh nói, có những trận diễn tập phát triển tiến công chiều sâu tới hàng chục ki-lô-mét, có xe tăng, pháo binh và các loại hỏa lực khác tham gia. Thế thì các anh lo bảo đảm an toàn thế nào được?
Anh Bình không trả lời câu hỏi của tôi mà bảo: "Bây giờ chúng ta đi đến một nơi được coi là túi đạn để anh thấy những người lính của chúng tôi phải thức canh đạn như thế nào?".
Cái "túi đạn" ấy tưởng gần hóa ra cách sở chỉ huy trường bắn tới bốn chục ki-lô-mét. Mà là bốn chục cây số đường rừng. Cứ thấy xe lên đèo rồi lại xuống dốc, quẹo trái rồi lại quẹo phải, càng đi càng thấy hoang vu, càng thấy núi đồi giăng giăng trước mặt. Cuối cùng thì chúng tôi cũng đến được nơi ở của đại đội bảo vệ số 2. Có mình đại đội trưởng Hoàng Công Cán đang trực ở nhà. Anh bảo. "Đại đội prải ra đóng ở bốn vị trí khác nhau, cách nhau tới hàng chục cây số, có thể coi đây là xê bộ".
Phải rồi, hôm nay là ngày bộ đội phòng không diễn tập nên cả xê bộ cũng vắng, tất cả đều đang ở những vị trí canh đạn. Đại đội trưởng Cán bảo: "Anh em dậy từ hai giờ sáng, ai về vị trí của người ấy. Ở từng vị trí đảm nhiệm phải di dân ra khỏi khu vực mất an toàn trước sáu giờ sáng. Có khi bắn một buổi, có khi bắn cả ngày, có khi bắn đêm. Có lần nhận được kế hoạch là bắn trong buổi sáng. Cũng thông báo cho dân thế. Nhưng quá trưa vẫn chưa bắn xong. Các em học sinh không được chuẩn bị trước, đói quá, vào đại đội xin cơm. Anh nuôi đành phải chia cơm cho các em ăn rồi nấu cơm khác cho bộ đội. Gác dân đã khổ rồi, gác đạn còn khổ hơn. Ở trên đài quan sát chúng tôi đếm từng quả đạn một. Ví như cối lần này bắn sáu mươi quả. Lại chỉ nổ có năm mươi hai quả. Thế là chúng tôi phải đi tìm tám quả đạn chưa nổ để hủy. Hòn đạn nó đâu có mắt. Tính khí nó lại thất thường. Nó rơi vào nhiều chỗ rất oái oăm. Chúng tôi còn để sót một viên đạn nào là còn ăn không ngon ngủ không yên. Nó có thể gây nguy hiểm cho dân hoặc các đơn vị đến diễn tập sau. Mà để mất an toàn là chúng tôi không hoàn thành nhiệm vụ. Để hoàn thành nhiệm vụ đôi khi chúng tôi phải trả bằng máu. Công việc của chúng tôi nghe thì có vẻ rất đơn giản nhưng quả thực nguy hiểm và rất căng thẳng. Anh cứ ở đây với chúng tôi một mùa diễn tập thì anh sẽ thấy rõ hơn".
Chả phải ở đến một mùa diễn tập tôi cũng đã thấy quá rõ những gian lao vất vả của cán bộ chiến sĩ làm công tác bảo vệ ở đây. Mấy ngày vừa qua tôi đã lang thang ở nhiều chốt "canh dân", "canh đạn" và tôi còn thấy nhiều điều khổ cực khác mà đại đội trưởng Cán chưa nói hết. Ví như cái chuyện dân chui vào khu vực mục tiêu nấp trong công sự tự tạo để chờ bắn xong thì ào lên nhặt mảnh đạn chẳng hạn. Rồi cái chuyện tế nhị vào lúc hai, ba giờ đêm gõ cửa bảo vợ chồng con cái người ta đi ra khỏi đường biên mới nhọc nhằn, khốn khó làm sao. Rồi đạn bay vù vù trên đầu. Rồi đi tuần rừng không để dân chặt cây lấy củi, đốt cây làm nương rẫy... Cũng là bộ đội mà có mấy khi được ở trong doanh trại, toàn ở rừng, ở núi, ngủ tăng, ngủ võng, lắng nghe tiếng đạn nổ như nhẩm học thuộc bài, canh dân không vào đường biên như canh kẻ trộm không cho vào nhà mình, tìm đạn để hủy như tìm rắn tìm rết trong chăn. Trung úy Thọ, trung đội trưởng trung đội 1 bảo tôi: "Ngày em tốt nghiệp lục quân, vác ba lô lên đến đây thấy các anh chỉ huy đại đội đang ngồi uống nước ngoài trời với ngọn đèn dầu tù mù em ngán quá, nhìn ngang nhìn dọc chả thấy nhà cửa đâu chỉ lúp xúp vài căn chòi thấp tịt, xê bộ mà còn như thế thì các chốt cắm rải rác trong rừng sẽ tạm bợ đến đâu? May thay, sang tới đầu năm ngoái thì có điện. Và năm nay thì dãy doanh trại mới đã được xây. Tháng sau sẽ bàn giao. Thôi thì, sau những ngày ở rừng, về đến xê bộ được nằm trong cái nhà đẹp cũng thấy ấm lòng". Tôi nghe Thọ nói mà thấy lòng mình chùng lại. Đấy là Thọ còn chưa nói đến hành trình về nhà mỗi khi được nghỉ phép. Phải đi bộ từ tối hôm trước, mất hơn một tiếng đồng hồ mới ra tới đường cái. Xe thường chạy từ một giờ đến ba giờ đêm. Lỡ có ngủ quên bên đường trong khi đợi xe thì lại phải chờ đến đêm hôm sau mới có xe về. Đường sá như thế, nghĩ đến mà ngại. Chả lẽ có phép lại không về? Tôi băn khoăn: - Chẳng lẽ một trường bắn tầm cỡ quốc gia thế này mà cứ để kéo dài mãi cái chuyện "canh dân" hay sao? Trên đường trở về sở chỉ huy trường bắn, đại tá Vũ Đăng Bình đã trả lời cái điều mà tôi vẫn canh cánh trong lòng. "Có rồi, có cách giải quyết rồi. Chính phủ đã phê duyệt Dự án di dân tái định cư khu vực trường bắn, đầu năm tới sẽ bắt đầu tiến hành, dự án lớn lắm, tổng vốn đầu tư lên tới gần năm trăm tỷ kia đấy". Tôi ngạc nhiên: - Làm gì mà nhiều thế anh? Chỉ huy trưởng Bình hào hứng: - Hiện trong trường bắn vẫn còn 2.421 hộ với 13.176 khẩu cư trú. Bảy mươi phần trăm trong số đó là dân tộc ít người: Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ. Tính ra có 53 thôn đang cư trú và canh tác trong khu vực trường bắn, 31 thôn dân cư trú ngoài trường bắn nhưng có đất canh tác trong đường biên. Như vậy dự án di dân này chẳng khác gì di dân khỏi lòng hồ sông Đà, quy mô và tính chất mang tầm cỡ quốc gia, chúng tôi chỉ tham gia thực hiện một phần công việc thôi. Tôi được biết thực hiện dự án lần này sẽ triệt để hơn và chính sách đền bù cũng thỏa đáng hơn. Các hộ sẽ được phân loại, mỗi loại sẽ có cách tính đền bù khác nhau nhưng nhìn chung mỗi hộ sẽ được cấp từ 200 đến 400 mét vuông đất ở, một đến hai héc ta đất sản xuất, sẽ tính giá đền bù về nhà cửa, mồ mả, các vật dụng kiến trúc khác. Ngoài ra còn có các chính sách hỗ trợ như cấp tiền sử dụng điện, tiền di chuyển, cấp lương thực giai đoạn đầu, cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu để ổn định sản xuất. Rồi tại các điểm tái định cư sẽ phải xây dựng cơ sở hạ tầng tương ứng với thiết chế xã hội như trạm y tế, trạm điện, trường học, chợ, khu thể thao - văn hóa và các công trình công cộng khác. Dự án sẽ triển khai trong ba năm. Hy vọng đến năm 2005 cái việc canh dân của chúng tôi sẽ đỡ vất vả hơn. Tôi dè dặt hỏi: - Hình như vẫn có gì chưa ổn anh Bình nhỉ? Dân vẫn có thể ra vào trường bắn khai thác các nguồn lợi của núi rừng, quân ta ít, làm sao rải ra mà ngăn họ được? Chỉ huy trưởng Bình cười: - Vâng, đó chính là suy nghĩ của chúng tôi khi tham gia đóng góp vào dự án. Chính vì thế trong lần tu chỉnh cuối cùng dự án đã được bổ sung thêm phần xây dựng hệ thống đường biên. Khi trường bắn đã được khoanh lại bằng một đường biên hữu hình thì có nghĩa là cơ bản đã giải quyết được việc "canh dân", những người làm công tác phục vụ bảo đảm như chúng tôi chỉ còn tập trung vào việc làm sao cho các cuộc diễn tập đạt kết quả tốt. Thú thực với anh, tôi mong tới ngày được thấy một thao trường hoàn chỉnh, cũng như người nông dân ấy mà, ai chẳng mong có một khoảnh ruộng vuông vắn của riêng mình.
Suốt mấy ngày được đi với chỉ huy trưởng Vũ Đăng Bình dọc ngang khu vực trường bắn, tôi nhận thấy anh là người rất sâu sắc tỉ mỉ. Anh nắm rất vững địa hình, lại rất hiểu nỗi gian khó của những người lính làm công tác bảo vệ cũng như tâm tư nguyện vọng của người dân nơi đây. Anh bảo: "Ngày xưa đất đai sông núi là thứ bị bỏ quên, lại mấy chục năm chiến tranh kéo dài liên miên, bộ đội ở đâu chẳng được, huấn luyện chiến đấu ở đâu chẳng xong. Nhưng bây giờ đất đai đã được sở hữu hóa, người dân vẫn rất tốt với bộ đội nhưng không thể nào cứ nhập nhằng lẫn lộn giữa quân với dân được. Tôi biết nhiều đơn vị thiếu đất để xây dựng thao trường. Cũng mảnh vườn ấy quả đồi ấy, con sông ấy, ngày xưa bộ đội hành quân diễn tập qua đó suốt ngày đêm không sao, nhưng bây giờ sông suối, đất đai, núi đồi đều đã được thầu, đều đã có một người chủ cụ thể, một nhành cây một ngọn cỏ cũng đã là tài sản, là đồng tiền bát gạo của người ta, chẳng thể cứ "mượn", cứ "nhờ" mãi được. Chắc là Bộ và Chính phủ cũng đã thấy thực tiễn mới này. Việc Chính phủ phê chuẩn Dự án xây dựng Trường bắn TB1 là điều rất đáng mừng đối với chúng tôi cũng như với các đơn vị về đây huấn luyện. Nói thật với anh, cứ mỗi khi nghe thấy có tiếng đạn nổ là tôi lại hồi hộp. Chuông điện thoại reo là tôi lo có sự cố xảy ra. Khi vào trận diễn tập có khác gì chiến tranh thực thụ, làm sao cân đong cho hết được các tình huống xảy ra. Ngồi ở sở chỉ huy nhưng lòng dạ tôi cứ thắc thỏm nghĩ tới cái nơi được gọi là túi đạn cách mình bốn năm chục cây số. Rồi tin báo về bao nhiêu quả đạn chưa nổ, bao nhiêu quả đã tìm được, bao nhiêu quả đã hủy và bao nhiêu quả còn đang chơi trò ú tim trong từng bụi cây hốc cỏ. Quả thực, tôi luôn có cảm giác chiến tranh đang ở rất gần mình".
Thảo nào trông anh Bình già hơn cái tuổi bốn tám của mình rất nhiều. Anh có dáng dấp của một cán bộ tuyên giáo tỉnh ủy hơn là một sĩ quan cao cấp đang từng ngày sống bên thao trường. Mỗi khi anh nói có cảm giác anh đang tủm tỉm cười vì những... hai cái răng khểnh đua nhau làm duyên trên khóe miệng anh. Đúng là chỉ còn nụ cười của anh chưa già theo năm tháng. Lại chợt nhớ đến hai câu thơ của Thôi Hữu: Ở đây những mặt buồn như đất/ Bộ đội cười lên tươi như hoa. Sao nụ cười của anh Bình giống nụ cười của Đông, của Cán, của Thọ, của các sĩ quan trẻ mà tôi đã gặp đến thế!
Nếu không có những nụ cười ấy, có lẽ, người ta sẽ thấy sợ cái gọi là "khoảnh khắc chiến tranh". Mà ở trường bắn này "chiến tranh" không chỉ là khoảnh khắc!
Trường bắn TB1, 11-2002 N.Đ.T
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2010, 08:38:38 pm gửi bởi phonglan »
|
Logged
|
Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
|
|
|
|