Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:13:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884263 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #350 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2010, 11:34:54 pm »


Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan (12.12.1934) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Kỹ thuật bay Bộ Tư lệnh Không quân, Tham mưu phó Quân chủng Không quân, Chủ nhiệm dẫn đường Quân chủng Không quân, Cục trưởng Cục Huấn luyện Nhà trường Quân chủng Không quân, Phó Cục trưởng Cục Huấn luyến chiến đấu Bộ Tổng Tham mưu.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, 1 Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (6.1992)


Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan sinh ra tại xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Một vùng đất nổi tiếng về lòng quật cường và tinh thần yêu nước - từ nhỏ ông đã được chứng kiến hành động cách mạng dũng cảm của các bậc cha, anh đi trước.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Pháp bắt đầu trở lại chiếm đóng các vùng ven biển miền Trung. Cũng như bao người dân cùng xã, ông phải theo gia đình di tản lên miền núi. Gác lại chuyện học hành còn dang dở, ông (lúc đó mới 10 tuổi) cùng các anh chị em  trong gia đình đến sống tại thôn Kỳ Lộ, xã Xuân Quang, huyện Đồng Xuân (Phú Yên), ngày ngày tham gia canh tác sản xuất, chăn nuôi kiếm sống. 3 năm sau ngày di tản, tháng 12 năm 1948, sau nhiều lần năn nỉ, thuyết phục gia đình, ông được ba - lúc đó đang là nhân viên cứu thương trong chiến trường Buôn Mê Thuột - xin cho vào Ty Công an Đắc Lắc. Lúc đầu chỉ làm nấu cơm, sau thấy ông lanh lợi, lại biết bơi, cưỡi ngựa, ông được cấp trên tin tưởng giao cho làm công tác liên lạc. Nhiều lần ông xin mọi người cho vào quân đội, trực tiếp cầm súng đánh Pháp nhưng đều bị từ chối vì quá nhỏ. Do trước Cách mạng có đi học, tháng 1 năm 1949, ông được tren điều về làm văn thư bảo mật cho Ủy ban Kháng chiến Hành chính Đắc Lắc. Cũng tháng 10 năm đó, ông sang Tỉnh đội Đắc Lắc làm công tác văn thư.

Tháng 7 năm 1952, 18 tuổi, ông chính thức nhập ngũ là chiến sĩ văn thư Ban Chính trị Trung đoàn 84 Nơ Trang Long Liên khu 5. Từ tháng 1 năm 1953, ông lần lượt là chiến sĩ, tiểu đội phó, tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 602, Tiểu đoàn 30, Trung đoàn 96, Đại đoàn 305.

Năm 1954, cùng Đại đoàn, ông tập kết ra Bắc. Hành quân đến Nam Định thì ông nhận được chỉ thị về gấp ngay Bộ Tổng Tham mưu ở Hà Nội chuẩn bị đi học. Tháng 1 năm 1956, ông được cử đi học Trường Văn hó của Bộ Tổng Tư lệnh tại Kiến An. Lúc mới ra Bắc, ông chọn học về xe tăng, tuy nhiên sau khi khám sức khỏe, lại căn cứ vào kết quả học tập, ông được cử đi học lái máy bay. Tháng 10 năm 1956, ông sang Trung Quốc theo học tại Trường Không quân số 3 với chức vụ Trung đội trưởng. Trong quá trình học tập, ông luôn ở trong top dẫn đầu với 8 môn ký thuyết đạt 80 điểm, tức là toàn điểm 10. Ông còn là học viên duy nhất làm bài thi bằng tiếng nước bạn.

Gần 8 năm miệt mài học tập và huấn luyện với đủ chủng loại máy bay, sáng ngày 6 tháng 8 năm 1964, ông dẫn đầu phi đội bay 921 - Trung Đoàn Sao Đỏ với hơn 40 máy bay phản lực về lại Việt Nam, hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, chỉ sau đúng một ngày diễn ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Đoàn được đích thân Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra đón. Đến tháng 1 năm 1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm dẫn đường Trung đoàn Không quân 921.

Ngày 3 tháng 4 năm 1965, ông tham gia vào trận đánh đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam, đánh bại cuộc tập kích trên không của Mỹ vào khu vực cầu Hàm Rồng – một cây cầu huyết mạch, yết hầu trên tuyến chi viện Bắc Nam. Trong trận này, Biên đội do ông chỉ huy đã bắn cháy 2 trong số 12 chiếc máy bay Mỹ, trong đó một chiếc do ông bắn rơi. Cũng trong trận chiến đấu này, sau khi hạ lệnh cho đồng đội trở về, ông một mình tiếp tục truy đuổi một chiếc máy bay địch đang trốn thoát ra phía biển. Do la bàn bị hỏng, nhiên liệu sắp cạn kiệt, ông điện về báo cáo với chỉ huy rồi tự tính toán, phán đoán đường bay, lần theo tả ngạn sông Hồng ngược về đơn vị. Đến bãi giữa sông Đuống, máy bay báo hết nhiên liệu. Xin chỉ thị cấp trên 2 lần, ông đều được lệnh khẩn phải nhảy dù ngay ra khỏi máy bay để bảo toàn sự sống. Tuy nhiên, ông đã kiên quyết khéo léo hạ xuống sông Hồng bằng thân máy bay. Do những thành tích trong trận chiến đấu này, ông được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người.

Tháng 4 năm 1967, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921. 1971, Chủ nhiệm Kỹ thuật bay Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân. 1.1973, ông được tiếp tục cử đi học tập tại Học viện Không quân Ga-ga-rin của Liên Xô. Về nước, tháng 3 năm 1974, ông là Trưởng phòng Tác huấn Không quân Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 4 năm 1975, ông được Bộ Tư lệnh Quân chủng cử vào chỉ đạo, tham gia tiếp quản Sân bay Đà Nẵng. Sau đó, ông nhận "mật lệnh" bí mật đến sân bay Thành Sơn nghiên cứu chọn lựa một số khí tài quân sự vừa thu được, khẩn trương lập phương án đào tạo ngắn ngày hiệu quả nhất để các phi công của ta nhanh chóng làm chủ và sử dụng thành thạo máy bay địch (A37) đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất. Trong trận đánh này, ông là người trực tiếp chỉ huy dẫn đường cho phi đội hoàn thành nhiệm vụ.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tháng 5 năm 1977, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu phó Quân chủng Không quân. Tháng 8 cùng năm, ông theo học tại Học viện Chính trị Quân sự. 7.1978, là Tham mưu phó Quân chủng Không quân, 8.1978, Sư đoàn phó Sư đoàn 371 Quân chủng Không quân. 4.1979, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370. 7.1981, Chủ nhiệm dẫn đường Quân chủng Không quân. 11.1982, quyền Cục trưởng Cục Huấn luyện Nhà trường Quân chủng Không quân. 12.1985, Cục trưởng Cục Huấn luyện Nhà trường Quân chủng Không quân. 6.1994, Phó Cục trưởng Cục Huấn luyện Chiến đấu Bộ Tổng Tham mưu cho đến khi về hưu tháng 8 năm 1999.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #351 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2010, 10:28:36 pm »


Trung tá Đinh Ngọc Liên (1911-1991), từng giữ các chức vụ : Chỉ huy Ban Âm nhạc Giải phóng quân, Ban Âm nhạc Vệ quốc quân, Đoàn Nhạc binh Trung ương, Đoàn Quân nhạc Tổng cục Quân huấn (sau trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô).

Huân chương Quân công hạng Ba, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhất… Ông là người đầu tiên của Quân đội được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân (1988).

Trung tá (1974).


Ông sinh tại xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong một gia đình công giáo. Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam thì ông sinh năm 1911, nhưng theo một số tài liệu khác thì ông sinh ngày 1 tháng 5 năm 1912.

Trước Cách mạng tháng 8, ông từng tham gia Đội nhạc lính khố xanh trực thuộc Tòa Thống sứ Bắc Kỳ. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), ông trở thành quản của đội nhạc mà mọi người thường gọi là Quản Liên.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, cách mạng nổ ra thành công tại Hà Nội, ông được vận động về với cách mạng. Ngày 20 tháng 8, ông được Bộ Chỉ huy Quân sự Hà Nội giao cho nhiệm vụ thành lập Ban âm nhạc Giải phóng quân trên cơ sở đội kèn bảo an binh do ông làm đội trưởng. Đội lúc đó gồm 75 (có tài liệu nói 72) nhạc công, có nhiệm vụ tập những bài hành khúc Cách mạng, chuẩn bị cho buổi lễ tuyên ngôn độc lập. Để thể hiện được bài « Tiến quân ca » đạt được nội dung và tầm vóc tư tưởng của nó, ông và nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu đã bàn với nhạc sĩ Văn Cao thống nhất cho sửa hai chữ trong bài “Tiến quân ca” để bản nhạc hoàn hảo hơn, xứng đáng là bản Quốc thiều của nước Việt Nam độc lập. Đó là rút ngắn trường độ của nốt “rê” (D) đầu tiên của chữ “Đoàn” và nốt “mi” (E) ở đoạn giữa trong chữ “xác” làm cho bản nhạc khỏe khoắn, trầm hùng hơn. Cũng trong dịp lễ này, ông cũng tham gia chỉ huy, phối khí cho nhiều bản nhạc cách mạng khác như « Vũ khúc tưng bừng » của nhạc sĩ Lương Ngọc Trác, « Diệt phát xít » của nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi.

Thời kỳ toàn quốc kháng chiến (12-1946) tới tháng 7/1954, Ban Âm nhạc Quân giải phóng trở thành lực lượng xung kích phục vụ chiến đấu, tham gia các đội tuyên truyền, vận động quần chúng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, toàn đơn vị chia thành 2 bộ phận - một bộ phận do ông Kim Liên và Phan Viết Huyền phụ trách tham gia đoàn vũ trang tuyên truyền “Tây Tiến” đi phục vụ chiến trường miền Tây Bắc Tổ quốc. Số còn lại do Đoàn trưởng Đinh Ngọc Liên và Chính trị viên Lê Vân phụ trách hành quân lên chiến khu Việt Bắc phục vụ nghi lễ của Nhà nước và Quân đội. Khi đó đoàn mang tên Ban Âm nhạc Vệ quốc quân. Trong suốt những năm kháng Pháp, ông đã phối khí, chuyển soạn nhiều ca khúc cách mạng, đánh dấu bước đi đầu tiên của khí nhạc Việt Nam sau này.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông cùng Đoàn quân nhạc trở về Thủ đô, khi đó đoàn có tên thành Đoàn Nhạc binh Trung ương. Ông được vinh dự chỉ huy dàn Quân nhạc trong ngày giải phóng Thủ đô 10 tháng 10, và trong buổi lễ đón Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng về Thủ đô tháng 11 năm 1955. Cùng năm này, Đoàn được đổi tên thành Đoàn Quân nhạc trực thuộc Tổng Cục Quân huấn, sau thuộc Bộ Tư lệnh Thủ đô, do ông là Đoàn trưởng đầu tiên. Ông cũng là người vinh dự được chỉ huy dàn Quân nhạc trong Lễ quốc tang Hồ Chủ tịch.

Trong gần 40 năm là nhạc trưởng, chỉ huy dàn nhạc của Quân đội, ông đã hòa âm phối khí hàng trăm ca khúc, tiêu biểu là « Tiến quân ca » (Quốc ca), « Chiến sĩ ca », « Du kích ca », « Diệt phát xít », « Cùng nhau đi Hồng binh »… Soạn các tác phẩm « Hành khúc tang lễ » (bản trống vĩnh biệt Hồ Chí Minh (1969)), « Xuân chiến thắng », « Hành khúc chiến thắng »… Ông cũng là một trong những nhạc sĩ đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #352 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2010, 11:46:21 pm »


Trung tướng Anh hùng Nguyễn Văn Phiệt (1938), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không Không quân, Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Giải phóng phụ nữ, Huy chương Vì Sự nghiệp Khoa học và Công nghệ.

Ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 3 tháng 9 năm 1973, khi đang là Thượng úy, Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn Tên lửa 57, Trung đoàn Tên lửa 261, Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (8/1990), Trung tướng (11/1999).


Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt quê tại thôn Vệ Dương, xã Chiến Thắng (Tân Phúc), huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ông nhập ngũ tháng 2 năm 1960, được kết nạp vào Đảng tháng 12 năm 1963 (chính thức tháng 9 năm 1964).

Năm 1956, ông được bầu làm ủy viên Ban chấp hành đoàn xã Chiến Thắng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên tham gia dạy bình dân học vụ.

Tháng 2 năm 1960, ông nhập ngũ, là chiến sĩ ra-đa 8, rồi tiểu đội trưởng ra-đa thuộc Đại đội 12, Trung đoàn ra-đa 290, Bộ Tư lệnh Phòng không ; 12.1962, thợ sửa chữa ra-đa, lần lượt công tác tại các Trung đoàn ra-đa : 290, 291 Bộ Tư lệnh Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân (tháng 10 năm 1963) ; 11.1965, học chuyển loại Binh chủng Tên lửa Phòng không tại Liên Xô. Sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 93 Trung đoàn tên lửa 278 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 10 năm 1967, ông là trưởng xe YA kiêm sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 93 Trung đoàn tên lửa 278 Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa (Sư đoàn 369) Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1969, đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 93 Trung đoàn Tên lửa 261 Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1971, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 93 Trung đoàn Tên lửa 261 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 7  năm 1972, ông được cử giữ chức vụ tiểu đoàn phó rồi tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57 Trung đoàn Tên lửa 261 Sư đoàn Phòng không 361 (Đoàn Thành Loa) Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Trung đoàn. Trong trận « Điện Biên Phủ trên không », đêm 20 rạng ngày 21 tháng 12 năm 1972, ông chỉ huy Tiểu đoàn bắn hạ 2 máy bay B52.

Tháng 1 năm 1973, ông được điều sang làm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 52 Trung đoàn Tên lửa 267 Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1973, tham mưu trưởng, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 261 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân, Đản ủy viên Trung đoàn ; 8.1974, đi học bổ túc Trung cấp Chính trị ; 2.1975, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 261 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1976, ông theo học tại Trường Văn hóa Quân đội ; 9.1978, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 257 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Sư đoàn.

Tháng 8 năm 1979, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không ; 10.1979, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 369 Quân chủng Phòng không ; 9.1980, đi học bổ tục tại Học viên Quân sự Cấp cao Bộ Quốc phòng ; 9.1981, phó sư đoàn trưởng kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 369 Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Sư đoàn.

Tháng 6 năm 1985, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 369 Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 11.1988, tiếp tục đi học bổ túc tại Học viện Chính trị Quân sự, thôi chức sư đoàn trưởng nhưng vẫn giữ chức vụ Đảng ủy viên Quân chủng.

Tháng 5 năm 1989, ông là Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không ; 1.1992, phó tư lệnh về chính tri, bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng ; 7.1999, phó tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không Không quân, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng ; 11.2000, phó tư lệnh về chính trị Quân chủng Phòng không Không quân cho đến khi nghỉ hưu (1.3.2001).




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #353 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 09:18:36 pm »


Thượng tướng Anh hùng Phạm Thanh Ngân (18.4.1939) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Không quân.

Ngoài ra ông còn từng là : Đại biểu Quốc hội khóa 10, Ủy viên Bộ Chính trị khóa 8, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 7, Phụ trách Ban Tổng kết Chiến lược về Quân sự và Quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị.

Ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 18 tháng 6 năm 1969 khi đang là đại úy, đại đội trưởng thuộc Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân.

2 Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Là phi công trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 8 máy bay Mỹ, được tặng thưởng 8 Huy hiệu Bác Hồ. Ông cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng một chiếc đồng hồ.

Thiếu tướng (6.1988), Trung tướng (6.1992), Thượng tướng (11.1999).


Thượng tướng Phạm Thanh Ngân quê tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Ông nhập ngũ ngày 21 tháng 3 năm 1959, được kết nạp vào Đảng ngày 8 tháng 12 năm 1963 (chính thức ngày 8 tháng 9 năm 1964).

Tháng 6 năm 1957, ông tham gia hoạt động Đoàn Thanh niên tại địa phương. Tháng 3 năm 1959, ông nhập ngũ, là chiến sĩ trinh sát rồi tiểu đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 374, Sư đoàn 351 Pháo binh.

Tháng 4 năm 1961, ông theo học dự khóa tại Tiểu đoàn 95 Cục Không quân. Tháng 10 năm này, ông được cử sang Liên Xô học lái máy bay Mig. 17. Về nước, tháng 10 năm 1964, ông là sĩ quan lái máy bay Mig. 17 tại Trung đoàn 921 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 8 năm 1965, ông tiếp tục được cử đi học lái máy bay Mig. 21 tại Liên Xô. Tháng 6 năm 1966, về nước, ông lần lượt giữ chức vụ trung đội trưởng, đại đội phó, đại đội trưởng lái máy bay Mig. 21 thuộc Trung đoàn 921 Quân chủng Phòng không Không quân. Đây cũng là thời gian ông trực tiếp tham gia chiến đấu lần đầu tiên.

Tháng 7 năm 1968, ông được đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua tiêu biểu hai miền Nam Bắc, được Bác Hồ trực tiếp trao tặng huy hiệu của Người. Cùng tháng 12 năm này, khi Bác Hồ đến thăm Quân chủng Phòng không Không quân, ông được Bác tặng chiếc đồng hồ vì thành tích bắn rơi nhiều máy bay Mỹ.

Tháng 9 năm 1970, ông lại được cử sang Liên Xô theo học tại Học viện Không quân Ga-ga-rin.

Tháng 9 năm 1975, ông tham gia viết tài liệu tại Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1977, Sư đoàn phó Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Không quân ; 8.1978, theo học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc Trung ương.

Tháng 3 năm 1989, ông về làm Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 371 Quân chủng Không quân cho đến tháng 8 năm 1982 quay lại theo học tại Học viện Bộ Tổng tham mưu Vô-rô-si-lốp của Liên Xô. Đây cũng là lần thứ 4 ông đến học tập tại Liên Xô.

Tháng 7 năm 1984, ông về nước và được cử giữ chức vụ Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân ; 12.1985, là Phó Tham mưu trưởng thứ Nhất Quân chủng Không quân ; 9.1986, Phó Tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Không quân cho đến tháng 10 năm 1987 thì thôi chức Chủ nhiệm Chính trị.

Tháng 4 năm 1989, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Không quân (đến tháng 9 năm 1991) ; 5.1996, là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị rồi Chủ nhiệm (tháng 1 năm 1998). Tháng 5 năm 2001, ông phụ trách Ban Tổng kết chiến lược về Quân sự và Quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị, là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 7, Ủy viên Bộ Chính trị khóa 8, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và là Đại biểu Quốc hội khóa 10.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #354 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2010, 11:13:25 pm »


Trung tướng Phó Giáo sư Nguyễn Đình Ước (bí danh: Lê Khiêm, 1927 - 14h34' 27.5.2010), từng giữ các chức vụ: Phó Tổng Biên tập thứ nhất Tạp chí Quân đội Nhân dân (nay là Tạp chí Quốc phòng toàn dân) Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4, Tổng Biên tập Báo Quân đội Nhân dân, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Huân chương Quân công (hạng nhì, hạng ba); Huân chương Chiến công hạng  ba;  Huân  chương Chiến thắng hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng nhất, nhì, ba); Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy chương Vì sự nghiệp khoa học và công nghệ; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông được phong học hàm Phó Giáo sư (1992).

Thiếu tướng (1984), Trung tướng (1994).


Trung tướng Nguyễn Đình Ước sinh tại xã Vũ Yển, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Ông tham gia Cách mạng tháng 4 năm 1945, nhập ngũ tháng 9 năm 1945.

Trong kháng chiến chống pháp, ông tham gia các chiến dịch Sông Thao, Ðường số 4, Biên giới thu đông, đường 18, rồi đến Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Ðiện Biên Phủ, trưởng thành từ Chính trị viên đại đội (1945) đến Chính ủy Trung đoàn (1954).

Sau một thời gian đảm nhiệm chức vụ Phó Chính ủy Trung đoàn Pháo binh 675, Chính ủy Trung đoàn 82,  Sư đoàn 351, ông được Bộ Quốc phòng cử đi học đào tạo tại Học viện Chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Về nước, ông được bổ nhiệm các chức vụ Trưởng ban Tuyên huấn Bộ Tư lệnh Pháo binh (1959) rồi, năm 1961, được điều về làm Phó Tổng Biên tập thứ nhất Tạp chí Quân đội Nhân dân (nay là Tạp chí Quốc phòng toàn dân).

Năm 1965, ông sang làm Phó Tổng Biên tập thứ nhất và đến 1974 làm Tổng Biên tập Báo Quân đội Nhân dân. Năm 1978, ông chuyển vào làm Phó Chính ủy kiêm phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4, Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4 (1980). Năm 1984, ông được điều động về làm Phó Viện trưởng phụ trách nội bộ - Bí thư Đảng ủy rồi Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1994).

Sau khi thôi giữ chức Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1998), Bộ Quốc phòng đã yêu cầu ông làm tư vấn, tham mưu cho bộ về một số chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển quân đội, tăng cường Quốc phòng - An ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Trung tướng Phó Giáo sư Nguyễn Đình Ước đã chỉ đạo, tổ chức nhiều hội nghị hội thảo quan trọng như "Chiến thắng Ðiện Biên Phủ - Sức mạnh dân tộc và tầm vóc thời đại", "Ðại thắng mùa Xuân 1975 - Nguyên nhân và bài học", "Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968"..., tham gia nghiên cứu và thực hiện nhiều công trình nghiên cứu như "Lịch sử quân sự Việt Nam" gồm 14 tập, "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1960)" gồm chín tập; "Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)"... Ông cũng tham gia hướng dẫn nhiều đề tài nghiên cứu sinh về Lịch sử Quân sự Việt Nam và được mời tham gia nhiều hội thảo quân sự ở nước ngoài.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Bodoibucket
Thành viên
*
Bài viết: 913


« Trả lời #355 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2010, 12:17:11 pm »


Trung tướng Trần Quý Hai (Bùi Chấn, 1913-1985), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Tổng Thanh tra Quân đội. Phó Chủ nhiệm Uỷ Ban Kế hoạch Nhà nước, Trưởng Ban Cơ yếu Trung ương.


Cụ Hai là người cho phép hải quân đánh tàu Ma-đốc 2-8-1964!
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #356 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2010, 10:03:08 pm »

Bác chủ thớt panphilov xem lại phần cụ Đặng Văn Việt. Hình như cụ ấy khi chuyển ngành là Trung tá, chưa phải Đại tá.
Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #357 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2010, 06:31:00 pm »

Bác chủ thớt panphilov xem lại phần cụ Đặng Văn Việt. Hình như cụ ấy khi chuyển ngành là Trung tá, chưa phải Đại tá.

Em chưa tìm được cái gì để khẳng định được là trung tá. Vì từ nhỏ đến giờ, những người em gặp đều gọi cụ Việt là đại tá. Cái này, thì phải tìm hiểu thêm mới được.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
_new
Thành viên
*
Bài viết: 827



« Trả lời #358 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2010, 07:35:54 pm »

Bác Panphilov có thông tin về cụ Lê Linh (?) ở quân khu Tả ngạn không ạ.
Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #359 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2010, 09:14:04 pm »

Bác Panphilov có thông tin về cụ Lê Linh (?) ở quân khu Tả ngạn không ạ.

Em không biết tướng nào ở quân khu Tả Ngạn tên là Lê Linh cả. Trong chủ đề này, em cũng đã giới thiệu về trung tướng Lê Linh, nguyên chính ủy đầu tiên của Quân đoàn 2.

Trích dẫn
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM