Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:39:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884036 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #90 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2008, 04:55:14 am »


Thượng tướng Anh hùng Nguyễn Chơn (1927) từn giữ các chức vụ: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2, Tư lệnh Quân đoàn 2, Tư lệnh Quân khu 5, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng. Ngoài ra, ông còn từng là: Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá 6, 7, Đại biểu Quốc hội Khoá 8, 9.

Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến công giải phóng (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba) Huân chương Chiến sỹ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1979), Trung tướng (1984), Thượng tướng (1988)


Ông nhập ngũ năm 1946, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1949. Trong kháng chiến chống pháp và chống Mỹ, ông chiến đấu ở chiến trường Khu 5, Trị Thiên. Trưởng thành từ chiến sỹ đến Sư đoàn trưởng. Năm 1968, ông chỉ huy Trung đoàn trong tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân. Năm 1971, ông chỉ huy Sư đoàn 2 trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Năm 1975, ông chỉ huy Sư đoàn 2 đánh chiếm Tam Kỳ và tham gia giải phóng Đà Nẵng.

Từ năm 1979 đến năm 1985, ông là Tư lệnh Quân đoàn 2; 1985-1987, Tư lệnh Quân khu 5; 1987-1994, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu truởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Thượng tướng Nguyễn Chơn là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá 6, 7, Đại biểu Quốc hội Khoá 8, 9.

Thượng tướng Nguyễn Chơn được đánh giá là một trong ba Sư đoàn trưởng giỏi nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là vị tướng mở đầu cho phương châm Bám thắt lưng địch mà đánh, một vị tướng mà trong cuộc đời chỉ huy của mình không bị thua lấy một trận. Một vị tướng bậc thầy về nối đánh "bóc trọc", nghĩa là xóa sổ hoàn toàn đơn vị đối phương.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2011, 10:01:38 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #91 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2008, 05:04:14 am »


Thiếu tướng Trần Văn Phác (Tám Trần, Trần Hương Nam, 29.12.1926), từng giữ các chức vụ : Trưởng Phòng Chính trị Mặt trận Tây Tiến, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Sông Lô, Trưởng Ban Tuyên huấn Đại đoàn 312, Trưởng Phòng Văn nghệ Quân đội, Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tổng biên tập (đầu tiên) Báo Quân đội Nhân dân, Chủ nhiệm Chính trị Quân Giải phóng miền Nam, Phó Chính ủy Đoàn 232 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị, Cục trưởng Cục Tuyên huấn – Tổng cục Chính trị, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra, ông còn từng là : Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Uỷ viên Trung ương Đảng Khoá 5, 6, Đại biểu Quốc hội Khoá 8, 9, Phó Chủ nhiệm thường trực Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội Khoá 9, Phó Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công Giải phóng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sỹ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu Chiến dịch Điện Biên Phủ, Huy chương vì Sự nghiệp Văn hoá, Huy chương vì Sự nghiệp thanh niên, Huy chương vì Sự nghiệp Xây dựng Thủ Đô, Huy chương vì Sự nghiệp Hội Cựu chiến binh, Huân chương Mặt trời mọc của Nhà nước Nhật bản trao tặng...

Thiếu tướng (1978)


Ông tham gia cách mạng từ tháng 1 năm 1945, là Đội trưởng đội tự vệ chiến đấu của Việt minh tại xã Lý Thường Kiệt. Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở huyện Yên Mỹ. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, 19 tuổi, ông dẫn đầu đội tự vệ chiến đấu khu Bãi Sậy gồm 15 người phá cổng dẫn đầu nhân dân xông vào Phủ Tri huyện Yên Mỹ. Khởi nghĩa ở Hưng Yên thắng lợi, lúc bấy giờ có chỉ đạo của Tổng bộ Việt Minh là nơi nào khởi nghĩa xong phải chuẩn bị lực lượng để tham gia Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội. Yên Mỹ chỉ cách Hà Nội 30 km, vì vậy khi có lệnh, ông cùng cả đội tình nguyện xung phong về Hà Nội và trở thành Giải phóng quân Tiểu đoàn của ông Tuấn Sơn đúng ngày Tổng khởi nghĩa thành công ở đây. Trong những ngày tháng Tám lịch sử đó, ông cùng đồng đội được phân công nhiều nhiệm vụ như: tuần tra, canh gác, giữ trật tự, sang Gia Lâm đón đoàn Giải phóng quân chiến khu trở về (28.8 ), bảo vệ lễ Tuyên ngôn Độc lập (2.9) ở Quảng trường Ba Đình … Tháng 10 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
            
Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông tham gia Giải phóng quân Hà Nội. Vốn có năng khiếu, ông được phân công làm Thư ký Tòa soạn Báo Khu 2 Kháng chiến, khi đang trên đường Tây tiến cùng Tiểu đoàn Tuấn Sơn, và đoạt giải Nhất cuộc thi viết truyện Báo Vệ quốc quân nàm 1947. Tháng 1 năm 1946, ông là Chính trị viên Đại đội thuộc chiến Khu 2. Năm 1947, ông là Trưởng phòng Chính trị Mặt trận Tây Tiến, chiến khu 2. Năm 1949, ông là Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Sông Lô (E209). Năm 1951, ông là Trưởng ban Tuyên huấn Đại đoàn 312 (Đại đoàn Chiến thắng), tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ năm 1954 đến năm 1964, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Trưởng phòng Văn nghệ Quân đội, Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân. Năm 1964, ông được cử vào B2 giữ chức Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm chính trị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Năm 1975, ông là Phó Chính uỷ Đoàn 232, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Năm 1976, ông là Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Chính trị, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Năm 1977, ông được bổ nhiêm giữ chức Phó chủ nhệm Tổng cục Chính trị. Từ năm 1979 đến năm 1980, ông học tại Học viện Quân sự cấp cao.

Năm 1982, ông chuyển ngành giữ chức Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Văn hoá, được bầu Uỷ viên Trung ương Đảng khoá V, khoá VI. Ông là đại biểu Quốc hội khoá VIII, khoá IX, là Phó chủ nhiệm thường trực Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội khoá IX. Năm 1990, ông là Phó bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1997, ông được bầu vào Quốc hội khoá 9, Uỷ viên Uỷ ban đối ngoại Quốc hội, Uỷ viên Thường vụ Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội khoá 1997 - 2002.

Là một vị tướng, đồng thời là một người hoạt động rồi trở thành lãnh đạo trong các lĩnh vực văn, thơ, báo chí, văn hóa, bên cạnh tác phẩm cuối cùng được xuất bản gần đây "Văn Phác tuyển tập" (2007), trong suốt cuộc đời hoạt động Cách mạng của mình, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm trên mọi lĩnh vực như văn thơ, lý luận. Nhiều tác phẩm của ông đã trở lên quen thuộc với đồng bào chiến sĩ trong suốt những năm tháng Kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ cứu nước. Có thể kể ra đây truyện ký "Trong khói lửa" (Liên khu Ba, 1947), nhà văn Nguyễn Công Hoan viết lời tựa, "Không còn con đường nào khác" (1975) bút danh Trần Nam Hương, "Từ mùa thu ấy" (1981), "Một mùa xuân rực rỡ" (1985). Những năm lãnh đạo Bộ Văn hóa ông có: "Công tác tư tưởng văn hóa trong các lực lượng vũ trang" (1983), "Mấy vấn đề cấp bách về văn hóa nghệ thuật" (1985), "Sự nghiệp văn hóa trong chặng đường trước mắt" (1987). Năm 2005, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành cuốn "Từ ngôi nhà số 4" của ông, trong đó có bài ông viết về Tạp chí Văn nghệ Quân đội thời kỳ mới thành lập với những nhà văn, nhà thơ từng gắn bó với ông: Thanh Tịnh, Từ Bích Hoàng, Hữu Mai, Hồ Phương, Vũ Cao, Nguyễn Khải...

Tham khảo: Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo Công an Nhân dân, Báo Đảng.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 08:05:20 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #92 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2008, 02:46:59 am »


Thượng tướng Phạm Ngọc Mậu (Phạm Ngọc Quyết, 1919-23.11.1993), từng giữ các chức vụ: Ủy viên Tỉnh ủy Sơn Tây phụ trách Quân sự, Khu phó Khu 2, Chính ủy Khu 1 - Khu ủy viên kiêm Bí thư Quân khu ủy, Thường vụ Quân khu ủy Việt Bắc, Chính ủy Đại đoàn 351, 305 - Bí thư Đảng ủy, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh - Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Cán bộ - Bộ Tổng Tham mưu, Cục trưởng Cục Điều động, Tổng cục trưởng Tổng cục Cán bộ - Bí thư Đảng bộ, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - Bí thư Đảng ủy, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Quân sự Trung ương. Ông là Đại biểu Quốc hội Khóa 3 và 5.

Huân chương Hồ Chí Minh, Hai Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1986).


Ông quê ở xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Đầu năm 1938, ông tham gia tổ "Tương tế" nông dân và Đoàn thanh niên Dân chủ. Tháng 11 năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được chỉ định vào Ban Chấp hành Thanh niên Phản đế huyện Kiến Xương, phụ trách Trung đội trưởng tự vệ huyện Kiến Xương, Thái Bình. Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt kết án 10 năm tù khổ sai và 10 năm quản thúc, giam tại các nhà lao: Thái Bình, Hoả Lò, Sơn La, Hoà Bình, Chợ Chu. Sau đó, thực dân Pháp lại đưa ông về nhà tù Sơn La. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, lợi dụng thời cơ ông và một số nhà cách mạng khác đã trốn thoát về Sơn Tây thì bắt liên lạc với tỉnh uỷ Sơn Tây và được Xứ uỷ Bắc kỳ quyết định bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn Tây, phụ trách công tác ở thị xã Sơn Tây, huyện Tùng Thiện, Bất Bạt, Quảng Oai.

Tháng 8 năm 1945, sau khi ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Sơn Tây, được tỉnh uỷ phân công phụ trách quân sự tỉnh. Tháng 12 năm 1945, ông là Khu phó Khu 2, Chính uỷ Khu 1, Khu uỷ viên kiêm Bí thư Quân khu uỷ, Trưởng ban Kiểm tra Khu uỷ, sau đó là Phó Bí thư Khu uỷ. Tháng 8 năm 1948, ông là cán bộ kiểm tra khu Việt Bắc, Thường vụ Quân khu uỷ, sau đó là Chính uỷ Trung đoàn 121. Tháng 6 năm 1948, ông được bầu làm Khu uỷ viên Liên khu Việt Bắc. Năm 1949, ông là chính uỷ Trung đoàn 246 bảo vệ khu căn cứ địa Trung ương, Uỷ viên Ban Căn cứ địa Trung ương. Tháng 5 năm 1951, ông là Phó Chính uỷ, rồi Chính uỷ Đại đoàn 351, 305, Bí thư Đảng uỷ Đại đoàn.

Năm 1955, ông là Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh, Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh. Năm 1956, ông là Cục trưởng Cục Cán bộ Bộ Tổng Tham mưu, Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ cơ quan Bộ Tổng tham mưu. Năm 1957, ông là Cục trưởng Cục Điều động, sau được đề bạt Tổng cục trưởng Tổng cục Cán bộ, Bí thư Đảng uỷ cơ quan Tổng cục Cán bộ.

Năm 1959, ông là Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị. Năm 1961, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng uỷ cơ quan Tổng cục Chính trị, Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Quân sự Trung ương, Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ thanh thiếu niên nhi đồng. Từ năm 1961 đến năm 1988, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ông là đại biểu Quốc hội Khoá 3 và 5.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 08:17:05 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #93 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2008, 03:13:46 am »


Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp (Đặng Hùng, 9.2.1928-11.4.2008) từng giữ các chức vụ: Chủ nhiệm Khoa Phong trào Công nhân - Học viện Chính trị Quân sự, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận B3 - Tây Nguyên, Chính ủy Sư đoàn 10, Chính ủy Mặt trận B3 - Bí thư Đảng ủy Mặt trận kiêm Quân khu Ủy viên Quân khu 5, Chính ủy Quân đoàn 3, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương.

Ngoài ra, ông còn từng là: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (dự khuyết Khóa 4, chính thức Khóa 5), Đại biểu Quốc hội Khóa 7), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Lập pháp Quốc hội, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam (Đi-ô-xin) Việt Nam

Huân chương Độc lập hạng nhất; Hai Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhì; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Ông được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Sao đỏ.

Trung tá (1958), Thượng tá (1966), Đại tá (1970), Thiếu tướng (1977), Trung tướng (1981), Thượng tướng (1988).


Ông que ở xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Tham gia cách mạng từ tháng 8-1945, là cán bộ Phòng Thông tin tuyên truyền tỉnh Phú Thọ. Tháng 1-1946, ông tham gia quân đội, tháng 4-1946 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 4-1947 đến tháng 9-1954: ông giữ các chức vụ: Chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn 23, Khu 1; Bí thư chi bộ; Chính trị viên phó rồi Chính trị viên Tiểu đoàn 54, Chính trị viên Tiểu đoàn 18; Chính trị hiệp lý viên Ban Tham mưu thuộc Trung đoàn 102, Đại đoàn 308; Bí thư liên chi ủy. Tháng 4-1954 là Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 88, Đại đoàn 308; Thường vụ Trung đoàn ủy.

Tháng 9-1954 là Phó Chính ủy, phụ trách Chính ủy Trung đoàn 86, Sư đoàn 675 Pháo cao xạ, Bí thư Trung đoàn ủy. Tháng 11-1955: ông đi học tại Trường Văn hóa của Bộ Quốc phòng, tháng 8-1956 đi học tại Học viện Quân chính Lênin (Liên Xô cũ). Tháng 9-1958 ông được phong hàm Trung tá. Tháng 11-1961 là Chủ nhiệm Khoa Phong trào công nhân thuộc Học viện Chính trị. Tháng 9-1964 ông được điều về Tổng cục Chính trị và đi chiến trường B trực tiếp chiến đấu ở chiến trường miền Nam, giữ chức Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5. Tháng 9-1965 là Phó Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận B3 (Tây Nguyên), Thường vụ Đảng ủy B3; năm 1968 là Chủ nhiệm Chính trị mặt trận B3. Tháng 2-1966 ông được phong hàm Thượng tá. Tháng 3-1970 đến năm 1976: ông được phong hàm Đại tá, là Phó Chính ủy mặt trận B3. Tháng 9-1972 kiêm Chính ủy Sư đoàn 10, Bí thư Sư đoàn ủy, Thường vụ Đảng ủy B3. Tháng 6-1974 là Chính ủy Mặt trận B3, Bí thư Đảng ủy mặt trận B3, Khu ủy viên Khu 5. Tháng 3-1975 là Chính ủy Quân đoàn 3, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên và Quân đoàn 3, tham gia chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Cuối năm 1976 ông được cử đi học tại Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng). Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng, ông được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 4. Tháng 11-1977 ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, được thăng hàm cấp Thiếu tướng. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 (tháng 3-1982), ông được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 6-1981 được thăng hàm cấp Trung tướng. Năm 1985 được chỉ định làm ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương. Tháng 6-1988 ông được phong hàm Thượng tướng.

Ông được bầu làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa VII; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội khóa 7. Ngày 17-12-2003, ông được phân công là Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 08:57:48 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #94 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2008, 03:22:15 am »


Thượng tướng Trần Văn Quang (Trần Thúc Kỉnh, 1917) từng giữ các chức vụ:  từng giữ các chức vụ: Chính ủy Bộ Chỉ huy Tiếp phòng quân Trung ương, Chính ủy Khu 4, Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Phân khu Bình Trị Thiên, Chính ủy (đầu tiên) Đại đoàn 304, Cục trưởng Cục Địch vận, Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Ủy viên Trung ương cục miền Nam phụ trách Quân sự, Tư lệnh Quân khu 4, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Bình Trị Thiên, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân Tỉnh nguyện Việt Nam tại Lào, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Huân chương Sao Vàng (8.2009), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1984).


Ông sinh tại làng Nam Đoài, xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà Nho yêu nước, giàu truyền thống Cách mạng. Cha ông là cụ Trần Văn Năng, là một nhà Nho mặc dù chưa rõ về "cộng sản" xong vẫn không hề ngăn cản các con tham gia làm Cách mạng, cụ từng bị thực dân Pháp bắt giam 6 tháng ở Thái Bình. Thượng tướng Trần Văn Quang đến với Cách mạng từ rất sớm, do sự ảnh hưởng cũng như sự dìu dắt của người anh cả và người anh thứ hai, nhà Cách mạng Trần Văn Tăng và Trần Văn Cung.

Liệt sỹ Trần Văn Tăng (1900-1930), tham gia Tân Việt (Tân Việt cách mạng Ðảng), một tổ chức với khẩu hiệu "Ðánh đổ đế quốc, xây dựng xã hội bình đẳng, bác ái", khởi nguồn từ Hội Phục Việt với những tên tuổi Tôn Quang Phiệt, Ðặng Thai Mai... về sau chuyển hóa thành Ðông Dương Cộng sản Liên đoàn. Khoảng năm 1925, Trần Văn Tăng tham gia Tân Việt, rồi bị thực dân Pháp theo dõi, bắt khi đang từ Vinh về dạy học tại Yên Thành. Năm 1926 về Thanh Hóa, 1927 đi Kon Tum đến 1928 về Hội An. Năm 1929, ông lại bị Pháp bắt, không chứng cớ, kết án hai năm tù, hai năm quản thúc, mất trong xà lim khi tròn 30 tuổi.

Nhà Cách mạng Trần Văn Cung (1906-1972) là một nhà cách mạng nổi tiếng. Những năm 1925-1926, ông là hội viên Hội Hưng Nam, sau sang Quảng Châu học tập trong tổ chức Hội Thanh niên Cách mạng đồng chí do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Về nước, ông gia nhập Kỳ bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí Bắc Kỳ. Chính vợ chồng ông được Kỳ bộ giao quản lý nhà 5D, Hàm Long, Hà Nội. Tại đây, tháng 3 năm 1929, ông cùng các ông Trịnh Ðình Cửu, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Ðức Cảnh, Ðỗ Ngọc Du, Ngô Gia Tự, Dương Hạc Ðính, Nguyễn Tuân, thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam do ông làm Bí thư. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông Trần Văn Cung từng giữ các chức vụ: Đại biểu Quốc - Ủy viên Ủy ban Thường trực Quốc hội Khóa 1, Hiệu phó - Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Nhân dân tức Trường Đại học Kinh tế Quốc dân ngày nay.

Thượng tướng Trần Văn Quang tham gia cách mạng từ 1935. Bắt đầu từ những bức thư của người anh thứ 2 Trần Văn Cung gửi về từ nhà tù Lao Bảo, từ việc tiếp xúc với truyền đơn của Đảng ở quê nhà, được cơ sở Ðảng gửi cho đọc "Nhật ký chìm tàu" của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Ðiều lệ Ðảng thông qua tại  Ðại hội 1, rồi được giao in ấn Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Ma Cao và sách "ABC Chủ nghĩa Cộng sản"... Năm 1936, ông chính thức được đứng trong hàng ngũ những Đảng viên Cộng sản. Từ 1938 đến 1939, ông chuyển vào Nam hoạt động trong phong trào Công nhân Xe lửa và Thợ thủ công, và là Thành ủy viên Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt giam. Tháng 10 năm 1940, ông vượt ngục và được tổ chức giao về hoạt động ở Nghệ An với nhiệm vụ khôi phục lại phong trào và Tỉnh ủy. Tháng 4 năm 1941, ông bị bắt lần thứ hai, kết án tù chung thân, và đưa đi đày ở Buôn Ma Thuột. Tháng 6 năm 1945, ra tù, ông lại được điều về Nghệ An, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa, được bầu vào Tỉnh ủy phụ trách Quân sự. 

Năm 1946, ông được phân công giữ chức vụ Chủ nhiệm Tham mưu rồi Chính ủy Bộ Chỉ huy tiếp phòng quân Trung ương. Tháng 11 năm 1946, ông là Chính ủy Khu 4. Từ năm 1948 đến 1949, ông giữ chức Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Phân khu Bình Trị Thiên. Tháng 5 năm 1950, Đại đoàn 304 được thành lập, ông được chỉ định giữ chức Chính ủy (đầu tiên) của Đại đoàn. Năm 1951, ông được điều giữ chức phụ trách rồi Cục trưởng Cục Địch vận. Năm 1953, ông được cử giữ chức Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, đặc biệt chuyên trách chiến dịch Điện Biên Phủ.

Năm 1959, ông giữ chức Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng. Năm 1961, ông được điều vào Nam, giữ chức Ủy viên Trung ương Cục miền Nam phụ trách Quân sự. Năm 1965, tư lệnh Quân khu IV; trong những năm 1966 - 1973, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Bình - Trị - Thiên. Năm 1974, ông được thăng quân hàm Trung tướng và được điều động trở lại chức Phó tổng tham mưu trưởng.

Từ năm 1978 đến 1981, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào. Năm 1981, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, và được thăng Thượng tướng năm 1984. Từ năm 1992 đến 2002, ông là Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam. Thượng tướng Trần Văn Quang là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1960 - 1976).

Tham khảo: Báo Nhân dân.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 10:05:02 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #95 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2008, 03:31:50 am »


Thượng tướng Bùi Phùng (Bùi Văn Thận, 10.9.1920-22.11.1999) từng giữ các chức vụ: Trưởng phòng Chính trị Cục Vận - Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần), Trung trạm trưởng Việt Bắc - Cục Vận tải, Trưởng phòng Kế hoạch - Cục Vận tải, Phó hiệu trưởng Trường Cán bộ Hậu cần, Hiệu phó Trường Sỹ quan Hậu cần, Tham mưu phó Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Hậu cần - Bộ chỉ huy Miền kiêm Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Cục, đại diện Tổng cục Hậu cần tại miền Nam, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu Chiến binh Việt Nam. Ngoài ra, ông còn là Ủy viên Trung ương Đảng các Khóa 4, 5, Đại biểu Quốc hội Khóa 7, 8.

Huân chương Hồ Chí Minh; 02 Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; Huân chương Chiến sỹ Giải phóng hạng nhất, hạng nhì, ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986).


Ông quê ở xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, tham gia cách mạng từ năm 1943. Từ tháng 8 năm 1944, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở Bắc Ninh, Hoả Lò Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, ra tù ông tiếp tục hoạt động gây cơ sở cách mạng ở huyện Gia Lâm.

Từ tháng 8 năm 1945, ông là Chủ tịch Uỷ ban Lâm thời huyện Gia Lâm. Tháng 2 năm 1948, ông là Chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh, Tỉnh uỷ viên phụ trách Ban Tổ chức tỉnh uỷ Bắc Ninh, rồi Tỉnh uỷ viên kiêm Bí thư huyện uỷ Võ Giàng, sau phụ trách Ban Dân vận tỉnh Bắc Ninh. Tháng 8 năm 1949, ông giữ chức Phó ban Đảng uỷ Liên vụ Liên khu 1, sau đó được Trung ương cử đi học Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc khoá 2 tại Việt Bắc. Tháng 5 năm 1950, ông chuyển vào quân đội. Từ tháng 5 năm 1950 đến tháng 6 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ: Trưởng phòng Chính trị Cục Vận tải Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần), Trung trạm trưởng Việt Bắc Cục Vận tải, Trưởng phòng Kế hoạch Cục Vận tải, Phó hiệu trưởng Trường Cán bộ Hậu cần.
            
Tháng 11 năm 1955, ông được cử đi học Khoa Chỉ huy Hậu cần ở Học viện Hậu cần Trung Quốc. Tháng 2 năm 1960, ông được cử làm Hiệu phó Trường Sỹ quan Hậu cần. Tháng 11 năm1960, ông giữ chức Phó Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 9 năm 1964 đến năm 1975, ông vào chiến trường miền Nam, lần lượt giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Hậu cần Bộ chỉ huy Miền, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Cục Hậu cần Quân giải phóng miền Nam.

Tháng 1 năm 1976, ông được cử làm đại diện Tổng cục Hậu cần tại miền Nam. Tháng 5 năm 1976, ông giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Tháng 3 năm 1977, ông được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và được bầu làm Bí thư Đảng uỷ Tổng cục Hậu cần. Tháng 11 năm 1977, ông được Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.            
 
Tại Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ 4 (12.1976) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 (3.1982), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. ông là đại biểu Quốc hội khoá 7, 8. Tháng 1 năm 1989, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu. Tháng 2 năm 1990, ông được Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ định tham gia Ban Chấp hành lâm thời Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam và được cử làm Uỷ viên Thường vụ.

Tham khảo: Bảo tàng Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 10:14:50 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #96 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2008, 03:38:32 am »


Trung tướng Trần Quý Hai (Bùi Chấn, 20.5.1913-11.1.1985) từng giữ các chức vụ : Chính ủy Trung đoàn 101 – Trần Cao Vân, Chính ủy kiêm Tư lệnh Mặt trận Bình Trị Thiên – Bí thư Đảng ủy Mặt trận, Đại đoàn trưởng (đầu tiên) - Chính ủy (đầu tiên) Đại đoàn 325 kiêm Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Mặt trận Trung Lào, phụ trách Ban Nghiên cứu sân bay kiêm Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu, Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Tổng Thanh tra Quân đội, Tư lệnh Mặt trận Đường 9 Khe Sanh, Tư lệnh Mặt trận B5 – Quảng Trị.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy kiêm Ủy viên thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Ủy viên dự khuyết Xứ ủy Trung Kỳ phụ trách Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Phó Bí thư – Thường vụ Liên khu ủy Khu 4, Ủy viên dự khuyết rồi chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 3, Trưởng Ban cơ yếu Trung ương.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 7.2008), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 3 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng…

Thiếu tướng (1958), Trung tướng (1974).


Trung tướng Trần Quý Hai tham gia Cách mạng từ năm 1930, được kết nạp vào Đảng cùng năm, và hoạt động trong phong trào nông hội và tự vệ xã. Tháng 6 năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt giam. Tháng 1 năm 1932, ông được trả tự do, đưa về quản thúc ở quê nhà, nhưng vẫn bí mật bắt liên lạc với tổ chức, tham gia gây dựng cơ sở, giác ngộ quần chúng, tiếp tục hoạt động Cách mạng.

Từ năm 1935 đến năm 1936, ông là Bí thư Chi bộ xã Hòa Bân ; 1937, Huyện ủy viên, Bí thư Tổng ủy Tịnh Châu ; 1938, Bí thư Tổng ủy Tịnh Châu, Huyện ủy viên Sơn Tịnh ; 1939, Bí thư Huyện ủy Bình Sơn, Tỉnh ủy viên Quảng Ngãi. Cuối năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ 2, kết án 5 năm tù và đi đày ở Trà Bồng rồi Buôn Ma Thuột. Tháng 11 năm 1944, mãn hạn tù, thực dân Pháp đưa ông về an trí tại Ba Tơ, nhằm cách ly ông với phong trào Cách mạng, quần chúng. Tuy nhiên, ông bí mật tham gia Ban Vận động cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi, tham gia chỉ đạo Khởi nghĩa Ba Tơ (3.1945), rồi tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành Chính quyền ở tỉnh Quảng Ngãi, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Ủy viên thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Tháng 3 năm 1946, ông được bầu vào Xứ ủy Trung Bộ, là Ủy viên dự khuyết phụ trách 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa ; 2.1947, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên, Chính trị viên Trung đoàn Trần Cao Vân (E101), Bí thư Trung đoàn ủy, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên ; 7.1949, Phó Bí thư Liên khu ủy Khu 4, Chính ủy kiêm Tư lệnh Mặt trận Bình Trị Thiên, Thường vụ Liên khu ủy Khu 4, Bí thư Đảng ủy Mặt trận. Năm 1951, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên kiêm Chính ủy đầu tiên Đại đoàn 325 Trị Thiên Huế, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn, Chính ủy Mặt trận Trung Lào, Chỉ huy trưởng Chiến dịch Hạ Lào, Chiến dịch Đông Bắc Cam-pu-chia.

Tháng 3 năm 1955, khi Ban Nghiên cứu Sân bay (tiền thân của Quân chủng Không quân rồi Phòng không Không quân sau này) được thành lập, ông giữ chức vụ Trưởng ban ; 5.1955, Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tổng Tham mư ; 1957, học lớp bổ túc ngắn hạn tại Liên Xô. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3, tháng 9 năm 1960, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết và là Ủy viên Quân ủy Trung ương (sau đó là chính thức), từ năm 1960 đến năm 1976 là Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương.

Tháng 3 năm 1961, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần ; 23.8.1961, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần ; 1962, học tại Học viện Quân sự cấp cao Trung Quốc ; 8.1963, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng, sau kiêm Tổng Thanh tra Quân đội ; 1967, Tư lệnh Mặt trận Đường 9 Khe Sanh ; 1972, Tư lệnh Mặt trận B5 – Quảng Trị.

Năm 1976, ông được Trung ương cho kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Cơ yếu Trung ương, cho đến tháng 7 năm 1978 thì thôi chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng. Trung tướng Trần Quý Hai mất ngày 11 tháng 1 năm 1985 tại Hà Nội thọ 72 tuổi. Hiện nay, phần mộ ông được đặt trong Nghĩa trang Mai Dịch, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Tại tỉnh Quảng Ngãi, có một con đường và một ngôi trường mang tên ông, một nhà tưởng niệm ông cũng được xây dựng tại nơi ông sinh ra.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 11:08:36 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #97 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2008, 03:45:43 am »


Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (1923) từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục Chính trị - Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chính ủy Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngoài ra, ông còn từng là: Ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ, Ủy viên Tỉnh ủy Thừa Thiên, Đại biểu Quốc hội các Khóa 4, 5 và 6.

Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Quân công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982).


Ông quê ở xã Trung Đông, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định trong một gia đình nông dân nghèo. Năm 14 tuổi ông làm thợ thuỷ tinh. Năm 1936, ông tham gia cách mạng làm nhiệm vụ liên lạc và chuyển tài liệu. Từ năm 1937 đến tháng 8 năm 1945, ông bị thực dân Pháp bắt giam vì trong người có tài liệu, do chưa đủ tuổi nên bị kết án 15 năm tù khổ sai, 15 năm đày đi biệt xứ đưa đi giam tại các nhà tù Hoà Bình, Sơn La rồi đày đi Côn Đảo. Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Thời gian ở Côn Đảo, biết ông còn trẻ, cai ngục cố tình tra tấn ông rất dã man nhằm uy hiếp lấy lời khai. Tuy nhiên, mọi đòn roi, âm mưu đều không khuất phục được cậu bé "Chi cò" (tên do các anh cùng giam đặt cho).

Tháng 9 năm 1945, ông ra tù được ông Hồ Tùng Mậu, đón về Huế tiếp tục hoạt động, tham gia Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ. Năm 1947, ông là Tỉnh uỷ viên tỉnh Thừa Thiên. Từ năm 1950 đến năm 1954, ông là Cán bộ chính trị, Phó cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, tham gia các chiến dịch Biên Giới, Hoà Bình, Tây Bắc và chiến dịch Điện Biên Phủ.
 
Từ năm 1955 đến năm 1960, ông  Phó cục trưởng rồi Cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần. Năm 1961, ông học tại Học viện Quân sự Liên Xô.  Từ năm 1962 đến năm 1965, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ năm 1965 đến năm 1970, ông là Phó chính uỷ rồi Chính uỷ Bộ Tư lệnh Đoàn 559. Từ năm 1970 đến tháng 5 năm 1976, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 6 năm 1976 đến tháng 2 năm 1977, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Từ tháng 9 năm 1976 đến năm 1987, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông là đại biểu Quốc hội Khoá 4, 5, và 6.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 11:23:39 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #98 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2008, 03:53:01 am »


Trung tướng Lê Hai (Lê Văn Hải, 1927) từng giữ các chức vụ: Trưởng Ban Tuyên huấn Đại đoàn 320, , Chủ nhiệm khoa rồi Phó Chủ nhiệm Hệ Giáo dục chính trị Học viện Quân chính, Tổng biên tập Tạp chí Quân đội Nhân dân, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, phụ trách cơ quan Tiền phương Tổng cục Chính trị trong chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến trường Căm-pu-chia,thành viên cơ quan Tiền phương Bộ Quốc phòng, Phó Tư lệnh Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-pu-chia, Phó đại diện Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp Căm-pu-chia.

Huân chương Độc lập hạng nhất; Hai Huân chương Quân công hạng nhất; Một Huân chương Quân công hạng ba; Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Huân chương Bảo vệ Tổ Quốc hạng nhất của Nhà nước Cam-pu-chia.

Thiếu tướng (1979), Trung tướng (1984).


Ông quê ở xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Tháng 6 năm1945, ông là du kích tham gia đánh chiếm đồn huyện Chí Linh, Hải Dương. Trong Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia khởi nghĩa ở Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Pháp, ông trưởng thành từ tiểu đội phó đến Trưởng ban Tuyên huấn Đại đoàn 320.
 
Từ năm 1956 đến năm 1960, ông là giáo viên, sau đó là Chủ nhiệm khoa rồi Phó Chủ nhiệm Hệ Giáo dục chính trị Học viện Quân chính. Tháng 9 năm 1964, ông là Phó Tổng biên tập rồi Tổng biên tập Tạp chí Quân đội Nhân dân (tháng 3 năm 1970).
 
Tháng 7 năm 1977, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tháng 7 năm 1978, ông phụ trách cơ quan Tiền phương Tổng cục Chính trị trong chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến trường Căm pu chia. Tháng 2 năm 1979, ông kiêm thành viên cơ quan Tiền phương Bộ Quốc phòng. Tháng 3 năm 1981, ông là Phó Tư lệnh về Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-pu-chia, Phó Bí thư rồi Bí thư Ban cán sự, Uỷ viên Ban lãnh đạo Chuyên gia Việt Nam tại Căm-pu-chia. Năm 1988, ông là Phó đại diện Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp Căm-pu-chia.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 11:29:02 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #99 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2008, 04:01:05 am »


Thượng tướng Đào Đình Luyện (5/11/1929-3/8/1999) từng giữ các chức vụ: Phó chủ nhiệm chính trị rồi Tham mưu trưởng Đại đoàn 312, Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích 921, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Binh chủng Không quân, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân kiêm Tư lệnh và Chính uỷ Bộ tư lệnh Không quân, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Phó Chủ tịch Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam. Ngoài ra, ông còn từng là: Đại biểu Quốc hội các Khoá 7, 8, và 9. Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng Khóa 6 và 7.

Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Quân công hạng nhất, hạng nhì; Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến công hạng nhì; Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; Huy chương quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1977); Trung tướng (1983); Thượng tướng (1988).


Ông quê ở xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, tham gia hoạt động cách mạng tháng 3 năm 1945 tại địa phương. Tháng 8 năm 1945, ông vào bộ đội. Tháng 10 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ năm 1945 đến năm 1946, ông giữ các chức vụ: Phân đội phó, Chính trị viên trung đội Bộ đội địa phương tỉnh Thái Bình. Từ năm 1947 đến năm 1952, ông là Chính trị viên Đại đội 247, Chính trị viên Tiểu đoàn 11 Đại đoàn 308, Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn. Tháng 3 năm 1953, ông là Phó chính uỷ rồi Chính uỷ Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 sau đó là Phó chủ nhiệm chính trị rồi Tham mưu trưởng Đại đoàn 312.

Từ tháng 2 năm 1956 đến tháng 1 năm 1964, ông được cử đi đào tạo phi công lái máy bay ném bom, sau học lái máy bay tiêm kích tại Trung Quốc. Tháng 2 năm 1964, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích 921. Tháng 4 năm 1966, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không - Không quân. Tháng 5 năm 1967, ông là Phó tư lệnh, tháng 10 năm 1969, ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Binh chủng Không quân, QCPKKQ. Tháng 3 năm 1974, ông là Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không- Không quân kiêm Tư lệnh và Chính uỷ Bộ tư lệnh Không quân, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng Phòng không không quân. Tháng 8 năm 1974, ông học tại Học viên Không quân Liên Xô.

Tháng 5 năm 1977, ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân  chủng Không quân, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng. Tháng 8 năm 1979, ông học bổ túc tại Trường Nguyễn ái Quốc. Tháng 1 năm 1981, ông là Tư lệnh Quân chủng Không quân. Tháng 8 năm 1982, ông học tại Học viện Vô-rô-xi-lốp Liên Xô. Tháng 12 năm 1983, ông là Tư lệnh Quân chủng Không quân.
 
Tháng 3 năm 1986, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 4 năm 1989, ông được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Tháng 9 năm 1991, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 12 năm 1995, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, thôi giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
 
Ông là đại biểu Quốc hội khoá VII, khoá VIII, khoá IX. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), và lần thứ VII (6/1991), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 9 năm 1996, nghỉ hưu. Tháng 12 năm 1997, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2011, 11:37:46 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM