Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:22:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật vụ Trân Châu Cảng  (Đọc 55463 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #40 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:52:47 am »

BÍ MẬT VỤ TRÂN CHÂU CẢNG


Trân Châu Cảng là một quân cảng lớn của Mỹ ở Thái Bình Dương. Trong thế chiến thứ hai, hạm đội Mỹ ở đây đã bất ngờ bị quân Nhật nện một đòn chí mạng. Chiến công lừng lẫy này là kết quả của những hoạt động tình báo đã được chuẩn bị rất công phu.

…Một làn sóng nghệ thuật hiện đại tràn ngập đến Ha-oai: các ban nhạc Jazz, các hộp đêm có ca nhạc... chẳng bao lâu tất cả các cô, các bà, nhất là vợ con của các sĩ quan thuỷ quân và các cô thiếu nữ Mỹ đang chịu đựng cảnh thiếu thốn của cuộc sống xa hoa ở quê hương... tất cả đều xôn xao vì một sự kiện giật gân: cô Ruth đã khai trương một phòng mỹ viện hiện đại có thể là niềm tự hào cho cả Ha-oai. Khách hàng cả Hô-nô-lu-lu đổ xô đến. Chủ quán sử dụng những kỹ thuật hiện đại nhất để uốn tóc, nhuộm tóc và sửa lại các khuôn mặt.

Cửa hàng mỹ viện trở thành nơi gặp gỡ của giới nữ thượng lưu. Họ trò chuyện, bàn tán về đủ mọi thứ tin tức mới nhất: những sĩ quan nào mới đến, những sĩ quan nào đi nghỉ phép, những nhân vật đặc biệt nào ghé qua vì một nhiệm vụ quan trọng nào đó... rồi những chuyến tàu nào cập bến, những chiếc tàu nào nhổ neo v.v. Cuộc sống hàng ngày trên mấy hòn đảo chỉ có thể nên ai cũng biết, cũng quan tâm.

Phòng mỹ viện khai trương năm 1939. Lúc bấy giờ chưa ai nghĩ rằng chiến tranh có thể xảy ra nơi những hòn đảo xa xôi ấy. Nhưng tình báo là một công việc không bao giờ nghỉ, thời bình cũng như thời chiến.

Vụ việc này không bắt nguồn như những vụ việc khác, từ Bộ Chiến tranh Đức quốc xã, hoặc từ bộ óc giàu tưởng tượng của viên đô đốc Ca-na-ri, người lãnh đạo công tác tình báo của phát xít mà từ Bộ trưởng Tuyên truyền Gơ-ben (y tự sát năm 1945).

Đầu năm 1935, sau hai năm thừa hành chức vụ, Gơ-ben mở tiệc chiêu đãi toàn bộ các nhân viên trong bộ. Đó là một buổi dạ hội tưng bừng, mọi người bộc lộ niềm vui sướng được là thành viên của một nước Đức phát xít trẻ tuổi nhưng đã hùng mạnh.

Gơ-ben là một tay rất thích phái đẹp, nhiều chuyện riêng của y đã từng trở nên phức tạp và mang lại hậu quả nặng nề. Có thể chăng buổi dạ hội hôm nay sẽ là mở đầu cho một cuộc phiêu lưu mới?

Viên thư ký riêng của Gơ-ben, Lê-ô-pôn Cu-en mang theo cả cô em gái Ruth đến dự dạ hội. Cô gái được mọi người chú ý.

Đặc điểm của Gơ-ben, con người sắt đá ấy là khi cần, y có thể đóng vai một tay ăn chơi hào hoa, lịch thiệp bậc nhất. Suốt buổi dạ hội, y đã luôn luôn nhảy với Ruth. Họ uống khá nhiều và đùa vui thoả thích. Mọi người biết rằng mối quan hệ như vậy với vị Bộ trưởng Tuyên truyền có thể sẽ dẫn đến một cuộc phiêu lưu lớn.

Nhưng rồi không ai biết cuộc phiêu lưu ấy dẫn đến đâu cả. Cái kết cục bí mật chỉ có hai người biết với nhau. Người ta chỉ biết rằng sau đó bỗng nhiên vị Bộ trưởng quyết định Ruth phải rời khỏi nước Đức. Phải chăng có một sự can thiệp quyết liệt của bà vợ là Fơ-rô Gơ-ben (bà này sau bị chồng giết chết), hoặc là Ruth đã đòi hỏi quá  đáng, hoặc là Ruth đã đe doạ sẽ làm cho câu chuyện tung toé ra?

Những câu hỏi ấy không ai trả lời được và cũng ít liên quan đến câu chuyện chúng tôi đang kể.

Điều chắc chắn là cô gái đã phải rời bỏ nước Đức. Gơ-ben không có quan hệ tốt đẹp gì lắm với các cơ quan tình báo của quân đội và thuỷ quân. Họ đã biết về y quá nhiều. Y dựa vào một người bạn thân tình là tiến sĩ Cơ-lôt Hô-sô-phe, con trai của một vị tướng nổi tiếng. Cả bố và con Hô-sô-phe lãnh đạo Viện Địa lý chính trị của Trường đại học Béc-lanh. Các sinh viên của họ thường làm ở ngành ngoại giao và đặc biệt là trong tổ chức tình báo chỉ đạo bởi Bộ Trưởng Ngoại giao Ri-ben-tơ-rôp.

Chính viên tướng Hô-sô-phe (viên tướng này cũng tự sát năm 1946) là người đầu tiên xây dựng các mối quan hệ giữa Đức với Nhật. Uy tín của y một phần lớn là nhờ Gơ-ben mà có cho nên, hễ Gơ-ben cần việc gì là y tìm cách giúp đỡ hết sức mình.

Đúng thế, Hô-sô-phe có thể giúp đỡ cô gái trẻ Ruth. Viên tướng già đã từng đến thăm Nhật Bản, từ năm 1914 y đã trông thấy các tiềm lực của đất nước này và cũng từ đó đã giữ những mối quan hệ chặt chẽ với người Nhật Rất gần đây, các đồng nghiệp của y ở Tô-ky-ô đã cho y biết là họ đang cần một số đàn ông và đàn bà da trắng. Cơ quan tình báo và quân cảnh mật của Nhật, gọi là Kempai Tai, đang cần tuyển mộ một số người châu Âu qua trung gian các sĩ quan liên lạc Nhật ở Đức và qua hai bố con Hô-sô-phe. Lúc bấy giờ Nhật đang tìm rất nhiều cộng tác viên cho các cơ quan mật vụ. Do đó tiến sĩ Hô-sô-phe đã cho Gơ-ben biết là y đang có một nơi cần sử dụng người châu Âu, chẳng những Ruth mà cả bố mẹ, anh em cô ta cũng đều có chỗ làm việc với điều kiện là phải thông minh, khôn ngoan và hiểu biết ít nhiều về công tác tình báo.

Đôi khi các năng khiếu nghệ thuật rất có lợi cho công tác tình báo. Trong trường hợp này rõ ràng là cả gia đình của Ruth có nhiều thuận lợi, đặc biệt là Ruth.

Bố cô là tiến sĩ Béc-na, sinh ở Béc-lanh. Năm đó ông ta bốn mươi tuổi, còn Ruth thì mới mười tám. Hồi trẻ ông đã phục vụ trong thuỷ quân hoàng gia Đức nhưng trong thế chiến thứ nhất, tàu ông bị thuỷ quân Anh đánh đắm (năm 1915). Bị bắt làm tù binh, ông ở lại Anh và chẳng mấy chốc đã thông thạo tiếng Anh. Sau chiến tranh, ông không có nghề nghiệp gì nên trở lại phục vụ trong thuỷ quân nước Cộng hoà Vây-ma. Ông quyết định đi học y khoa và trở thành một trong những người đầu tiên nhiệt liệt ủng hộ tư tưởng phát xít. Lúc bây giờ Ruth còn là một cháu gái bé nhưng ông đã truyền dạy cho con các tư tưởng của Hít-le.

Không thể nào đỗ được bác sĩ, ông xin gia nhập đội Ge-sta-pô, dưới quyền của Him-le. Him-le và Béc-na trở thành đôi bạn thân thiết. Và trong lúc chờ đợi nhận một cương vị trong Ge-sta-pô thì ông ta lại phải dời sang Ha-oai vì có cô con gái quá hấp dẫn và quá say mê các chuyện phiêu lưu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #41 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:55:35 am »

Thời gian mà gia đình Đức bé nhỏ cập đảo Ha-oai (ngày 15 tháng 8 năm 1935) thì cũng là thời gian thế giới vừa trải qua một cuộc khủng hoảng lớn, các tổ chức hoà bình đang mọc lên khắp nơi.

Béc-na đến Ha-oai cùng với tất cả gia đình, trừ cậu con trai Lê-ô-pôn ở lại Béc-lanh làm thư ký cho Gơ-ben. Thật ra thì Ruth và Lê-ô-pôn chỉ là con riêng của bà vợ. Nhưng gia đình ấy tỏ ra rất ấm cúng, thương yêu nhau. Ông bố có vẻ quan tâm nhiều đến tiếng Nhật. Cả ông và cô con gái cũng quan tâm đến việc nghiên cứu lịch sử của quần đảo Ha-oai. Họ đi đó đi đây, thăm thú các ngôi nhà cổ bằng đá và chỉ ít lâu sau, họ đã nắm vững địa lý, lịch sử của địa phương. Ruth mê nhất là tắm biển và tập thể dục trên bãi biển. Thỉnh thoảng họ cùng nhau đi tắm biển hoặc thuê thuyền buồm hay xuồng máy đi khắp mọi nơi. Bà mẹ tỏ ra là một người nội trợ rất tận tình với gia đình. Nhưng bà ta cũng rất đắc lực trong công việc nghe ngóng, quan sát các chi tiết có liên quan đến hoạt động quân sự. Từ 1936 đến 1941, mỗi năm bà ta sang Nhật hai lần với tư cách là nhân viên liên lạc của cơ quan mật vụ Nhật thế nhưng F.B.I và Phòng nhì của thuỷ quân Mỹ không hề có tí gì nghi ngờ cả.

Ruth, cô gái lịch sự và xinh đẹp cứ thế thực hiện các kế hoạch của cô. Học tiếng Anh rất nhanh và khiêu vũ giỏi, cô tham dự hầu hết các buổi dạ hội của giới thượng lưu, vào cả trong các câu lạc bộ thể thao và thuỷ quân Mỹ. Cô biết cách làm cho các sĩ quan trẻ thích thú và say mê, những sĩ quan chắc chắn còn hấp dẫn nhiều hơn so với Gơ-ben.

Khi có ai hỏi về các vấn đề chính trị của Đức, cả gia đình Hô-sô-phe đều trả lời là riêng họ, họ không có cảm tình với chủ nghĩa phát xít. Ruth nói: "Lúc rời khỏi nước Đức thì tôi hãy còn bé quá, chẳng biết gì". Ông bố viết một số bài báo nghiên cứu về những người Đức đầu tiên đến cư trú ở Ha-oai và đăng trên các tạp chí ở Đức.

Bà con láng giềng và bè bạn quen biết đều cho rằng gia đình ông rất giàu. Ông từng khoe là đã gửi nhiều tiền ở Hà Lan và ở Đức do đó sinh lợi rất khá. Trang trí nội thất của ngôi nhà chứng tỏ đây là một gia đình giàu sang và có học thức; các tác phẩm nghệ thuật, các đồ mỹ nghệ bằng bạc cực đẹp...

Trong ba năm đầu tiên ở trên hòn đảo này, gia đình ông đã nhận bảy chục nghìn đôla do ngân hàng Rôt-tec-đam gửi đến Hô-nô-lu-lu. Ngoài ra có một lần du lịch sang Nhật ông ta đã mang về mười sáu nghìn đôla.

Sau này F.B.I và cơ quan mật vụ của thuỷ quân Mỹ đã phát hiện ra là gia đình này đã nhận được trong thời kỳ ấy hơn một trăm nghìn đôla. Chắc chắn con số này có ở dưới sự thật, vì có những món tiền khác được gửi đến mà không ai biết.

Nếu chúng ta chú ý đến những số tiền tiêu xài cần thiết thì sẽ thấy cái nghề tình báo cũng không phải là nghề kiếm được nhiều tiền đâu, thoạt đầu, cả gia đình chỉ mới làm những nhiệm vụ thứ yếu như nghe ngóng các tin tức qua các câu chuyện phiếm... Dần dần họ hoạt động trên một mức cao hơn bằng cách tiếp cận với giới sĩ quan. Ruth biết cách khéo léo khai thác. Cô ta thông minh và có một thân hình gợi cảm. Bố dượng khuyến khích cô nên đi chơi đó đây với các sĩ quan.

Họ làm việc đồng thời cho cả hai nước. Tướng Hô-sô phe cho Nhật Bản "mượn" họ, nhưng mỗi bản báo cáo đều phải sao chụp để gửi về Đức và người Đức đã đánh giá cao tài năng của họ. Chính vì vậy mà Hô-sô-phe đã đòi phải trả tiền cao hơn. Vả chăng ông ta bắt đầu quen với cuộc sống xài tiền một cách đế vương còn Ruth cũng bị cuốn hút vào cuộc sống thượng lưu phú quý.

Đến đầu năm 1939 , Hô-sô-phe tỏ ý muốn chọn một nơi sống yên tĩnh để có thể tiếp tục nghiên cứu ngôn ngữ Nhật Bản. Ông tạm rời khỏi Hô-nô-lu-lu và cùng gia đình chuyển về ở Trân Châu Cảng. Bắt đầu từ đó kế hoạch của cơ quan mật vụ Nhật bắt đầu được thực hiện. Chẳng mấy chốc mà tiếng tăm của Ruth đã được biết đến trong hầu hết các giới sĩ quan và phu nhân. Năm 1939, khi cô loan báo sẽ mở một cửa hàng mỹ viện thì mọi người đều nhiệt tình ủng hộ và hứa sẽ tìm cho cô nhiều khách hàng. Quả là Ruth không thể ngờ rằng tiệm mỹ viện của cô lại thành đạt nhanh đến như thế. Mẹ cô cũng phải dành một số thì giờ cho công việc của mỹ viện. Cứ đến buổi tối thì hai mẹ con lại thông báo cho ông bố tất cả những tin tức lượm được trong ngày, khi liếp cận với đông đảo khách hàng mà phần lớn là vợ của các sĩ quan thuỷ quân Mỹ. Các lãnh sự Đức và Nhật chỉ có việc truyền các tin ấy đến cho các Tổng hành dinh cơ quan mật vụ.

Một hôm, viên phó lãnh sự Nhật ở Hô-nô-lu-lu báo tin cần gặp hai bố con Ruth. Cuộc gặp gỡ diễn ra hết sức bí mật. Viên phó lãnh sự Nhật cho hai bố con Ruth biết rằng đã đến lúc cần phải thu lượm những tin quan trọng nhất về các lực lượng Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương: số lượng tàu chiến, các loại tàu, bến đậu của các tàu, số binh lính và sĩ quan v.v. Y khen ngợi hai bố con từ trước đến nay đã làm việc tốt nhưng nhấn mạnh rằng những nhiệm vụ sắp tới mà họ phải làm sẽ hoàn toàn khác. Y muốn có những thông tin chính xác, những con số thật chuẩn. Người Nhật sẵn sàng trả giá rất cao cho hai bố con bởi vì nếu hai bố con làm tốt thì người Nhật sẽ đánh một đòn chí mạng vào lực lượng Hải quân Mỹ.

Ruth đòi bốn chục nghìn đôla nhưng bố cô chấp nhận lấy một số tiền ứng trước là mười bốn nghìn, còn nữa sẽ lấy sau khi công việc thành công.

Ông bố có phần lo ngại. Làm thế nào để có thể có được những thông tin như viên phó lãnh sự Nhật đòi hỏi?

Ruth thì chế nhạo mối lo ngại của bố dượng. Vài tuần lễ sau, cô đính hôn với một sĩ quan Hải quân Mỹ, viên sĩ quan này thuộc loại cấp bậc cao nhất ở Trân Châu Cảng. Cô đã thành công rực rỡ trong kế hoạch của mình và bây giờ là lúc cô điều khiển con thuyền của gia đình. Theo lệnh cô, bố dượng thực hiện nhiều cuộc điều tra có kết quả: họ ra sức hoạt động đến mức cao nhất.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #42 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 11:00:07 am »

Hàng ngày ngày ông dạo chơi trong các vùng quan trọng của Trân Châu Cảng. Ruth bàn với ông nên mang theo chú em bé của cô là Giô-a-kim, mới mười tuổi.

Bận một bô quần áo thuỷ thủ, chú bé Giô-a-kim đã tỏ ra rất lợi hại. Ông bố chỉ cho chú các công trình xây dựng ở quân cảng và kích thích tính tò mò của chú đối với tất cả những gì có liên quan đến thuỷ quân Mỹ. Một hôm, các thuỷ thủ Mỹ vốn có cảm tình với chú bé con người Đức đưa chú lên một chiến hạm và giảng giải cho chú tất cả những điều kỳ lạ trên thứ đồ chơi khổng lồ ấy. Đương nhiên ông bố là người nước ngoài nên không được phép đi theo con.

Buổi tối hôm ấy, Ruth cùng với các sĩ quan bước ra khỏi những chiến hạm đang thả neo trong bến. Và sáng hôm sau, cô đã thu thập tất cả những thông tin của cả ba bố con, làm một bản báo cáo gửi sang Tô-ki-ô và Béc-lanh. Oa-sinh-tơn hoàn toàn không biết tí gì về vụ ấy.

Được khích lệ bởi những kết quả vừa đạt được, Ruth quyết định thực hiện những kế hoạch táo bạo hơn, Ruth báo cho lãnh sự Nhật biết là cô đã cùng bố hoàn thiện một hệ thống báo hiệu bằng ánh sáng, hệ thống này nhằm mục đích cung cấp nhanh chóng những thông tin về số lượng và chủng loại chiến hạm của Mỹ ở Trân Châu Cảng, chỗ cắm neo ở hạm đội và sự di chuyển của các chiến thuyền. Lãnh sự Nhật hoàn toàn tán thành sáng kiến ấy bởi vì chỉ cần đơn giản hoá một chút các mật mã thì sẽ rất bổ ích cho hạm đội Nhật.

Gia đình Hô-sô-phe có một căn nhà nhỏ ở vùng nông thôn Ka-la-ma, không xa Trân Châu Cảng mấy. Bây giờ phần lớn thì giờ Ruth sống ở đấy. Một hôm cô ra thành phố để mua một ống nhòm thuỷ quân loại cực mạnh, điều đáng lấy làm lạ đối với một cô gái.

Các tín hiệu ánh sáng sẽ phát ra từ cửa sổ phòng ngủ của Ruth ở Ka-la-ma. Với sự giúp đỡ của viên lãnh sự Nhật và một viên thư ký ở lãnh sự quán, hai bố con Ruth đã hoàn thành một hệ thống tín hiệu đơn giản và thuận tiện.

Ngày 2 tháng 12 năm 1941, hai bố con bắt đầu thể nghiệm lần đầu tiên. Mọi cái đều tốt. Cũng ngày hôm ấy, lãnh sự Nhật nhận được một lá thư chỉ rõ số lượng, các chủng loại, chỗ cắm neo chính xác của các chiến hạm Mỹ ở Ha-oai. Đêm hôm trước, Ruth không trở về nhà. Sau này, viên sĩ quan Mỹ đã đính hôn với cô, thú nhận là đã ngủ đêm với cô.

Sáng hôm sau, Tổng lãnh sự Nhật là Na-goa Ki-ta đã chuyển tất cả tin tức do Ruth cung cấp, cho cơ quan tình báo của hạm đội Nhật bằng làn sóng ngắn.

Vậy là tất cả đã sẵn sàng để đánh một đòn chí mạng vào Trân Châu Cảng. Ruth và bố cô đã biết đích xác ngày giờ nào thì quân Nhật sẽ đánh Trân Châu Cảng.

Trong lúc các cuộc thương lượng đang được tiến hành ở Oa-sinh-tơn thì Nhật mở cuộc tiến công sấm sét vào hạm đội Mỹ. Đó là ngày 7 tháng 12 năm 1941. Ruth mở cửa sổ phòng ngủ để bố cô đánh tín hiệu. Y chỉ điểm các mục tiêu cho không quân Nhật bỏ bom, chỉ dẫn cho máy bay Nhật đến các điểm chiến lược. Hô-sô-phe điều khiển tín hiệu còn Ruth thì chỉ dẫn phương hướng. Trong đêm tối, chính cô ta điều khiển trận tấn công Trân Châu Cảng từ khung cửa sổ của buồng ngủ.

Vượt qua trên đầu hai bố con, hai máy bay Nhật đã gieo rắc nỗi kinh hoàng xuống hạm đội Mỹ. Tất cả đã diễn ra đúng theo kế hoạch quy định bởi gia đình Ruth và lãnh sự quán Nhật. Một phần ba hạm đội bị đắm hoặc bị hư hại nặng nề. Chỉ có phần cuối của kế hoạch là không thành công.

Nhưng ở đời không có gì là hoàn hảo. Câu chuyện này cũng vậy. Lãnh sự quán Nhật đã bố trí một chiếc tàu ngầm đến đón gia đình Hô-sô-phe sang Tô-ki-ô.. Cả gia đình hết sức vội vã thu xếp để ra đi, đến chiếc bàn chải đánh răng cũng vứt lại, nghĩa là họ chỉ mang đi cái thiết yếu nhất tức là tiền. Ruth đã chuẩn bị cho mỗi người trong gia đình mang đi theo một bọc đô-la. Đến Nhật, họ sẽ chia nhau món tiền hai mươi sáu nghìn đôla do cơ quan tình báo của Nhật trả.

Nhưng điều không may là trong trận bom, giữa cảnh hỗn loạn, khủng khiếp đang dội xuống Trân Châu Cảng, các sĩ quan phản gián Mỹ nhận ra những tín hiệu phát sáng phát đi từ ngôi nhà ở Ka-la-ma. Cả gia đình Hô-sô phe đã bị bắt giữ trước khi bước xuống tàu ngầm của Nhật. Ông bố tỏ thái độ bực tức, giận dữ. Bà vợ ông và Ruth thì phản đối quyết liệt. Nhưng chứng cớ đã quá rõ ràng. Người ta phát hiện ra hệ thống tín hiệu phát sáng. Vả lại người ta tìm thấy trong nhà quá nhiều tiền mà một phần còn có dấu gói của Nhật. Đúng là hai người đàn bà đang lúi húi với đống tiền khi cảnh sát ập đến. Người ta cũng tìm thấy chiếc ống nhòm thuỷ quân và các bản báo cáo sao lại để gửi đi Đức.

Cuối cùng Hô-sô-phe buộc phải thú nhận. Ông muốn nhận tất cả về mình để cho vợ và con gái tránh thoát, nhưng điều đó đã không thực hiện được. Ngược lại, Ruth công nhận tất cả tội về phần mình, chính cô mới là người điều khiển và ra các mệnh lệnh cho bố làm. Bà vợ cũng vậy. Bà ta cũng muốn cứu cho chồng và con gái. Theo bà thì chính bà đã mua chiếc ống nhòm và chỉ huy nhóm hoạt động gián điệp này.

Ngày 21 tháng 2 năm 1942 , Hô-sô-phe bị kết án tử hình. Khi đã nằm trong xà lim thì bọn phát xít cũng không còn là siêu nhân nữa. Ông tìm mọi cách để cứu vãn cái đầu của mình. Ông bắt đầu run sợ. Và đến lượt Ruth cũng sẽ bị xử án. Ông muốn tìm mọi cách để cứu con gái. Ông cố gắng thương lượng và làm một vụ mặc cả với chú Sam. Sau khi đã làm việc nhiều năm cho cơ quan mật vụ của Đức và Nhật bây giờ ông tình nguyện làm việc cho Mỹ. Nhưng người Mỹ trả lời là ông không thể chuộc tội cho mình và giải thoát cho con gái bằng cách đó được. Chính phủ Mỹ không muốn dùng gián điệp của phát xít. Bản án tử hình được khẳng định lại một cách rõ ràng.

Ruth có chịu cùng một số phận như vậy không? Đó là điều làm cho ông bố gần như phát điên lên trong xà lim.

Ngược lại, Ruth vẫn bình thản. Cô tỏ ra gan lì. Bây giờ cô cũng tìm ra cách giải quyết mỗi lúc gặp khó khăn.

Hô-sô-phe được ân xá. Y hứa sẽ nói với cơ quan an ninh của thuỷ quân Mỹ tất cả những điều y biết về tổ chức và hoạt động tình báo của phe Trục (Đức-Ý-Nhật) ở Thái Bình Dương. Người tổ chức và chỉ đạo vụ việc vừa rồi là y chứ không phải Ruth. Còn vợ y thì chỉ là một người đàn bà nội trợ vô tội. Các sĩ quan mật vụ Mỹ không hứa hẹn gì hết mà chỉ yêu cầu y khai tất cả sự thật. Y đã làm điều đó. Những điều thú tội ấy đã được giữ bí mật.

Cũng như tất cả những tên gián điệp khác trước và sau đó, sau khi đã tố giác mọi sự thật, chúng đều được khoan hồng. Hô-sô-phe đã thú nhận và nói rõ mọi sự thật nên y đã cứu vãn được cái đầu của y. Bản án tử hình được giảm xuống năm mươi năm tù khổ sai.

Hai mẹ con Ruth đều bị giam giữ. Sau chiến tranh, họ được trở về Đức. Lê-ô-pôn, người con trai cả, thư ký riêng của Gơ-ben đã tử trận trên đất Liên Xô. Bà vợ tìm cách tự sát nhưng không thành. Và như vậy là cô Ruth xinh đẹp đã không được tham dự cuộc bán đấu giá cửa hàng mỹ viện của cô.

Sau này, một cô gái khác của bà mẹ, sống ở Lốt Ăng-giơ-lét với một cái tên khác. Chính cô ta đã cung cấp cho tác giả bài này nhiều chi tiết quan trọng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #43 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:22:01 pm »

TIÊU DIỆT CƠ SỞ NGUYÊN TỬ BÍ MẬT

Tháng 4 năm 1940 Hít-le đánh chiếm Na-uy. Ở phía nam Na-uy, trong tỉnh Tê-lê-mác, nhà máy sản xuất nước nặng duy nhất trên thế giới lúc bấy giờ, rơi vào tay bọn phát xít.

Sau khi Đồng Minh bắt đầu thí nghiệm chế bom nguyên tử, họ sợ người Đức sẽ đến đích trước và cuộc chạy đua bắt đầu.

Cao nguyên Hác-đăng-gec-vi-đa, cao một ngàn mét về phía nam Na-uy, trong thế chiến thứ hai là nơi diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt trong cuộc chạy đua chế tạo bom nguyên tử. Đây là cao nguyên lớn nhất và hẻo lánh nhất ở Bắc Âu. Mùa đông rét buốt đến mức độ người bình thường không thể chịu đựng được. Trên mảnh đất hoang vu này, ẩn sâu trong dãy núi cao là nhà máy nước nặng No-xơ-hi-rô. Trong bước đầu nghiên cứu nguyên tử, nước nặng là rất cần thiết. Chiếm được nhà máy này, người Đức đã đi trước được một bước trong việc chế bom nguyên tử. Chính vì vậy mà sau khi chiếm Na-uy, một tốp năm trăm người Đức đã đến chiếm lĩnh ngay nhà máy. Chỉ vài tuần sau, mức sản xuất đã tăng lên nhanh chóng, từ năm trăm ký đến năm ngàn ký một năm, tăng gấp mười lần.

Đến hè 1941, lần đầu tiên tình báo Anh mới nắm được thông tin về những gì đã xảy ra ở đây. Và người ta bắt đầu quan tâm đặc biệt đến điểm này. Việc phá hoại nhà máy và tiêu huỷ các kho dự trữ được ưu tiên hàng đầu. Soóc-sin ra lệnh cho không quân liên tục oanh tạc mục tiêu số một này.

Nhưng Không quân Hoàng gia trả lời rằng mục tiêu nằm sâu kín trong một hàng rào núi đồi nên các máy bay hiện có không thể nào oanh tạc được. Chính phủ Na-uy lưu vong ở Anh cũng không đồng tình với kế hoạch ném bom. Các nhà khoa học cho rằng thường dân các vùng lân cận sẽ đứng trước một hiểm hoạ to lớn nếu các kho chứa a-mô-ni-ác bị nổ tung. Vậy thì việc phá hoại nhà máy chỉ có thể thực hiện bằng các đơn vị com-măng-đô đột nhập. Bộ tham mưu hỗn hợp Anh - Na-uy cùng nhau thực hiện kế hoạch này.

Tháng 3 năm 1942 phong trào kháng chiến Na-uy báo động cho Luân Đôn biết là người Đức đang sản xuất nước nặng rất nhiều và nhiều thùng chứa đang được chuẩn bị để mang về Đức. Nội các chiến tranh Anh ra lệnh phải hành động gấp. Soóc-sin lệnh cho Bộ Tư lệnh hỗn hợp tổ chức ngay việc phá hoại nhà máy. Bốn lính Na-uy được luyện tập đặc biệt ở Anh. Họ sẽ bắt liên lạc với kỹ sư E-na, nội tuyến trong nhà máy. Sau đội tiền trạm ấy, lính Anh sẽ nhảy dù xuống vùng phụ cận và sẽ bất ngờ triệt phá nhà máy. Tháng 9 năm 1942, ba lần đội tiền trạm Na-uy đều vỡ kế hoạch vì thời tiết quá xấu. Ngày 19 tháng 10 năm 1942, nhóm tiền đạo mang biệt hiệu "Chim én" nhảy dù xuống một ngọn đồi và hồ ao. Họ mang theo các trang thiết bị để thực hiện kế hoạch, nặng khoảng năm tấn. Tuyết dầy đặc và trơn, mỗi ngày họ chỉ đi được vài cây số. Cuối cùng ngày 6 tháng 11, họ đến được khu vực hoạt động. Họ ở trong một căn nhà nghỉ hè bỏ trống và liên lạc với Luân Đôn bằng vô tuyến điện. Nhưng mãi mấy ngày sau mới bắt liên lạc được. Trong thời gian này, ở Anh đội biệt động đang tiếp tục luyện tập. Họ sẽ đi bằng tàu lượn, mỗi tàu chở mười bảy người. Sau khi phá xong nhà máy, họ sẽ tìm cách trốn thoát, vượt qua núi để sang Thuỵ Điển. Phần lớn họ đều là công binh và lính tình nguyện.

Ngày 17 tháng 11 năm 1942, hồi mười bảy giờ, hai máy bay ném bom đến miền bắc Ê-cô-xơ, mỗi chiếc kéo theo một chiếc tàu lượn. Đến nửa đêm, cơ sở ở địa phương nhận được một tín hiệu yếu ớt của một máy bay ném bom. Nhưng sau đó thì mất hút. Nó không bao giờ trở về nữa. Ít phút sau, máy bay ném bom thứ hai báo tin: "Chiếc tàu lượn bị đâm vào sườn núi".

Viên chỉ huy SS ở Na-uy báo cáo về Béc-lanh: "Ngày 20 tháng 11, hồi ba giờ sáng, một máy bay Anh kéo theo một tàu lượn đã đâm vào núi. Người ta chưa hiểu nguyên nhân của tai nạn này. Tất cả phi hành đoàn đều chết. Tất cả đều là quân nhân, trong đó có một người da đen. Mười bảy người trên tàu lượn có thể là những điệp viên. Ba người đã chết. Sáu người bị thương nặng. Họ mang theo nhiều tiền Na-uy. Chẳng may là bộ chỉ huy đã cho xử bắn ngay tất cả những tên sống sót nên không thể nào hiểu chúng đến đây để làm gì".

Ngày nay, những người lính biệt động ấy đang an nghỉ ở nghĩa trang phía tây Ô-xlô. Hôm sau, bọn Đức lại phát hiện ra những người còn sống sót của chiếc tàu lượn thứ hai. Họ cũng bị xử bắn ngay sau khi thẩm vấn. Nhưng người Đức biết được ý đồ của Anh. Kết quả là nhà máy nước nặng được tăng cường canh phòng và các khu vực xung quanh nhà máy đều chôn mìn.

Luân Đôn không chịu thất bại. Bộ Tham mưu lại ra lệnh phá nhà máy. Nhiều thanh niên Na-uy được luyện tập tại Anh để trở về làm nhiệm vụ. Trong thời gian đó, tiến sĩ Giô-ma Bơ-rong, nguyên kỹ sư trưởng nhà máy đã đến Luân Đôn. Ông ta mang theo rất nhiều ảnh và chỉ rõ những điểm yếu của nhà máy dễ phá hoại nhất. Ngoài ra còn có một nhân vật khác cũng rất am hiểu nhà máy, đó là nhà vật lý Na-uy Tơ-rông-xtát, người đã từng là cố vấn chuyên môn trong thời gian xây dựng nhà máy.

Luân Đôn không chịu thất bại. Bộ Tham mưu lại ra lệnh phá nhà máy. Nhiều thanh niên Na-uy được luyện tập tại Anh để trở về làm nhiệm vụ. Trong thời gian đó, tiến sĩ Giô-ma Bơ-rong, nguyên kỹ sư trưởng nhà máy đã đến Luân Đôn. Ông ta mang theo rất nhiều ảnh và chỉ rõ những điểm yếu của nhà máy dễ phá hoại nhất. Ngoài ra còn có một nhân vật khác cũng rất am hiểu nhà máy, đó là nhà vật lý Na-uy Tơ-rông-xtát, người đã từng là cố vấn chuyên môn trong thời gian xây dựng nhà máy.

Như vậy là mọi việc đều được chuẩn bị một cách rất tỉ mỉ, chuẩn xác. Nhà máy xây dựng trên một ngọn đồi, xung quanh là thung lũng sâu. Thông thường người ta đến nhà máy bằng hai ngả, hoặc là qua một chiếc cầu treo vượt qua một vực sâu khoảng năm mươi mét, hoặc là đi bằng đường sắt. Muốn đến nhà máy bằng lối đường sắt thì phải đi qua vực sâu rồi đi dọc theo đường sắt. Sau hai hầm kho, con đường sắt chạy vào khu vực nhà máy. Có hai cánh cửa sắt đóng, có xích và khoá. Khi đã đi qua cổng, người ta đi thẳng một cách tự do vào mục tiêu quân sự quan trọng ấy. Hai nhà bác học Na-uy cũng chỉ rõ lối vào duy nhất không có bảo vệ. Sáu người Na-uy thực tập và làm quen với mọi ngõ ngách. Đội tiền nhiệm vẫn nằm chờ trong căn nhà nghỉ hè bỏ trống trên đỉnh núi. Căn nhà được nguỵ trang bằng tuyết, một cành cây nhô ra ngoài dùng làm ăn-ten. Họ chỉ liên lạc với thế giới bên ngoài bằng vô tuyến điện. Nhưng pin yếu dần nên việc liên lạc với Luân Đôn thường bị gián đoạn.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #44 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:25:12 pm »

Điện báo viên còn sống sót kể lại:

"Tôi thuộc nhóm tiền nhiệm. Ngay thời gian đầu, một bi kịch đã diễn ra: Các tàu lượn của Anh bị tai nạn. Cái chết của ba mươi hai người lính Anh và phi hành đoàn đối với chúng tôi là một đòn cân não khá mạnh. Chúng tôi dùng giầy trượt tuyết và gậy chống làm ăng-ten nhưng hiệu quả rất hạn chế. Dần dần đường liên lạc trở nên tốt hơn. Chúng tôi bắt được mối với nội bộ nhà máy. Qua một kỹ sư, chúng tôi nhận được nhiều thông tin quý về việc chế tạo nước nặng, các biện pháp bảo vệ mới của người Đức, các địa điểm đặt đại liên và các bãi mìn...".

Cuối cùng ngày 23 tháng 1 năm 1943, họ nhận được tin là phải chuẩn bị sẵn sàng, khi nào có tiếng động cơ máy bay ném bom của Anh thì dùng tín hiệu ánh sáng báo cho các bạn chiến đấu biết khu vực có thể nhảy dù.

Ngày 16 tháng 2 năm 1943, sáu người biệt động xuất phát, mỗi người mang theo một lọ nhỏ thuốc độc... bởi vì ai mà biết trước được!

Nhóm biệt động nhảy xuống vào lúc nửa đêm, trên một khoảng đất rộng đầy tuyết phủ, cách nhóm tiền nhiệm khoảng bốn mươi kilômét. Một trận bão tuyết lớn làm cho nhóm biệt động gặp nhiều khó khăn trong việc tìm các thùng tiếp tế. Những thùng này cũng được ném xuống bằng dù cùng một thời gian với họ. Phải bảy ngày sau, họ mới gặp hai người trượt tuyết của nhóm tiền nhiệm. Cả đội được chuyển về chỗ trú ẩn chung.

Thứ năm 25 tháng 2, họ cùng nhau đi về hướng nhà máy. Họ phải đi bảy mươi kilômét trên tuyết và càng gần hy vọng nhà máy, tình hình càng nguy hiểm. Cả mười người lại đều bận quân phục Anh, có nguỵ trang bằng vải trắng. Một người đi trước để nhận phương hướng. Những người khác trú lại cách nhà máy ba kilômét. Tại đây người ta khẩn trương chuẩn bị các dụng cụ phá hoại và phương án chiến đấu. Người tiền trạm trở về với những tin tức không vui lắm: Việc canh phòng được tăng cường trên cầu treo, xung quanh nhà máy, bên cạnh các ổ đại liên còn có thêm các đèn pha.

Cả đoàn trao đổi kỹ càng về phương án đột nhập. Nên vào nhà máy bằng con đường nào? Ai qua cầu treo thì tiện hơn nhưng sẽ bị bọn lính gác phát hiện. Thôi thì đành phải đi con đường vất vả hơn, tụt xuống vực sâu rồi lại leo lên.

Thứ bảy 27 tháng 2 năm 1943, khoảng hai mươi hai giờ, họ bắt đầu đi xuống vực. Sau đó lại leo lên.
Nhưng rất may là tuyết bắt đầu tan nhẹ, họ không bị trượt ngã. Đến đầu đường sắt, họ chia làm hai nhóm: nhóm bảo vệ và nhóm phá hoại. Nhóm bảo vệ gác xung quanh để đề phòng lính Đức.

Cuộc tiến công bắt đầu lúc quá nửa đêm. Họ khôn khéo và nhẹ nhàng tiến đến cổng nhà máy, cắt cổ khoá. Sau đó họ đi vào các khu vực nhà máy, đặt các gói thuốc nổ và châm lửa đầu dây dẫn. Nhóm phá hoại vừa ra khỏi thì cũng bắt đầu có một loạt tiếng nổ cực mạnh.

Cả đoàn gặp lại nhau ở địa điểm hẹn trước và bắt đầu cuộc rút lui. Vừa đến bên bờ suối thì tiếng còi báo động vang lên.

Sáng hôm sau viên chỉ huy SS đến nhà máy. Chúng bắt giữ năm mươi con tin. Nhưng sau đó viên tướng chỉ huy đến và cho thả con tin. Hắn cho rằng vụ phá hoại này là một hoạt động hoàn toàn có tính chất quân sự chứ không có liên quan gì đến thường dân. Hắn phải thừa nhận rằng đây là một vụ phá hoại tài tình, chưa từng thấy.

Sau vụ này, người Đức ngờ rằng có một lực lượng quân đội Đồng Minh đang bí mật ở gần đấy.

Hơn ba ngàn quân được tung ra để lùng sục. Tất cả mọi nhà đều bị khám xét, nhiều nhà bị đốt. Một vài trận ném bom trên cao nguyên đã kết thúc chiến dịch tìm kiếm ấy.

Trong lúc đó, năm người trong đội phá hoại đã vượt sang được Thuỵ Điển, sau mười bốn ngày vượt trên bốn trăm kilômét trong những điều kiện thời tiết cực kỳ khắc nghiệt. Sau đó họ trở về Anh bằng máy bay.

Ngay sau đó, người Đức lại tăng cường các biện pháp bảo vệ. Chúng mở rộng các bãi mìn, làm các chướng ngại vật trên mọi đường đi. Nhiều đường được nguỵ trang rất cẩn thận. Khoảng sáu tháng sau, tin tình báo lại được chuyển đến Luân Đôn và không có gì là đáng khích lệ: Nhà máy đã được tu sửa và người Đức lại đẩy mạnh sản xuất hơn trước.

Nhưng lần này Soóc-sin không nghĩ đến việc dùng đội biệt động nữa. Người Mỹ sẽ dùng máy bay ném bom. Các cuộc oanh tạc ban ngày sẽ diễn ra vào giờ nghỉ giữa trưa để không nguy hiểm cho công nhân Na-uy.

Ngày 16 tháng 11 năm 1943, một trăm năm mươi nhăm pháo đài bay cất cánh đi Na-uy. Đúng mười một giờ ba mươi, trận bão bom đầu tiên giội xuống các công trình nhà máy. Trận bom đã phá huỷ chiếc cầu treo, các đường ống và khu vực thuỷ phân. Nhưng các kho chứa nước nặng nằm sâu dưới các hầm bê tông cốt thép thì không bị phá. Tuy vậy, công trình chính, công trình năng lượng bị phá huỷ hoàn toàn, do đó nhà máy không thể vận hành được nữa.

Người Đức quyết định chở số nước nặng về Đức. Cuối tháng 1 năm 1944, ba mươi chín thùng vuông chứa khoảng mười bốn tấn nước nặng đã sẵn sàng lên đường. Luân Đôn nhận được tin cấp báo. Soóc-sin ra lệnh phá huỷ bằng được tất cả các thùng ấy. Ba mươi chín thùng được chở bằng tàu hoả và sau đó đi qua hồ Tin bằng tàu thuỷ. Cơ quan tình báo Anh biết được chiếc tàu thuỷ mà người Đức sẽ dùng. Một buổi sáng chủ nhật, ngày mà người Đức bắt đầu vận chuyển, một điệp viên Na-uy đã có mặt rất sớm ở trên tàu cùng vài người bạn đi theo để bảo vệ. Người Đức đã sao nhãng việc canh phòng ở địa điểm họ cho là an toàn rồi. Điệp viên Na-uy chui xuống dưới hầm tàu và đặt gói chất nổ trong bụng tàu. Đó là gói Pơ-oát-xtic cực mạnh, đặt ngay ở chỗ mà sau khi nổ, chiếc tàu hoàn toàn không chạy được nữa. Giờ giấc được tính toán chính xác. Đúng mười giờ bốn mươi lăm phút, chiếc tàu thuỷ đang đi ở khu vực sâu nhất của hồ thì nổ, chiếc tàu bị phá tan, năm mươi ba người ở trên tàu cùng các thùng nước nặng rơi sâu xuống đáy hồ lạnh giá. Như vậy là cuộc đấu tranh ai thắng ai trong cuộc chạy đua chế bom nguyên tử đã chấm dứt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #45 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:35:27 pm »

BẢN MẬT MÃ GỬI GIÁM ĐỐC FBI TỪ MÁT-XCƠ-VA

Ngày 30 tháng Giêng năm 1933, sau khi An-đôn-phơ Hit-le lên nắm chính quyền Đức, mọi hoạt động của các cơ quan dân sự và quân sự "Đệ tam Quốc xã" được tăng cường ráo riết trên lãnh thổ Mỹ. Những hoạt động này theo đuổi hai mục đích. Mục đích thứ nhất là khai thác triệt để, tối đa tiềm năng công nghiệp nặng và tiềm năng khoa học của Mỹ nhằm đáp ứng các nhu cầu nâng cao tiến độ sản xuất vũ khí và kĩ thuật quân sự cho lực lượng vũ trang phát-xít. Trước hết phải nói đến công nghệ sản xuất nhiên liệu tổng hợp, nhựa hoá học, tiếp theo là việc thu mua các nguyên liệu hiếm, những cỗ máy gia công công cụ có độ chính xác cao và những dụng cụ, máy đo lường để chế tạo động cơ xe tăng và ôtô.

Mục đích thứ hai là giới chóp bu Đệ tam Quốc xã chuẩn bị trước số lượng lớn các toán điệp viên và biệt kích có khả năng thực hiện các vụ phá hoại ở hậu phương đối phương (Mỹ) sau khi bắt đầu nổ ra chiến tranh. Về điều này người Đức đã đạt được thành công đáng kể.

Những đại diện chính thức lúc bấy giờ của Đức ở Mỹ đã gây được ảnh hưởng đáng kể vào đời sống chính trị Mỹ. Ví dụ, thời kì đó, một nam tước vô liêm sỉ và dâm đãng như Man-phrét Phôn Kin-lin-gơ đã trở thành tổng lãnh sự Đức ở Xan-phran-xi-xcô, hắn là một trong những kẻ cầm đầu các đội xung kích(CA), giết người, đã tham gia tổ chức đốt nhà Quốc hội Đức cùng với các tên Gơ-ring và Rêm được mệnh danh là công cụ khủng bố và đàn áp chủ nghĩa phát-xít.

Kin-lin-gơ tích cực thúc đấy thành lập liên minh Đức- Mỹ ở miền duyên hải phía tây nước Mỹ. Đây là một tổ chức thân phát-xít, đã đặt ra cho mình mục tiêu mở rộng hoạt động công nghiệp quân sự tại vùng này, như công nghiệp hàng không, xe tăng, pháo, đại bác, tàu chiến. Trong một thời gian ngắn, hắn đã làm náo loạn hoạt động các ngành quốc phòng Mỹ một cách ngoạn mục khiến cục trưởng Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) thời gian đó là Et-ga Hu-vơ đã yêu cầu trục xuất hắn khỏi nước Mỹ.

PHRI-XƠ MẶT LẠNH Và NHŨNG THÀNH PHẦN KHÁC

Những chiếc ghế tổng lãnh sự cao quý đó chỉ bị bỏ trống trong một thời gian rất ngắn. Phri-xơ Vi-dơ-man một người đàn ông cao ngồng, ít nói, sắc mặt lạnh ngắt được điều đến nắm giữ vị trí này. Những bức điện thư biểu dương do đích thân Hít-le ký, gửi tới Phri-xơ chứng tỏ hắn đã làm tròn những nhiệm vụ của mình. Quốc trưởng bày tỏ lòng biết ơn đến ngài Vi-đơ-man vì những đóng góp trong việc thiết lập và phát triển các mối quan hệ hữu nghị với những tập đoàn tài chính công nghiệp hải ngoại và với tổ chức mạng lưới gián điệp biệt kích.

Phri-xơ tuyệt nhiên không đáp ứng được vai trò là người đại diện tiêu biểu của đế chế Đức nghìn năm cả về hình thức bên ngoài lẫn lối tư duy. Thế nhưng ông có một ưu thế độc tôn, có thể gọi đó là một công trạng so với những quan chức của "liên minh". Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Vi-đơ-man có được vinh dự lịch sử chỉ huy tiểu đoàn bộ binh trên mặt trận phía Tây, nơi có binh nhất Xích-lơ-gru-bơ (họ tên thực của Hit-le) làm người tuỳ phái. Chính tay binh nhất này một năm sau trở thành lãnh tụ dân tộc và đế chế Đức.

Quốc trưởng đã không quên người chỉ huy mặt trận của mình. Năm 1934, Phri-xơ Vi-đơ-man gia nhập đảng Quốc xã và được Hít-le cử làm trợ lý trong bộ máy của mình cho đến năm 1938. Sau khi đánh giá cao về sự trung thành, tận tuỵ của thủ trưởng cũ, Hít-le đã điều Phri-xơ đến Luân Đôn cùng với sự uỷ nhiệm đặc biệt. Tại xứ sở sương mù, Vi-đơ-man phải thực hiện một sứ mệnh đòi hỏi hết sức khôn khéo, tế nhị: bí mật thông báo cho huân tước Ga-li-phắc, bộ trưởng các vấn đề nước ngoài về những ý đồ của Hít-le, muốn thôn tính vùng Xe-dét-ty thuộc chủ quyền của Séc-xlô-va-ki-a. Năm 1939, "Phri-xơ mặt lạnh" được chỉ định làm tổng lãnh sự ở Xan-phran-xi-xcô.

Những kết quả hoạt động của các nhà ngoại giao Đức, mật thám và các chính trị gia đã tác động nhanh và mạnh đến việc cung ứng nguyên liệu chiến lược từ Mỹ đến Đức như nhôm, đồng, măng-gan, vô-phram, ni-ken... Đồng thời, lượng thông tin khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất các sản phẩm siêu nặng cho mục đích chiến tranh được "xuất biên", ồ ạt đổ vào Đức. Tập đoàn xăng dầu "Ethil gasoline" cùng với "General motors" được phép của chính phủ Mỹ đã chuyển giao cho người Đức bí quyết đặc chế AAA phụ gia tối quan trọng nhằm tăng số lượng Octan trong xăng máy bay cho động cơ thế hệ mới.

HÀNH ĐỘNG CỦA ĐỘI QUÂN THỨ NĂM


Khi Đức tấn công Xô Viết, nhiều tổ chức phát xít đã không dấu nổi sự vui mừng và niềm hân hoan của mình. Một cơ quan thuộc ủy ban dân tộc "Người Mỹ là trên hết" tờ "Người đưa tin" đưa hàng tít lớn "Các dân tộc châu Âu trong cuộc chiến với những người Nga cộng sản. Mười bảy quốc gia "nối vòng tay lớn" cùng với đế chế Đức trong cuộc thập tự chinh chống Liên Xô". Có khả năng hành vi đê tiện của các tổ chức thân phát xít đã "bịt được mắt" cơ quan tư pháp Mỹ, mặc dù thời gian đó Mỹ là một nước hậu thuẫn lớn cho đồng minh của mình là Anh trong cuộc chiến với Đức, còn những tàu ngầm Đức đã đánh chìm hàng chục tàu thương mại vận tải vũ khí, khí tài qua biển Át-lan-tích.

Mùa xuân năm 1942, một tàu vận tải cỡ lớn có tên "Kolmar" rời cảng Phi-la-đen-phi-a đến Ác-kha-gen-xcơ chở khối lượng vũ khí hạng nặng, đạn dược, thuốc nổ, những khí tài quân sự khác cho Hồng quân. Sau vài ngày rời cảng tàu gặp phải bão biển, các vũ khí hạng nặng bị giật tung khỏi vị trí trượt trên khắp boong tàu, khá nhiều thuỷ thủ bị chết và bị thương. Số thuỷ thủ còn lại đề nghị thuyền trưởng cho tàu quay lại cảng bởi số hàng trên tàu phần lớn đã bị nhấn chìm và tàu đã bị hư hỏng nặng. Nhưng "Kolmar" đã không bao giờ quay lại được cảng: tàu đã bị trúng ngư lôi của tàu ngầm Đức khi chỉ còn cách cảng 16 hải lý. Chỉ một số thuỷ thủ đoàn được cứu sống.

Sự kiện tương tự cũng xảy ra với một con tàu khác tàu "Damboil". Nhưng "Damboil" có phần may mắn hơn, đã quay lại được cảng một cách cực kỳ khó khăn sau khi đã phải trút phần lớn số xe tăng xuống đáy đại dương.

Các cơ quan phản gián quân sự của FBI rất quan tâm tới những sự kiện này. Họ nghiên cứu khá kỹ nguyên nhân tai nạn và thảm hoạ xảy ra với những con tàu vận tải đến châu Âu này. Sau hai tháng, 8 tàu tải trọng siêu nặng bị hư hỏng nặng hoặc bị nhấn chìm, kể cả 2 tàu nêu trên: tàu "Independence-Holl", "West-Jafferen", "Effinhem", “City of Flint", "Joan de Lorranto" và "Tintigl".

Vấn đề đã được làm sáng tỏ, công việc bốc xếp hàng quân sự lên những con tàu trên do duy nhất một công ty đảm nhiệm, ông chủ của công ty này là người Đức. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất, hắn đã bị vạch trần tham gia các đường dây tội phạm với cơ quan tình báo Đức. Hiển nhiên, các cơ quan luật pháp Mỹ đã thẳng tay trừng trị không thương tiếc kẻ chủ mưu xếp số hàng cẩu thả trên các tàu vận tải: một số bị treo cổ, số khác ngồi ghế điện...

Nhưng hoá ra FBI cùng với mạng lưới chi nhánh phản giản của nó vẫn không thể phát hiện triệt để những hành vi của nhóm biệt kích trong các nhà máy, kho vũ khí và tại các căn cứ, bởi những lỗi hỏng hóc tiềm tại trong các loại vũ khí, đạn dược và khí tài chỉ được phát hiện trong quá trình sử dụng chiến đấu và trên chiến trường. Nhiều loại vũ khí khí tài không thể hoạt động, các thiết bị nổ hoạt động không theo đúng chu trình, những sự cố không rõ nguyên nhân và rất khó phân loại... Cùng lúc đó những thông báo tương tự được gởi về tới gấp từ các đơn vị chiến đấu, nhưng mọi việc dường như vẫn giậm chân tại chỗ. Câu hỏi "ai, ở đâu, cụ thể từ khi nào thực hiện hành vi phá hoại này" thực sự đã làm cho FBI rối loạn. May mắn thay một "quý nhân"... từ Ba-cu đã ra tay cứu giúp họ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #46 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:39:11 pm »

BẢN MẬT MÃ GỬI GIÁM ĐỐC FBI TỪ MÁT-XCƠ-VA

Vào trung tuần tháng 5 năm 1942 , trên mặt trận Xô-Đức tình hình hết sức bất ổn. Sau khi tập hợp các lực lượng trù bị với số lượng lớn, với mục đích đánh lạc hướng bộ chỉ huy quân sự Xô-viết về hướng tấn công chủ lực, quân đội Đức đã bao vây một quân đoàn lớn của Hồng quân gần thành phố Khác-cốp, ở vùng Bắc-ven-xki, chọc thủng hành lang ngang trận tuyến vào sâu tới 200km. Trong lần đột phá khẩu vào sâu trong lãnh thổ Xô-viết nhiều sư đoàn xe tăng phát-xít được huy động, đi chuyển theo ba hướng.

Hướng thứ nhất tấn công qua Vô-rô-nhe-rơ theo hướng đông Mát-xcơ-va, phối hợp tác chiến với đơn vị "Trung tâm" khép chặt vòng vây xung quanh Mát-xcơ-va. Hướng thứ hai xuyên thảo nguyên Xan-xcơ tiến thẳng vào Xta-lin-grát với mục đích cắt đứt tuyến đường huyết mạch vận chuyển dầu mỏ từ Cáp-ca-dơ đến các nhà máy lọc dầu của Nga. Hướng thứ ba là hướng Cáp-ca-dơ từ hướng Rô-xtốp tấn công thành phố Mi-nhe-ra-nư-e Va-dư, vượt các đèo trọng yếu thuộc dãy núi Cáp-ca-dơ để chiếm các xí nghiệp khai thác dầu mỏ ở Mai-cốp, Grô-đnưi và Ba-cu. Từ đó có thể với tay tới các khu vực dầu mỏ Mê-xô-pô-ta-mi-a, Mô-xun và Ki-cúc (I-rắc).

Tại hướng tấn công thứ nhất quân Đức chỉ tiến vào được trung tâm thành phố Vô-rô-nhe-rơ, không thể tiến thêm được hơn do gặp phải sự chống trả kiên cường quyết liệt của các chiến sĩ Hồng quân. Ở hướng tấn công trọng yếu quân đội phát-xít đã tiếp cận Vôn-ga, chiếm những vùng lao động Xta-lin-grát, nhưng Hít-le đã thất bại trong việc cắt đứt nguồn dầu dọc theo sông Von-ga dẫn đến các sà lan chở dầu. Nhiều tiểu đoàn tinh nhuệ thông thạo địa hình đồi núi thuộc sư đoàn "Ê-đen-vây-xơ" không tài nào chiếm được các đèo của dãy núi quan trọng Cáp-ca-dơ, còn các đơn vị tiêu binh phát-xít đã nhận định: không thể chiếm được khu dầu mỏ Grô-đnưi, mặc dù chúng chỉ cách đó khoảng 60km.

Trong cơn tức giận bất lực đến điên khùng trước sự kháng cự ngoan cường của Hồng quân trên mặt trận, Hít-le ra lệnh cho Gơ-ring Héc-man thả bom rải thảm các cơ sở khai thác dầu mỏ và các nhà máy lọc dầu ở Ba-cu và Grô-đnưi. Để thực hiện việc này, nhiều máy bay tại các căn cứ trên bán đảo Crưm và Ta-man đã được huy động vào cuộc, đồng thời tập trung đánh đòn chủ lực vào toàn Ba-cu, các ga đầu mối, cảng, các cơ sở xí nghiệp khai khoáng, các nhà máy.

Khi đó Xta-lin đã hạ lệnh thành lập Vùng phòng không đặc biệt (PVO) nhằm bảo vệ Da-cáp-ca-dơ (ngoại Cáp ca-dơ). Cần phải lưu ý rằng thời điểm đó ở Liên Xô chỉ có một vùng phòng thủ phòng không ở Mát-xcơ-va để bảo vệ toàn thủ đô và trung tâm công nghiệp thủ đô.

Vùng phòng thủ phòng không mới Da-cáp-ca-dơ trải dài từ vùng hạ lưu sông Đông đến biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ và I-ran và từ bờ biển Đen đến bờ biển Ca-xpi từ tây sang đông. Chốt giữ một vùng rộng lớn này là những trung đoàn phòng không thiện xạ nhất cùng nhiều máy bay tiêm kích. Trong các đợt phản công các đòn không kích tập trung của máy bay Đức, nhiều pháo thủ cao xạ và phi công dũng cảm đánh trả, bắn hạ hàng chục oanh tạc cơ của Đức mỗi ngày như "Unkers-88" và "Henkal-111".

Lực lượng cao xạ Hồng quân đã sử dụng những vũ khí được chế tạo ngay trong nước hiện đại nhất khi đó như pháo 85 ly bán tự động, và pháo 37 ly tự động của Mỹ. Tất cả mọi việc diễn ra trôi chảy và hiệu quả cho đến khi các vũ khí tự động của Mỹ bắt đầu nảy sinh những hỏng hóc khó hiểu. Hoá ra là các oanh tạc cơ của Đức thường không bị "dính đạn" của các pháo cao xạ cỡ nhỏ, mặc dù xạ thủ các khẩu đội và tiểu đoàn thao tác. Những làn đạn pháo cao xạ do Mỹ chế tạo không phát nổ ở một độ cao quy định; thường xuyên rơi xuống đất mới phát nổ, khiến không ít chiến sĩ đã phải hy sinh. Mát-xcơ-va vô cùng lo lắng trước những hiện tượng trên, hơn nữa nguyên nhân lại thường không thể xác định ngay tại trận địa.

Để tìm hiểu toàn bộ tình hình ở Ba-cu, thiếu tá công binh Ghê-oóc-ghi Xa-lát-cô, một chuyên gia giàu kinh nghiệm và am tường thiết bị nổ thuộc học viện quân sự pháo binh Ph.E.Đdec-gin-xki đã được biệt phái đến. Chính Học viện này từ cuối tháng 10 năm 1941 đã được chuyển sơ tán về Xa-mác-can và tiếp tục hoạt động cho đến nay, còn một số chuyên gia cao cấp đặc biệt được giữ lại Mát-xcơ-va để thành lập nhóm đặc biệt (NIG) chuyên nghiên cứu tất cả các loại pháo, đạn pháo và vũ khí của đối phương.

40 năm sau đó, vào năm 1986 người ta mới biết đến sự tồn tại và những kết quả nghiên cứu của nhóm NIG sau khi cuốn sách "NIG phá giải những bí ẩn" của I-li Xi-man-chúc được xuất bản.

Khi tới Ba-cu, Ghê-oóc-ghi lập tức ra ngay cảng biển - mục tiêu trọng yếu của máy bay Đức, vào ngay trận địa phòng cao xạ không pháo, nơi đặt những cỗ pháo 37 ly, ghi chép lại các số liệu: năm sản xuất, số hiệu nhà máy; xác định rõ những chi tiết dấu hiệu đặc biệt, những vết dập trên vỏ đạn. Công việc còn lại là đợi máy bay Đức đến. Và anh đã không phải đợi lâu.

Chiếc máy bay trinh thám tầm xa "Henkel" xuất hiện đầu tiên - dấu hiệu về một cuộc tấn công chớp nhoáng của phi đội oanh kích trọng yếu. Các pháo thủ cao xạ bắn xối xả hoả lực mãnh liệt, thân máy bay xuất hiện những đụn khói trắng do đạn pháo "nổ". Nhưng bằng mắt thường cũng thấy rõ không phải toàn bộ số đạn pháo bắn lên đều nổ, ngay cả trong quá trình rơi xuống đất. Những quả đạn pháo này là sự nguy hiểm khôn lường, bởi với khối lượng gần 20kg và tốc độ bay là 900m/s chúng có thể gây ra thiệt hại lớn trên mặt đất.

May mắn thay, người ta đã tìm thấy được hai quả đạn pháo chưa nổ. Sau khi tháo kíp nổ 2 quả đạn pháo. Ghê-oóc-ghi đã phát hiện ra lỗi "giấu mặt" trong đường ren của ống kíp nổ. Đây chính là nguyên nhân những quả đạn pháo không nổ trên một độ cao định trước, mà chỉ nổ khi đập vào đất. Sự việc đã quá rõ ràng, lỗi quả đạn pháo được tạo ra do chính bàn tay đầy kinh nghiệm của nhóm biệt kích. Mọi công việc tiếp theo đều diễn ra thuận lợi. Với sự giúp đỡ của các chiến sĩ khẩu đội pháo, thiếu tá công binh Xa-lat-cô đã tháo gỡ kiểm tra những quả đạn pháo còn lại trong hòm. Kết quả thu được là toàn bộ đạn pháo thuộc lô hàng này đều bị lỗi ở kíp nổ.

Ngay chiều hôm đó, một bức mật mã được chuyển về Mát-xcơ-va, tới Bộ dân uỷ quốc phòng Liên Xô, mô tả chi tiết, nguyên nhân không phát nổ của những quả đạn pháo cùng với những chỉ dẫn của nhà máy chế tạo, kho chứa và nơi thực hiện công đoạn lắp ráp. Đến lượt mình, Bộ dân uỷ về các vấn đề nước ngoài đã chuyển thông tin trên đến sứ quán Mỹ ở Mát-xcơ-va, từ đây một bản mật mã được chuyển về Oa-sinh-tơn cho giám đốc FBI Ét-ga Hu-vơ. Chẳng bao lâu sau các nhân viên FBI và Cục phản gián binh đã bắt quả tang, tóm gọn một nhóm lớn các điệp viên và biệt kích thuộc Cục an ninh đế chế Đệ Tam Quốc xã... buộc chúng phải ra hầu toà.

Vậy còn ngài Phri-xơ Vi-đơ-man, cựu chỉ huy mặt trận của Hít-le? Hắn đã phải nhanh chóng khăn gói từ trước đó rời khỏi nước Mỹ. Vào tháng 6 năm 1941, do những hành vi mờ ám, hắn đã bị chính quyền Mỹ trục xuất. Cuốn hộ chiếu ngoại giao là vị cứu tinh duy nhất giúp "Phri-xơ mặt lạnh" không phải tra tay vào còng năm 1945, hắn kết thúc sự nghiệp của mình ở Trung Quốc, cũng chính là nơi người Mỹ đã tóm được hắn. Điều đáng nói ở đây là chính quyền Mỹ đã bất lực trước cái gọi là quyền bất khả xâm phạm về ngoại giao của Vi-đơ-man. Sau khi chiến tranh kết thúc, hắn đã mãn hạn tù theo bản án của toà án quân sự Nu-rem-be. Năm 1963, Vi-đơ-man đã cho ra mắt cuốn bồi ký về Hít-le dưới tiêu đề: "Kẻ muốn chỉ huy".

Câu chuyện dài về việc xoá sổ nhóm biệt kích người Đức hoạt động bí mật khá thành công trên đất Mỹ kết thúc. Vai chính trong chuyện này chính là bản mật mã được gửi đi từ Ba-cu cho Oa-sinh-tơn, năm 1942.

Sau những sự kiện trên, các bộ phận phòng không cao xạ phòng tuyến Da-cáp-ca-dơ, hay như người ta gọi khi đó là Phòng tuyến phòng không Ba-cu, bắt đầu nhận được những thùng đạn pháo chất lượng tuyệt hảo. Điều này đã giúp bảo vệ thủ đô Cộng hoà A-déc-bai-dan không bị xâm hại và tàn phá bởi không lực Hít-le như các thành phố công nghiệp của Anh - Luân Đôn, Se-phin và Côn-ven-tri đã từng phải hứng chịu. Và một điều không thể nào quên, chiến công, vinh quang có phần đóng góp của thiếu tá kỹ sư công binh Ghê-oóc-ghi Xa-lát-cô.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #47 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:42:04 pm »

CUỘC ĐẤU TRÍ QUYẾT LIỆT GIỮA KẺ ĐI SĂN, NGƯỜI ĐI SĂN


BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÊN LỬA VÀ ĐÔI NÉT VỀ HẠM ĐỘI TÀU NGẦM XÔ-VIẾT

Nhằm đối phó với việc Mỹ ngày càng trắng trợn đe doạ xâm lược Cu-ba và triển khai tên lửa hạt nhân tầm trung nhằm vào nước mình từ các nước Tây Âu như Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ trong các năm 1958-1959, ban lãnh đạo Liên Xô cùng các lãnh tụ cách mạng Cu-ba đã quyết định triển khai tên lửa hạt nhân tầm trung tại Cu-ba vào cuối năm 1962. Ngày 15 tháng 9 năm 1962, chiếc tàu vận tải hạng nặng Pô-ta-va của Liên Xô chuyên chở những quả tên lửa hạt nhân tầm trung đầu tiên đã tới đích và dỡ hàng tại cảng Ma-ri-en, Cu-ba. Theo kế hoạch, việc xây dựng các trận địa chiến đấu cho loại tên lửa tầm trung R-11M (được biết đến tại phương Tây dưới tên gọi SS-N-4) sẽ được hoàn tất vào cuối tháng 10 năm 1962 tại khu vực San Cri-stô-ban. Khi đó, tầm tấn công huỷ diệt của loại tên lửa này sẽ bao trùm toàn bộ lãnh thổ nước Mỹ.

Sau khi phát hiện lên lửa hạt nhân Liên Xô được triển khai trên lãnh thổ Cu-ba, ủy ban tình báo vũ trụ và tên lửa Mỹ (GMAIC) đã quyết định kiểm chứng và thông báo vụ việc cho tồng thống Mỹ Giôn F.Ken-nơ-đi. Sau nhiều lần cân nhắc, ngày 20 tháng 10 năm 1962, Tổng thống Ken-nơ-đi đã ra lệnh phong toả đường biển và đường không quanh lãnh thổ Cu-ba, không cho phép bất cứ người hay phương tiện nào được phép tới hay rời khỏi nước này. Để hỗ trợ cho chiến dịch phong toả. Mỹ đã huy động một lực lượng hải quân và không quân hùng hậu. Đồng thời, lực lượng hạt nhân Mỹ trên khắp thế giới cũng được đặt trong tình trạng sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực với Liên Xô.

Về phần Liên Xô, ngoài số tên lửa hạt nhân đã được triển khai trước tại Cu-ba thì phương tiện duy nhất có thể chọc thủng vòng phong toả hải quân vào lãnh thổ Mỹ là hạm đội tàu ngầm. Mặc dù được biên chế trong các hạm đội hải quân trên các khu vực biển chiến lược, nhưng theo chức năng, lực lượng tàu ngầm Xô-viết được chia làm hai loại: tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược và tàu ngầm chiến đấu.

Tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược là loại tàu ngầm được sử dụng chủ yếu cho mục đích tấn công hay trả đũa hạt nhân vào lãnh thổ đối phương. Do hạn chế kỹ thuật thời đó, loại tàu ngầm này chỉ mang được 3 quả tên lửa hạt nhân tầm trưng R-13 (tầm bắn trên 1.000km) và phải nổi lên mặt nước khi muốn phóng tên lửa. Việc chuẩn bị phóng được tiến hành ngầm dưới nước trong khoảng thời gian 1 giờ, và tổng thời gian từ khi phóng xong 3 quả lên lửa tới khi lặn xuống là 16 phút. Còn tàu ngầm chiến đấu là loại tàu ngầm được trang bị ngư lôi để tiêu diệt các tàu ngầm và tàu nổi của đối phương, đồng thời bảo vệ các tàu đồng đội. Điểm chung duy nhất giữa hai loại tàu ngầm này là chúng đều được trang bị một số ngư lôi gắn đầu nổ  hạt nhân. Tới đầu thập kỷ 1960, một số thế hệ tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược (thuộc lớp 658, 659) và tàu ngầm chiến đấu (thuộc lớp 627 KIT) Xô-viết đã được trang bị động cơ chạy bằng năng lượng nguyên tử, giúp tăng cường khả năng chiến đấu của chúng trên các vùng biển xa. Trong khi đó, các tàu ngầm chạy bằng động cơ điện và đi-ê-den gặp khó khăn hơn rất nhiều trong các chuyến công tác dài ngày. Trước khi cuộc khủng hoảng tên lửa diễn ra, lực lượng tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược của Liên Xô có tổng cộng 23 chiếc, với 16 chiếc thuộc biên chế Hạm đội Biển Bắc và 7 chiếc thuộc hạm đội Thái Bình Dương. Trong khi đó, lực lượng tàu ngầm chiến đấu Xô-viết nhiều hơn gấp 5 lần. Tại hạm đội Biển Bắc, lực lượng tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân được biên chế về Sư đoàn tàu ngầm số 16 thuộc Hải đoàn 12, đóng căn cứ tại 2 quân cảng Ô-ly-ê-ny-a và Y-a-ghi-en-nôi. Các tàu ngầm tấn công hạt nhân chiến lược thường được giao nhiệm vụ tuần tra trên các vùng biển khác nhau gần các mục tiêu và được hộ tống bởi các tàu ngầm chiến đấu.

Chuẩn bị cho việc triển khai tên lửa hạt nhân tại Cu-ba. Liên Xô đã tính tới ưu thế về khoảng cách và lực lượng của hải quân Mỹ. Để bảo đảm sứ mạnh răn đe và trả đũa hạt nhân khi cần thiết, lực lượng tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược Xô-viết đã được huy động tối đa. Tháng 5 năm 1962, Bộ Quốc phòng Liên Xô đã bí mật thành lập Sư đoàn tàu ngầm chiến lược số 18, chuyên hoạt động trong khu vực biển Ca-ri-bê và các vùng biển quanh nước Mỹ. Sư đoàn tàu ngầm số 18 gồm 9 tàu ngầm thường mang tên lửa hạt nhân chiến lược lớp 629, 2 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân chiến lược lớp 611, và hơn 20 tàu ngầm chiến đấu thuộc các lớp 627 và 641.

CUỘC ĐẤU TRÍ QUYẾT LIỆT GIỮA KẺ ĐI SĂN VÀ NGƯỜI BỊ SĂN

Ngay từ đầu, nhiệm vụ của Sư đoàn tàu ngầm chiến lược số 18 đã dược xác định là bảo vệ hoạt động triển khai tên lửa và lãnh thổ Cu-ba khỏi sự đe doạ tấn công từ phía Mỹ, đồng thời răn đe và trả đũa hạt nhân khi có khủng hoảng. Với số lượng gần 30 đầu đạn hạt nhân gắn trên tên lửa với hơn 100 ngư lôi mang đầu nổ hạt nhân, sư đoàn tàu ngầm chiến lược số 18 có đủ khả năng tiêu diệt hầu hết các thành phố đông dân, hải cảng quan trọng và phần lớn lực lượng hải quân Hoa Kỳ. Trước khi cuộc khủng hoảng diễn ra, luôn có từ 2 đến 4 chiếc tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược của Sư đoàn 18 tuần tra dọc theo hai bờ biển Hoa Kỳ. Tới khi Mỹ thiết lập phong toả hải quân, Sư đoàn tàu ngàm chiến lược số 18 đã tăng cường số lượng tàu ngầm tuần tra, đồng thời sử dựng các chiến thuật khác nhau để vượt qua hệ thống chống ngầm dày đặc của đối phương nhằm tiếp cận khu vực trực chiến. Ngoài số tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược vẫn thực hiện các nhiệm vụ răn đe và trả đũa hạt nhân thường lệ, nhiệm vụ của đội tàu ngầm chiến đấu đã mở rộng từ hộ tống các tàu mang tên lửa hạt nhân chiến lược, tới việc theo sát các tàu sân bay và tàu chiến quan trọng của hải quân Mỹ để tiêu diệt chúng khi cần.

Về phía Mỹ, nhận thức rõ mối nguy hiểm từ hạm đội tàu ngầm Xô-viết, hải quân Mỹ đã tiến hành tổng hợp nhiều chiến thuật chống ngầm khác nhau. Bên cạnh các trạm tình báo vô tuyến, ra-đa hải quân và thám âm tầm xa, hải quân Mỹ đã bố trí các đội máy bay và tàu săn ngầm phục kích tại nhiều điểm trọng yếu khác nhau, nơi các tàu ngầm chạy điện và dầu đi-ê-den của Liên Xô phải nổi lên để nạp điện hoặc thông khí. Đối với các tàu ngầm Xô-viết đang ở chế độ lặn thì theo thông lệ quốc tế, tàu săn ngầm Mỹ chỉ được phép thả đạn nổ ngầm loại nhỏ để ép các tàu ngầm xâm phạm lãnh hải hoặc khu vực phong toả phải nổi lên mặt nước. Tuy nhiên, rất nhiều sự cố nghiêm trọng cho cả hai bên đã xảy ra trong quá trình săn đuổi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #48 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:44:47 pm »

Theo Ni-cô-lai Sum-kốp, thuyền trưởng tàu ngầm chiến đấu B-130, thì tàu ngầm của ông được giao nhiệm vụ tiếp cận và sẵn sàng tiêu diệt các tàu chiến Mỹ đang thiết lập hàng rào phong toả hải quân trước các tàu vận tải Liên Xô. Khi hoạt động ở độ sâu 20 mét, tàu B-130 bị các tàu săn ngầm Mỹ phát hiện và rượt đuổi bằng đạn nổ ngầm. Do điện trong ác-quy đã cạn và hệ thống bánh lái độ sâu bị kẹt nên tàu B-130 di chuyển rất chậm ra khỏi khu vực quần thảo của các tàu chiến Mỹ. Khi tới độ sâu 160 mét, khoang 6 của tàu bị rò rỉ nước từ đường ống làm mát động cơ, khiến hệ thống điện đoản mạch và gây cháy. Nhờ sự nhanh trí của một thuỷ thủ trực khoang này, sự cố rò rỉ nước đã được ngăn chặn và tàu B-130 thoát khỏi nguy cơ bị đắm.

Sự cố thứ hai được xem là nguy hiểm nhất cho cuộc khủng hoảng tên lửa liên quan đến tàu ngầm tấn công B-59. Trong quá trình trốn chạy sự truy đuổi của các tàu Mỹ, lượng dưỡng khí trên tàu cạn kiệt khiến tâm lý của các thuỷ thủ và sĩ quan rất căng thẳng. Sau khi tàu chiến Mỹ thả đạn nổ ngầm hạng nặng để ép tàu nổi, thuyền trưởng tàu ngầm B-59 Va-len-tin Sa-vit-xky đã nổi nóng và ra lệnh chuẩn bị phóng ngư lôi hạt nhân. Rất may là sau đó ông bình tĩnh trở lại, huỷ lệnh phóng rồi cho tàu nổi lên.

Các vụ việc tương tự kiểu trên nhưng khác nhau về cấp độ cũng đã diễn ra với các tàu ngầm Xô-viết khác của Sư đoàn tàu ngầm chiến lược số 18. Theo thống kê của hải quân Liên Xô, có tất cả hơn 80 vụ chạm trán giữa lực lượng tàu ngầm Xô-viết và các tàu chiến săn ngầm của Mỹ trong thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng tên lửa Cu-ba. Trong cuộc săn đuổi quyết liệt này, nguy cơ chiến tranh hạt nhân luôn sẵn sàng bùng nổ, nếu một trong hai bên không biết tự kiềm chế.



KẺ PHẢN BỘI TỆ HẠI NHẤT CỦA TÌNH BÁO QUÂN SỰ XÔ-VIẾT

Giống như điệu Mơ-nu-ê của thế kỷ XVIII, vũ điệu của các điệp viên cũng rất chậm rãi và mang đậm tính nghi thức. Bộ phận phản gián của FBI thích gọi đây là "thả khăn mùi soa", một ám hiệu bày tỏ sự quan tâm tới một tình báo viên Xô-viết. Tín hiệu này ẩn ý: chúng tôi biết anh là một điệp viên và nếu anh cảm thấy không hạnh phúc với cuộc sống, chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ. Dù điệp viên này có "nhặt khăn" hay để kệ nó, họ luôn tỏ vẻ không hề quan tâm.

Vũ điệu này dính líu tới một người đàn ông được FBI đặt cho mật danh TOP HAT - bắt đầu xoay chuyển tháng 10 năm 1959 tại trụ sở Liên hiệp quốc tại Niu Y-oóc. Phái đoàn ngoại giao của Liên Xô có rất nhiều nhân viên KGB và GRU, phần lớn tuổi đời còn trẻ và đầy hứa hẹn. Chẳng có nhiều phi vụ béo bở gì quanh trụ sở này, nhưng đây là một nơi thực tập rất tốt cho các điệp viên để sau này có thể xoay xở với những nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm hơn bội phần.

TOP HAT ở đây là Đmi-tri F.Pô-ly-a-kốp và được FBI đánh giá là "con cá lớn". Năm 1951, nhan viên GRU 31 tuổi này lần đầu tiên được đến Niu Y-oóc, trong phái đoàn Liên hiệp quốc Xô-viết với vỏ bọc ngoại giao. Vì với tuổi đời còn khá trẻ mà đã nhận được chức vụ cao cũng như trọng trách (thu thập bí mật tình báo công nghệ của Mỹ) nên rõ ràng anh sớm muộn cũng nắm vị trí trọng yếu trong GRU. Năm 1956, sau khi hoàn thành nhiệm kỳ ở Liên hợp quốc và trở về Mát-xcơ-va. Pô-ly-a-kốp đã nằm trong danh sách theo dõi sát sao của FBI.

Ba năm sau, Pô-ly-a-kốp trở lại Liên hợp quốc nhận nhiệm kỳ mới cũng như đem lại cho FBI khám phá thú vị: người này đang bất mãn chế độ, nguyên nhân chủ yếu là vì tiền bạc. Dù đã mang quân hàm đại tá và mỗi năm nhận được 10.000 USD nhưng phần lớn số tiền này phải gửi về cho chính quyền Liên Xô.

Cùng lúc, cuộc sống xa hoa Niu Y-oóc cũng ảnh hưởng không nhỏ tới anh ta.

Năm 1960 , Pô-ly-a-kốp đã lộ rõ ý định của mình trong lần chạm trán với 2 nhân viên phản gián FBI. Câu chuyện diễn ra vào một buổi sáng trên khu phố không có người Nga nào qua lại. Giống như những bạn học cũ lâu ngày mới gặp mặt, hai nhân viên FBI chỉ pha trò và tán gẫu về gia đình và hẹn gặp lại nếu như Pô-ly-a-kốp gặp "trục trặc" và cần thương thảo. Pô-ly-a-kốp không hứa hẹn gì nhưng cũng không phủ nhận cuộc gặp mặt này vì kiểu gì anh ta cũng phải báo cáo cho cấp trên.

Nói cách khác, FBI đã "thả khăn mùi soa" và Pô-ly-a-kốp đã đi đến quyết định sau cùng. Tại một địa điểm tiếp tân ngoại giao, anh đã đến gặp một nhân viên ngoại giao Mỹ và tỏ ý muốn nói chuyện với FBI. Một chương mới trong chiến tranh lạnh đã mở ra và kéo dài liên tục trong 25 năm sau đó.

Rất bình thản, Pô-ly-a-kốp cho biết, anh ta không hành động vì tiền nhưng cũng rất vui lòng nếu được đáp ứng một số yêu cầu vật chất. Số là Pô-ly-a-kốp rất mê sưu tầm những khẩu súng cổ làm thủ công Anh ta đã có lần nhìn thấy một khẩu súng như vậy ở một cửa hiệu tại Đại lộ 5. Giá của khẩu súng quả thật ngoài tầm đồng lương đại tá, nên Pô-ly-a-kốp thường xuyên qua cửa hàng đó đứng ngắm khẩu súng rất lâu. Pô-ly-a-kốp rất hạnh phúc nếu FBI lấy đây làm món quà ra mắt.

Và 6.000USD đã được chi ra để tỏ lòng thành của Mỹ. Ngay lập tức, Pô-ly-a-kốp chứng tỏ, đầu tư tiền bạc vào tình báo là con đường khôn ngoan nhất.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #49 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:47:49 pm »

Trong các buổi gặp gỡ với TOP HAT tại các địa điểm an toàn quanh Niu Y-oóc. FBI đã nhận ra họ đã nắm trong tay một khối vàng ròng. Lý lịch của Pô-ly-a-kốp thật là hoàn hảo. Đây là con một nhân viên thư viện người U-krai-na và làm sĩ quan lục quân trong suốt thế chiến thứ 2. Sau chiến tranh, sự quả cảm trên chiến trường đã khiến cho Pô-ly-a-kốp được nhận vào Học viện quân sự Frun-de danh tiếng không kém Oét Poanh ở Mỹ. Là một học viên xuất sắc, Pô-ly-a-kốp nằm trong danh sách tinh hoa của học viện được GRU chọn ra cho ngành tình báo. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Liên hợp quốc năm 1951, Pô-ly-a-kốp được chuyển đến Bec-lin, một trong những trạm tình báo quan trọng nhất của Liên Xô hồi đó. Anh ta đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc tới mức được nhận ngay quân hàm đại tá năm 1959 và nằm trong danh sách ít ỏi những lãnh đạo cao cấp trong tương lai của GRU.

Sau khi bắt tay hợp tác, Pô-ly-a-kốp đã báo một tin dữ cho nhân viên giám sát FBI "Chúng tôi đã thâm nhập vào quân đội của các ông. Tất cả giờ đây lộ rõ như một cuốn sách mở sẵn. Có những kẻ phản bội đang ra tay giúp đỡ”. Rồi Pô-ly-a-kốp bắt đầu phun ra những bí mật kinh hồn.

Giắc E.Dăn-lap, trung sĩ, lái xe kiêm nhân viên liên lạc của NSA - Sở an ninh quốc gia bí hiểm. Anh ta chụp các tài liệu của NSA bằng một máy ảnh đặc biệt tốc độ cao và liên tục chuyển tin cho GRU trong các chuyến công cán của mình. Dăn-lap không hề gây ra nghi ngờ và đã giúp Nga thâm nhập NSA trong nhiều năm. Đổi lại, anh ta được thưởng hậu hĩnh, mua một xuồng cao tốc, xe hơi và nhiều đồ xa xỉ khác.

Uy-li-am H.Va-len, một báu vật tại Mỹ, là một trung tá lục quân, năm 1959 từng làm cố vấn cho Bộ tổng tham mưu. Va-len đồng ý hợp tác chủ yếu vì tiền và nhận được gần 400.000 USD. Đổi lại, GRU đã nhận được chi tiết về vũ khí hạt nhân của Mỹ, kế hoạch tác chiến của quân đội trong tình huống có chiến tranh, đánh giá của tình báo Mỹ, về khả năng quân sự của Liên Xô và bất cứ thứ gì hay qua tay ông.

Nen-xơn Drăm-mông, giống như Dăn-lap, một chức vụ quèn đã che giấu tầm quan trọng. Dù chỉ là một hạ sĩ hải quân, nhưng công việc của anh ta liên quan tới những hệ thống liên lạc tối mật. Làm việc tại trung tâm liên lạc hải quân tại Luân Đôn, Drăm-mông được tiếp xúc với hàng đống thông tin bí mật về triển khai quân của hải quân, kỹ thuật hệ thống vũ khí và hệ thống mật mã. Sau khi được Pô-ly-a-kốp cảnh báo. Lầu Năm góc phải đổ vài trăm triệu đô-la để thay thế những gì bị lộ.

Hơ-bớt W.Bốc-ken-hao, một viên lính quèn ở một vị trí vô giá. Bốc-ken-hao, là một hạ sĩ chuyên xử lý liên lạc tuyệt mật. Anh ta bán mọi chi tiết về mật mã không quân, hệ thống tín hiệu và thậm chí cả hệ thống mật mã điều khiển không quân chiến lược trong trường hợp xảy ra chiến tranh thế giới.

Cũng may là trong cuối những năm 50, Mỹ đã không phát động chiến tranh chống Liên Xô. Nếu có, họ đã cầm chắc thua vì chỉ với Va-len và Bốc-ken-hao không thôi, mọi kế hoạch của quân đội Mỹ đã nằm gọn trong tay người Nga. Người Anh cũng không khá hơn vì Liên Xô đã tuyển được Frăng Bo-xát, nhà nghiên cứu công nghiệp tên lửa điều khiển.

Mọi nghi ngờ Pô-ly-a-kốp được xoá sạch khi FBI tiến hành xác minh thông tin vừa nhận được và loại trừ từng người một. Dăn-lap tự tử khi sắp bị bắt, Va-len bị giết trong trại giam khi đang thụ án 40 năm tù, Drăm-mông và Bốc-ken-hao, ngồi bóc lịch dài hạn.

FBI phải xử lý vụ này hết sức kín kẽ nhằm bảo vệ TOP HAT. Bằng một loạt những thủ đoạn kèm chứng cớ giả. FBI đã khiến GRU tin rằng có một kẻ phản bội tại tổng hành dinh của cơ quan này đã tiết lộ bí mật.

Những thủ đoạn này hết sức cần thiết không chỉ để bảo vệ TOP HAT mà còn dọn đường cho hậu kỳ. Cuối năm 1962, Pô-ly-a-kốp kết thúc nhiệm kỳ và nhận nhiệm vụ ở một nước mới. Theo luật định, FBI không được hoạt động ở nước ngoài nên chuyển quyền điều khiển Pô-ly-a-kốp cho CIA. Bất kể bộ phận phản gián luôn giữ thái độ thù địch với những kẻ phản bội người Xô-viết, Pô-ly-a-kốp đã chứng tỏ mình là một món hàng xịn.

Trước hết, khi được chuyển đến Ran-gun, Pô-ly-a-kốp được CIA đặt cho mật danh BOORBON và GT/ACCORD, và tiếp tục phun ra các bí mật đáng giá. Hắn cung cấp đủ thứ GRU biết được từ ngân hàng dữ liệu tối mật về lực lượng quân giải phóng Trung Quốc và Việt Nam, những điệp vụ ăn cắp công nghệ Mỹ, và cả sự rạn nứt quan hệ Xô-Trung. Nguồn tin từ Pô-ly-a-kốp đóng vai trò không nhỏ trong chính quyền Ních-xơn khi ra quyết định trong quan hệ với Trung Quốc và khi kết thúc chiến tranh ở Việt Nam.

Năm 1974, Pô-ly-a-kốp lên hàm cấp tướng, một sự thăng tiến có sự giúp đỡ không nhỏ từ CIA. Đề phòng an ninh được nâng lên mức cao nhất khi Pô-ly-a-kốp bị triệu hồi về Mát-xcơ-va năm 1978. CIA nhận thấy các "hòm thư chết" là quá sức mạo hiểm nên đã chuyển sang dùng công nghệ cao. Đây là một thiết bị điện tử thông thường, có thể nhập được 50 trang văn bản. Nó sẽ tự động mã hoá thông tin và để truyền đi toàn bộ thông tin chỉ trong 2,6 giây. Đây là phương pháp đặc biệt có độ bảo mật rất cao: khi Pô-ly-a-kốp có thông tin gì cần gửi thì chỉ cần nhập thông tin vào máy, bắt một chuyến xe buýt đến trung tâm thủ đô. Vì lộ trình xe buýt sẽ đi ngang qua Đại sứ quán Mỹ nên đến lúc này, Pô-ly-a-kốp chỉ việc bấm một nút nhỏ trên máy thì toàn bộ thông tin sẽ được truyền tới một máy thu đặc biệt trong sứ quán đang hoạt động suốt ngày đêm. Sự chu đáo này đã được đền bù thoả đáng. Đến cuối năm 1980 , Pô-ly-a-kốp đã đứng đầu danh sách những "chuột chũi" thượng hạng của Mỹ. Tài liệu của người này cung cấp có thể chất đầy 25 két hồ sơ tại trụ sở CIA và còn tiếp tục dầy lên. Và cũng từ người này, các nghiên cứu quân sự của Hội đồng tướng lĩnh Xô-viết đã chảy đến đây !

Cho đến năm 1985, Pô-ly-a-kốp đã ở ngôi vị điệp viên CIA siêu hạng được 25 năm, quãng thời gian dài một cách bất thường. Dù đã để lộ nhiều thông tin và xóa sổ không ít các con bài có giá trị của Liên Xô hoạt động ở Phương Tây, không ai nghi ngờ con người này. Thế nhưng vào buổi sáng một ngày tháng giêng năm đó, tại một địa điểm an toàn của KGB tại Bô-gô-ta, Cô-lôm-bi-a, xuất hiện một người Mỹ, làm đảo lộn tất cả. Đó là Ôn-đrích A-mít.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM