Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:49:24 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật vụ Trân Châu Cảng  (Đọc 55401 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #20 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2010, 10:57:51 am »

NGƯỜI NHÁI - THUỶ LÔI Ý TRONG QUÂN CẢNG ALẾCDĂNGĐƠRI (AI CẬP)

Từ hè năm 1941, mục tiêu chính của hạm đội Anh ở Địa Trung Hải là tiêu diệt các đoàn tàu của Đức và Ý chuyên chở binh lính của phe trục đến chiến đấu ở Bắc Phi. Để đối phó với tình hình ấy, mùa thu 1941, Đức chuyển từ Đại Tây Dương sang Địa Trung Hải một số lớn tàu ngầm của Đức là một tai hoạ lớn đối với Đồng Minh trên các đại dương. Anh vốn là cường quốc số một về Hải quân cũng phải điêu đứng về cái nạn tàu ngầm của Đức. Chúng được điều sang Địa Trung Hải để bảo vệ các đoàn tàu tiếp tế vũ khí và lương thực cho quân lính ở Bắc Phi dưới quyền chỉ huy của tướng Rô-men.

Ngày 13 tháng 11 năm 1941, chiếc hàng không mẫu hạm lớn nhất của Anh là Ark Royal bị trúng thuỷ lôi ở gần Gi-bơ-ran-ta. Đoàn tàu hộ tống tìm mọi cách để cứu nhưng thất bại. Chiếc hàng không mẫu hạm khổng lồ, sau mấy tiếng đồng hồ, đã bị đắm.

Mười hai ngày sau, lại một tàu nữa của hạm đội Anh bị tàu ngầm Đức đánh đắm. Ngày 24 tháng 11, phần lớn hạm đội Anh ở quân cảng A-lêc-dăng-dơ-ri gồm ba chiến hạm Ê-li-da-bét, chiến hạm Bác-ham và chiến hạm Va-li-ăng phải xuất kích để chặn đoàn tàu tiếp tế của phát xít.

Buổi trưa ngày hôm sau, một tiếng nổ cực lớn làm cho cả đoàn tàu nghiêng ngả. Một tàu ngầm Đức đã phóng ba quả thuỷ lôi vào chiến hạm Bác-ham. Bị hư hại nặng, thuỷ thủ đoàn đã làm hết sức mình để cứu chữa Nhưng lại một tiếng nổ nữa long trời lở đất đã làm tan chiếc chiến hạm, một đám mây đen khổng lồ bay lên trời, chiến hạm bị lật sấp và bị đắm cùng với gần chín trăm thuỷ thủ.

Như vậy trên Địa Trung Hải, người Anh chỉ còn có hai chiến hạm. Đối địch với chúng là năm chiến hạm lớn của Ý, những chiến hạm được xem là hiện đại nhất. Đô đốc Anh Cu-nin-gam, sau những tổn thất nặng nề, hạ lệnh cho các chiến hạm còn lại vào ẩn ở cảng A-lêc-dăng-dơ-ri để chờ một dịp xuất kích khác. Quân cảng A-lêc-dăng-dơ- ri của Anh ở Ai Cập (Bắc Phi) là một quân cảng được bảo vệ tốt. Xung quanh hàng mấy cây số, có những bãi mìn lớn. Sâu dưới mặt nước mười mét có một hệ thống báo động tự động. Tàu vào phải đi qua một lối nhất định và được canh phòng cẩn mật. Các đội tuần tiễu xung quanh bờ biển luôn luôn sẵn sàng tác chiến. Vòng quanh các chiến hạm, người ta thả sâu xuống nước các mạng lưới thép chống thuỷ lôi. Chốc chốc đội bảo vệ lại ném xuống nước những quả lựu đạn chống tàu ngầm. Cả một hệ thống đại bác và cao xạ vây quanh quân cảng. Ban đêm các đèn pha chiếu sáng trên mặt biển hàng mấy cây số.

Hai chiến hạm cực lớn Ê-li-da-bét và Va-li-ăng thả neo trong quân cảng. Các thuỷ thủ đoàn có cảm giác được bảo vệ một cách an toàn.

Đã gần giữa tháng 12 năm 1941, thuỷ thủ của hạm đội Anh cũng như hạm đội Pháp ở A-lêc-dăng-dơ-ri chuẩn bị ngày lễ thiên chúa giáng sinh.

Tàu Ê-li-da-bét và tàu Va-li-ăng là nòng cốt của hạm đội Anh ở Địa Trung Hải, trọng tải đến ba mươi hai ngàn tấn. Lúc bấy giờ, đó là những chiến hạm đầu tiên có các đại bác ba trăm tám mươi ly, chạy bằng ma dút chứ không phải bằng than. Mỗi chiến hạm có một ngàn thuỷ thủ. Mặc dầu nhẹ hơn một phần ba so với hai chiến hạm khổng lồ Đức Bi-xmắc và Tir-pitz, hai chiến hạm Anh vỏ tàu cũng dày như của Đức. Chính trên tàu Ê-li-da-bét, năm 1918 đã ký kết văn bản đầu hàng của Đức với quân đội Đồng Minh.

Trong tháng 12 năm 1941, sáu sĩ quan Hải quân Ý sắp kết thúc đợt luyện tập đặc biệt để phá hạm đội Anh trong quân cảng A-lêc-dăng-dơ-ri.

Cho đến nay, đã hai lần hạm đội Ý định vào cảng A-lêc-dăng-dơ-ri nhưng không vào được.

Phương tiện mà người Ý sẽ dùng để công phá các chiến hạm Anh là một sáng chế mới của Ý: Một quả thuỷ lôi dài năm mét rưỡi, đường kính năm mươi xăng-ti-mét, trên đó có thể chở hai người có động cơ điện, chạy không có tiếng động, tốc độ bốn kilômét một giờ. Đường kính hoạt động khoảng mười sáu kilômét, có thể lặn sâu xuống đến ba mươi mét. Phía giữa thuỷ lôi là một khoang chứa nước, cho phép nó lặn xuống hoặc nổi lên tuỳ ý. Những người nhái - thuỷ lôi mang theo bộ Đa-vit để thở, có thể ở dưới nước khoảng sáu giờ liền (bộ Đa-vít do Anh sáng chế và Ý chế tạo).

Thuỷ lôi được tàu ngầm dắt vào khu vực cần hoạt động. Khi ấy, người nhái - thuỷ lôi sẽ tách ra khỏi tàu ngầm và đi về phía mục tiêu. Gặp nguy hiểm, trong vài giây nó có thể lặn sâu xuống nước và tiếp tục hướng về tàu địch. Cần phải khéo léo lắm mới lọt qua các mạng lưới chống tàu ngầm và thuỷ lôi. Hoặc phải lặn xuống bên dưới mạng lưới, hoặc phải nổi lên trên. Nếu cả hai khả năng đều không thực hiện được thì người nhái - thuỷ lôi sẽ tìm cách cắt đứt lưới. Sau đó sẽ chui xuống dưới thân tàu địch. Sau khi đã mắc thuỷ lôi vào chỗ hiểm của thân tàu và đặt kim nổ, hai người sẽ bơi ra.

Kế hoạch dự định ba thuỷ lôi như vậy sẽ được đưa vào quân cảng A-lêc-dăng-đơ-ri. Một chiếc sẽ phá tàu Ê-li- da-bet, một chiếc phá tàu Va-li-ăng và chiếc thứ ba phá một hàng không mẫu hạm.

Trong lúc các sĩ quan hải quân luyện tập thì một cơ quan đặc biệt của hạm đội Ý nghiên cứu các bản đồ, các bức ảnh trinh sát để lập một sa bàn chi tiết về quân cảng A-lêc-dăng-dơ-ri là rất quan trọng. Nhờ đó người Ý phát hiện ra các điểm sơ hở trong hệ thống phòng thủ của địch.

Tất cả các đặc điểm của tàu Ê-li-da-bét cũng được nghiên cứu đầy đủ trên một mô hình riêng. Người xây dựng mô hình tuyệt đối không được phép bịa đặt một chi tiết nào hoặc bỏ trống để dành cho sự may rủi. Một hệ thống mật mã riêng đã được hoàn tất để bảo đảm sự liên lạc giữa các máy bay trinh sát với tàu ngầm trước khi những người nhái - thuỷ lôi xuất phát. Ngày 30 tháng 12  năm 1941, mọi công việc chuẩn bị đều hoàn tất. Kế hoạch bắt đầu triển khai. Khi hướng về A-lêc-dăng-dơ-ri thì thời tiết bỗng nhiên trở nến xấu làm cho các tàu ngầm rất vất vả. Hơn nữa càng gần địch thì càng nguy hiểm vì bắt đầu có các bãi mìn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #21 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2010, 11:00:02 am »

Thiếu lá Ý Đơ- la-pen, người chỉ huy chiến dịch, thuật lại :

“A-lêc-dăng-dơ-ri, đêm 18 tháng12năm 1941. Chúng tôi có ba nhóm sẵn sàng chuẩn bị tấn công địch. Khoảng tám giờ tối, tàu ngầm lặn xuống, chúng tôi cho thuỷ lôi tách ra. Trời lạnh và tối. Tất cả đều im lặng. Chúng tôi bắt tay vào việc. Biển rất bẩn vì thuỷ triều đang lên. Tôi đã từng chiến đấu ba lần, hai lần ở A-lêc- dăng-dơ-ri và một lần ở Gi-bơ-ran-ta. Tôi thấy vấn đề giữ vững tinh thần là rất quan trọng. Chúng tôi bơi trên mặt nước để vào cảng. Một việc làm khá dễ dàng, nhất là một đèn pha lại bật sáng. Tôi nhận ra vị trí hiện tại của mình: Chúng tôi đã đến gần các mạng lưới cảng của đối phương. Đó là một trong những kẻ thù của chính chúng tôi".

Những người nhái - thuỷ lôi đã trông thấy bóng bọn lính gác trên cảng. Thỉnh thoảng chúng lại ném những quả lựu đạn chống tàu ngầm xuống nước. Những người nhái - thuỷ lôi húc phải một mạng lưới rất cứng: Ba lần lưới thép. Họ lặn xuống, tìm một lỗ hổng và thấy nhiều mìn nổ được cặp vào các lưới.

Nếu dùng kéo bàng hơi ép để cắt lưới thì sẽ gây tiếng động. Họ lại nổi lên mặt nước, hy vọng vượt qua phía trên lưới. Đến nửa đêm thì bỗng nhiên đèn pha lối vào cảng bật sáng. Các mạng lưới được mở ra để cho một chiếc tàu chở hàng và ba tàu chống thuỷ lôi đi vào. Người Ý bèn lợi dụng ngay thời cơ để lẻn vào trong cảng mà không ai biết. Đơ-la-pen hướng về phía bên trái, tiến lại gần chiến hạm Va-li-ăng. Anh len lỏi lướt nhanh giữa đoàn tàu của hạm đội Pháp cũng đang thả neo trong cảng. Cách Va-li- ăng độ vài chục mét, anh đụng phải lưới bảo vệ. Anh vượt lên phía trên lưới và lại gần chiếc tàu khổng lồ.

Thiếu tá Đơ-la-pen kể tiếp:

"Tôi lặn xuống khoảng bốn hoặc năm mét bên thân tàu định dừng lại quan sát một lúc. Muốn như vậy phải làm cho chiếc thuỷ lôi dừng lại nhưng các ngón tay của tôi đều lạnh cứng, không cử động được. Đến nỗi tôi đành chịu và cứ để cho thuỷ lôi áp sát vào thân tàu. Sau đó chúng tôi đi ra xa một quãng. Bỗng nhiên chiếc thuỷ lôi dừng lại... Một ý nghĩ loé sáng trong đầu làm cho tôi hoảng: cái im lặng xung quanh tôi hiện nay là cái im lặng không bình thường. Tôi tìm người hạ sĩ quan cùng đi với tôi: nhưng y đã biến mất.

Lập tức tôi nghĩ ngay chắc là y gặp sự cố gì rồi bởi vì chúng tôi đã lặn xuống quá sâu. Tôi cho rằng thế là hết, chẳng còn có thể làm gì được nữa. Tôi đã trông thấy một dây cáp thép quấn vào xung quanh chiếc chong chóng của thuỷ lôi khiến cho nó bất động. Sau nhiều năm chuẩn bị và luyện tập, chúng tôi chỉ còn cách cái đích cuối cùng có vài bước ấy thế mà hỏng hết. Tôi tìm mọi cách kéo chiếc thuỷ lôi ra. Nó dài đến bảy, tám mét và trọng lượng khá nặng. Nhất là nó lại ngập trong bùn của cảng, một thứ bùn rất trơn. Kéo nó ra quả thật là một việc làm cực kỳ khó khăn, mệt nhọc. Thế nhưng tôi đã kéo nó được đến dưới thân tàu. Khi đã chắc chắn là ở dưới thân tàu rồi, tôi rời khỏi thuỷ lôi và đặt kim nổ chậm. Quả là lúc bấy giờ tôi đã kiệt sức. Tôi ngoi lên mặt nước. Có kẻ nào đó bắn về phía tôi. Tôi bèn leo lên một chiếc phao treo xung quanh tàu. Ở đó tôi đã tìm thấy viên hạ sĩ quan của tôi. Tôi cho anh biết là nhiệm vụ đã xong và chỉ còn chờ nổ. Chúng tôi rất lo vì dưới thân tàu đã đặt thuỷ lôi. Thật chẳng có gì thú vị nếu chúng tôi lại được làm khách trên chiếc tàu ấy.

Trước tiên chúng tôi lại tìm cách chạy trốn. Lên đến bờ, người ta hỏi chúng tôi đến đây làm gì và lẽ dĩ nhiên là tôi chẳng trả lời. Sau đó một viên sĩ quan Anh, tay cầm súng, hỏi chúng tôi. Y nói là y rất bực bội vì bị chúng tôi đánh thức dậy quá sớm. Tôi không hề nói với y là chúng tôi đã làm gì.

Người ta bèn đưa chúng tôi xuống tàu, nhốt ở căn hầm ngay phía trên chỗ chúng tôi vừa đặt thuỷ lôi. Một vài thuỷ thủ Anh tỏ ra rất thân thiện với chúng tôi. Nước da họ hơi xanh và chắc chúng tôi còn xanh hơn thế vì chúng tôi biết cái sự thật mà họ không thể biết như chúng tôi được".

Hai người nhái - thuỷ lôi phụ trách tàu Ê-li-da-bét cũng hoàn thành nhiệm vụ. Họ còn trải lên mặt biển một số bom cháy để sau khi nổ tàu, dầu ma-dút chảy ra thì mặt biển sẽ bốc cháy. Sau tám giờ làm việc và đi lại dưới nước, họ phải cố gắng lắm mới bò được lên đất liền và cất giấu các trang bị mang theo.

Nhóm thứ ba phụ trách tàu hàng không mẫu hạm gặp sự cố. Họ bơi loanh quoanh dưới nước tìm bóng của tàu hàng không mẫu hạm. Nhưng chiến hạm này đã được lệnh chuyển sang Thái Bình Dương, trước đó đúng hai mươi bốn giờ. Hai người nhái - thuỷ lôi bèn tìm đến chiếc tàu chở dầu Xa-go-na trọng tải bảy ngàn năm trăm năm mươi tấn và đặt thuỷ lôi dưới bánh lái. Sau đó họ cũng trải bom cháy lên mặt biển. Nhưng họ bị lính bảo vệ bắt khi ra khỏi cảng.

Như vậy là tất cả chất nổ đã được đặt xong. Bây giờ đã quá muộn để người Anh thực hiện các biện pháp đề phòng".

Thiếu tá Đơ la-pen kể tiếp:

"Chỉ còn từ mười đến hai mươi phút nữa thì sẽ nổ tung tất cả. Tôi đề nghị được nói chuyện với thuyền trưởng. Người ta dẫn tôi đến gặp viên sĩ quan. Tôi nói với y là y không thể cứu vãn được chiến hạm, nó sắp bị nổ tung. Nhưng nếu y muốn thì có thể cứu được thuỷ thủ đoàn. Một lần nữa viên thuyền trưởng hỏi tôi đã đặt thuốc nổ ở đâu. Tôi từ chối không trả lời. Thế là y lại bắt dẫn tôi vào căn hầm cũ, ngay trên chiếc thuỷ lôi sắp nổ. Lần này chỉ có một mình tôi. Khi bước cầu thang xuống hầm, tôi thấy mấy thuỷ thủ Anh đã biến mất. May thay - ngày nay tôi biết đó là điều may - tôi ngồi một mình ở đấy và chờ đợi những giây phút dài đằng đẵng, những giây phút hấp hối mà tôi nghĩ là cuối cùng của đời tôi. Dầu sao tôi đã làm tròn nhiệm vụ. Tôi cắn chặt răng - thật không dễ dàng chút nào để tự chủ khi biết rằng mình sắp bị chết vì chính thuốc nổ của mình đã đặt. Nhưng tôi đã chịu đựng được. Bởi vì tôi muốn chứng tỏ cho thuỷ thủ Anh biết rằng thuỷ thủ Ý cũng dũng cảm không kém họ.

Đến một lúc, tôi tính toán thì biết là đã đến giờ nổ. Tiếp liền đó là một tiếng nổ dữ dội. Sau một phút bị ngất, tôi thấy mình nằm dưới nước. Chiếc tàu bị vỡ và tôi thoát chết. Tôi tìm cách leo lên tàu rồi đi dọc thành tàu. Còn có những người ở trên tàu, khi tôi đi qua họ chào tôi. Đến đầu mũi tàu, tôi trông thấy viên thuyền trưởng. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ nét mặt của ông ta và đôi mắt ông nhìn tôi không chớp trong lúc chiếc tàu đắm dần. Chắc chắn đây là một con người rất có bản lĩnh và là một thuỷ thủ giỏi. Tôi đang đứng nhìn đuôi tàu, mặt trời đã nhô lên cao. Cùng lúc ấy, chiếc tàu nổ tung".
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #22 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2010, 11:03:04 am »

Lúc bấy giờ Uyn-kin là pháo thủ Anh trên tàu Ê-li- da-bét. Anh thuật lại: "Tôi đang ở đài chỉ huy pháo hạng nhẹ phòng không của chiến hạm Ê-li-da-bét. Khoảng hai giờ sáng có lệnh báo động: Người ta thông báo là các tàu ngầm của địch đã vào được bên trong cảng.

Toàn bộ thuỷ thủ đoàn ra được lệnh phải lên cả trên cầu tàu trên. Tôi vẫn đứng ở các ụ pháo cao xạ cho đến hai giờ sau thì lại có lệnh cho thuỷ thủ trở xuống cầu dưới. Tất cả mọi việc đều tốt đẹp. Hai người nhái Ý bị bắt không chịu khai là đã để chất nổ ở đâu. Chúng bị giam xuống hầm tàu.

Trước sáu giờ sáng, mấy người Ý cho thuyền trưởng biết là họ đã để chất nổ dưới tàu Va-li-ăng và cả dưới tàu Ê- li-da-bét. Đến sáu giờ thì có tiếng nổ cực lớn. Vụ nổ lớn đến mức nước biển xối xả chảy ùa vào các phòng trong tàu. Tàu bị chìm. Tôi tìm được lối thoát và chạy lên trên. Cả hai chiến hạm đang đắm dần".

Tiếp đó là một tiếng nổ thứ ba, phá buồng máy của tàu Xa-go-na.

Cũng may là các bom cháy thả trên mặt nước không nổ. Nếu không, dầu ma dút bốc cháy thì còn gây nhiều tai hoạ nữa.

Máy bay trinh sát Ý đã chụp ảnh và xác định công việc của mấy người nhái - thuỷ lôi đã thành công.

Thế nhưng người Anh vẫn tìm cách che giấu. Tàu Ê- li da-bét vẫn tiếp tục tiếp khách tham quan trên tầng trên. Trong lễ Thiên chúa giáng sinh và Tết năm mới, người ta vẫn tổ chức hoà nhạc và khiêu vũ. Cơ quan mật vụ Anh phát hiện ra rằng người Ý biết là họ chỉ phá được tàu Va-li-ăng thôi.

Đô đốc Cu-nin-ham đã thao bị ra đủ thứ để làm cho các vị khách hoàn toàn không có chút nghi ngờ gì là bên dưới vỏ tàu Ê-li-da-bét hiện người ta đang làm việc hối hả ngày đêm để cố gắng hàn tạm vết nứt lớn dài đến hơn mười hai mét.

Chiếc tàu Va-li-ăng bị phá nặng hơn nên không giấu được dư luận.

Chiếc tàu ngầm Ý chờ đợi một cách vô vọng trước đồng bằng sông Nil để chở những người nhái - thuỷ lôi trở về. Bốn ngày sau, hai người phá tàu Ê-li-da-bét đã bị bắt ở cửa sông Nil chỉ vì những đồng tiền Anh mà chỉ huy giao cho họ để ăn tiêu lúc chạy trốn thì lại không phải là những đồng tiền vẫn dùng ở Ai Cập. Chính những đồng tiền ấy đã làm hại họ.

Sau vụ công phá ấy, hạm đội Anh ở Địa Trung Hải xem như không còn tồn tại trong một thời gian dài.

Và mãi bốn tháng sau, tháng 3 năm 1942, trong một phiên họp bí mật. Soóc-sin mới thông báo cho Nghị viện biết về tổn thất của hai chiến hạm lớn.

Đơ-la-pen được người Anh phóng thích sau khi Ý đầu hàng Đồng Minh năm 1943.

Anh tham gia các đơn vị chiến đấu nhỏ của Ý đang chiến đấu bên cạnh quân Đồng Minh và anh đã tham gia vào một vụ công phá hỗn hợp Anh - Ý chống lại cơ sở Hải quân La Xpi-ê-da, nhằm mục đích ngăn cản bọn Đức phá hoại cảng lúc chúng rút lui. Nhiệm vụ của Đơ-la-pen là không cho bọn Đức phong toả lối vào cảng.

Đầu năm 1945 , Đơ-la-pen được trao tặng từ tay Hoàng tử kế vị Um-béc-tô, huy chương cao quý nhất của Ý, huy chương Medagha d'Oro (huy chương vàng).

Trong buổi lẽ này, một sĩ quan cao cấp của Hải quân Anh bỗng nhiên bước ra: Đó là phó đô đốc Moóc-găng, cựu thuyền trưởng tàu Va-li-ăng. Quay người về phía Hoàng tử kế vị, ông ta nói: Hoàng tử có thể cho phép tôi được vinh dự tự tay tôi gắn chiếc huy chương vàng lên ngực của người hiệp sĩ dũng cảm này không.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #23 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2010, 01:51:40 pm »

TẠI SAO HÍT-LE KHÔNG SANG LUÂN ĐÔN ?

Tháng 5 năm 1940 - Quân Đức đang chuẩn bị chiếm Đong-kéc (vùng bờ biển phía Bắc nước Pháp) để mở cuộc tiến công sang Anh thì được lệnh của Tổng hành dinh Hít-le cho phép tạm dừng lại. Trong mệnh lệnh có ghi rõ “Hãy để Đong-kéc cho không quân". Gơ-rinh, Bộ trưởng Bộ Không quân đã thuyết phục được Hít-le về giá trị ưu việt của không quân Đức. Cú đánh quyết định cuối cùng sẽ do không quân.

Chính nhờ điều này mà nước Anh được cứu thoát. Cả Đong-kéc trở thành một biển lửa nhưng thật ra không quân Đức đã không đạt được hiệu quả như Gơ-rinh mong muốn. Cuộc chiến đấu phải kéo dài.

Trong lúc đó, Bộ Tổng tư lệnh Anh đã báo động cho tất cả các xưởng đóng tàu, thuyền ở miền Nam phải tập trung ngay tất cả những gì có thể góp phần đẩy lùi cuộc đổ bộ của quân Đức. Tất cả, kể cả ca-nô chạy máy, xà-lúp, tàu kéo, tàu đánh cá, thuyền buồm, xuồng... Người ta kêu gọi tập trung bất cứ phương tiện gì có thể đi lại trên mặt nước. Cả những ca-nô cấp cứu cũng được điều đến.

Sau một trăm tám mươi giờ đồng hồ, ba trăm ba mươi tám ngàn hai trăm hai mươi quân Đồng Minh ở Đong-kéc đã rút được sang Anh.

Người ta tìm mọi biện pháp để ngăn chặn một cuộc đổ bộ ồ ạt của quân Đức lên đất Anh. Trong một thời gian ngắn, Anh đã tập trung được hơn một triệu người để tổ chức thành đội Dân quân. Phần lớn không có đồng phục quân đội, lúc đó chỉ có súng săn, kiếm cũ, dao, búa... Họ được hướng dẫn là có thể dùng thêm hạt tiêu để ném vào mắt bọn xâm lược.

Dân Anh tin chắc chắn thế nào Anh cũng bị Đức tấn công. Thủ tướng Soóc-sin đã khẳng định ý kiến ấy: “Trận đánh ở Pháp đã kết thúc, trận đánh Anh bắt đầu”. Người Anh không thể đầu hàng. Cho nên ngay từ khi quân Đức tiến đến gần Pa-ri, Soóc-sin đã cho chuyển sang Ca- na-đa hơn một ngàn tám trăm triệu đồng Stéc-ling vàng bởi vì Anh dự kiến, nếu cần thiết sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh ở đấy.

Chiến hạm Ê-mơ-rôn chứa đầy vàng thoi, nặng đến nỗi các sạp tàu bị sập xuống nhiều chỗ. Vàng được đựng trong hai ngàn hai trăm ba mươi két. Bên ngoài được xếp như những thùng cá. Chiến hạm cập bến Ca-na-đa Ha-li-fec và vàng được chở bằng tàu hoả đến Mông-rê-an (thủ đô Ca-na-đa) ngày 32 tháng 7 năm 1940, mười bảy ngày sau khi Pa-ri thất thủ.

Một đoàn tàu khác rời khỏi Anh trong vài ngày sau. Nó được các chiến hạm hộ tống. Đoàn tàu cũng chuyển đi những kho vàng lớn.

Đoạn bờ biển nước Anh mà Đức có thể đổ bộ, Soóc sin đích thân đến thị sát, chỉ có vẻn vẹn ba khẩu đại bác, mỗi khẩu có bốn viên đạn, trên một chiều dài tám kilômét. Phần còn lại, khoảng một trăm kilômét được bảo vệ bằng dây thép gai, bãi mìn và lưới, còn nữa thì bỏ trống.

Người ta bèn có sáng kiến lắp những ống dẫn ma- dút, khi nào địch đến thì cho ma-dút chảy ra ngoài và đốt lửa. Lửa sẽ cháy lan khắp và làm thành một bức tường ngăn kẻ địch tiến lên. Tuy vậy biện pháp này rất tốn kém mà lại hiệu quả không cao. Ma-dút sẽ có thể trộn lẫn với nước biển và không bốc cháy.

Ở đâu căng tràn ngập các khẩu hiệu "Đánh thắng bọn lính nhảy dù Đức". Người ta ra lệnh cho dân quân không được bắn vào những tốp nhảy dù dưới sáu người vì các phi hành đoàn của mỗi máy bay Anh không bao giờ quá năm người.

Trong lúc cả nước Anh ráo riết chuẩn bị thì ngày 2 tháng 7 năm 1940, Hít-le ra các chỉ thị để xây dựng kế hoạch đánh chiếm Anh. Chúng dự kiến trong ba ngày đầu sẽ đổ bộ mười ba sư đoàn. Nhóm đầu tiên sẽ được tăng cường thêm hai mươi tám sư đoàn trong đó có một sư đoàn xe bọc thép.

Một sư đoàn nhảy dù và một sư đoàn không vận sẽ đảm bảo lập đầu cầu đổ bộ. Bộ chỉ huy huy động tất cả các tàu bè: tất cả có hơn bốn ngàn, trong đó hơn một nửa là ca-nô và tàu đánh cá.

Quân lính cũng bắt đầu được luyện. Rất ít sĩ quan và cán bộ chỉ huy Đức có những hiểu biết cần thiết về hàng hải. Trước tiên là phải cho quân lính tập bơi. Bộ tham mưu tập trung tất cả các tư liệu về những vùng sẽ đổ bộ. Người ta phải tra khảo cả những tư liệu lịch sử về việc vượt biển Măng-sơ của Hoàng đế Xê-da trong đêm 1 tháng 9 năm 55 trước công nguyên. Một sự kiện độc nhất vô nhị trong lịch sử chiến tranh! Sau này, tướng Đức Giôn nhận xét là công tác chuẩn bị của quân Đức lúc bấy giờ (năm 1940) rất giống với cách làm của Hoàng đế La Mã thời cổ đại.

Bên cạnh đó, Ge-sta-pô cũng ráo riết chẩn bị để chiếm đóng Anh. Bác sĩ Xíc, ba mươi mốt tuổi được chỉ định làm Tổng chỉ huy Ge-sta-pô ở Anh.

Từ tháng 7 năm 1940, Ge-sta-pô đã cho in cuốn sổ đen ở Anh (danh sách những người bị xem là thù địch để bắt giam), trong đó phần lớn là tên họ, địa chỉ của các nhà chính trị Anh, các chính khách châu Âu lưu vong... những kẻ cần bắt ngay khi quân Đức chiếm đóng và giao cho Ge- sta-pô. Trong bản danh sách có cả những người đã chết từ lâu. Chẳng hạn bác sĩ Xi-mun Fơ-rớt đã chết ngày 23 tháng 9 năm 1939 tại Luân Đôn.

Phía Anh vẫn tiếp tục chuẩn bị. Ngay trong những pháo đài xây dựng từ năm 1805 để ngăn ngừa Na-pô-pê- ông đổ bộ, dàn quân ráo riết luyện tập chiến đấu với những vũ khí cực kỳ thô sơ: cán cuốc của nông dân!

Trên tất cả cánh đồng miền Nam và Đông Nam, để chống lính nhảy dù, người ta đặt đủ các thứ chướng ngại vật: những đống đất, đống gạch, những thùng rượu, xe cũ... đến nỗi viên tướng không quân Xtu-đen ở Bộ chỉ huy Đức nhận định là "không thể đổ bộ xuống Anh được" vì không còn có chỗ nào để mà nhảy dù.

Lại có tin đồn là bọn lính nhảy dù Đức bị bắt ở Hà Lan đều mặc quần áo nữ tu sĩ nên đài BBC loan báo bọn nhảy dù nào không mặc quân phục Đức đều phải tiêu diệt ngay lập tức.

Ngày 1 tháng 8, Hít-le chỉ thị phá tan không quân Hoàng gia Anh trước khi đổ bộ. Không quân Đức phải bằng mọi cách chiến thắng không quân Anh. Điều đó cần phải thực hiện càng sớm càng tốt. Với những chỉ thị ấy, Hít-le đã thực sự ra lệnh tiến công Anh.

Oát-xơn Oát đã có sáng kiến cho lập các trạm ra-đa dọc theo bờ biển Anh. Hàng rào ra-đa cao đến năm trăm mét khiến cho các máy bay trinh sát Anh không cần phải cất cánh để phát hiện máy bay Đức. Chỉ khi nào tiếp cận với địch thì máy bay chiến đấu mới cất cánh và được chỉ huy bằng vô tuyến để đâm thẳng vào các máy bay ném bom của đối phương. Vì vậy mà sau đó Oát-xơn Oát được gọi là người cứu nguy Tổ Quốc.

Đương nhiên người Đức không biết hết những điểm yếu của hệ thống ra-đa của Anh và không biết rằng hệ thống chỉ huy bằng vô tuyến chỉ có thể chỉ huy mỗi lần rất ít máy bay chiến đấu. Những trạm chỉ huy ấy lại quá phức tạp và cồng kềnh nên rất khó di chuyển.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #24 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2010, 01:54:36 pm »

Ngày 10 tháng 8 năm 1940, ba phi đoàn Đức sẵn sàng tiến công Anh. Theo Gơ-rinh chỉ cần bốn ngày là có thể phá huỷ hệ thống phòng thủ phía Nam Luân Đôn. Y dự kiến tiêu diệt không quân Hoàng gia Anh trong vòng bốn tuần lễ. Do đó ngày đổ bộ được quy định vào trung tuần tháng 9.

Nhưng do thời tiết xấu, chiến dịch tiến công bằng không quân phải hoãn đi hoãn lại. Cuối cùng mặc cho thời tiết vẫn tiếp tục xấu thêm, các phi đoàn máy bay ném bom vẫn được hạ lệnh cất cánh. Trong lúc đó thì các phi đội máy bay tiên kích đã cất cánh bị gọi trở lại. Điều đó tạo nên một sự hỗn độn kinh khủng. Máy bay ném bom và máy bay tiêm kích không còn có thể bay theo một đội hình quy định. Tình trạng ấy đã gây nên một tổn thất lớn: Năm mươi nhăm máy bay Đức bị rơi chỉ vì đâm vào nhau.

Máy bay Xtu-ca, rất thành công trong các trận đánh Ba Lan và Pháp thì khi sang Anh lại rất lúng túng vì hệ thống khinh khí cầu bảo vệ Luân Đôn. Chúng phải bay chậm và trở thành miếng mồi ngon cho súng cao xạ của Anh. Ngày 17 tháng 8 máy bay Xtu-ca bỏ cuộc hoàn toàn.

Ngày 13 tháng 8, Chính phủ Anh cấm kéo chuông. Chỉ có quân đội và cảnh sát mới có quyền kéo chuông để báo động khi có máy bay địch.

Đêm 13 tháng 8, máy bay Đức ném xuống đất Anh đủ mọi thứ: ca-nô có phao, điện đài, thuốc nổ, bản đồ, danh sách những người cần bắt, các chỉ thị cho các điệp viên mật của Đức (thật ra là không có). Việc làm đó nhằm đánh vào thần kinh người Anh, là một bộ phận của chiến tranh cân não. Đài phát thanh Đức loan tin các binh lính nhảy dù sẽ mang theo đạn khói, do đó họ có thể ẩn giấu như ẩn giấu trong một đám mây nhỏ. Lính Đức lại dùng những loại dù có thể lơ lửng trên không đến mười tiếng đồng hồ, vì vậy mọi người có thể tưởng là những đám mây.

Sau ngày 12 tháng 8, không quân Đức tập trung đánh ồ ạt vào hệ thống ra-đa Anh. Nhưng đến 24 tháng 8 thì người Đức phát hiện ra chỗ yếu của hệ thống phòng thủ Anh, chúng tập trung đánh vào các trạm chỉ huy. Không quân Hoàng gia gặp rất nhiều khó khăn.

Ngày 22 tháng 8, đài phát thanh Đức loan tin sẽ tiến công Luân Đôn bằng pháo đài bay, điều khiển bằng vô tuyến và có sức nổ cực mạnh. Chiều 24 tháng 8, một trận mưa bom tàn phá Luân Đôn: Luân Đôn bị bom lần đầu tiên từ sau 1918 !

Nhưng các phi công Đức do hoảng sợ, đã bỏ bom chệch mục tiêu xuống các khu phố thường dân chứ không phải xuống các kho xăng và nhà máy chế tạo máy bay. Đứng trên lâu đài, Soóc-sin trông thấy tất cả các đám cháy xung quanh. Và ông ta đã phản ứng quyết liệt. Ngày hôm sau, Không quân Hoàng gia bắt đầu tấn công Béc-lanh.

Đêm 25 tháng 8, tám mươi mốt máy bay ném bom cất cánh nhưng một nửa phải quay trở lại trước khi đến Béc- lanh. Bom rơi cách phòng ngủ của Hít-le có mấy mét. Khoảng hai mươi người bị chết. Người Anh- tấn công Béc- lanh suốt mấy đêm liền mà không một chiếc máy bay nào bị rơi cả.

Hít-le quyết định đổ bộ xuống Anh ngày 21 tháng 9. Bắt đầu từ 7 tháng 9, máy bay Đức tập trung đánh phá mục tiêu duy nhất là Luân Đôn.

Cuộc chiến ở Anh đạt đến cao điểm. Ngày 28 tháng 8, Hít-le quyết định đổ bộ trên một chiều dài khoảng một trăm bốn mươi kilômét, về phía đông-nam Anh.

Do người Anh bỗng nhiên thay đổi mật mã nên cơ quan tình báo Đức phải tìm mọi cách lấp lỗ hổng để có các thông tin mới. Họ cho các điệp viên bí mật đổ bộ sang Anh. Sáng 3 tháng 9, một điệp viên gõ cửa một khách sạn và hỏi mua một chai rượu. Ngày 10 anh ta bị treo cổ vì y không biết rằng khách sạn ở Anh không bao giờ mở cửa trước mười giờ sáng. Một điệp viên khác không biết một tiếng Anh nào cũng bi bắt hai mươi bốn giờ sau và bị treo cổ. Một điệp viên nữa đã bị tóm vì sau khi ăn xong ở một quán ăn, y định trả tiền bằng tic-kê nhưng ở Anh, trong các quán ăn và quán cà phê không bao giờ người ta trả tiền bằng tic-kê. Một điệp viên khác vào nhà ga đã bị lộ vì hiểu sai tiếng Anh v.v... Qua các điệp viên bị bắt, người ta biết rằng công việc chuẩn bị để tiến công Anh đã hoàn tất.

Anh cũng chuẩn bị gấp rút các cơ sở cho cuộc kháng chiến bí mật sắp tới khi bị quân Đức chiếm đóng. Một phong trào rèn luyện chiến tranh du kích lan rộng khắp mọi nơi. Cho đến lúc giải tán các đội du kích đã chuẩn bị được một ngàn địa điểm bí mật, rải rác khắp các địa phương. Trong mỗi hầm bí mật đều có giường, ghế, bếp và các thứ tiện nghi khác, có kho dự trữ nước và thức  ăn, có nơi một đội có thể ở hàng tháng liền dưới mặt đất.

Cho đến cuối tháng 9 năm 1940 , không quân Đức vẫn hy vọng làm chủ trên không. Nhưng để thực hiện đổ bộ thì mùa đông đã đến quá gần mất rồi.

Vả chăng Không quân Hoàng gia Anh chẳng những không bị đánh bại mà ngày càng tiến công quân Đức mãnh liệt hơn. Do đó Hít-le ra lệnh hãm bớt tốc độ khẩn trương đóng các tàu vận tải. Y không cho ngày cụ thể nhưng ra lệnh tất cả phải sẵn sàng để có thể xâm chiếm Anh bất cứ lúc nào, trong vòng mười ngày. Cho đến ngày 12 tháng 10 năm 1940, chiến dịch đổ bộ để chiếm nước Anh đã chính thức bị hoãn sang năm 1941.

Từ ngày 21 tháng 7, Hít-le đã thông báo cho Bộ Tư lệnh tối cao biết các dự án tuyệt đối bí mật của về chiến dịch phía Đông, tức là chiến dịch xâm lược Liên Xô. Ngay mùa hè, viên sĩ quan trợ lý của Hít-le đã chọn địa điểm cho Tổng hành dinh của chiến dịch: một khu rừng ở miền Đông Phổ.

Tháng 11 năm 1940 Bộ Tổng tham mưu Anh tin chắc chắn là thời cơ tốt nhất để xâm chiếm nước Anh đã qua đi và người Đức đang chuẩn bị để xâm chiếm Liên Xô. Tướng Guy-banh được giao phụ trách cơ quan đặc nhiệm SOE, một cơ quan có nhiệm vụ tiếp tục đào tạo cán bộ và giúp đỡ các nước châu Âu bị chiếm đóng tiến hành chiến tranh du kích chống phát xít Đức.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #25 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2010, 01:59:01 pm »

SỐ PHẬN NGƯỜI HÙNG MANG SỐ HIỆU A.54


Trong thế chiến thứ hai, Praha là thủ đô dùng làm hậu trường cho các hoạt động tình báo của người điệp viên bí mật Đức, người đã cung cấp cho Đồng Minh phần lớn những tin tức có liên quan đến các ý đồ của Hít-le.

Pôn Tu-men, vốn là người bán bánh mì và là bạn nối khố của Him-le (Tổng chỉ huy SS), sau trở thành sĩ quan phản gián Đức. Anh là một trong những người được tin cẩn nhất nhưng đồng thời cũng là cộng tác viên đắc lực của Đồng Minh. Anh đã cho những tin tức chuẩn xác về kế hoạch Đức đánh chiếm Tiệp Khắc, đánh chiếm Ba Lan cũng như đã báo trước cho Anh về các đợt tiến công Luân Đôn. Anh cũng báo trước các cuộc xâm lược Na Uy, Hà Lan, Bỉ và Pháp. Từ năm 1940, anh đã thông báo thời điểm quan Đức mở mặt trận phía Đông chống Liên Xô, báo trước kế hoạch bí mật của bọn SS bắt cóc bá tước Uyn-xo ở Li-xbon (thủ đô Bồ Đào Nha).

Pôn Tu-men có nhiều bí danh, trong đó có số hiệu A.54. Năm 1927, anh cùng bạn bè sáng lập ra nhóm Quốc xã ở địa phương. Trong buổi lễ thành lập, Him-le đã đến diễn thuyết rất hùng hồn và tối ngủ tại nhà Tu-men.

Sau khi cướp được chính quyền, Him-le trở thành Tổng chỉ huy đội Sung sướng. Y trả ơn cho bạn bằng cách sắp xếp cho Tu-men một chỗ làm việc tốt ở cơ quan phản gián quân đội đo đô đốc Ca-na-ti chỉ huy. Chẳng mấy chốc mà người đồng chí lão thành của đảng, Tu-men, mang đảng hiệu số 61574, được tặng huy hiệu vàng của đảng và được xem là người tin cẩn số một của cơ quan phản gián.

Người ta dự đoán rằng vì cần tiền mà đầu tháng 2 năm 1936, Tu-men đã vượt biên giới Tiệp Khắc bằng một chuyến tàu đêm để đến bỏ một lá thư vào hòm thư Most.

Lá thư mang dấu bưu điện ngày 8 tháng 2 năm 1936, gửi cho Bộ Quốc phòng Tiệp Khắc ở Praha. Trong lá thư viết: “Người gửi lá thư này sẵn sàng hợp tác với cơ quan mật vụ Tiệp. Lý do vì sao, các ngài không cần biết. Tôi có thể giúp các ngài như sau...".

A-lôi Fơ-răng, lúc bấy giờ là trung uý trong cơ quan mật vụ Tiệp Khắc, nhớ lại lá thư và các sự kiện như sau:

"Một hôm cơ quan tôi nhận được một lá thư làm cho mọi người kinh ngạc. Một người Đức đề nghị thông tin cho chúng tôi về các phương pháp truyền tin của Đức từ Tiệp sang Đức, về tổ chức gián điệp của Đức và Tiệp v.v.  Anh ta nói rõ là không bao giờ chúng tôi có thể biết tên tuổi của anh và cũng không bao giờ anh gặp các sĩ quan mật vụ Tiệp trên đất Tiệp. Đáp lại công việc của anh, anh đòi phải trả mười lăm ngàn mác và gửi ngay trong tuần sau. Để làm việc, anh ta cần một chiếc máy ảnh và để bảo đảm an toàn, anh muốn mua máy ấy ở Đức. Kết thúc lá thư anh nói rõ là sau khi đã cung cấp những tin tức trên, anh sẽ ngừng cung cấp các tin trong một năm. Cũng vì những lý do an toàn, anh không thể làm việc thường xuyên với chúng tôi. Anh chờ trả lời của chúng tôi cho đến ngày 14 tháng 2 và nói rõ là lá thư trả lời ấy sẽ quyết định thái độ của anh: hoặc anh sẽ hợp tác với chúng tôi hoặc anh sẽ hợp tác với mật vụ Pháp.

Cuối lá thư ký tên "F.M." và địa chỉ "F.M.137, hòm thư lưu, A-na-béc".

Nhận được lá thư, người sĩ quan chỉ huy chúng tôi là F.Mô-ra-vêc lập tức triệu tập họp tất. cả những người thân cận. Một điều làm cho chúng tôi nghi ngờ là lá thư đầy lỗi chính tả, những lỗi không thể chấp nhận được ở một người Đức. Mặc dầu đề nghị của tác giả lá thư rất hấp dẫn nhưng rất có thể đó chỉ là một thủ đoạn khiêu khích của một điệp viên bí mật. Sau khi bàn cãi khá lâu, chúng tôi quyết định cứ trả lời và dĩ nhiên là trả lời ngay. Anh ta thì cần tiền mà chúng tôi thì cần thông tin.

Ngay hôm đó chúng tôi viết thư trả lời là đề nghị của anh rất bổ ích đối với chúng tôi. Chúng tôi gửi tiền cho anh mặc dầu về phía anh chưa có gì là bảo đảm. Đương nhiên là thư viết theo ngôi thứ nhất, tên người gửi là Xi- mếc, địa chỉ Praha 19 ngõ Đô-xtan (một địa chỉ giả tạo).

Lá thư trả lời của F.M. chưa có giá trị gì lắm. Anh cho chúng tôi biết tên một vài điệp viên Đức đang ở Tiệp Khắc và một vài tên đang làm việc ở Đức chống Tiệp Khắc. Chúng tôi viết cho anh ta hai lần nữa, mỗi lần kèm theo một trăm mác và đề nghị được trực tiếp gặp anh. Anh nhận lời. Thời gian và địa điểm được quy định như sau: Hai mươi giờ ba mươi ngày thứ hai 6 tháng 4 năm 1936 tại ngã ba Nơ-ges-rây sát biên giới Đức - Tiệp.

Chúng tôi đến địa điểm đúng giờ hẹn và chờ đợi. Bỗng nhiên anh ta xuất hiện và cẩn thận đi lại gần chúng Tôi. Sau khi chào nhau, chúng tôi mời anh lên xe đến Chô- mu-tôp và đàm đạo với nhau tại đấy hơn ba tiếng đồng hồ. Anh bảo chúng tôi gọi anh bằng tên thật là Bơ-rây-me và để bảo đảm an toàn, anh không mang theo giấy tuỳ thân, Anh nói anh làm việc tại cơ quan phản gián Đức ở Đơ-re-xđen với tư cách là thợ vẽ, thợ chụp ảnh. Vợ chưa cưới của anh làm việc ở phòng lưu trữ phản gián cho nên anh biết được nhiều tài liệu mật. Anh muốn hợp tác với chúng tôi vì anh cần tiền để trả nợ và để cưới vợ trong thời gian tới.

Anh mang theo một vài tài liệu quan trọng, nhất là các sơ đồ tổ chức cơ quan phản gián và cơ quan Ge-sta-pô ở Đơ-re-xđen, một bản phác thảo mạng lưới điệp viên ở vùng biên giới và một bản phác thảo mạng lưới điệp viên Đức hiện đang làm việc ở Tiệp.

Trong buổi trò chuyện, anh tỏ ra rất nhanh trí và có nhiều hiểu biết mà một điệp viên lành nghề mới có được. Sau buổi nói chuyện, chúng tôi mới tin chắc anh không phải là một tên khiêu khích mà thực sự anh muốn làm việc với chúng tôi. Sau khi quy định lần gặp sau, chứng tôi đưa anh trở lại điểm gặp. Anh trở thành nhân viên của chúng tôi và mang ký hiệu A54.

Cuộc gặp lần thứ hai cũng ở địa điểm trên nhưng ở bên cạnh nhà thờ. Và sau đó thì đến đầu tháng 6 năm 1937, chúng tôi mới gặp lại A54 ở Cac-lô-vi Va-ri. Lần này chẳng những anh mang theo sơ đồ tổ chức lại Ge-sta-pô và hệ thống tình báo quân sự thời chiến mà còn cả những trích đoạn các tuyên bố bí mật của Hít-le về Tiệp Khắc.

Đối với chúng tôi, A54 thật là vô giá. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi lại tìm cách hẹn với anh lần gặp tiếp. Chúng tôi rất vui sướng khi được anh hẹn sẽ gặp lại ở Praha vào trung tuần tháng 8.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #26 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2010, 02:01:30 pm »

Cùng làm việc ở cơ quan mật vụ Tiệp Khắc với Fơ-răng còn có Fơ-ríc, là người trực tiếp phụ trách A54. Ở Praha, A54 mang tên là Vô-ran. Fơ-ric kể lại thời gian làm việc với Vô-ran ở Praha như sau:

“Trong thời gian Vô-ran ở Praha, vào tháng 8 năm 1938, chúng tôi thường gặp nhau ở quán ăn Man-nơ. Mặc dầu không biết tên thật của anh, nhưng chúng tôi được hiểu về anh nhiều hơn. Anh trở thành cộng tác viên quý nhất của chúng tôi. Tôi nhớ là một hôm anh ta nói với tôi: "Các ông muốn tôi kể những gì ở Đức? Ở đó có đội SS. Tôi thì rất ghét những người đen. Một sự thù ghét kinh khủng!” Tại sao lại như vậy? Anh ta không nói rõ với tôi điều đó. Chúng tôi thống nhất với nhau là từ nay chúng tôi sẽ gửi tiền vào tài khoản của anh ở Thuỵ Sĩ để khi bất trắc, anh có thể vù ngay khỏi nước Đức.

Một hôm khác, anh kể là mẹ anh vốn người Luy-da-xơ, trong anh có dòng máu Xla-vơ cho nên anh cảm thấy cùng chủng tộc với chúng tôi. Sau chiến tranh, chúng tôi tìm hiểu thì được biết bà anh chứ không phải mẹ anh, là gốc Luy-da-xơ.

Sang tháng 9 năm 1938, Vô-ran lại trở lại Praha. Anh ta mang cho chúng tôi các mẫu mã thuốc nổ Đức mới chế tạo, chúng tôi gửi về Viện Không quân Tiệp để kiểm tra.

Trước cuộc gặp gỡ ấy, A54 viết cho chúng tôi là anh chỉ muốn học. Điều đó có nghĩa là đã đến lúc anh muốn làm quen với việc sử dụng điện đài vì cuộc xâm lược của Đức đối với Tiệp Khắc đã là điều không thể tránh khỏi. Nhưng sau đó chẳng bao giờ A54 sử dụng điện đài vì anh dễ dàng gửi các tài liệu cho chúng tôi qua một cơ sở liên lạc của phong trào kháng chiến".

Đến lượt A-lôi Fơ-răng lại tiếp tục kể:

"Đêm 12 rạng 13 tháng 9 năm 1938, chúng tôi chở A54 trở về điểm hẹn ở biên giới. Bài diễn văn của Hít-le đọc ở Nu-rem-be, chỉ vài hôm sau, đã mang lại hậu quả. Đêm hôm đó đã xảy ra các hành động khủng bố của đội Hen-len khiến cho chính phủ Tiệp đã phải ban hành thiết quân luật trên toàn bộ vàng Xuy-đét ( Xuy-dét là vùng đất Tiệp giáp biên giới Đức. Đội Hen-len là tổ chức phát xít bí mật hoạt động trên đất Tiệp). Cuộc hành trình của chúng tôi hơi phiêu lưu. Chúng tôi ra đi từ Praha lúc mười giờ ba mươi tối. Trên các đường phố mà chúng tôi đến, bọn khủng bố bắt đầu hoạt động. Vào khoảng nửa đêm, một tốp khoảng mười lăm tên vũ trang ngăn xe chúng tôi lại, một tên bắn một phát súng. Tôi nghĩ "có chuyện rắc rối rồi đây". Tất cả chúng tôi mở khoá an toàn các khẩu súng lục mang theo người và lo lắng chờ đợi chuyện gì sẽ xảy ra. Chính A54 đã cứu vãn tình hình. Nhảy vội ra khỏi xe, anh nói lớn điều gì đó với nhóm người. vũ trang. Một tên trong bọn chúng trao đổi với anh một lúc và chúng tôi lại có thể tiếp tục đi Khi xe chúng tôi gặp các đội tuần tra, họ còn chào chúng tôi nữa. Chúng tôi đến biên giới an toàn. Ở đó A54 cho chúng tôi biết khẩu lệnh trở về Praha an toàn: Lăng-ghe Max. Quả là chúng tôi phải dùng đến khẩu lệnh ấy bởi vì dọc đường xe chúng tôi lại bị ngăn. Từ xa, người lái xe của chúng tôi đã nói "Lăng-ghe Max" và thế là chúng tôi được đi qua mà không phải kiểm soát giấy tờ gì cả. Chúng lại còn chào chúng tôi và tỏ vẻ thân thiện.

Tiếp đó, các sự kiện diễn ra thật nhanh chóng. Săm-béc-lanh (Thủ tướng Anh) đến thăm Hit-le và ký kết hiệp ước Muy-ních. Đức xâm chiếm vùng Xuy-dét. Đầu năm 1939, A54 đề nghị gặp chúng tôi. Bạn đồng nghiệp của tôi là trung uý Fơ-ric đã đi gặp A54".

Fơ-ric thuật lại cuộc gặp gỡ ấy như sau:

"Tôi gặp A54 ở Tuyếc-nôp. Anh nói thẳng với tôi: Ở Béc-lanh, người ta đã quyết định. Nước Tiệp Khắc sẽ không còn nữa, chậm nhất là sau ngày 15 tháng 3". Tôi như người mất hồn. Tôi biết rằng con người ấy đã nói đúng sự thật thế mà tôi vẫn cứ như không thể tin được. Căn cứ trên những chi tiết mà anh ta cho chúng tôi biết, chúng tôi thấy rõ tính chất quyết hệt của các quyết định của cơ quan tối cao ở Đức.

Tất cả đã diễn ra đúng như A54 cho chúng tôi biết.

Viên quan năm Mô-ra-vêc, người chỉ huy chúng tôi, báo động ngay cho Chính phủ biết và chúng tôi tìm mọi biện pháp cất giấu tài liệu, hồ sơ mật, chậm nhất là trước ngày 15 tháng 3. Đích thân Mô-ra-vêc đến sứ quán Anh ở Praha để thảo luận việc chuyên chở hồ sơ của cơ quan mật sang Anh. Tất cả sẽ được chuyển đến một biệt thự ở Praha, từ đó một xe cam-nhông của sứ quán Anh sẽ đến mang đi.

Bạn đồng nghiệp của tôi là Fơ-răng chịu trách nhiệm chuyển toàn bộ tài liệu và chính anh cũng là người tổ chức để chúng tôi bay sang Luân Đôn".

Trung uý Fơ-răng thuật lại:

"Ngày 14 tháng 3 năm 1939, khoảng một giờ chiều, tôi đến sân bay Praha. Sau bốn giờ chờ đợi mệt mỏi, có một người thấp béo đi thẳng lại phía tôi: - Ông là Fơ-răng? Tôi trả lời: Vâng. Chúng tôi đi ra khỏi ngôi nhà của sân bay. Một phi công hãng hàng không Hà Lan KLM báo cho chúng tôi biết là máy bay sắp cất cánh.

Đến sáu giờ ba mươi, chúng tôi tất cả là mười một  người trên máy bay KLM. Đó là chuyến bay đặc biệt chở Bộ Tham mưu cơ quan mật vụ rời khỏi đất nước. Ngày 15  tháng 3 báo chí Anh đưa tin có mười một nhân vật bí mật từ Chính phủ Tiệp Khắc đến Luân Đôn để hội đàm...

Ngoài hành trang tư nhân, chúng tôi mang theo những tài liệu quan trọng nhất trong đó dĩ nhiên là có các tài liệu liên quan đến A54. Sau khi nghỉ lại một thời gian ngắn ở Rô-téc-đam, chúng tôi tiếp tục bay sang Luân Đôn. Mô-ra-vêc bắt liên lạc ngay với bác sĩ Bê-nét, nguyên Tổng thống nước cộng hoà, đã rời khỏi đất nước sau khi vùng Xuy-đét bị xâm chiếm. Bạn đồng nghiệp của tôi được lệnh sang Pa-ri, còn tôi thì đi La Hay, nơi mà chúng tôi đã có một mạng lưới tình báo nhỏ".
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #27 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2010, 02:05:29 pm »

Ngày 15 tháng 3 năm 1939. Sáu giờ sáng, quân đội Đức xâm nhập Tiệp Khắc. Đó cũng là thời gian mà bác sĩ Pôn Xten-be đến trú ở khách sạn Ngỗng Vàng tại Praha. Pôn Xten-be là một trong nhiều bí danh của A54. Anh được cơ quan phản gián Đức cử sang công tác ở Praha như là một cán bộ tin cẩn nhất. Một hôm Xtenbe đi tìm thuê một gian nhà riêng để ở, ngoài trụ sở công vụ. Anh tìm được ngôi nhà của nhà điêu khắc Bo-xvác ở một khu phố sang trọng ở Praha. Ở đây còn một căn phòng bỏ trống.

Bô-xvác còn nhớ lại rõ ràng:

"Lúc bấy giờ vào khoảng cuối tháng 5. Chúng tôi đang ăn trưa trong vườn thì có tiếng chuông ngoài cổng. Đó là một người khách lạ. Ông ta hỏi chúng tôi bằng tiếng Đức xem chúng tôi còn có căn phòng nào cho thuê không. Tôi hơi ngạc nhiên. Tôi mời ông ta vào rồi tôi và vợ tôi đưa ông ta đi xem các căn phòng ở tầng trệt. Xten-be nói là ông ta rất thích và sẽ đến ở đây. Tôi đáp lại: "Nhưng chúng tôi là người Tiệp". Ông ta nói điều đó không quan trọng và mỉm cười, vui vẻ vỗ lên vai tôi. Ông ta trả trước cho chúng tôi ngay một ngàn hai trăm cua-ron và ghi tên vào sổ cư trú: Bác sĩ Xten-be, nghề nghiệp: công chức; vợ là En-xa.

Xten-be là một con người rất dễ chịu, bao giờ cũng lễ phép, niềm nở. Chúng tôi gọi ông là "ông người Đức tốt" Chẳng bao giờ chúng tôi biết ông ta làm nghề gì và là ai.

Xten-be có hai xe ôtô, một do lái xe lái. Ông ta thường tổ chức nhóm họp vui chơi ngoài vườn với nhiều bạn bè, khách khứa. Nhất là phụ nữ. Vợ ông ta thường đi Đức luôn.

Đó là một người vui tính, rất dễ mến và qua ý kiến của ông, chúng tôi nhận thấy đúng ông ta là một người bạn chân thành của người Tiệp".

Trong thời gian này, trung uý Fơ-răng đang ở La Hay, với tư cách là đại diện của Công ty Anh Fo-xtơ, công ty nhập khẩu than. Cửa hàng đồ cổ của cặp vợ chồng Tiệp Giê-li-nêc ở trung tâm thành phố được dùng làm hòm thư cho các thông tin từ nước Tiệp Khắc bị tạm chiếm gởi đến.

Trung uý Fơ-răng kể lại:

"Vừa đặt chân đến La Hay, tôi đến gặp ngay gia đình Giê-li-nêc. Lần gặp nhau cuối cùng ở Praha với A54, chúng tôi đã hẹn địa chỉ ở đây để liên lạc với nhau sau khi chúng tôi rời khỏi đất nước.

Ngày 13 tháng 4 năm 1939, một bưu thiếp của A54 đã gửi đến cửa hàng Giê-li-nêc. Anh báo cho chúng tôi biết là được chỉ định công tác ở Praha. Ngoài những thông tin thuần tuý quân sự, A54 cho chúng tôi biết về tình hình ở nước Tiệp Khắc bị chiếm đóng.

Ít lâu sau anh báo tin sẽ đến La Hay lần đầu tiên.

Chúng tôi gặp nhau ngày 3 và ngày 4 tháng 6 tại cửa hàng của vợ chồng Giê-li-nêc. Lần gặp sau đó vào đầu tháng 8, anh cho chúng tôi biết Đức sắp xâm chiếm Ba Lan. Một thông tin có giá trị đặc biệt quan trọng.

Cũng trong cuộc gặp ấy, anh cho biết là đã đổi tên. Từ tháng 8 năm 1939 anh không gọi là Vô-ran nữa mà là Fơ-răng-ta. Anh cho chúng tôi một địa chỉ quy ước ở Praha.

Thông tin gần nhất mà chúng tôi nhận được của A54 ở La Hay là một bức điện khẩn đánh đi từ Praha trong đó anh dùng mật số báo cho chúng tôi biết là Hà Lan và Bỉ sẽ bị tấn công vào ngày 10 tháng 5 năm 1940. Tất cả diễn ra rất nhanh và ngày 11, tôi đã quay trở lại Luân Đôn".

Tổng thống Bê-net viết trong tập Hồi ký:

"Từ đầu tháng 4 năm 1940, hàng ngày chúng tôi đã nhận được những tin từ Praha và Béc-lanh, những tin đáng tin cậy cho hay là Đức chuẩn bị tấn công Pháp và Anh qua Bỉ và Hà Lan".

Fơ-ric lúc bây giờ đang công tác ở Pa-ri cũng nhận được một tin của Fơ-răng-ta.

Fơ-ric kể lại:

"Chúng tôi ở trong một biệt thự thuộc đường phố Vic-to Huy-gô, đầu rừng Bu-lô-nhơ. Một buổi chiều tháng 2 năm 1940, tôi giải mã một thông tin của Fơ-răng-ta mà tôi cho là vào loại quan trọng nhất trong những tin mà A54 cung cấp cho chúng tôi. Trong thông tin gửi cho chúng tôi qua một người tin cẩn ở Thuỵ Sĩ , anh cho chúng tôi biết chính xác kế hoạch Đức tấn công Pháp. Tôi liền mang tin ấy chạy đến vị lãnh đạo của tôi. Ông ta cũng tỏ ra rất xúc động và chạy ngay đến Bộ Tổng tham mưu Pháp. Ông trở về với vẻ mặt rất khổ sở. Mặc dầu biết nguồn tin của chúng tôi là đáng tin cậy, người Pháp vẫn nghi ngờ là thông tin ấy không chính xác. Họ không tin rằng người Đức lại dám đi vòng quanh chiến luỹ Ma-gi-nô...

Ấy thế nhưng tất cả đã diễn ra đúng như A54 dự đoán. Tôi bay sang Luân Đôn cùng với các đồng nghiệp.

Tháng 6 năm 1940, chúng tôi để A54 liên lạc với một nhóm sĩ quan tình báo ở Praha, nhóm này liên lạc với Luân Đôn bằng điện đài.

Bắt đầu từ thời điểm ấy, gần như hàng ngày chúng tôi nhận được các tin tức của Fơ-răng-ta. Ngoài ra A54 cũng hợp tác với phong trào kháng chiến Tiệp. Anh có liên hệ chặt chẽ với đại uý Mô-ra-vêc, một con người ưu tú của chúng tôi ở Praha. A54 liên hệ với Mô-ra-vêc bằng ba hòm thư mật...

Chúng tôi được thông báo là kế hoạch tấn công Anh đã được hoãn lại chưa biết đến bao giờ. Vào cuối năm 1940, A54 cho chúng tôi biết: kế hoạch tấn công Liên Xô sẽ thực hiện vào thượng tuần tháng năm. Tin ấy đến với chúng tôi chỉ một tuần sau khi Hít-le ký mệnh lệnh số hai mươi mốt cho chiến dịch Bác-bơ-rút (chiến dịch Đức tốn công Liên Xô). Chúng tôi có dịp nghiên cứu kế hoạch ấy trước khi nhiều tướng lĩnh quốc xã chưa được biết một cách đầy đủ.

Sau đó chúng tôi đề nghị A54 đổi tên. Anh không còn là Fơ-răng-ta nữa mà là Rơ-nê.

Nhưng không phải Ge-sta-pô hoàn toàn không biết gì. Từ 1940 nó đã theo dõi tổ chức của Mô-ra-vêc. Nhờ một người bạn ở Ge-sta-pô, Rơ-nê biết quân Đức đang làm những gì. Anh báo động cho Mô-ra-vêc biết: "Ge-sta-pô đã biết nơi giấu điện đài".
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2010, 02:09:53 pm »

Từ đó, mỗi lần phát sang Luân Đôn, Mô-ra-vêc lại chuyển đài đi một chỗ khác. Nhưng ngày 3 tháng 10 năm 1941, nhờ máy móc phát hiện hiện đại , bọn Đức tìm ra nơi giấu điện đài. Chứng bắt được các tài liệu có liên quan đến Rơ-nê.

Bọn Ge-sta-pô phát hiện từ các tài liệu ấy điều mà từ lâu chúng dã nghi ngờ: có một công chức cao cấp Đức làm việc cho phong trào kháng chiến Tiệp và cung cấp cho họ những tin tuyệt mật.

Hây-rich, nguyên Tổng chỉ huy SS vừa sang nắm quyền ở Tiệp, đã đích thân giải quyết việc này: Y ra lệnh thành lập một cơ quan đặc biệt để truy tìm tên phản bội X, và tuyên bố đây là một việc thuộc bí mật quốc gia. Một vài ngày sau, hai điệp viên bí mật của Ge-sta-pô phát hiện ra Rơ-nê là một quan chức Đức cao cấp hiện đang ở phía bắc Praha. Người ta tìm trong các hồ sơ, tài liệu và nhận ra con người tin cẩn Tu-men tức là bác sĩ Xten-be hiện đang ở phía bắc Praha. Anh bị bắt ngày 13 tháng 10 năm 1941. Trong thẩm vấn, anh giải thích rằng những hoạt động của anh cho phong trào kháng chiến Tiệp chỉ là một chiến thuật hai mặt dùng để chuẩn bị cho một vụ lớn. Anh chuẩn bị nắm gọn toàn bộ mạng lưới của Mô-ra-vêc nhưng để làm như vậy thì phải để cho ông ta thêm một thời gian.

Ngày 2 tháng 3 năm 1942, anh được tha. Nhưng bao giờ cũng bị theo dõi. Anh buộc phải có những cuộc hẹn với Mô-ra-vêc: bọn Ge-sta-pô định chăng một mẻ lưới bắt cả hai con.

Rơ-nê không thoả mãn yêu cầu ấy của Ge-sta-pô. Mô-ra-vêc đánh diện sang Luân Đôn đề nghị tìm một giải pháp để cứu vãn Rơ-nê. Bản thân anh , cũng đề nghị Anh cho một máy bay đến để chở anh đi. Nhưng đã quá muộn".

Ông Bô-xvác chủ ngôi nhà mà A54 thuê, ôn lại những sự kiện đã xảy ra:

“Suốt năm, chúng tôi đã có quan hệ bè bạn thân thiết với khách thuê nhà. Ông ta rất độ lượng và đúng là một người bạn thực sự của người Tiệp. Ông ta đi vắng một thời gian, sau đó chúng tôi được biết là ông bị bắt và bị giam. Từ đó đêm nào cũng có một nhân viên Ge-sta-pô ngủ trong phòng của ông. Bác sĩ Xten-be thường đi ngủ rất muộn. Tên Ge-sta-pô ngủ say, không biết rằng Xten-be đã nhảy qua cửa sổ đến báo động cho Mô-ra-vêc.

Ngày 20 tháng 3 năm 1942, Xten-be bị bắt buộc phải mời Mô-ra-vêc đến. Cả nhà đầy những nhân viên Ge-sta-pô. Xten-be đi tìm Mô-ra-vêc ở tàu điện nhưng rồi ông trở về một mình.

Hôm ấy ông bị chúng bắt đi và không bao giờ chúng tôi được gặp lại ông nữa.

Thật ra Tu-men đã hẹn gặp Mô-ra-vêc ngày hôm sau. Hôm đó Mô-ra-vêc đã đến chỗ hẹn. Bọn Ge-sta-pô biết chỗ hẹn này. Nhưng Mô-ra-vêc không để bị bắt sống: ông nổ súng vào bọn Ge-sta-pô và sau đó thì tự sát.

Ngày 27 tháng 3 năm 1942, Hây-rích viết thư cho Boóc-man, người lãnh đạo cao nhất của đảng Quốc xã:

“Đồng chí Boóc-man thân mến!

Ngày 20 tháng 3 năm 1942, Pôn Tu-men sinh ngày 15 tháng 1 năm 1902 tại Nơ-hô-xen, hiện công tác ở Praha, đã bị cảnh sát quốc gia bắt; y bị tình nghi là đã phạm tội phản bội Tổ Quốc.

Tu-men được thưởng huy chương danh dự, là đảng viên mang số 61574 của đảng Quốc xã.

Tu-men thú nhận là đã làm việc từ những năm ba tư ba nhăm cho đến ngày bị bắt, với cơ quan mật vụ cũ của Tiệp Khắc ở Praha, tức là cơ quan mật vụ Anh-Tiệp và đã nhận ít nhất là bốn mươi ngàn mác cho cái giá phản bội ấy.”

Nhưng đối với Ge-sta-pô, việc điều tra vụ phản bội X còn nhưng chưa kết thúc. Tu-men bị giam ở nhà tù Praha với cái tên là Tô-man. Bà mẹ của Tu-men viết thư nhờ Him-le can thiệp.

Ngày 12 tháng 9 năm 1944, Him-le viết thư trả lời cho bà như sau:

"Bà Tu-men thân mến !

Tôi đã nhận được thư của bà vào ngày 25 tháng 8 năm 1944 có liên quan đến việc con trai bà. Rất không may là tôi không thể làm theo ý bà được. Con trai bà sẽ phải ra trước toà án quân sự để trả lời về việc phản bội Tổ Quốc, khi mà công việc điều tra đã kết thúc. Ký tên: Him-le."

Nhưng Tu-men đã không phải ra trước toà án quân sự. Công cuộc đào tạo vụ này chẳng bao giờ kết thúc. Người ta đoán rằng bọn SS dự định gây ra một vụ án lớn chống lại Ca-na-ri (người phụ trách tình báo quân sự). Tu-men sẽ làm nhân chứng và sẽ thoát chết. Để cho cơ quan phản gián quân sự không tiếp cận được anh, người ta đổi tên anh là Tô-man và tuyên bố anh là tuỳ viên quân sự của Sứ quán Hà Lan ở Praha trước kia, nay bị bắt. Thật ra không một người bạn tù nào nghe anh nói tiếng Hà Lan bao giờ cả. Anh chỉ nói tiếng Anh. Và các nhà chức trách Hà Lan cũng nói là chưa bao giờ sứ quán Hà Lan ở Praha có một tuỳ viên quân sự tên là Tô-man.

Dưới cái tên giả này, một hôm Tu-men, con người đã mang biết bao nhiêu là tên giả, phải bước qua cổng Tê-den-xtát để sau đó không bao giờ trở lại nữa. Người ta thường gọi cổng ấy là cổng của Thần chết, nó dẫn đến chỗ hành hình các tội nhân. Hôm đó là ngày 20 tháng 4 năm 1945, cũng là ngày lễ sinh nhật cuối cùng của Hít-le.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #29 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 09:51:32 am »

BÍ ẨN VỀ PHÁO ĐÀI CUỐI CÙNG CỦA GƠ-BEN

Mùa xuân 1945 quân Đồng Minh đã vượt qua sông Ranh. Con đường dẫn tới Béc Lanh đã rộng mở.

Ấy thế mà ngày 1 tháng 4 năm 1945 , tướng Ai-xen-hao hạ lệnh huỷ bỏ cuộc tiến quân vào Béc-lanh. Ai-xen-hao nói với nguyên soái Mông-gô-mê-ri rằng "địa phương ấy đối với tôi chỉ mới là một khái niệm địa lý"...

Thật ra mệnh lệnh ấy là do dựa trên cơ sở các báo cáo của các cơ quan tình báo Đồng Minh về hệ thống các pháo đài Đức xây dựng bí mật ở vùng núi An-pơ.

Bằng mọi thủ thuật tuyên truyền lừa bịp, Gơ-ben dã làm cho Bộ Tổng tư lệnh quân Đồng Minh thay đổi cả chiến lược trong giai đoạn cuối cùng của thế chiến.

Đầu tháng 9 năm 1944. Gông-ta viên sĩ quan chỉ huy SS vùng biên giới xem lại các báo cáo mật vừa mới gửi đến. Y chú ý bản tường trình của một điệp viên bí mật Mỹ ở Duy-rích. Bản tường trình gồm nhiều trang đánh máy, nói đến hệ thống xây dựng các pháo đài cực kỳ hùng mạnh của Đức ở vùng núi An-pơ.

Để ngăn ngừa các cuộc oanh tạc của không quân Đồng minh, Đức đã bố trí hàng loạt trại giam lớn các tù nhân chiến tranh xung quanh các pháo đài, trong đó chủ yếu là các sĩ quan và hạ sĩ quan quân Đồng Minh. Nhiều bản đồ, sơ đồ, tài liệu được gởi kèm theo bản báo cáo chi tiết về các công trình khổng lồ, xây dựng dưới mặt đất các nhà máy, các kho vũ khí, quân trang quân dụng, các sân bay và doanh trại cho hai triệu lính được vũ trang hiện đại nhất. Toàn bộ khu vực ấy của dãy núi An-pơ là một cứ điểm không có sức mạnh nào công phá nổi.

Lão Gông-ta chính gốc ở vùng ấy và chỉ cách mấy ngày, lão vừa đi qua thì chưa thấy gì hết. Cho nên lão không khỏi thấy buồn cười lúc lướt qua bản báo cáo. Lão nghĩ chắc tay nào muốn được cấp trên chú ý đây. Ít lâu sau nhân đến làm việc với viên chỉ huy Hô-fe, Gông-ta đưa cho Hô-fe xem bản báo cáo. Y cho bản báo cáo của điệp viên Mỹ là một trò đùa xấu vì khu vực của y chỉ huy chẳng những không hề "chứa đầy vũ khí” mà do hoạt động mạnh mẽ của phòng trào kháng chiến địa phương, hiện y không làm chủ được tình hình nữa.

Cùng trong khoảng thời gian ấy, một nhóm tham mưu công binh Đức đi xem xét địa hình vừng An-pơ, kết luận rằng các công trình xây dựng của Ý và Áo trong thế chiến thứ nhất còn có thể sửa chữa lại để cho quân đội đang ở Ý lúc rút lui có thể có chỗ để phòng thủ.

Biết được bản báo cáo ấy của công binh, lại được khích lệ bởi báo cáo mật hoang tưởng của người Mỹ, Hô-fe đệ trình lên Hít-le một dự án xây dựng vùng An-pơ. Dự án này nhằm hai mục đích: tăng cường bảo vệ cho khu vực của y đồng thời có thể đẩy lùi cuộc tiến quân của Đồng Minh vì sự lo sợ của người Mỹ trước những pháo đài ma.

Hô-fe xin Hít-le cung cấp nguyên liệu để xây dựng pháo đài, các kho dự trữ vũ khí, lương thực một trại gồm ba mươi ngàn sĩ quan Anh Mỹ... đương nhiên quy mô nhỏ hơn nhiều so với báo cáo mật của điệp viên Mỹ.

Ngày 12 tháng 11 năm 1944, tờ New York Times đăng một bài nhan đề là "Chỗ ẩn trú của Hít-le", miêu tả rất chi tiết Tổng hành dinh của Hít-le, với nhiều điều ngoài sức tưởng tượng".

"…Biện pháp đề phòng phụ: toàn bộ khu vực xung quanh đều chôn mìn, trên chiều rộng hai mươi bốn kilômét, chiều dài ba mươi ba kilômét, chỉ cần bấm nút là toàn bộ sẽ nổ tung. Người ta nói rằng cái nút ấy để ngay trên bàn làm việc của Him-le, trong phòng ở sâu dưới đất, dưới ngọn đồi có ngôi nhà nghỉ của Hít-le".

Bài báo của New York Times mở đầu cho một loạt bài báo khác từ mùa thu 1944 cho đến tháng 5 năm 1945, tất cả đều ám chỉ hệ thống pháo đài bí mật ở An-pơ.

Thật ra thì cả các bộ tham mưu, cả Hít-le, chẳng ai chú ý đến đề nghị của Hô-fe về việc xây dựng vùng An-pơ vì lúc bấy giờ chúng đang đứng trước nhiều vấn đề cấp bách hơn. Trong lúc đó báo chí phương Tây tiếp tục đưa nhiều tin về khu vực An-pơ. Người ta đồn đại là bọn phát xít sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng ở đấy, mặt trận ở đấy sẽ còn quyết liệt hơn cả ở Xta-lin-grát và Hồng quân sở dĩ mở phản công ở Hung là cốt để chi viện nhanh cho người Mỹ v.v và v.v...

Chính lúc bây giờ, Gơ-ben vào cuộc. Trong Bộ Tuyên truyền, một cơ quan được thành lập và từ tháng 1 năm 1945, bắt đầu tập trung tuyên truyền về pháo đài An-pơ. Các sự kiện, các con số ma được tạo nên một cách như thật. Một mặt các chuyên gia của Bộ Tuyên truyền tung ra các tin tức để gây nên sự sợ hãi, mặt khác các điệp viên tìm cách để lọt vào tay các cơ quan tình báo Đồng Minh các tài liệu về kỹ thuật, các sơ đồ xây dựng, các con số tuyệt mật. Hô-fe cũng lợi dụng được sự thành công của chiến dịch tuyên truyền của Gơ-ben: Khi người ta báo cáo với Hít-le về sự lo sợ đang tăng lên về phía điều đó đối với hệ thống pháo đài An-pơ thì y cho phép Hô-fe được xây dựng khu phòng thủ cần thiết. Bộ phận xây dựng được lệnh dựng lên ở biên giới Thuỵ Sĩ một số công trình có thể làm cho đối phương dự đoán là những công trình cửa ngõ của pháo đài An-pơ.

Tờ Daily Worker đăng bài nói rằng người Đức đang ra sức chiếm lại Bu-da-pét, như vậy có nghĩa là chúng tìm mọi cách để phòng thủ các pháo đài An-pơ chống lại Hồng quân có thể tiến từ phía Đông tới. Còn cuộc chiến đấu tuyệt vọng của người Đức ở Xtra-xbua thì được bình luận là cố gắng của người Đức để bảo vệ sườn phía Tây của pháo đài An-pơ.

…Bộ Tư lệnh tối cao của quân Đồng Minh, căn cứ thêm các nguồn tin từ Mát-xcơ-va chuyển sang, cuối cùng tin rằng pháo đài An-pơ là có thật. Người ta nhận được những thông tin chính xác nhất về các chi tiết của công trình khổng lồ ấy.

Phía Đức tuyên bố không úp mở là Văn phòng Bộ Ngoại giao cũng như các bộ phận khác sẽ chuyển về pháo đài An-pơ. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao lại cho biết sẽ có hàng triệu lính Đức tiến hành cuộc chiến tranh du kích ác liệt ở đây. Cơ quan mật vụ có nhiệm vụ làm cho những tin này lọt vào tay các điệp viên Đồng Minh. Tù nhân các trại tập trung được đưa về đây và được dùng vào việc in tiền giả của Anh và Mỹ. Sau đó các tù nhân đều bị bí mật thủ tiêu còn máy móc, phương tiện in thì vứt xuống hồ.

Ngoài báo chí phương Tây, sau khi quân Anh- Mỹ vượt qua sông Ranh, Mát-xcơ-va cũng chú tâm lưu ý Đồng Minh về cứ điểm của địch ở vùng An-pơ. Qua báo Daily Worker, tờ báo tiến bộ của Mỹ, dư luận Mỹ luôn luôn chú ý đến những hiểm hoạ mà quân Đồng Minh sẽ gặp phải ở An-pơ. Các bài báo hầu hết đều do các chuyên gia quân sự viết. Tóm lại mọi người đều nghĩ về những trận chiến đấu ác liệt sẽ diễn ra xung quanh cứ điểm An-pơ và những pháo đài khổng lồ ngầm dưới đất có thể giúp người Đức kéo dài cuộc chiến đấu hàng năm.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM