Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:39:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884037 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #300 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2009, 05:10:58 pm »


Thiếu tướng Trần Chí Cường (tên thật: Trần Thanh Nhã, 1926-2009) từng giữ các chức vụ: Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Hậu cần, Phó Giám đốc Học viện Hậu cần, Phó Tư lệnh phụ trách Hậu cần Quân khu 2, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Thiếu tướng Trần Chí Cường, tên khai sinh là Trần Thanh Nhã, sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho có truyền thống yêu nước ở làng Phước Hưng, thuộc tổng An Cư, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên (nay là xã Lộc Thủy, Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế). Là người hiếu học, ngay từ thuở thiếu thời, ông đã gặp được những người thầy tên tuổi như: Cao Xuân Huy, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Lân, Hoài Thanh, Đào Duy Anh... Bạn bè cùng trang lứa với ông có những người như Ngô Viết Thụ, về sau là một kiến trúc sư lừng danh. Người em ruột của ông là Giáo sư Trần Thanh Đạm, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. Trong hai cuộc kháng chiến, gia đình ông phải gánh chịu nhiều mất mát. Một người anh bị giặc Pháp sát hại. Bà nội và mẹ ông bị chết vì bom đạn giặc.

Tháng 5-1945, Trần Chí Cường được kết nạp Đảng và 5 năm sau (1950), ông được bầu vào Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên. Đầu năm 1951, ông được điều động vào quân đội, giữ chức Trưởng phòng Cung cấp (Chủ nhiệm Hậu cần) Đại đoàn 325.

Sau hòa bình (1954), tập kết ra Bắc, ông được giao nhiều cương vị công tác khác nhau, từ Hiệu trưởng Trường sĩ quan Hậu cần, Phó giám đốc Học viện Hậu cần, Phó tư lệnh về Hậu cần Quân khu 2, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #301 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2009, 09:48:18 pm »


Trung tướng Nguyễn Chánh (1917-20/03/2001) từng giữ các chức vụ : Khu trưởng Khu 8, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ, Tham mưu trưởng Quân khu Hữu ngạn, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, Phó Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Tư lệnh Quân khu 9, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Ít-xa-la của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huân chương diệt phát-xít của nhà nước Liên bang Cộng hòa Xô-viết.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984).


Trung tướng Nguyễn Chánh sinh tại xã Phước Hậu, huyện Tuy Phước quê gốc tại phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định. Thời trẻ ông từng giữ chức vụ cai đội trong đội quân lính khố xanh của Pháp đóng tại Thà-khẹc Lào. Tháng 7 năm 1945, ông được tuyên truyền và giác ngộ Cách mạng, tham gia vào Đội binh sĩ cứu quốc tại Thà-khẹc. Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra, ông đưa đội lính khố xanh do mình chỉ huy gia nhập Giải phóng quân.

Từ tháng 10 năm 1946 đến tháng 3 năm 1946, ông lần lượt giữ các chức vụ : tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội trưởng, Chỉ huy trưởng Việt kiều giải phóng quân của tỉnh Thà-khẹc đồng thời là Ủy viên Bảo vệ Noọng-khẹt. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1946.

Đên 23 tháng 3 năm 1946, quân Pháp tấn công các tỉnh Viêng Chăn, Sa-va-na-khét, Thà-khẹt, Liên quân Lào Việt phải rút sang Thái Lan lập căn cứ kháng chiến. Tháng 5 năm 1946, lực lượng Việt kiều Giải phóng quân được tập hợp lại tại căn cứ Noọng-kè (Thái Lan). Từ tháng 4 năm 1946 đến tháng 11 năm 1946, ông là chỉ huy trưởng Chiến khu Um-kê Nọng Hơi.  

Tháng 12 năm 1946, Chi đội Trần Phú, với quân số hơn 400 người được thành lập. Ông được cử làm chi đội trưởng, ông Dương Cự Tẩm làm Chính trị viên. Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Chi đội Trần Phú tập kết tại căn cứ tạm thời ở Mường Đêk (Thái Lan) và làm lễ xuất phát vào ngày 26 tháng 12 năm 1946 về nước chiến đâu do ông là Chỉ huy trưởng, ông Trần Văn Sáu làm Chính trị viên. Sau đó, ông là Chỉ huy Chi đội Trần Phú chiến đấu ở hải ngoại và chiến trường Nam Bộ, sau đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 109 Khu 8.

Năm 1948, ông là Khu trưởng Khu 8. Từ năm 1949 đến năm 1953, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Khu 9, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Phân liên khu miền Tây Nam Bộ. Tháng 7 năm 1954, ông là Phái viên của Bộ Tổng Tư lệnh làm công tác chuyển quân tập kết.

Từ năm 1955 đến năm 1963, ông là Tham mưu trưởng Quân khu Hữu Ngạn. Từ năm 1960 đến năm 1963, ông học tại Học viện Quân sự Liên Xô. Năm 1964, ông là Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Từ tháng 6 năm 1964, ông vào chiến trường Khu 5, là Phó Tư lệnh Quân khu 5, kiêm Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Thường vụ Khu uỷ. Năm 1969, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

Tháng 6 năm 1978, ông là Tư lệnh Quân khu 9. Tháng 4 năm 1979, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Tháng 3 năm 1985, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.  

Tham khảo: Bảo tàng Quân sự Việt Nam
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2011, 03:26:56 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #302 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2009, 10:09:40 pm »


Thiếu tướng Giáo sư dược Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Ngọc Doãn (17/06/1914-1987) quê tại phố Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Từ năm 1946 đến năm 1957, ông công tác tại Cục Quân Y Bộ Quốc phòng; Từ năm 1957 đến 1987, ông lần lượt giữ các chức vụ: Phó viện trưởng Viện Quân y 108 Bộ Quốc phòng rồi Chủ nhiệm Bộ môn Dược lý Trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Ông được phong học hàm Giáo sư năm 1980 chuyên ngành Dược lý học, chuyên nghiên cứu về  dược động học cũa thuốc y học cổ truyền. Độc tính của thuốc. Tác dụng thuốc trên hệ tim mạch. Ông từng công bố 45 nghiên cứu khoa học trên các tạp chí trong và ngoài nước và tham gia viết, xuất bản 12 quyển sách về Dược lý học.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doãn đã được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba. Huân chương Quân công hạng ba và hạng nhất. Huân chương kháng chiến hạng nhất.




« Sửa lần cuối: 13 Tháng Chín, 2009, 04:17:14 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #303 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2009, 04:11:13 am »


Đại tá Giáo sư Bác sĩ Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Tăng Ấm (9/3/1919-26/1/2008) từng giữ các chức vụ: Trưởng Phòng Quân y Cơ quan Bộ Quốc phòng, Hiệu phó Trường đại học Quân y (nay là Học viện Quân y).

Ngoài ra ông còn giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ y tế phụ trách vệ sinh phòng dịch.

Giáo sư dịch tễ học (1980), Thầy thuốc nhân dân (1989)

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhì. Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba. Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì. Huân chương Chiến thắng hạng Nhì. Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Huân chương Độc lập campuchia hạng Nhất. giải thưởng Phạm Ngọc Thạch hạng Nhất... Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Ông quê tại xã Phú Lễ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Là học sinh Trường Quốc học Huế, học y khoa tại Đại học Y Hà Nội, còn 6 tháng nữa là tốt nghiệp thì kháng chiến bùng nổ, ông tiếp tục theo học y khoa ở chiến khu Việt Bắc, đến năm 1947 thì tốt nghiệp. Trong suốt thời gian kháng chiến từ năm 1946 đến năm 1954, ông đi khắp các chiến trường từ mặt trận Hà Nội đến Đèo Giàng, Bắc Kạn cấp cứu, phẫu thuật cho thương binh. Là Phó ban Chi đội Giải Phòng quân Thừa Thiên Huế, Trưởng ban Quân y Trung đoàn 354. Trưởng phòng quân y Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, ông là người chỉ huy công tác cứu thương cho bộ đội trong các chiến dịch Trung Du, Tây Bắc và bảo vệ sức khỏe cán bộ, chiến sĩ tại chiến khu Việt Bắc.

Năm 1955, BS. Nguyễn Tăng Ấm được cử sang Liên Xô học ngành dịch tễ học quân sự, trở về với luận án tiến sĩ được bảo vệ thành công tại Học viện Quân y Leningrad năm 1960. Về nước, TS. Nguyễn Tăng Ấm tiếp tục đảm nhận những vị trí quan trọng trong ngành quân y: Trưởng phòng Vệ sinh Phòng dịch cục Quân y. Chủ nhiêmk khoa Dịch tễ học. Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự.

Từ năm 1965 đến năm 1976, ông được cử giữ chức vụ Phó Giám đốc Trường Đại học Quân y. Năm 1965, bệnh sốt rét lan rộng trên chiến trường Tây Nguyên vào lúc công cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày càng thêm ác liệt. Nhiều chiến sĩ bộ đội ta bị hy sinh, bị thương do bom đạn của quân thù và cũng nhiều chiến sĩ, thanh niên xung phong lại bị tử nạn do bệnh sốt rét ác tính. Đoàn công tác của Đại học Quân y do Hiệu phó Nguyễn Tăng Ấm dẫn đầu với 7 chủ nhiệm bộ môn và khoa, vượt qua bom đạn có mặt tại các đơn vị bộ đội chiến trường Tây Nguyên, chịu đựng sốt rét như người lính để nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái muỗi truyền sốt rét nghiên cứu thuốc diệt muỗi và xua mỗi. Đoàn công tác đã kịp thời xây dựng phác đồ điều trị sốt rét cho bộ đội và xác định rõ các ký sinh trùng sốt rét đã kháng thuốc chloroquin nên việc uống thuốc phòng và điều trị sốt rét ở chiến trường miền Nam gặp khó khăn. Ông đã đề nghị Cục Quân y kịp thời cấp phát loại thuốc mới P2 và 2 loại dầu xua muỗi DEP và DMP cho các cán bộ và chiến sĩ đi chiến trường thì số mắc sốt rét mới giảm dần.

Sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, lại xuất hiện dịch sốt xuất huyết ở các quân đoàn trong vùng mới giải phóng với chiều hướng phức tạp. TS. Nguyễn Tăng Ấm và các cán bộ quân y lại vào tham gia phòng chống dịch. Sau 4 tháng, với nhiều  biện pháp được tích cực áp dụng, bệnh dịch hoàn toàn được khống chế.

Năm 1976, TS. Nguyễn Tăng Ấm được Chính phủ bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Y tế, phụ trách chỉ đạo công tác vệ sinh phòng dịch trong cả nước. Với cương vị mới, Thứ trưởng Nguyễn Tăng Ấm đã chỉ đạo tốt công tác dịch bệnh ở miền Bắc, xây dựng chương trình vệ sinh nông thôn, thực hiện cuộc vận động "sạch làng, tốt ruộng", xây dựng phong trào dứt điểm ba công trình: giếng nước, hố xí hai ngăn, nhà tắm và nhân rộng ở các địa phương.

Năm 1979, tình hình bệnh dịch tả ở miền Nam diễn biến phức tạp và nguy hiểm. Hàng trăm người mắc tả ở Nha Trang, Thuận Hải, Nghĩa Bình và sau đó lan ra  các tỉnh: Tiền Giang, Cửu Long, Thừa Thiên Huế... Trước đó, dịch đã  xảy ra  ở một số nước  châu Á và châu Phi. Thứ trưởng Nguyễn Tăng Ấm đã trực tiếp chỉ đạo Viện Pasteur Nha Trang, Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh phối hợp với ngành y tế  sở tại thành lập ban chỉ đạo chống dịch ở các địa phương, tập huấn xử lý các ổ dịch, chỉ đạo tổ chức công tác bao vây và dập dịch với các biện pháp khẩn trương và tích  cực.  Nhờ đó, các vụ dịch tả trong năm 1979, 1980 đều nhanh chóng được dập tắt trong khi các nước khác vẫn gặp nhiều khó khăn.

Năm 1980, dịch hạch bùng phát ở nông trường cao su thuộc tỉnh Đồng Nai, tỉnh trọng điểm về kinh tế, có hàng chục nghìn hecta trồng cao su và cà phê. Chỉ trong 2 năm, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thứ trưởng Ấm, dịch bệnh được chặn đứng, góp phần ổn định dân sinh và phục vụ phát triển sản xuất của tỉnh. Trước đó, trong thời gian chiến tranh, quân đội Mỹ đã đưa sang miền Nam các đơn vị nghiên cứu chống dịch hạch USAMRT và Walter Reed nhưng không khống chế được bệnh dịch này.

Năm 1982, Ban Bí thư Trung ương cử Thứ trưởng - GS. Nguyễn Tăng Ấm kiêm nhiệm công tác trưởng đoàn chuyên gia y tế Việt Nam giúp nước bạn Campuchia khôi phục lại mạng lưới y tế bị chế độ Pôn Pốt làm tan rã và tổ chức phòng chống dịch bệnh và giúp đào tạo cán bộ y tế tại nước bạn.

Năm 1989, khi đã  hơn 70 tuổi, GS. Nguyễn Tăng Ấm được nghỉ công tác về sống tại TP. Hồ Chí Minh và được mời làm chuyên viên cao cấp Sở Y tế thành phố, Chủ nhiệm Bộ môn Truyền nhiễm - Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ y tế (nay là Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch), cố vấn Trung tâm Bệnh viện Nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh cho đến hết năm 1999, GS. Ấm mới nghỉ công tác ở tuổi 80.

Dù bận nhiều công việc trong công tác quản lý, GS. Ấm vẫn dành thời gian nghiên cứu khoa học. Trong suốt 54 năm công tác, GS. Nguyễn Tăng Ấm đã có 35 công trình nghiên cứu trong và ngoài nước (tiếng Việt, Pháp, Nga), như: Vũ khí vi trùng và dịch tễ học. Bệnh sốt rét. Bệnh dịch hạchPhòng và chống chiến tranh vi trùng. Epidémiologie des infections intestinales. Phòng chống các bệnh nhiễm trùng tại các nước Đông Nam Á.... Ông đã xuất bản 10 cuốn sách y học, trong đó 2 cuốn viết tiếng Pháp là Dịch tễ học nhiệt đới và Các bệnh truyền nhiễm được lưu hành ở 39 nước nói tiếng Pháp, 1 cuốn sách tiếng Nga: Phòng chống các bệnh truyền nhiễm ở các nước đang phát triển.

Trên cương vị là Chủ nhiệm Bộ môn Truyền nhiễm - Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ y tế TP. Hồ Chí Minh, hằng năm GS. Ấm đã tham gia hướng dẫn khoa học cho 12-15 sinh viên y người Pháp sang Việt Nam thực tập về bệnh nhiệt đới và giúp cho 5-10 bác sĩ nội trú Việt Nam sang Pháp thực tập trong chương trình trao đổi đào tạo với nước bạn.

Nghỉ quản lý, giáo sư vẫn tiếp tục công tác đào tạo, hướng dẫn thực tập cho sinh viên trong và ngoài nước, trực tiếp cùng sinh viên đi thực địa, lấy mẫu bệnh phẩm và nghiên cứu các dịch bệnh cho tới năm 2006 khi giáo sư khó đi lại được do tuổi cao.

Đại tá Giáo sư Nguyễn Tăng Ấm là thầy thuốc có công xây dựng và phát triển ngành y tế dự phòng và chống dịch bệnh trong quân y, dân y.

Theo Bộ Y tế





 
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Mig-29
Thành viên
*
Bài viết: 50



« Trả lời #304 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2009, 01:25:09 pm »

@ Đồng chí Panphilpov:
Chuyên mục thật hay về tướng lĩnh, nhưng nếu chủ đề vậy thì có nên đưa cấp Đại tá vào không? và nữa, tôi nghĩ chỉ nên đưa những ai có hàm cấp chính thức, tính đến thời điểm này. Nếu đã bị tước quân tịch thì đương nhiên không đưa vào.

Nếu không đưa cấp Đại tá vào, em thấy thiệt thòi cho nhiều người quá. Lại càng thiệt thòi hơn cho những người còn không có cả quân hàm như các cụ Trần Đăng Ninh, Nguyễn Chánh, Hoàng Đình Giong... chẳng hạn. Cho nên em đưa vào đây theo chức vụ và cả căn cứ vào thời điểm nữa.

Tình cờ được biết đến trang web này vì tò mò tìm trên mạng về ông của mình, thanks bạn rất nhiều, tuy nhiên như góp ý của bạn SukhoiSu-47Berkut, topic đã nêu đến chuyên đề tướng thì chỉ nên đề cập đến tướng. Sự nghiệp giải phóng dân tộc rất nhiều người có công với Cách mạng, do đó để nêu gương cho thế hệ sau học hỏi và tìm hiểu bạn có thể lập topic khác vậy cụ thể và súc tích hơn. Theo mình giữa tướng và tá thì có sự khác biệt mặc dù công lao đóng góp không thể so sánh được, vài góp ý cùng diễn đàn, mong các bạn phát triển ngày càng vững mạnh. Thân!
Logged
mytam81
Thành viên
*
Bài viết: 390


... MY TIME ...


WWW
« Trả lời #305 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2009, 02:19:04 pm »

Tình cờ được biết đến trang web này vì tò mò tìm trên mạng về ông của mình, thanks bạn rất nhiều, tuy nhiên như góp ý của bạn SukhoiSu-47Berkut, topic đã nêu đến chuyên đề tướng thì chỉ nên đề cập đến tướng. Sự nghiệp giải phóng dân tộc rất nhiều người có công với Cách mạng, do đó để nêu gương cho thế hệ sau học hỏi và tìm hiểu bạn có thể lập topic khác vậy cụ thể và súc tích hơn. Theo mình giữa tướng và tá thì có sự khác biệt mặc dù công lao đóng góp không thể so sánh được, vài góp ý cùng diễn đàn, mong các bạn phát triển ngày càng vững mạnh. Thân!
[/quote]

Theo quan điểm của em thì vào những thời kỳ đầu tiên của cách mạng Việt Nam, số lượng sỹ quan, tướng lĩnh rất ít. Ví dụ như vào năm 1958, Bác Hồ tiếp tục phong quân hàm cho một số các cụ thì số lượng đại tá được phong lúc đó cũng chỉ khoảng vài chục người. Hết sức quý giá, và số lượng thì không nhiều.

Do vậy, đối với các cụ lão thành cách mạng không nên phân biệt quân hàm tướng, tá làm gì cả. Chúng ta có một topic chung như vậy để các thế hệ sau nhớ về công lao của các cụ.



Logged

... Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại ...
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #306 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2009, 01:16:34 am »


Thiếu tướng Giáo sư Truyền nhiễm (1980) Tiến sĩ Khoa học (1960) Bùi Đại (30/9/1924), từng giữ các chức vụ : Phó Viện trưởng Viện 103 kiêm Hiệu phó Học viện Quân y, Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự, Viện trưởng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (12.1989), Thầy thuốc Nhân dân (3.1989)

Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến (hạng Nhất, Ba), Huân chương Quân công, Huân chương chiến sĩ Giải phóng, Huy chương vì cách mạng Lào, Giải thưởng nhà nước về Khoa học va Công nghệ năm 2000. Bằng khen của tổng cục Hậu cần.


Thiếu tướng Bùi Đại quê tại Thanh Hóa. Tháng 10 năm 1946, khi đang là học viên năm thứ nhất Trường Quân y, ông xếp bút nghiên lên Quân y vụ Thái Nguyên chăm sóc thương bệnh binh. Từ năm 1946 đến 1954, ông làm công tác Y tế trong Quân đội là Trưởng ban điều trị, Phó Phòng Kế hoạch Cục Quân y. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông theo chân bộ đội chủ lực có mặt tại hầu hết các chiến dịch lớn như : Tây Bắc, Thượng Lào… Để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954, trước thời điểm chiến sự nổ ra 3 tháng, ông đi cùng với Cục trưởng Cục Quân y thời bấy giờ là ông Vũ Văn Cần bí mật lên điều tra chiến địa, bố trí các trung tâm y tế phục vụ các trận đánh.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông được cử đi làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô. Sau khi về nước cho đến năm 1973, ông lần lượt giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Bộ môn, Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm của Viện 103 và Học viện Quân y (1960) rồi Chủ nhiệm Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Từ năm 1973 đến 1982, ông lần lượt được cử giữ các chức vụ : Phó Viện trưởng rồi Viện trưởng Viện 103 kiêm Hiệu phó Trường Đại học Quân y, nhiều lần phục vụ Chiến trường miền Nam.

Năm 1965, bộ đội và người dân Sơn La bị một đợt sốt không rõ nguyên nhân rất nghiêm trọng. Các nhân viên y tế địa phương đã cho người bệnh dùng thuốc chống sốt rét ác tính nhưng bệnh không những không suy giảm mà còn nặng thêm. Trước tình hình ấy, ông cùng với GS Võ An Dậu ở Khoa truyền nhiễm Bệnh viện 103 được điều gấp lên Sơn La đẩy lùi dịch sốt không rõ nguyên nhân này.

Những tháng ngày đầu năm 1965, bộ đội hy sinh rất nhiều vì mắc phải sốt rét ác tính. Nhất là những tân binh, nhiều chiến sĩ hành quân mới vào điểm tập kết đã phải nằm lại bởi sốt rét. Ông đã đi tất cả những chiến trường B3, B1 khu 5, B4 Bình Trị Thiên, hai lần ở B2 Nam Bộ từ 1971-1973 và 1974-1976. Làm nhiệm vụ đẩy lùi bệnh rốt rét cho bộ đội hạn chế đến mức tối đa hy sinh vì sốt rét.

Năm 1968, ông được Tổng cục và Cục quân y cử vào trong HO đón E5 ở Trị Thiên ra hậu phương (E1, E2, E3, E7. E8) với hai nhiệm vụ phòng chống và điều trị dịch sốt rét ác tính đang bùng phát ở các đơn vị này.  Nằm trong lòng chiến trận ở Nam Bộ, ông đã đề đạt với Cục Quân y nhiều phương pháp phòng và điều trị dịch sốt rét ác tính mới và hiệu quả. Một trong những biện pháp đạt hiệu quả là dùng phối hợp thuốc sốt rét (Quinin hoặc Chloroquine với Pyrimethamine) được Cục Quân y chấp nhận đưa vào điều trị cho bộ đội.  Những phương án điều trị của ông đã đáp ứng kịp thời nhu cầu chiến trường và được đưa vào các văn bản chỉ thị hướng dẫn điều trị sốt rét của Cục Quân y và của Quân y Miền Nam, được áp dụng rộng rãi ở mọi chiến trường từ các tuyến trước về cơ sở điều trị tuyến sau của hành lang 559, các quân khu B1, B3, B4, B4, B5, B2.

Từ năm 1983 đến 1984, ông tiếp tục sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh cao cấp. Năm 1984, ông là Viện trưởng Viện nghiên cứu Y học Quân sự. 1985, Viện trưởng Bệnh viên Trung ương Quân đội 108 và được phong quân hàm Thiếu tướng. Từ năm 1996 ông thôi giữ vai trò quản lý và chuyển sang làm chuyên viên cao cấp của Bệnh viện 108 cho đến khi về hưu năm 2005.

Thiếu tướng Bùi Đại là Chuyên viên đầu ngành về Dịch học Quân sự - Chuyên gia cố vấn Chương trình phòng chống sốt rét Quốc gia, từng là Trưởng Tiểu ban Truyền nhiễm Quân đội. Ông cũng được bạn bè nước ngoài biết đến với tư cách là nhà chuyên gia chống dịch hàng đầu. Sau khi hoà bình lập lại ông sang Lào đẩy lùi dịch sốt đái đen. Sau đó sang Trung Quốc chữa dịch viêm màng não rồi sang Camphuchia chống hạch.

Ông đã hướng dẫn 10 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ. Xuất bản hơn 20 cuốn gồm giáo trình, sách tham khảo và hơn 70 bài viết về truyền nhiễm dịch tễ, về sốt rét ác tính, về bệnh viêm gann bệnh Dengue…

Sưu tầm và tổng hợp.





Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #307 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2009, 02:17:49 am »


Thiếu tướng Giáo sư Viện sĩ Tiến sĩ Khoa học Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Huy Phan (1928 – 1997), từng giữ các chức vụ : Phó Viện trưởng Viện 108, Trưởng Tiểu ban ngoại Cục Quân y.

Tiến sĩ (1956), Tiến sĩ Khoa học (1983), Phó Giáo sư (1980), Giáo sư (1984), Thầy thuốc Nhân dân.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba).


Thiếu tướng Nguyễn Huy Phan quê tại xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Thuở nhỏ, chứng kiến cảnh chết đi sống lại của người anh trai khi bị viêm ruột thừa cấp. Chỉ bằng một can thiệp kỹ thuật chính xác, kịp thời của bác sĩ Tôn Thất Tùng, mà ranh giới giữa cái sống cái chết được minh định. Từ đó, ông luôn mơ ước trở thành bác sĩ.

Năm 1946, khi mới là sinh viên năm thứ nhất Trường Y, ông tham gia kháng chiến với tư cách là tự vệ chiến đấu kiêm cứu thương. Trong một lần đi kiểm tra đơn vị, thanh tra Quân y, bác sĩ Trần Hữu nghiệp, phát hiện ra ông mặc dù còn trẻ nhưng làm việc say mê, lại có những hiểu biết về ngoại khoa và khuyên ông lên tiếp tục đi học.

Năm 1947, ông được cử đi học tại Trường Y kháng chiến tại Tuyên Quang, cứ 6 tháng học lại đi phục vụ chiến dịch vài ba tháng. Năm 1951, học xong năm thứ 4, vì điều kiện kháng chiến nhà trường chưa đủ điều kiện tổ chức thi bác sĩ, ông nhận chức danh y sĩ cao cấp rồi sau đó đi phục vụ khắp các mặt trận và chiến dịch ở phía Bắc từ Trung du đến Điện Biên Phủ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 1 năm 1955, ông thi đỗ bác sĩ tại Đại học Y Hà Nội và được giữ lại làm giảng viên của trường tại Bộ môn Giải phẫu. Mùa Thu năm 1955, ông được cử đi làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô với đề tài mà ông ấp ủ từ lâu : Phẫu thuật tạo hình vùng cổ mặt. Tại đây, trong suốt 4 năm nghiên cứu học tập, ông đã trực tiếp tham gia giải phẫu ở hai viện Chấn thương - Chỉnh hình và Phẫu thuật thẩm mỹ trung ương Matxcơva. Tháng 9-1959, Nguyễn Huy Phan bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ (giờ gọi là Tiến sĩ) y học với đề tài: Điều trị phẫu thuật các khối u máu vùng hàm mặt và trở thành Tiến sĩ y học đầu tiên của Việt Nam.

Từ năm 1962 đến năm 1978, ông giữ chức vụ Chủ nhiệm khoa Răng Hàm Mặt, Viện Quân y 108. Từ năm 1978 đến khi mất (1997), ông giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện 108. Trong thời điểm này, Thiếu tướng Nguyễn Huy Phan còn giữ vai trò : Chủ tịch Hội phẫu thuật Nụ cười Việt Nam, Chủ tịch Hội phẫu thuật tạo hình Hà Nội, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Mỹ, Phó Chủ tịch Hội Răng - Hàm - Mặt Việt Nam, Phó chủ tịch Hội ngọai khoa Việt Nam, Chuyên viên ngành tạo hình, Trưởng tiểu ban Ngọai Cục quân y.

40 năm liên tục làm phẫu thuật tạo hình với sự nhạy bén tiếp thu và ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến của nền ngoại khoa thế giới; với đỉnh cao khoa học đạt được năm 1983: bảo vệ thành công luận án tiến sĩ y khoa với đề tài ‘’Tạo hình phức hợp trong điều trị các dị chứng vết thương hoả khí lớn vùng hàm mặt’’.  Ông đã tham gia đào tạo nhiều khóa, lớp bác sĩ, chuyên khoa I, chuyên khoa II, cao học và nghiên cứu sinh về chuyên ngành phẫu thuật tạo hình. Công bố 118 công trình khoa học trên các tạp chí trong nước và nước ngòai. Hòan thành 2 đề tài cấp Nhà nước: Ứng dụng kỹ thuật vi phẫu thuật trên lâm sàng. Ứng dụng kỹ thuật Laze trong điều trị. Với lòng mong muốn tột độ của suốt cuộc đời là làm phẫu thuật tạo hình để đem lại hạnh phúc thật sự cho con người, GS.TS Nguyễn Huy Phan đã đi từ thành công này đến thành công khác mà rực rỡ nhất là công trình Giải phẫu tạo hình dương vật, góp phần mang lại hạnh phúc cho những lứa đôi.

Năm 1969, một sáng nọ, anh lính trẻ Trần Ngọc B, người Thanh Hoá mới 23 tuổi nhập viện trong tình trạng dương vật đã bị mảnh tên lửa tiện cụt. Anh khoẻ mạnh, đẹp trai, lại chưa có người yêu. Giáo sư Phan đã quyết định: phải tái tạo lại cho được bộ phận đã mất. Vậy là ca phẫu thuật tạo hình dương vật đầu tiên ở Việt nam được ông tiến hành với 6 lần mổ kéo dài trong 7 tháng điều trị tại chỗ. Một chuyện tình hi hữu xảy ra. Cô y tá được giao nhiệm vụ chăm sóc anh thương binh nọ trong suốt quá trình điều trị đã yêu anh... Kết cục thật đẹp: anh xuất viện trở về xứ Thanh, đem theo cả cô y tá. Họ thành vợ, thành chồng, sống hạnh phúc với nhau, liên tiếp cho chào đời 3 đứa con khoẻ mạnh... Sự thành công của ca phẫu thuật đầu tiên làm nức lòng GS. Nguyễn Huy Phan và cộng sự - những học trò của ông. Đến năm 1979 thì thầy trò ông đã tiến hành thành công 25 ca phẫu thuật tạo hình dương vật.

Từ những năm của thập kỷ 1930, y học thế giới đã sử dụng kính hiển vi vào phẫu thuật, bắt đầu từ việc mổ tai giữa: nói cách khác là từ đó đã có vi phẫu thuật. Bước sang thập kỷ 1960, kỹ thuật hiện đại đã sáng chế được nhiều công cụ y học tiên tiến, đặc biệt là bộ kim chỉ khâu cực mảnh với trôn kim là ống rỗng được đục bởi kỹ thuật laser - từ đây kỹ thuật vi phẫu thuật mạch máu, các bó sợi thần kinh mà đường kính ngoài khoảng 1mm bởi từ 4 đến 8 mũi khâu mà vẫn đảm bảo mạch thông suốt và các bó sợi thần kinh được ráp nối chuẩn xác. Những bộ phận của cơ thể bị cắt rời – trong vòng 5 giờ hoặc hơn một chút - sẽ được nối lại dễ dàng bởi kỹ thuật vi phẫu MM-TK. Trên thế giới, những năm của thập lỷ 1970 là thời kỳ nở rộ của kỹ thuật vi phẫu MM-TK tạo nên sự “bùng nổ” trong kỹ thuật ngoại khoa.

Năm 1975, đất nước thống nhất, nguồn thông tin khoa học kỹ thuật thế giới vào nước ta đã thông suốt và GS. Nguyễn Huy Phan đã theo dõi được những tiến bộ khoa học của nền y học thế giới, đặc biệt là kỹ thuật ngoại khoa. Năm 1977, phát hiện tại Tổng y viện Cộng hoà Sài Gòn có một chiếc kính hiển vi để mổ mà không dùng, GS. Phan đã xin điều về Quân y viện 108 Hà Nội. Ông đã lập một phòng thí nghiệm với kính mổ và sưu tầm đây đó những kim chỉ khâu cực mảnh, đèn đốt lưỡng cực..., tự sáng tạo thêm những dụng cụ cần thiết khác từ các dụng cụ vẫn dùng để mổ mắt... Từ phòng thí nghiệm này, ông đã thí nghiệm thành công việc mổ nối các động mạch tĩnh chủ bụng, chậu chung, đùi chuột cống trắng rồi ứng dụng vào kỹ thuật vi phẫu tạo hình trong lâm sàng. Tiếp đó là việc nghiên cứu để cải tiến phẫu thuật tạo hình áp dụng kỹ thuật vi phẫu MM-TK.

Mùa đông 1979, GS. Phan được Hội phẫu thuật tạo hình Pháp mời sang tham gia một số cơ sở tạo hình ở Paris, Lyon, Marseille và dự Hội nghị phẫu thuật tạo hình lần thứ 24 của Pháp với sự tham gia của khoảng 500 đại biểu trong và ngoài nước.

Năm 1991, sau khi chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất cần thiết, trong bị tốt những kiến thức y học hiện đại, những kinh nghiệm phẫu thuật tạo hình băng kỹ thuật vi phẫu MM-TK, với bàn tay phẫu thuật đã được rèn luyện hơn bốn chục năm qua. GS.TS Nguyễn Huy Phan đã mổ thành công ca tạo hình dương vật đầu tiên ở Việt Nam bằng kỹ thuật vi phẫu MM-TK.

Cho đến nay, GS.TS Nguyễn Huy Phan đã tiến hành thành công 10 ca tạo hình dương vật bằng kỹ thuật vi phẫu MM-TK. Việc làm của ông đã được sự theo dõi sát sao của các hội phẫu thuật tạo hình thế giới, đặc biệt là Pháp và Mỹ.

Thời điểm Giáo sư Nguyễn Huy Phan sang Pháp là thời điểm Việt Nam bắt đầu thực hiện những bước để tiến lại với các nước phương Tây đặc biệt là Mỹ để phá vỡ thế cô lập về ngoại giao. Khi đó, để chủ trương tiếp cận, Việt Nam chọn quyết định chọn khoa học mà cụ thể là ngành Y để tiếp cận. Do ông là người có chuyên môn cao, có phẩm chất, lập trường vững vàng cho nên được ông Lê Đức Anh lựa chọn đi dự Hội nghị phẫu thuật Quốc tế.

Tại Mỹ, ngành Y là một ngành được trọng vọng, các giáo sư và bác sĩ Mỹ tham dự hội nghị đã đánh giá rất cao các báo cáo của Giáo sư Nguyễn Huy Phan. Tháng 1-1995, Hội Phẫu thuật tạo hình Mỹ mời GS.TS. Nguyễn Huy Phan dự Hội nghị quốc tế phẫu thuật tạo hình tại Florida. Tại đây, ông sẽ đọc hai bản báo cáo, một về kinh nghiệm xây dựng chuyên ngành vi phẫu tạo hình tại một nước có nhiều khó khăn như Việt Nam và một về kỹ thuật tạo hình dương vật trong một thì mổ. Bản báo cáo thứ nhất sẽ dành thời gian 35 phút - một ngoại lệ (mỗi báo cáo khoa học trong hội nghị chỉ được dành 5-6 phút). Sau một thời gian, phía Mỹ mời Giáo sư Nguyễn Huy Phan trở thành công dân danh dự của New York và ông trở thành Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Mỹ đầu tiên.

Do những đóng góp của ông trong việc bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ, ông được chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ‘’đặc cách’’ trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Thiếu tướng Giáo sư Nguyễn Huy Phan, mất năm 1997 sau một thời gian bị mắc bệnh ung thư mà ông dấu gia đình đồng nghiệp để toàn tâm toàn ý cống hiến.

Sưu tầm và tổng hợp

« Sửa lần cuối: 20 Tháng Chín, 2009, 04:24:20 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #308 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2009, 03:12:27 pm »


Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Thúc Tùng (10/3/1916) từng giữ các chức vụ: Viện phó Viện Trung ương Quân đội 108, Viện trưởng Viện 175, Ủy viên Hội đồng Y học Bộ Quốc phòng.

Tiến sĩ (1964), Giáo sư Y học Chuyên ngành Tiết liệu (1984).

Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 huân chương Chiền công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chíến hạng Nhất, huân chương chiến sĩ Vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba).


Thiếu tướng Nguyễn Thúc Tùng quê tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Là một trí thức trước Cách mạng tháng 8, từng là bác sĩ ngoại khoa tại Bệnh viện Yersin (nay là Bệnh viện Việt Đức) Hà Nội (1945-1946). Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông xung phong ra nhập Quân đội, Nam tiến vào phục vụ và chiến đấu tại Chiến trường miền Trung Liên khu 5 là bác sĩ rồi Chủ nhiệm Quân y Liên khu (1947-1955).

Từ năm 1946 đến năm 1978: ông về công tác tại Viện Quân y 108; đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô (1960-1964) và là người Việt Nam được đào về Chuyên ngành Tiết niệu; là Trưởng khoa của Khoa ngoại Tiết niệu Viện Quân y 108; đi chiến trường B, Viện phó Viện Quân y 108.

Từ năm 1978 đến năm 1980, ông được điều sang làm Viện trưởng Viện Quân y 175; Từ năm 1981 đến lúc về hưu (1990), ông thôi giữ các chức vụ quản lý và là Ủy viên Hội đồng Y học Bộ Quốc phòng.

Thiếu tướng Giáo sư Nguyễn Thúc Tùng chuyên nghiên cứu về chiến thuật quân y trong chiến thuật quân sự. Vếthương chiến tranh về tiết niệu. Các bệnh về tiết niệu.

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
hatuyenha
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2403


« Trả lời #309 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2009, 03:59:18 pm »

Bạn Panphilop@ thân mến,thật có lỗi khi hôm nay mới phát hiện ra topic này.Thật cám ơn bạn quá khi bạn đưa ông già mình lên đầu tiên,là một người con của cụ mình xin một lần nữa cám ơn bạn, và thay mặt các CCB các thời  của đất nước Việt nam ta xin nghiêng mình cám ơn việc làm đáng trân trọng này của bạn.
Trong Quân đội có lính có tướng(có cả những tướng lĩnh chưa được phong chính thức đã qua đời như ý bạn),có tướng thì cần có lính.Một thể thống nhất nên bạn đã làm được một việc hết sức có ý nghĩa trong trang QSVN.net.Một lần nữa chân thành cám ơn bạn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM