panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:25:51 am » |
|
Đại tướng Chu Huy Mân (17/3/1913-1/7/2006), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương chiến công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến thắng hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.
Thiếu tướng (1965), Thượng tướng (vượt cấp-1974), Đại tướng (1982). ‘ ’Đại tướng Chu Huy Mân là một cán bộ lãnh đạo cấp cao tiêu biểu của Đảng và Nhà nước, một tướng lĩnh xuất sắc, chính trị, quân sự song toàn của quân đội ta, là một tấm gương sáng cho toàn quân, toàn dân ta học tập…Đối với tôi, Đại tướng Chu Huy Mân là người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết, người cán bộ mà tôi đặt nhiều niềm tin khi đồng chí được giao những nhiệm vụ quan trọng’’ (Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp)Đại tướng Chu Huy Mân (Tên thật : Chu Văn Điều. Bí danh : Vũ Chân, Lê Thế Mỹ, Trần Thanh Lạc, Hai Mạnh, Thao Chăn) sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Hưng Hòa, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Bố ông mất sớm, khi ông mới 14 tháng tuổi. Mẹ ông một mình tần tảo nuôi tám người con ăn học. Lên 7 tuổi, ông đi học chữ Hán ở trường làng. bấy giờ thuộc xã Yên Lưu, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay thuộc TP Vinh, Nghệ An). Hồi đó, học sinh trường làng thường hay giao lưu với học sinh Quốc học Vinh vào giao lưu. Qua những lần giao lưu ông biết đến đất nước ta bị giặc Pháp xâm lược, chia thành ba kỳ. Nhân dân khắp nơi lầm than, khổ cực, muốn thoát thân phận trâu ngựa thì phải vùng lên đánh đuổi thực dân, phong kiến. Bấy giờ ông đã thuộc lòng nhiều bài thơ, văn yêu nước của cụ Phan Bội Châu. Năm 1925, ông mới bắt đầu giác ngộ cách mạng. Ông cũng bắt đầu nghe đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài, sắp về nước lãnh đạo cách mạng, giải phóng dân tộc. Cho đến những năm 1927 - 1928 lần đầu nghe bàn tán những từ "độc lập", "tự do", "canh tân". Một thời gian sau có thêm mấy từ "thanh niên yêu nước", "cộng sản". Ông tham gia cách mạng từ rất sớm (1929). Đêm 30 tháng 1 âm lịch năm đó, ông được người anh họ rủ đi mít-tinh, nghe ông Trần Huy Trí diễn thuyết về cách mạng: đánh Pháp, lật đổ sự thống trị của phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Sau dó ông hòa vào dòng người tham dự mít-tinh chia thành ba đoàn rẽ đi các ngả biểu tình, hô vang các khẩu hiệu cách mạng. Đó cũng là lần đầu tiên phong trào cách mạng, phong trào cộng sản về tới làng ông. Một Chi bộ xã Yên Lưu được thành lập có ba đảng viên là các ông Trần Huy Trí, Dương Cu, Đinh Ái. Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), ông tham gia Tự vệ Đỏ và là Đội phó Đội tự vệ xã. Cuối năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam khi mới 17 tuổi. Đầu năm 1931, Pháp khủng bố mạnh nhằm dập tắt cao trào cách mạng, ông bị bọn bang tá bắt cùng với 50 người khác, bị đánh suốt ba đêm, ba ngày thậm trí chúng còn dùng roi mây ngâm nước mắm phơi khô vụt khắp người. Nhiều người không chịu nổi đã phải khai và quy thuận. Riên ông dứt khoát không khai nhận cũng không ký cam kết là sẽ không làm cách mạng. Thực dân Pháp phải thả nhưng chúng cử người theo dõi. Cuối năm 1932, ông lại bị bắt rồi lại được thả. Đầu năm 1933, ông móc nối khôi phục cơ sở và được cử làm bí thư chi bộ xã Hưng Hòa, lúc đó mới 20 tuổi. Sau đó thực dân Pháp đưa ông vào danh sách tình nghi cộng sản nên từ năm 1935-1939, hằng năm cứ đến các ngày 8-3, 1-5, 14-7 (Quốc khánh Pháp) và 12-9 (ngày nông dân Hưng Nguyên kéo lên Vinh biểu tình) ông phải trình diện và bị giữ lại suốt ngày hôm đó. Năm 1936, ông là Bí thư chi bộ xã Hưng Hòa rồi Bí thư phân Huyện ủy huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An. Cuối năm 1939, ông bị bắt giam suốt bảy tháng liền ở nhà lao Vinh. Được thả ra ít ngày, đến tháng 5-1940, thực dân Pháp bắt và đưa ông đi đày ở Đắc Lây, Kontum. Đầu năm 1943 khi tổ chức tạo điều kiện để ông vượt ngục an toàn cùng các ông Hà Thế Hạnh, Nguyễn Duy Trinh, Huỳnh Ngọc Huệ. Sau đó là những tháng ngày ông hoạt động cách mạng sôi nổi, liên tục, tham gia Ban vận động Việt Minh và Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam. Tổng khởi nghĩa tháng 8- 1945 thành công, ông được bầu làm Phó bí thư tỉnh ủy, rồi Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam. Cuối năm 1945, cấp trên điều ông ra Huế công tác, giữ chức chủ tịch Ủy ban quân chính khu C gồm bốn tỉnh Bắc Trung Bộ (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam), Chính trị viên Đường 9 Đông Hà Xa-va-na-khẹt. Cuối năm 1946, ông được điều ra Bắc mới được ba tuần thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo các cơ quan chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc, ông được phân công làm trưởng Ban kiểm tra xây dựng Đảng Quân khu ủy Việt Bắc, rồi sau đó chuyển sang quân đội làm trung đoàn trưởng các trung đoàn 72, 74 Cao Bằng, rồi làm chính ủy trung đoàn 174 Cao-Bắc-Lạng (1947-1949). Ông tham gia chỉ huy Đại đoàn 316 tham gia nhiều chiến dịch (ví dụ : Tây Bắc-Thượng Lào 1952…), đặc biệt trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, Đại đoàn của ông được lệnh lên Tây Bắc rồi tham gia vào Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Đại đoàn của ông là Đại đoàn chủ lực được vinh dự đánh trận mở đầu của chiến dịch, tiêu diệt cứ điểm Him Lam (13/3/1954). Bước vào đợt 3 của chiến dịch, Đại đoàn của ông đã đánh khối bộc phá gần một tấn tại đồi A1 mở đầu cho toàn đợt. Rồi cũng Trung đoàn 174 của Đại đoàn là một trong hai Trung đoàn vào bắt sống tướng Đờ Cát (Trung đoàn còn lại là Trung đoàn 209 Sông Lô do ông Hoàng Cầm chỉ huy, thuộc Đại đoàn Chiến Thắng 312) (7/5/1954). Tháng 8-1954, là Đoàn trưởng Bí thư Đảng ủy Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, giúp Cách mạng Lào xây dựng lực lượng vũ trang. Năm 1957, ông giữ chức Chính ủy Quân khu IV; năm 1958, là Chính ủy Quân khu Tây Bắc kiêm Bí thư Khu ủy Tây Bắc. Cuối năm 1959 đến tháng 12 năm 1960, ông được phân công là Trưởng đoàn Cố vấn chuyên gia giúp Cách mạng Lào xây dựng lực lượng vũ trang, giữ cương vị Đoàn trưởng Đoàn 100 (Đoàn chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Lào, cố vấn cho chính phủ liên hiệp của Thủ tướng Xuvana Phuma). Năm 1961 ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 4. Năm 1962, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự mang tên Phờ-run-đe của Liên Xô. Tháng 9 năm 1963, ông được điều vào chiến trường Quân khu 5 lần lượt giữ các chức vụ: Trưởng đoàn kiểm tra của Đảng ủy quân sự Trung ương nghiên cứu tình hình khu 5, Phó Bí thư rồi Bí thư Quân ủy khu 5. Tháng 8-1965, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận B3 - Tây Nguyên. Từ năm 1967 đến năm 1975, ông là Tư lệnh Quân khu 5, Phó bí thư Đảng ủy Quân khu. Tài thao lược của ông ở hai mặt trận Khu 5 và B3 đã góp phần làm nên nhiều chiến công vang dội, nổi bật như chiến thắng Ba Gia tiêu diệt chiến đoàn quân Việt Nam cộng hòa, chiến thắng lừng lẫy Plây Me – Iadrang, tiêu diệt chiến đoàn thiết giáp Việt Nam cộng hòa và lần đầu tiên tiêu diệt 1 tiểu đoàn quân Mỹ, chiến thắng giải phóng Đà Nẵng , Chiến dịch Sa Thầy v.v… Từ 1975 đến 1976, ông là Chính uỷ, kiêm Tư lệnh, Bí thư Đảng uỷ Quân khu 5. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, ông là Chính ủy chiến dịch Huế- Đà Nẵng. Tư lệnh là Trung tướng Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng-Tổng tham mưu trưởng), khi đó đang trên đường từ Bắc vào cho nên về thực tế ông là người trực tiếp chỉ huy. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị và được cử giữ chức Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Trưởng ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1977-1986), phụ trách công tác giúp Cách mạng Lào, Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc (năm 1980). Ông là đại biểu Quốc hội khoá II,VI,VII, được Quốc hội bầu làm Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước khóa VII (1981-1986), là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III, IV, V, Ủy viên Bộ Chính trị khoá IV,V. Ðại tướng Chu Huy Mân là một tài năng quân sự và kiên định của đất nước, có tầm chiến lược và cũng rất giỏi về chiến dịch và chiến thuật. Trong hơn 11 năm ở Quân khu V, các chiến dịch do ông trực tiếp chỉ huy đều giành thắng lợi. Là vị tướng chiến lược, ông không những là một người chỉ huy sắc sảo mà còn là một người có biệt tài về xây dựng, xây dựng bản lĩnh chính trị và quân sự, niềm tin và đạo đức cho các đơn vị và cấp dưới thuộc quyền.
Trí tuệ quân sự mẫn tiệp, rất thực tiễn, rất sinh động, là ông đã chân thành học hỏi trí tuệ và bản lĩnh của nhân dân, của cấp dưới và chiến sĩ. Trí tuệ ấy tỏa sáng và hấp dẫn được cán bộ và chiến sĩ tự nguyện sôi nổi và hào hứng tiếp thu. Ông thường mở ra những phương cách tiến công và xây dựng mới mẻ, giải quyết tỉnh táo và thanh thoát khó khăn, dẫn dắt tư duy và hành động mọi người sáng tạo, xông pha trận mạc, không một chiều, không trừu tượng, không bức xúc, thống nhất được lý trí và tình cảm, mục tiêu và biện pháp, trước mắt và lâu dài. Từ đó cùng với đơn vị và nhân dân tạo dựng những ngọn cờ đầu có sức lay động lớn. Ba Gia, Vạn Tường, Plây-me, chiến dịch Bắc Bình Ðịnh Xuân hè 1972.. Ðó là một trí tuệ văn hóa sâu sắc, đầy sức sống, được thử thách đối kháng trong chiến tranh ác liệt với kẻ thù hung bạo nhất, rất nhuần nhuyễn và góp phần bồi đắp triết lý giữ nước của dân tộc ta, thấm đượm Văn hiến Việt Nam.
Đại tướng Chu Huy Mân là vị tướng gắn bó nhiều với đất nước Triệu Voi với Cách mạng Lào. Ông có công rất lớn trong việc giúp nước bạn xây dựng Quân đội, xây dựng lực lượng kháng chiến giành độc lập, đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng và độc lập. Là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng tình đoàn kết Lào Việt anh em. Ông là ‘’Cố vấn lỗi lạc’’, ‘’Cố vấn hay nhất mọi thời đại’’ của nhân dân các bộ tộc Lào. Ít ai biết rằng, ngay những ngày đầu năm 1946, ông đã có mặt bên dòng sông Sê-pôn Hạ Lào.
Suốt cuộc đời, Đại tướng Chu Huy Mân đã đem hết ý chí, sức lực và trí tuệ góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc; cho đến những ngày cuối đời, ông vẫn suy nghĩ, lo lắng nhiều đến nhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng, trăn trở trước vận mệnh của Tổ quốc.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 05:16:43 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:28:02 am » |
|
Trung tướng Trịnh Trân (28/11/1928-6h10’ 14/9/2006), từng giữ các chưc vụ: Phó Phòng Địch vận trực thuộc Tổng cục Chính trị, Tham mưu trưởng rồi Tư lệnh Bộ đội biên phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngoài ra ông từng là : Đại biểu Quốc hội kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh Quốc hội khóa 9, Ủy viên Đảng ủy Công an Nhân dân.
Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 2 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.
Thiếu tướng (1984), Trung tướng (1992).Trung tướng Trịnh Trân (tên thật là Trịnh Ngọc Chân, bí danh : Thanh Tùng, Võ Thiết Sơn), sinh tại thôn Cự Đà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây nhưng do hoàn cảnh gia đình nghèo khó gia đình ông phải chuyển lên sinh sống ở khu phố Vườn Cam, thị xã Cao Bằng-đây cũng là nơi gắn bó với tuổi thơ của ông. Ngày 8/2/1941, lãnh tụ Hồ Chí Minh về Pác Bó, Cao Bằng chỉ đạo cách mạng trong nước. Phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng khắp cả nước đặc biệt là Cao Bằng, ông tham gia biểu tình chống lại sự đàn áp hà khắc của Thực dân Pháp. Tháng 4/1945, ông tham gia Thanh niên cứu quốc rồi gia nhập Mặt trận Việt Minh thuộc khu vực Nước Giáp. Ngày 21/8/1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã Cao Bằng. Cách mạng tháng 8 thành công, ông tham gia Vệ quốc đoàn tại Chi đội A Cao Bằng và được cử đi học lớp quân chính. Sau đó, ông được cử về thị xã Cao Bằng xây dựng tự về, tham gia hoạt động địa phương như phong trào Bình dân học vụ. Tháng 1/1947, ông được cử đi học ở Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 2 (nay là Trường sĩ quan lục quân 1). Tháng 10/1947, ông tốt nghiệp về Cao Bằng tham gia chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc. Từ tháng 11/1947 đến 12/1949, ông lần lượt giữ các chức vụ Trợ lý tham mưu tác chiến, Chỉ huy Liên đội vũ trang, Đội trưởng Đội Biệt động thuộc E74 Cao Bằng, làm nhiệm vụ phá tề trừ gian trong vùng địch hậu. Từ tháng 1/1950 đến 6/1953 - Chính trị viên C674, Chính trị viên phó, Chính trị viên Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316. Từ tháng 7/1953 đến 8/1954, ông được cử đi học lớp Bổ túc chính trị trung cấp. Sau khi tốt nghiệp ông là Đội trưởng Đội phát động giảm tô đợt 1, 2 rồi sau đó là cán bộ Cục Địch vận Tổng cục Chính trị. Từ tháng 9/1954 đến 9/1959, ông là Trưởng ban Tuyên huấn Phòng Chính trị Sư đoàn 350, Phó phòng Địch vận Tổng cục Chính trị. Lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang (tiền thân của Bộ đội Biên phòng) được thành lập. Từ tháng 10/1959 đến 10/1961, ông là Trưởng phòng Dân vận Cục Chính trị Công an Nhân dân vũ trang. Từ tháng 11/1961 đến 4/1963, ông giữ chức Phó Văn phòng Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang. Trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ tháng 5/1963 đến 11/1974 ông được cử giữ chức vụ Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang rồi cử đi học ở Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Sau khi tốt nghiệp, ông được cử giữ chức Trưởng ban Nghiên cứu Khoa học Biên phòng. Từ tháng 12/1974 đến 11/1980, ông là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang. Từ tháng 12/1980 đến 4/1990, do sắc sảo trong công việc, nhạy bén trong chỉ đạo ông được cử gữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng. Đây là thời kì mà tình hình biên giới Việt Nam có rất nhiều căng thẳng. Đất nước bước vào giai đoạn đổi mới và mở cửa, từ tháng 5/1990 đến 8/1991 ông là Quyền Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Từ tháng 9/1991 đến 11/1998, ông là Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương kiêm Bí thư Đảng ủy và Tư lệnh Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Từ tháng 9/1991 đến tháng 11/1998, ông là Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng an ninh Quốc hội khóa IX. Trên cương vị là Tư lệnh Bộ đội Biên phòng với tầm cao chiến lược, Trung tướng Trịnh Trân nhận thức sâu sắc rằng, biên giới - bờ biển, hải đảo, mảnh đất phên giậu của nước ta có vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta mà trước hết là người dân nơi tuyến đầu biên giới đã đoàn kết một lòng, hy sinh xương máu để giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
Từ thực tế sinh động của phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, ông đã cùng tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh tham mưu cho Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ ban hành Quyết định 16, lấy ngày 3/3 hàng năm là "Ngày Biên phòng toàn dân" huy động sức mạnh cả nước vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.
Để cụ thể hóa ngày Biên phòng trong tình hình mới, Trung tướng Trịnh Trân ngày đêm trăn trở, cùng Bộ Tư lệnh đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 15, tăng cường chỉ đạo, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã, phường biên giới, biển đảo. Qua 17 năm thực hiện Ngày Biên phòng và 8 năm thực hiện Chỉ thị 15 của Thủ tướng Chính phủ, thế trận biên phòng được củng cố và nâng lên tầm cao mới, phong trào bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, tạo thành sức mạnh to lớn để quân, dân biên giới ngày đêm vững vàng bám trụ nơi biên cương Tổ quốc.
Dấu chân của Trung tướng Trịnh Trân đã in đậm trên khắp nẻo đường biên giới, hải đảo với tâm niệm là xây dựng, củng cố và nâng cao hiệu quả phòng tuyến biên phòng. Trên 40 năm gắn bó với lực lượng, Trung tướng Trịnh Trân đã xây dựng cho Bộ đội Biên phòng lớp cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên trì bám đất, bám dân, vượt qua mọi hy sinh, thử thách, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.
Tuy được Nhà nước cho nghỉ, nhưng Trung tướng Trịnh Trân vẫn dành thời gian nghiên cứu các tài liệu, tổng kết thành bài học, giúp cho Bộ đội Biên phòng những kinh nghiệm quý báu về công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Trải qua nhiều cam go thử thách, đảm nhận nhiều cương vị công tác khác nhau, Trung tướng Trịnh Trân là một vị Tư lệnh giỏi cả về chính trị và quân sự, luôn kiên định vững vàng trước phong ba, bão táp.
Tham khảo : Báo Điện tử Công an Nhân dân.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 05:21:21 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:29:31 am » |
|
Thiếu tướng liệt sĩ Dương Văn Dương (1900- 8h30’ 16/1/1946), nguyên Khu Bộ phó Khu 7, Chỉ huy trưởng Bộ đội Bình Xuyên. Ông được truy phong Quân hàm Thiếu tướng (5/8/1948) và là Thiếu tướng đầu tiên của Nam Bộ.Thiếu tướng Dương Văn Dương (thường gọi là Ba Dương) sinh ra trong một gia đình nghèo ở Cù lao Minh, tỉnh Bến Tre. Ông là con của cụ ông Ngô Văn Mà và cụ bà Dương Thị Biểu. Cụ Ngô Văn Mà có tinh thần chống Pháp, nên là đối tượng theo dõi của chính quyền Pháp thuộc. Mồ côi cha khi mới 3 tháng tuổi, Dương Văn Dương mang họ mẹ và theo mẹ tha phương cầu thực. Mẹ ông đi bước nữa, người cha kế thương ông như con ruột và nuôi dưỡng, đùm bọc ông thời niên thiếu ở cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy, huyện Nhà Bè (nay là quận 7, thành phố Hồ Chí Minh). Chính vì vậy mà trước đây nhiều tài liệu vẫn ghi ông quê ở huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Ông có tính tự lập cao và thích ngao du từ nhỏ. Hoàn cảnh nghèo nên ông nghỉ học sớm, xa gia đình khi vừa học xong cấp tiểu học nhưng vẫn lạc quan học ở trường đời và kiên trì trong cuộc sống lao động lương thiện, rày đây mai đó. Trong những năm sống lăn lộn ở khắp đồng ruộng Nhà Bè, Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Bến Tre… Ông không hề ngán ngại gian khổ, luôn vui sống trong cảnh “điếm cỏ cầu sương”, hòa lòng với tiếng hò trên sông nước. Ngao du đây đó, nhưng mỗi khi nghe có ông thầy nào có miếng võ gia truyền “độc chiêu” là ông liền tới làm quen, xin làm đệ tử. Ông có nhiều thầy nổi tiếng như thầy Ba Thi ở Chợ Lớn và thầy Sáu Lầu ở Bình Chánh rất giỏi quyền cước, thầy Bộ Dực ở Bình Khánh, Mỏ Cày, Bến Tre là bậc siêu đẳng về roi, … Nhờ vậy mà nghề võ của ông nổi trội hơn số anh chị ở Sài Gòn – Chợ Lớn. Học được rồi thì truyền lại cho thanh niên quanh vùng. Dần dà dưới tay hảo hán Ba Dương có hàng trăm em út. Thời kỳ này, ở Nam bộ không chỉ có Ba Dương mà còn rất nhiều dân “anh chị” có “bệnh giang hồ” cũng muốn học làm hảo hán, theo gương những “anh hùng Lương Sơn Bạc”, như Hai Soái, Hai Vĩnh, Ba Bang, Ba Bay, Tư Ca Rê … Năm 1936, khi người cha kế mất, Ba Dương trở về trụ lại ở cầu Rạch Đỉa làng Tân Quy, mở lò luyện võ và trở thành một võ hiệp giang hồ, dạy võ với tấm lòng giúp người dân lương thiện tự bảo vệ, không để ai ức hiếp. Tập hợp giới giang hồ mã thượng thực hiện tước đoạt của cải người giàu do bóc lột mà có để trang trải lại cho người nghèo. Riêng cuộc sống phong lưu của Ba Dương dựa vào mối khác: nghề “bảo hiểm bình dân” của giới anh chị là “bảo kê” cho dân thương hồ vận chuyển lương thực, hàng hóa từ lục tỉnh về Sài Gòn trên kinh Cây Khô. Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tác động sâu sắc đến cuộc đời của Ba Dương. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Giặc Pháp đàn áp khốc liệt không những đối với cán bộ cách mạng mà cả với giới giang hồ. Năm 1941, Ba Dương bị Pháp bắt 2 lần và bị tra trấn dã man. Trong nhà tù của thực dân, Ba Dương mến phục tư cách các tù nhân chính trị nên chủ động làm quen và được tù chính trị cảm hóa. Ra tù, Ba Dương phải lánh mặt ở một vùng hẻo lánh thuộc biên giới Việt Nam – Campuchia. Năm 1943, Ba Dương trở lại Tân Quy. Một bước ngoặt đã mở ra trong đời Ba Dương khi ông được các đảng viên cộng sản như Ba Của, Hai Lân, Tư Huệ móc nối giác ngộ. Ba Dương thầu bảo vệ bãi chứa gỗ của hảng đóng tàu Ni-chi-năn (Nhật) làm chỗ dựa, tập hợp, cảm hóa các nhóm giang hồ và truy tầm vũ khí. Đang đứng giữ bến xe Pháp Ninh – Nam Vang thì thực dân Pháp ban hành tình trạng khẩn cấp, gom bắt hết các phần tử nguy hiểm như Cộng sản, Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh Độ Cư Sĩ và bắt luôn dân giang hồ, Dương Văn Dương phải chạy về Cần Giuộc. Không thoát khỏi chỉ điểm, Ba Dương bị bắt giải về quận. Tên chủ quận buộc Ba Dương nuốt cả một chùm tóc mới thả. Tóc cắt nhỏ uống vào người sẽ phá nát bộ tiêu hóa, gây cái chết lần hồi. Nhưng không còn cách nào khác, Ba Dương đành phải thi hành bản án. May mắn thay, Ba Dương có học trò trung thành lãnh về chạy thuốc gia truyền, nhờ đó mà không chết. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng. Từ tháng 5-1945 đến tháng 8-1945, Ba Dương đã phối hợp với lực lượng “Thanh niên tiền phong” và các nhóm giang hồ khống chế, thủ tiêu hàng trăm mật thám, chỉ điểm, cảnh sát ở địa phương. Đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang Ba Dương đã quy tụ được 70 anh em, trang bị 50 súng, có cả trọng liên 13,2 ly và đại bác nòng đôi 20 ly, trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất ở vùng Sài Gòn lúc bấy giờ. Cách mạng tháng Tám nổ ra, nhận được chủ trương của Xứ Ủy về Tổng khởi nghĩa qua Chi bộ Đảng ở Nhà Bè, Ba Dương bí mật tập họp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động. Các nhóm trên đã hoàn thành việc chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bót số 6, …giải thoát được các tù nhân bị Pháp, Nhật giam giữ. Cách mạng tháng Tám thành công, Ba Dương lập “Thanh niên cảm tử đoàn” toàn dân “anh chị" tại Tân Quy (Nhà Bè). Nhóm Ba Dương bỏ hãng đóng tàu Ni-chi-năn để về Tân Quy tiếp tục chiêu mộ binh lực. Với tư cách là đàn anh trong vùng, Ba Dương tiếp xúc với các nhóm vũ trang lân cận và nhanh chóng thống nhất lực lượng lại thành một khối. Anh em “giang hồ tứ chiếng” liên kết lại lập bộ đội Xóm Cỏ, thống nhất tôn Ba Dương làm thủ lĩnh. Ba Dương thấy tên Xóm Cỏ, Hố Bần nghe không được “oai” cho lắm, nên mới chọn tên ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng để đặt. Tên này nghe “oai” hơn, vì “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với tôn chỉ của hảo hán. Danh xưng “bộ đội Bình Xuyên” có từ ngày ấy. Xóm cầu Rạch Đỉa trở thành Tổng hành dinh bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương. Bộ đội Ba Dương chủ động liên kết với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực, liên quân với bộ đội Hai Vĩnh đánh nhiều trận gây thanh thế. Qua một thời xưng hùng, xưng bá, gặp dòng xoáy cách mạng cuốn hút, lực lượng Bình Xuyên đã chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị Vệ quốc đoàn. Nhiều thủ lĩnh Bình Xuyên như Dương Văn Dương (Ba Dương), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Dương Văn Hà (Năm Hà, em ruột của Ba Dương)…là những người có uy tín, chân thành học hỏi các chiến sĩ cách mạng và quyết tâm phục vụ đất nước. Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”, tước khí giới những nhóm giang hồ nào chưa chịu từ bỏ giang hồ, đặt hình phạt đối với những người rượu chè, bê tha, ức hiếp quần chúng… Ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam bộ vùng lên kháng chiến. Phối hợp với hoạt động của các lực lượng vũ trang trong nội thành, xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Cuối tháng 9-1945, mặt trận phía nam Sài Gòn-Chợ Lớn còn được gọi là mặt trận số 4 được thành lập do đảng viên kỳ cựu Nguyễn Văn Trân được cử làm Ủy trưởng quân sự. Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông kiêm trưởng ban do thám của mặt trận. Đến tháng 11-1945, Ba Dương được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận số 4. Pháp tung hết lực lượng quyết chiếm Sài Gòn và vùng phụ cận. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, lực lượng Bình Xuyên không chạy dài như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn. Ba Dương lệnh các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, Ba Dương thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận… và chọn Rừng Sác làm căn cứ kháng chiến. Tình hình chiến sự ngày càng gay go, Pháp quyết tâm chiếm lại Nam bộ. Sài Gòn như chảo dầu sôi, quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được. Từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng, Tư lệnh Nguyễn Bình vâng lệnh Hồ Chủ tịch vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang. Nguyễn Bình hối hả vượt đường thiên lý vào chiến trường Nam bộ. Trên đường đi, ông cố thu thập tin tức và rất mừng khi biết Bình Xuyên là một lực lượng đáng kể trong số các lực lượng ở miền Đông. Ông nghe tiếng Ba Dương từ trước và tính ngay tới việc liên kết với Ba Dương để có thế lực ngay từ đầu. Trong khi đó, quân đội Anh-Ấn của tướng Gracey không thực hiện đúng chỉ thị của đồng minh giải giới quân Nhật, mà sử dụng quân Nhật kiềm hãm các hoạt động của dân quân, giúp bọn Pháp ngóc đầu dậy. Quân Nhật chiếm giữ các vị trí quan trọng ở ngoại thành như cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong. Bộ đội của Ba Dương đóng ở hãng Ni-chi-năn phải cấp tốc dời về cầu Rạch Đỉa. Tại đây, Ba Dương vạch kế hoạch đánh chớp nhoáng vào nhiều vị trí quan trọng trong nội thành. Những trận đánh này cùng các trận quấy rối của các cánh quân khác đã làm cho các tướng lĩnh tự cao tự đại của Pháp thấy rõ dân Sài Gòn không bó tay để chúng ngang nhiên cướp nước lần thứ hai.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 05:27:54 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:30:13 am » |
|
Tháng 10-1945, thực hiện chủ trương của đảng bộ, Ba Dương thuyết phục các băng nhóm thống nhất lại thành lực lượng vũ trang Nhà Bè do đích thân ông làm chỉ huy trưởng, Đinh Văn Nhị làm ủy viên chính trị, Từ Văn Ri tham mưu trưởng, quân số lên đến 2.000 người, trang bị 1.300 súng, có 2 đại bác, 7 trọng liên 13,2 ly, 15 trung liên. Khác với quân của Bảy Viễn (Lê Văn Viễn) chỉ lo bảo toàn lực lượng, chạy dài khi đối phương tấn công, bộ đội Nhà Bè chủ động đánh nhiều trận, trong đó có trận Cây Khô do Ba Dương trực tiếp chỉ huy, có sự phối hợp của bộ đội Tám Mạnh, phục kích tiêu diệt gọn đoàn tàu, diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, thu một tàu kéo, một xà lan và 4 ghe đầy lương thực, thực phẩm. Sau trận đánh, Khu bộ trưởng Nguyễn Bình gởi thư khen:
“…Toàn quốc nghe tin bộ đội Bình Xuyên đánh giặc dũng cảm. Các anh em xứng đáng với tên Giải phóng quân Nam bộ. Nhân danh Khu bộ trưởng, tôi gởi lời khen và số tiền 3.000 đồng để ủy lạo anh em.”
Giữa tháng 12-1945, Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình thăm sở chỉ huy Bình Xuyên tại Phước An, quyết định bổ nhiệm Dương Văn Dương làm Khu bộ phó Khu 7 và giao nhiệm vụ Ba Dương chỉ huy một bộ phận quan trọng lực lượng Bình Xuyên xuống chi viện cho chiến trường Khu 8 ở đồng bằng sông Cửu Long, đánh giặc trên đường đi và thống nhất lực lượng vũ trang nơi đơn vị đến.
Theo yêu cầu chi viện của Khu bộ phó Khu 8 Trương Văn Giàu, đầu năm 1946, Ba Dương triệu tập hội nghị tại Rạch Su trình bày việc đưa quân xuống tăng cường chiến khu Bến Tre, tiếp cứu mặt trận An Hóa – Giao Hòa bị Pháp uy hiếp nặng. Thực hiện mệnh lệnh của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, Ba Dương chỉ thị chọn các đơn vị có thành tích lập liên quân gồm 5 đại đội đi Bến Tre, đích thân Ba Dương chỉ huy. Đơn vị liên quân tổ chức ăn tết trước đồng bào 3 ngày. Đêm 30 tết liên quân vượt sông Soài Rạp, xuyên qua Bình Phục Nhất, Chợ Gạo, vượt Cửa Tiểu qua An Hóa. Vừa đi vừa đánh tạo khí thế. Cánh Nhà Bè đánh Cần Giuộc, cánh Tân Thuận đánh Cần Đước, cánh Tân Quy đánh Chợ Trạm. Sau đó hợp quân tại Chợ Gạo trước khi hành quân vào Bến Tre. Nhưng khi đến bờ nam Cửa Tiểu thì được tin mặt trận An Hóa – Giao Hòa đã mất. Bộ chỉ huy quyết định tổ chức đánh đoàn tàu thực phẩm của địch, sau đó kéo quân về xã Châu Bình (Giồng Trôm) cùng hội quân với lực lượng Cộng hòa Vệ binh, Quốc gia Tự vệ cuộc của Trương Văn Giàu và Nguyễn Văn Quạn, bàn kế hoạch mở mặt trận đánh Pháp và phối hợp giải tán Đệ Tam Sư đoàn đã có hành động quân phiệt làm nhân dân ta thán.
Đang hội nghị thì được tin Pháp sắp tấn công. Đơn vị của Ba Dương ở ấp Bình Khương (Châu Bình) chưa kịp triển khai phòng tuyến thì bị bao vây tứ phía. Nhận thấy tình hình nguy ngập, một cán bộ tham mưu đưa ra một xấp giấy thuế thân để Ba Dương và một số anh em giả dạng thường dân bảo toàn lực lượng. Nhưng ônh xé giấy thuế thân và trả lời người cận vệ:
“Cảm ơn anh đã lo cho tôi, nhưng kẻ làm tướng mà bỏ quân chạy trước là tướng hèn. Tôi quyết không nghe theo lời anh”.
Hai chiếc Spitfire bắn phá dọn đường cho bộ binh Pháp. Ba Dương xoay quanh cây rơm sau nhà trú quân, vừa tránh đạn vừa ra lệnh cho đơn vị triển khai chiến đấu. Không may, Ba Dương trúng đạn hy sinh lúc 8 giờ 30 phút ngày 16 tháng Giêng năm Bính Tuất (1946), an táng tại Châu Bình và hài cốt được cải táng về nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh sau ngày miền Nam giải phóng.
Thiếu tướng Dương Văn Dương là tiêu biểu cho giới hảo hạn trọng nghĩa khí, vì quốc gia đại cuộc. Trong giới “hảo hán” theo cách mạng, có lẽ Ba Dương là người tiêu biểu cho sự tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên và cũng là người đại diện tiêu biểu có đóng góp cho sự thành công của sự nghiệp cách mạng, mà mọi người vẫn gọi là sự nghiệp của quần chúng. Khi Ba Dương trở thành người chỉ huy quân đội, ông là vị chỉ huy gương mẫu, dũng cảm, được anh em tin yêu. Nhưng cuộc đời binh nghiệp của ông lại ngắn ngủi, để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với cán bộ chiến sĩ Bình Xuyên cách mạng và nhiều người ngưỡng mộ ông.
Dương Văn Dương có vóc người tầm thước, tính tình nghiêm nghị, ít nói, luôn có thái độ lễ phép, hòa nhã. Chính điều đó làm cho mọi người và số anh chị giang hồ phải kính nể. Thì ra, muốn làm anh chị không chỉ nhất thiết phải “hét ra khói, nói ra lửa” như những tay dao búa ở bến đò, bến xe. Điều căn bản là tài, đức phải đi đôi và Ba Dương hội đủ hai điều đó. Chẳng những thế, Ba Dương còn là người quân tử hiếm có. Có nhiều rất nhiều câu chuyện kể về ông, xin nêu ra đây hai câu truyện tiêu biểu cho tính cách của con người ông.
Trong một lần quân Pháp bất ngờ đánh úp một đơn vị bộ đội do Năm Hà (em cùng mẹ khác cha của ông), Năm Hà chưa đánh đã cho quân rút lui. Khi biết vậy, ôn rút sung bắn Nắm Hà và nói:
"Nhân dân che trở đùm bọc, ơn đó chưa trả nay Pháp tới chưa đánh mà đã chạy tội đáng chết."
Rất may là Năm Hà nhanh cho nên mới tránh kịp.
Trong cách mạng tháng Tám, viên Chủ quân lên trình diện chính quyền cách mạng chợt thấy Ba Dương nay là Chỉ huy trưởng, viên chủ quận mặt xanh như tàu lá, quỳ lại Dương Văn Dương như tế sao. Nhưng Ba Dương xử sự đúng người quân tử:
“Tội của ông lẽ ra tôi phải chặt 10 cái đầu mới hả dạ. Nhưng bây giờ đổi đời rồi. Ông mất hết chức hết quyền, trả thù là khi ông còn ngon lành kia, còn bây giờ tôi trả thù ông để làm gì?. Tôi tha chết cho ông đó…”.
Thái độ quân tử của Ba Dương làm cho chủ quận thức tỉnh, không hợp tác với Pháp khi Pháp quay lại tái chiếm Nam bộ, ngược lại còn động viên nhiều con cháu tham gia cách mạng.
Trong mật điện số 946/TRT năm 1946 gởi Khu 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời chia buồn với gia quyến Dương Văn Dương. Năm 1947, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ quyết định lấy tên Dương Văn Dương đặt cho một con kênh đào dài nhất ở Đồng Tháp Mười (45 km) nối từ huyện Tân Thạnh (Long An) sang tỉnh Đồng Tháp. Kinh Dương Văn Dương thay cho tên Lagrange, nguyên là chủ tỉnh Long An thời Pháp thuộc. Ngoài ra, Trung đoàn 300 – Trung đoàn nam tiến đánh giặc giỏi còn được vinh dự mang tên Dương Văn Dương.
Khi còn đương thời, các tướng Trần Văn Trà, Tô Ký, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định…đều xem Dương Văn Dương là bậc đàn anh của các tướng lĩnh Nam bộ. Thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có tên Dương Văn Dương trong Bách Khoa Quân sự Việt Nam, mặc dù ông là thiếu tướng đầu tiên của Nam bộ và cuốn đại tự điển này được tái bản lần thứ hai. Ở Bến Tre (nơi ông sinh ra và hy sinh) và Nhà Bè, Quận 7 (nơi ông lớn lên, trụ lại và nổi danh Ba Dương) vẫn chưa có con đường nào mang tên ông – Dương Văn Dương.
Khi bản than có hỏi một anh bạn, vì anh này có cuốn Bách Khoa Quân sự Việt Nam, là xem có tên tướng Dương Văn Dương, tướng Huỳnh Văn Nghệ (Tám Nghệ, quân hàm cao nhất của ông khi rời quân đội là Thượng tá), tướng Bùi Cát Vũ trong đó không thì rất buồn là tên ba người đều không có. Những ai đọc tác phẩm người Bình Xuyên hẳn sẽ thấy tên họ được nhắc đến trong tác phẩm này. Thiếu tướng Dương Văn Dương thì qua phần tiểu sử này hẳn chúng ta cũng thấy rõ vai trò của ông như thế nào với Nam bộ trước, trong và sau cách mạng tháng Tám. Tướng Huỳnh Văn Nghệ thì nếu nói về Chiến khu Đ, về Nam Bộ kháng chiến thì không thể không nhắc tới, người đã làm điên đảo các tướng Pháp từng tham chiến trên chiến khu Đ. Còn tướng Bùi Cát Vũ người được mệnh danh là Trùm đại bác Đông Dương, người “thợ rèn sung” cho Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp và là một trong hai vị tướng pháo binh nổi tiếng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Rồi một vị tướng nữa (mặc dù quân hàm thực của ông là Đại tá) là Thân Trọng Một nổi danh ở Huế trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng không có tên trong đó.
Tham khảo: Trang Thông tin Điện tử tỉnh Bến Tre
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 06:49:38 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:31:35 am » |
|
Thiếu tướng Bác sĩ Vũ Văn Cẩn (15/10/1915-13/6/1982), nguyên: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Cục trưởng Cục Quân y đầu tiên Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngoài ra ông còn từng là: Bộ trưởng Bộ Y tế, Đại biểu Quốc hội từ Khóa 3 đến Khóa 7.
Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Giải thưởng nhà nước về Khoa học và Công nghệ.
Đại tá (1946), Thiếu tướng (1974).Thiếu tướng Vũ Văn Cẩn quê tại xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Năm 1936, ông tốt nghiệp tú tài, thi đỗ vào Đại học Y khoa Hà Nội và tốt nghiệp năm 1943 với luận văn "Góp phần nghiên cứu mổ quặm mi sẹo do mắt hột". Là một thanh niên có lòng yêu nước, sớm nhận thấy bản chất xâm lược của giặc Pháp, Nhật ông tích cực tham gia phong trào Hướng đạo Việt Nam trong Tráng đoàn Lam Sơn cùng với các tên tuổi như Phạm Biểu Tâm, Bửu Lư, Hồ Văn Huê, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Sĩ Dinh, Hoàng Đình Cầu, Lê Văn Phụng, Tú Vinh, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Tốt, Huỳnh Văn Nhu… Từ năm 1942, ông giác ngộ và tích cực hoạt động trong Tổng hội Sinh viên mà ông là một trong những người góp phần sáng lập và tham gia lãnh đạo, kết hợp đấu tranh chính trị bài trừ giặc Pháp, Nhật, ủng hộ phong trào Việt Minh. Lãnh đạo Tổng hội sinh viên khi đó gồm các trí thức như Vũ Đình Hoè, Phan Anh, Dương Đức Hiền, Huy Cận, Vũ Văn Cẩn, Đỗ Đức Dục, Phan Mỹ... Ông nổi tiếng trong nhóm sinh viên yêu nước. Tờ báo "Tiếng gọi sinh viên thời đó, được coi như bó đuốc soi đường cho sinh viên, học sinh đương thời. Ông đặc trách mục: "Truyền bá vệ sinh và tân y dược học" trong tờ tạp chí Thanh Nghị, tờ báo có tiếng của giới tri thức Việt Nam. Ngoài ra, ông còn vận động sinh viên, học sinh tham gia phong trào truyền bá chữ quốc ngữ, tuyên truyền nếp sống vệ sinh trong nhân dân. Cuối năm 1944, thực dân Pháp tập trung ông cùng một số bác sỹ vào Quân đội Pháp, được 3 tháng thì xẩy ra đảo chính Nhật - Pháp. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Pháp buộc ông chạy sang Trung Quốc, ông trốn được chạy về Hà Nội tiếp tục hoạt động trong Tổng hội sinh viên. Do chống đối thuyết Đại Đông Á của Nhật, ông bị phat-xít Nhật bắt giam tại Nhà Dầu SHELL (ở phố Trần Hưng Đạo). Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ông được giải thoát khỏi nhà giam. Ngày 24/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 66 cho phép Bộ Y tế được quyền trưng dụng các y bác sĩ, dược sĩ được vào làm việc trong các cơ quan của Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng ông được cử làm Giám đốc Ban y tế Giải phóng quân. Tháng 12/1945, Bộ trưởng Y tế đã quyết định thành lập Ban Y tế vệ quốc đoàn toàn quốc và cử ông làm Giám đốc đầu tiên. Tháng 3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 34, tổ chức lại bộ máy Bộ Quốc phòng, thành lập các Cục trong Bộ Quốc phòng, trong đó có Cục Quân y; Sắc lệnh số 35 cử các Cục trưởng trong Bộ Quốc phòng và ông được cử giữ chức Cục trưởng Cục Quân y đầu tiên. Ngày 25/3/1946, ông được phong quân hàm Đại tá theo sắc lệnh 35/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí. Trong điều kiện khó khăn về dụng cụ, thuốc men, ông đã tổ chức quyên góp thuốc men tại các Bệnh viện Đồn Thuỷ, Bạch Mai, xây dựng ngành quân y từ con số không mà lên, kịp thời phục vụ cứu chữa thương bệnh binh trong những ngày Thủ đô kháng chiến. Ngày 21/1/1947, Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế đã triệu tập hội nghị liên tịch tại Việt Bắc, hội nghị quyết định xây dựng một chương trình phối hợp công tác giữa Quân y với Dân y trong các lĩnh vực sử dụng và điều động cán bộ, nhân viên, phân phối thuốc men, dụng cụ hiện có, đặt tại mỗi kỳ một Uỷ ban liên bộ Quốc phòng- Y tế để điều hành việc phối hợp hoạt động. Uỷ ban liên bộ ở Bắc kỳ do Bác sỹ Vũ Đình Tụng đại diện Dân y và ông là đại diện Quân y. Cũng trong năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi Cục Quân y chuyển lên Việt Bắc ông tham gia thành lập Phòng Quân y dược. Ông đã góp phần tạo dựng một đội ngũ cán bộ quân y kịp thời phục vụ các chiến trường ở các thời điểm ác liệt nhất. Trong kháng chiến chống Pháp từ năm 1947 đến năm 1954, ông cũng trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch phục vụ cứu chữa bộ đội từ chiến dịch Biên Giới, Trung Du đến chiến dịch Điện Biên Phủ. Hòa bình được lập lại trên miền Bắc, năm 1960,ông được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ y tế. Bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1965 ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu Cần kiêm Cục trưởng Cục Quân y. Sau đó, năm 1971, ông giữ chức quyền Bộ trưởng Bộ y tế. Ông đặc biệt quan tâm đầu tư để phát triển ngành Quân y lớn mạnh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam và chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Trong kháng chiến chống Mỹ, sự kết hợp Quân y và Dân y ngày càng được hoàn thiện cả về lý luận và hình thức tổ chức. Đất nước thống nhất, từ năm 1975 đến năm 1982 được cử giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ y tế. Trong điều kiện thời bình, ông quan tâm chỉ đạo công tác kết hợp Quân Dân y toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, nhưng thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực phòng chống dịch bệnh, cấp cứu và cứu chữa nạn nhân khi có thiên tai, thảm hoạ... và đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ nhân dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là một pho sử bằng vàng, trong đó lịch sử chống ngoại xâm là những trang sử vẻ vang nhất và chói lọi nhất. Chính hoàn cảnh lịch sử ấy đã đòi hỏi phải có lực lượng vũ trang nhân dân làm lực lượng nòng cốt của cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng vũ trang nhân dân là con em của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ. Cũng chính hoàn cảnh đó đã dẫn đến một tất yếu phải có người làm công tác y tế trong lực lượng vũ trang (sau đây gọi chung là Quân y), do vậy Quân y cũng từ Dân y mà ra. Kết hợp Quân Dân y là một yêu cầu lịch sử trong thời chiến khi mà toàn dân, toàn quân ta đồng tâm, hiệp lực, đoàn kết để đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc. Kết hợp Quân Dân y là một lĩnh vực trong chiến lược kết hợp Quân Dân. Kết hợp Quân Dân y còn là một đòi hỏi tự nhiên của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.
Kết hợp Quân Dân y trong quá trình cách mạng là sự kết hợp của hai bộ phận có cùng một nguồn gốc, có cùng một mục đích là chăm sóc sức khoẻ nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, kết hợp Quân Dân y là một sự kết hợp toàn diện, lâu dài và vững chắc. Vai trò của Thiếu tướng Bác sĩ Vũ Văn Cẩn, người nhiều năm giữ chức vụ Cục trưởng Cục Y tế rồi Bộ trưởng Bộ Y tế, trong công tác này không nhỏ. Trong thời kì hiện nay, mô hình Quân dân Y kết hợp “Kết hợp Quân Dân y xây dựng nền quốc phòng toàn dân và phục vụ sức khoẻ nhân dân” (Chương trình Y tế 12 giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế) với mô hình kết hợp ở 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã và những nội dung hoạt động cơ bản là tham gia củng cố y tế cơ sở, phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh và đào tạo cán bộ y tế đã trực tiếp phát huy thành quả và mô hình được đề ra bởi các bậc tiền nhiệm mà Thiếu tướng Bác si Vũ Văn Cẩn là một trong những người đi tiên phong.Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 05:31:28 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:33:47 am » |
|
 Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên (1926) nguyên : Thứ trưởng thường trực Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 3, Tư lệnh Quân khu 6, Trưởng đoàn chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Cuba. Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa 6, 7), Đại biểu Quốc hội (khóa 8, 9).
Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Che Guevara của Nhà nước Cuba, Huy chương Vì sự nghiệp công tác Tổ chức Xây dựng Đảng, Huy chương Vì sự nghiệp Dân vận, Huy chương Vì sự nghiệp Công đoàn, Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng Phụ nữ, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa tư tưởng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học - Công nghệ - Môi trường, Huy chương Vì sự nghiệp Chăm sóc và Bảo vệ trẻ em, Huy chương Vì sự nghiệp giai cấp Nông dân Việt Nam, Huy chương Vì sự nghiệp Y tế Việt Nam.
Thiếu tướng (1983), Trung tướng (1988), Thượng tướng (1992).Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Mảnh đất Kim Động quê hương ông cũng là quê hương của 7 vị tướng trong Quân đội Nhân dân Việt Nam như Đại tướng Nguyễn Quyết (theo quan hệ họ hàng thì ông phải gọi bằng cậu), Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo. Khi ông mới được ba tháng tuổi cha ông mất do bệnh tả vì cõng người anh họ bị bệnh tả về nhà để anh họ không phải chết ở nơi đất khách quê người (cha ông là người duy nhất trong dòng họ đủ can đảm để làm điều này). Mẹ ông tần tảo nuôi một mẹ chồng già và một con thơ. Năm ông 13 tuổi, vì không thể tiếp tục cho ông ăn học lên nữa mẹ ông đem cầm cố mảnh ruộng duy nhất của gia đình lấy tiền cho ông sang Phnôm Pênh. 2 năm sau, mẹ ông mất vì bệnh tật trong nghèo khó. Mãi đến tận đầu năm 1944, khi bà nội mất, ông mới có dịp theo chân chú về quê. Trở lại Phnôm Pênh, ông theo học nghề tại một xưởng may. Tại đây, ông có dịp tiếp xúc với một số người bị cách li khỏi cộng đồng bạn nghề vì là Đảng viên Đảng Cộng sản. Cuối năm 1944, chứng kiến cảnh những người Việt yêu nước đang là công chức tại các sở ở Phnom Penh sẵn sàng vứt bỏ tất cả để về quê hương chiến đấu chống Pháp, ông quyết định xin đi theo. Trong những ngày đầu ở đất Sài Gòn, ông theo những bậc đàn anh tin tưởng vào thuyết Đại Đông Á sát cánh cùng quân Nhật chống Pháp. Khi Nhật đã hất cẳng Pháp, chứng kiến cảnh quân Nhật lật lọng lời nói "trao trả độc lập lại cho Việt Nam" và được giác ngộ về phong trào Việt Minh, ông rủ mọi người trốn khỏi trại lính Nhật để thành lập đơn vị theo Việt Minh. Trong những ngày Cách mạng tháng 8, mới 19 tuổi, ông đã đảm nhận chức vụ Trung đội phó của Chi đội Nguyễn Văn Vĩnh, lúc mà cao điểm nhất quân số lên tới 800 người với khoảng 500 khẩu súng các loại. Trong Kháng chiến chống Pháp, từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1946, ông là chiến sĩ rồi trung đội phó thuộc Trung đoàn 80, 83. Từ năm 1948 đến năm 1949, ông là Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 121, Trung đoàn 80, 83 Khu 6 sau thuộc Liên khu 5. Từ năm 1950 đến năm 1953, ông là Tiểu đoàn phó, Thị đội trưởng Thị đội Nha Trang. Tháng 1 năm 1954, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 88. Cho đến tháng 8 năm 1954, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 96, Đại đoàn 305. Từ tháng 9 năm 1954 đến năm 1960, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu trưởng Trung đoàn, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108, Sư đoàn 305; Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Sư đoàn 305 rồi Lũ đoàn 305. Năm 1959, ông được cử đi học tại Trường Trung cao Quân sự của Bộ Quốc phòng. Bước vào cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1960 ông được giao nhiệm vụ vào chiến trường B2 chiến đấu. Từ năm 1961 đến năm 1975, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng Quân khu 6, Phó ban Quân sự Khu 10, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu ủy Khu 6, Quân khu Ủy viên và là Thường vụ Đảng ủy (7.1969), Trưởng đoàn Quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên Khu vự 4 (Phan Thiết). Sau ngày miền Nam hoàn toàn thống nhất, khu 5 và khu 6 sát nhập trở thành khu 5, từ 12/1975 tới 1976, ông là Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự tỉnh Thuận Hải và là Thường vụ tỉnh ủy. Ông được cấp trên giao cho nhiệm vụ chỉ huy bộ đội làm kinh tế (trồng bông) nhằm cung cấp 1/6 nhu cầu may mặc của nhân dân sau ngày giải phóng. Sau đó, trong một lần vào làm việc tại tỉnh Thuận Hải, thấy Tư lệnh Khu 6 một thời đang khó nhọc chỉ đạo công tác trồng bông, Đại tướng Văn Tiến Dũng điều ông ra Hà Nội tham và được cử đi học khóa 1 Học viện Quân sự cấp cao (1977), rồi Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Sau khi tốt nghiệp, từ tháng 3/1979 đến năm 1985, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 3, phụ trách công tác quân sự địa phương, kinh tế và tài chính. Thời kì đó, Quân khu 3 trở thành một điển hình về phong trào ‘’làm giàu, đánh thắng’’ kết hợp tốt giữa quân sự, an ninh quốc phòng và kinh tế, là điển hình cho nhiều quân khu trong cả nước học tập và được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Năm 1983, ông tiếp tục được cử đi học lớp nâng cao tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Sau chuyến thăm của Đoàn đại biểu Quân sự Cuba tại Quân khu 3, ông được điều sang Cuba làm Trưởng đoàn chuyên gia Quân sự Việt Nam (đoàn 385) tại đây (tháng 3 năm 1985). Những đóng góp của ông với Nhà nước Cuba đặc biệt là trong lĩnh vực kết hợp Quốc phòng và Kinh tế được đánh giá bằng tấm Huân chương Che Guevara của Nhà nước Cuba do đích thân Chủ tịch Phidel trao tặng. Sau khi về nước, tháng 4 năm 1986 ông là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu 3. Từ năm 1988 đến năm 1999 ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Từ năm 1988 đến năm 1993, ông kiêm chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), ông được bầu làm Uỷ viên (chính thức) Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt . Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), ông được bầu là Uỷ viên chính thức Ban chấp hành Trung ương Đảng và được cử làm Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương (1991-1996). Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên là đại biểu Quốc hội khoá VIII, khoá IX. Tham khảo: Theo Báo Công an Nhân dân, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 05:57:20 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:35:19 am » |
|
Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương (1922), nguyên : Trưởng đoàn chuyên gia kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1972-1975), Phó Chính ủy Quân khu Tây Bắc (1968-1971), Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên (1965-1967), Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị (1958).
Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ thương binh và xã hội (1975-1978 và 1984-1990). Ông cũng từng là cố vấn cho các ông Khăm-tày Xi-phăn-đon, Cay-xỏn Phôn-vi-hẳn hai lãnh tụ của Cách mạng Lào. Hiện nay, ông là Trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh Quân tình nguyện và chuyên gia tại Lào.
Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỷ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Độc lập hạng Nhất do Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng.
Thiếu tướng (1974).Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương sinh tại phường Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936 tại Hội An, Quảng Nam, trong Phong trào Thanh niên Dân chủ, thời kì Mặt tộc Dân tộc Dân chủ. Tháng 10 năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt và giam 4 tháng tại nhà lao Quảng Nam. Chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, vì lo sợ chiến tranh và đường đi châu Âu bế tắc, nhiều người Pháp và người Việt lên Lâm Đồng. Nhiều công trình được xây dựng, nhiều đồn điền được mọc thêm, nhất là ở dọc đường 20. Thực dân Pháp có ý đồ xây dựng Đà Lạt thành thủ đô chính trị ở Đông Dương và là nơi cố thủ chống Nhật. Vì vậy công nhân và người dân tộc đi làm thuê tăng lên. Dân số Đà Lạt từ 11.500 năm 1939 tăng lên 25.000 năm 1944, trong đó có 5.000 người Pháp. Tháng 10-1940, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 7 nhận định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là đế quốc phát xít Nhật - Pháp và đề ra nhiệm vụ Cách mạng Việt Nam là chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân. Phong trào Cách mạng trong nước phát triển. Ngoài Bắc có khởi nghĩa Bắc Sơn, Đô Lương. Trong Nam có khởi nghĩa Nam kỳ. Sau khi ra tù, đầu năm 1941, ông cùng các ông Võ Văn Đặng, Trần Duy Mãi từ Hội An - Quảng Nam đến Đà Lạt liên lạc với các nhà cách mạng còn lại ở nhóm Tiến bộ-là một nhóm cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, lúc này ở xóm Lò gạch. Tại Đà Lạt, các ông vừa đi làm thuê, vừa vận động quần chúng và đã gây cảm tình với số đông công nhân mà đa số đã tham gia phong trào Dân tộc Dân chủ trong thời kì Mặt trận bình dân ở Đà Lạt 1936-1939. Vì không có liên lạc được với cấp trên nên chưa biết tổ chức, hoạt động thế nào trong tình hình mới. Ngày 1-5-1941, các ông tổ chức mitting tại công trường xây dựng. Cuối năm 1941, các ông lại về Hội An bắt liên lạc, và được kết nạp vào Đảng ngày 5 tháng 1 năm 1942. Tại Quảng Nam, ông Võ Văn Đặng liên lạc được với ông Trương Văn Hoàn là Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ đang công tác tại đây. Sau khi nghe ông Võ Văn Đặng báo cáo tình hình Đà Lạt, ngày 24/2/1942, ông Trương Văn Hoàn thay mặt Xứ ủy thành lập chi bộ đặc biệt tại Đà Lạt gồm ông Võ Văn Đặng làm bí thư, ông Trần Duy Mãi và ông-Huỳnh Đắc Hương. Trở lại Đà Lạt, ông cùng hai đồng chí của mình mang theo nhiều tài liệu và truyền đơn rồi họp chi bộ trên đồi cỏ cạnh sân đánh cù Đà Lạt để bàn công tác. Sau đó, trong lúc ông cùng các đồng chí của mình tiến hành gây lại phong trào Cách mạng thì cơ sở ở Quảng Nam bị vỡ, tháng 9/1942 thực dân Pháp truy nã và bắt ông cùng ông Võ Văn Đặng giam tại nhà giam Đà Lạt, nhưng sau đó ông trốn thoát được. Tháng 2 năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ Ba tại nhà lao Hội An, song ông tiếp tục vượt ngục trốn thoát, về hoạt động và gây dựng cơ sở ở Tiên Phước, Quảng Nam. Tháng 3 năm 1945, ông là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam. Trong cách mạng tháng Tám 1945, ông là thành viên Ban vận động giành chính quyền Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Tháng 10/1945, ông được điều vào công tác trong Quân đội, là Hiệu trưởng Trường Quân chính Quảng Nam (10.1945), Chính ủy Trung đoàn 98 Quảng Nam rồi Trung đoàn 73 Quảng Ngãi (2.1948), Phó Phòng Chính trị Liên khu 5 (10.1948), Phái viên Bộ Tư lệnh Liên khu 5 (3.1952), rồi tiếp tục quay về giữ chức vụ Phó Phòng Chính trị Liên khu (3.1953). Tháng 8 năm 1954, ông là Trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Liên khu 5, rồi lên đường ra Bắc tập kết. Từ tháng 7 năm 1956 đến tháng 4 năm 1965, ông là Cục phó rồi Cục trưởng (1958) Cục Tổ chức trực thuộc Tổng cục Chính trị, Trưởng Đoàn kiểm tra tình hình Nam Lào (1963), Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên (5.1965), Phó Chính ủy Quân khu Tây Bắc (7.1967) phụ trách phối hợp với Bộ đội Pa-thét tại Thượng Lào, Chính ủy Mặt trận Cánh đồng Chum, Lào (5.1969), Chính ủy rồi Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận 959 (8.1970), Chính ủy Bộ Tư lệnh Chiến dịch Cánh đồng Chum (1971), Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào (2.1972), là cố vấn cho các ông Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào), Khăm-tày Xi-van-đon (Tổng Chỉ huy Bộ đội Pa-thét Lào) là một trong hai lãnh tụ của Cách mạng Lào., Chính ủy Quân khu 4 (18.6.1974). Trong thời gian tham gia chiến đấu tại Chiến trường Lào, ông đã cùng các cán bộ quân sự Việt Nam cùng với chỉ huy bộ đội Pa-thét Lào tham gia và chỉ huy các chiến dịch lớn quan trọng ở đây như : Chiến dịch Cánh đồng Chum giải phóng Cánh đồng Chum, Sảm Thông, Loọng Khẹt, Chiến dịch Thà Khẹt… Đất nước thống nhất, từ cuối năm 1975 đến năm 1978, ông chuyển ngành sang làm Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, từ n23 tháng 3 năm 1979 đến tháng 4 năm 1984, với những kinh nghiệm nhiều năm chỉ huy quân sự trên biên giới phía Bắc, ông được điều lại Quân đội trên cương vị Phó Chỉnh ủy kiêm Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 2. Tháng 12 năm 1982 ông chuyển công tác về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục giữ chức vụ Thứ trưởng và nghỉ hưu năm 1990. Hiện nay, ông là Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào. Thiếu tướng Huỳnh Quốc Hương luôn có mặt tại Lào trong những thời điểm khó khăn nhất, tại những mặt trận khó khăn nhất của công cuộc Cách mạng trên đất nước Triệu Voi. Lần thứ nhất là vào năm 1963 khi ông đi kiểm tra tình hình Nam Lào rồi liên tiếp trong các năm từ 1965 đến 1967 trên cương vị Phó Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên phối hợp với Mặt trận Hạ Lào. Đây là thời điểm Mỹ đổ quân vào Việt Nam trực tiếp tiến hành chiến tranh tại Việt Nam nói riêng và ba nước Đông Dương nói chung. Mặt trận Tây Nguyên và Nam Lào là những nơi quan trọng nhằm khống chế ngã ba Đông Dương. Lần thứ hai từ năm 1969 đến năm 1975, ông được điều lên làm Phó Chính ủy Quân khu Tây Bắc rồi là Trưởng đoàn chuyên gia và Chính ủy Bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Lào. Đây là giai đoạn cuối mang tính quyết định đồng thời cũng là giai đoạn khó khăn nhất của Cách mạng Lào. Chính phủ Liên hiệp bị phá vỡ đồng thời Mỹ sử dụng lực lượng của tướng phỉ Vàng Pao khống chế khu vực Cánh đồng Chum, đặt đài quan sát hướng dẫn máy bay ngay tại đây nhằm khống chế toàn bộ ba nước Đông Dương. Ông có mặt bên cạnh các lãnh tụ của Cách mạng Lào nhằm đối phó với âm mưu thâm độc của Mỹ và tay sai, giữ vững bảo vệ đồng thời mở rộng căn cứ kháng chiến của bộ đội Pa-thét Lào. Cuối năm 1975, trước khi ông về nước, ông Khăm-tày Xi-van-đon có tặng ông một thanh kiếm với lời nhắn nhủ " Đây là tượng trưng cho tinh thần thượng võ của nhân dân các bộ tộc Lào gửi gắm cho người bạn tin cậy Việt Nam"
Những năm làm nhiệm vụ quốc tế và sát cánh với nhân dân các bộ tộc Lào ông đã làm tròn những gì mà Bác Hồ dậy ‘’Làm cách mạng giúp bạn cũng là giúp mình’’. Một trong những chi tiết cảm đông là trong lần thứ hai nhận nhiệm vụ chiến đấu bên Lào, cũng là thời điểm Bác mất. Ông lên đường nhận nhiệm vụ vào đúng hôm Bác ra đi. Cho nên, đọc hồi kí ‘’Ngày Bác ra đi’’ của ông hết sức xúc động.
Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 06:25:53 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:36:55 am » |
|
 Thiếu tướng Anh hùng Nguyễn Bá Phát (Bảy Phát hay Hồng Hải, 2/5/1921-1993), nguyên : Ủy viên Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân chủng Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam (1964-1975), Tư lệnh Hải quân tiền phương trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (5/1975), Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, Phó Cục trưởng Cục phòng thủ bờ biển (nay là Cục Hải quân) (1955-1964), Tham mưu trưởng Liên khu 5. Ông là một trong những vị tướng chỉ huy đầu tiên có công xây dựng và phát triển Quân chủng Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đồng thời là vị tư lệnh của Quân chủng này trong suốt những năm tháng Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một vị tướng có công đầu đối với Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Ngoài ra ông cũng từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ Thủy sản (1976-1987), Đại biểu Quốc hội các khóa (III, IV, V, VI).
Huân chương : Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Chiến công hạng Nhất, Chiến thắng hạng Nhất, Kháng chiến hạng Nhất… Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân tháng 5 năm 2010.
Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974).Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát sinh ra tại thôn Trung Sơn, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Trước Cách mạng ông từng là lính thủy trong quân đội Pháp. Là một thanh niên yêu nước, được giác ngộ, tháng 7/1945, ông tham gia Đội tự vệ bí mật của Việt Minh chuẩn bị giành chính quyền ở tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử làm Ủy viên Ủy ban Nhân dân lâm thời xã Trung Sơn kiêm chỉ huy trưởng quân sự tổng Thái Hòa, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Tháng 9 năm 1945, ông gia nhập Quân đội giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Thủy đội Bạch Đằng đánh quân Nhật tại nhà băng Quy Nhơn, phá đập Khánh Hòa…cho đến trước ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946. Trong Kháng chiến chống Pháp ông tham gia chỉ huy bộ đội lập nhiều chiến công tại Chiến trưởng Liên khu 5 và Tây Nguyên. Từ năm 1946 đến năm 1949, ồng từng giữ các chức vụ : Chi đội phó Chi đội Phan Đình Phùng, Chỉ huy trưởng Mặt trận Buôn Ma Thuột và đường số 14, Phó chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn (96, 73, 126). Từ năm 1950 đến năm 1954, khi cuộc Kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn mới-giai đọan phản công, ông lần lượt giữ các chức vụ : Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108, Tham mưu trưởng Mặt trận Bắc Tây Nguyên (hay còn gọi là Mặt trận Buôn Mê Thuột), Sư đoàn trưởng Sư đoàn 305, Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Liên khu 5. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc và được cử làm Đại đoàn phó Đại đoàn Quân tiên phong (Sư 308) tháng 10 năm 1954 và sau đó được điều về Ban nghiên cứu Thủy quân trực thuộc Bộ Quốc phòng. Năm 1955, Cục Phòng thủ bờ biển (tiền phong của cục Hải quân) được thành lập, ông được cử làm Cục phó. Năm 1958, ông được phong Quân hàm Đại tá. Sau phong trào Đồng Khởi, cuối năm 1961 có sáu đoàn tàu từ các tỉnh Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Bà Rịa…ra Bắc an toàn. Trước chủ trương chiến lược thành lập tuyến đường trên biển nhằm chi viện cho quân dân miền Nam, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy việc nghiên cứu, đóng và tổ chức đoàn tàu không số. Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam được thành lập, tháng 1 năm 1964 ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh Quân chủng. Ngay trong tháng 12 năm 1964, ông được cử làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân kiêm Tư lệnh Quân khu Đông Bắc (sau khi sát nhập), Ủy viên Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng. Năm 1974, ông được phong Quân hàm Thiếu tướng. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông được cửa làm Tư lệnh tiền phương Hải quân Việt Nam tham gia chỉ huy chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường thủy, trực tiếp chỉ huy các Đoàn (125,126 Hải quân) giải phóng Quần đảo Trường Sa… Sau ngày đất nước thống nhất ông chuyển ngành giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ thủy sản kiêm Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ từ 9/1976 đến năm 1987 (là năm ông về hưu), và mất tại Đà Nẵng năm 1993. Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát là vị tướng trưởng thành từ một người lính thủy Pháp. Là một người yêu nước được giác ngộ cách mạng, ông đã sớm tham gia chỉ huy lực lượng thủy quân Việt Nam tại chiến trường Liên khu 5 ngay từ năm 1945-ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công trước khi Quân chủng Hải quân được thành lập rất lâu.
Ngoài ra ông còn là một vị tướng có công đầu đối với sự hình thành và phát triển của Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam anh hùng từ ngày đầu thành lập đến khi kháng chiến chống Mỹ kết thúc. Là một vị tướng chỉ huy Hải quân trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ và là Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, ông có những cống hiến không nhỏ đối với việc xây dựng đoàn tàu không số, chỉ đạo và phát triển đường mòn Hồ Chí Minh trên biển chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam, bảo vệ và phòng thủ bờ biển cũng như chống chiến tranh phá hoại và âm mưu phong tỏa bờ biển của đế quốc Mỹ đảm bảo tiếp nhận an toàn hàng viện trợ của nhân dân tiến bộ và các nước trên Thế giới.
Ông cũng là một trong các vị tướng được Bác Hồ tặng đồng hồ của Người vì tầm quan trọng đặc biệt của công việc ông làm. Xin trích câu nói của Bác trong tập hồi kí của Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát để nói lên mối quan tâm đặc biệt của Bác Hồ đối với ông: "Chú là "gốc" lính thủy Pháp, chú có nhiều kinh nghiệm đi biển, đánh thắng thằng Mỹ này phải khác với đánh thắng thằng Pháp. Chú đã có công quật ngã thằng Pháp ở dưới mặt biển, thì bây giờ chú phải quật ngã tiếp thằng Mỹ xâm lược này nữa chứ, chú Phát ".
Tham khảo : Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 06:34:44 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:40:25 am » |
|
 Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (1908-1986), nguyên: Tư lệnh Binh chủng Pháo binh (1954-1963) (đầu tiên), Hiệu trưởng Trường Lục quân Việt Nam (1950-1954), Cục trưởng Cục Quân huấn, Hiệu trưởng Trường bổ túc cán bộ Quân đội trung cấp, Chỉ huy mặt trận Bắc Kạn-Tuyên Quang, Tổng thanh tra Quân đội, Tổng chỉ huy Tiếp phòng quân (3/1946), Khu trưởng Khu 4 (12/1945). Ông được coi là vị tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ: Đại sức đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Phó ban Đối ngoại Trung ương.
Thiếu tướng (1945-theo sắc lệnh số 185, ngày 24/9/1945 do Bộ trưởng Bộ nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Huỳnh Thúc Kháng, và là vị tướng đầu tiên của Quân đội)
Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 1999), Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba, Huy chương Quân kỷ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (tên thật là Lê Văn Nghiệm, ngoài ra ông còn có tên khác là Lê Quốc Vọng, Lê Như Vọng, Lê Trị Hoàn), sinh trong một gia đình nông dân ở làng Đông Thôn, xã Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Cha ông là Lê Văn Nghiệm (tức Lê Bá Thi, người đã tham gia khởi nghĩa Phan Đình Phùng, sau đó ủng hộ phong trào Đông du của Phan Bội Châu). Nối trí cha xuất dương tìm đường cứu nước Gặp lãnh tụ, Lê Như Vọng theo cách mạng Đầu năm 1923, vừa qua tuổi thiếu niên, được người cha khích lệ, Lê Văn Nghiêm đã cùng một đoàn 12 người sang Thái Lan, do ông Võ Trọng Ba, hội viên Quang Phục hội, dẫn đầu. Trong đoàn này có những người sau này rất nổi tiếng như Lê Huy Doãn (tức Lê Hồng Phong-chú họ của Lê Thiết Hùng) và Phan Đài (tức Phạm Hồng Thái)… Ông Lê Văn Nghiêm đã tiễn con trai một quãng đường dài. Để có tiền ăn đường, vợ chồng ông đã phải cầm một sào ruộng lấy mười đồng bạc. Trước khi ông lên đường, cha ông đổi tên ông thành Lê Như Vọng. Một năm sau, Tâm Tâm xã (tổ chức vừa tách ra từ Quang Phục hội, được ông Lý Thuỵ-tức lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-hướng dẫn đi theo con đường cách mạng mới), từ Trung Quốc gửi thư về triệu tập một số thanh niên ưu tú nhất sang Quảng Châu hoạt động. Vì không đủ tiền lộ phí, nên chỉ có 3 người là Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái và Lê Quảng Đạt đi trước… Thật bất ngờ, chỉ vài tháng sau đó, tiếng bom của liệt sĩ Phạm Hồng Thái cho nổ ngày 18-6-1924, nhằm giết tên toàn quyền Pháp Méclanh, đã dội về làm chấn động toàn cõi Đông Dương… Mùa thu năm 1924, Lê Như Vọng cùng một người nữa là Trương Văn Lĩnh đến lượt được chọn. Hai người bí mật đến Băng Cốc rồi lên tàu biển đi Hồng Công. Sau đó, họ đáp canô đến Quảng Châu…Hai người ở Quảng Châu được ít ngày thì được ông Lý Thụy tìm gặp. Sau khi tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của mỗi người và tình hình trong nước, ông Lý Thuỵ đã hướng dẫn họ tự học bằng cách đọc các loại sách báo Trung Quốc…Sau đó, ông Lý Thụy giới thiệu ông vào Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Vào Hoàng Phố tính sau này giúp cách mạng Quảng Châu khởi nghĩa, may không bại lộMùa hè năm 1925, Trường võ bị Hoàng Phố khai giảng khoá mới. Để có điều kiện học thêm tiếng Trung Quốc và tìm hiểu kiến thức quân sự sau này phục vụ cách mạng, Lê Như Vọng và một số thanh niên yêu nước Việt Nam khác được tổ chức bố trí dự thi và đã trúng tuyển. Hồi đó, Trường quân sự Hoàng Phố là một trường võ bị của Quốc dân đảng, do Chính phủ của ông Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) lập ra và có khá nhiều đảng viên Cộng sản tham gia lãnh đạo (trong đó có Chu Ân Lai). Hiệu trưởng nhà trường lúc ấy là Tưởng Giới Thạch và Giám đốc là Lý Tế Thâm. Nhà trường được tổ chức theo mô hình của Hồng quân Liên Xô, do các chuyên gia quân sự Liên Xô giảng dạy, và phần lớn trang bị kỹ thuật đều do Liên Xô giúp đỡ… Đó là điều làm Lê Như Vọng phấn khởi nhất, vì ông có mơ ước được sang Liên Xô từ lâu mà chưa có điều kiện. Sau cái chết của ông Tôn Dật Tiên (3-1925)-người đứng đầu Quốc dân đảng-Tưởng Giới Thạch bắt đầu phản bội lại đường lối “thân Nga, dung Cộng, phù trợ công nông” và thực hiện mưu đồ tiếm quyền lãnh đạo Quốc dân đảng. Lợi dụng cương vị Tổng Tư lệnh quân đội và Hiệu trưởng Trường võ bị Hoàng Phố, Tưởng đã nhiều lần điều học viên đi tiễu phạt các đơn vị không chịu phục tùng ông ta… Và khoá của Lê Như Vọng đã bị điều đi đánh nhóm quân phiệt Trần Quýnh Minh… Trong số 700 học viên theo học Trường võ bị Hoàng Phố cùng khoá đó thì có tới gần 100 là người Việt Nam. Đa số đó là những thanh niên cách mạng, nhưng cũng có cả một số phần tử cơ hội, phản động của Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần đưa vào, nhằm tự đề cao uy tín và chuẩn bị cho các hoạt động của họ về sau… Nguyễn Hải Thần tự xưng là chủ tịch một bộ phận Quốc dân đảng ở Quảng Châu và đưa tướng phỉ Đàm Dăm Tây ở biên giới Việt-Trung về làm chỉ huy quân sự. Nguyễn Hải Thần nhiều lần tỏ ý muốn lôi kéo toàn bộ số thanh niên Việt Nam đang theo học Trường võ bị Hoàng Phố phục vụ tổ chức này. Lê Như Vọng đã báo cáo với cấp trên, đề nghị cho phá tan âm mưu của tổ chức phản động này vì họ chỉ quen ăn cướp, đầu cơ chính trị, đã lôi kéo, lừa phỉnh được khá nhiều người… Ông Lý Thuỵ đã ủng hộ kế hoạch đó và ông đã thành công. Hai ngày sau, ông Lý Thụy tìm gặp ông biểu dương và quyết định giới thiệu ông vào Đoàn Thanh niên Cộng sản và đặt tên cho ông là Lê Quốc Vọng. Ngày 11-12-1927, cuộc khởi nghĩa Quảng Châu đã nổ ra. Lực lượng chính là thợ thuyền, binh lính dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã vùng lên giành được chính quyền trong ba hôm. Một số chiến sĩ cách mạng Việt Nam, trong đó có Lê Quốc Vọng, đã sát cánh chiến đấu cùng những người Cộng sản Trung Quốc với tình cảm quốc tế cao cả. Nhưng do lực lượng quá chênh lệch, lực lượng Quốc dân đảng dưới sự yểm hộ của hạm đội phương Tây đã phản công khiến cho cuộc khởi nghĩa mau chóng thất bại và bị dìm trong biển máu. Rất may là Lê Quốc Vọng chưa bị lộ. Sau cuộc khởi nghĩa bất thành, ông đã cùng các học viên khác của trường chuyển lên Nam Kinh tiếp tục học tập và đã tốt nghiệp loại ưu… Nhập quân Tưởng, làm tình báo giúp bạn Gặp nhân sĩ, lấy tin từ Bộ tổngSau khi tốt nghiệp ông nhận quyết định bổ nhiệm sĩ quan trợ lý tham mưu trung đoàn trong quân đội Tưởng, Lê Quốc Vọng rất băn khoăn: Theo kế hoạch, sau khi học xong Trường võ bị Hoàng Phố, ông sẽ được bố trí đi Liên Xô học tập tiếp hoặc trở về Tổ quốc phục vụ cách mạng. Bây giờ tính sao đây? Đang bối rối thì có chỉ thị của ông Lý Thuỵ: Tình hình đã thay đổi. Đảng Cộng sản Trung Quốc bị thiệt hại nặng nề sau một số cuộc khởi nghĩa bất thành. Bạn chính thức đề nghị ta giúp đỡ, cụ thể là cài người vào hàng ngũ quân đội Tưởng. Bởi thế, Lê Quốc Vọng sẽ không đi Liên Xô học tập và cũng không về nước. Tổ chức yêu cầu ông nhận nhiệm vụ làm sĩ quan Quốc dân đảng. Ông cần tích luỹ thêm kinh nghiệm để sau này trở về phục vụ cách mạng trong nước; nhưng trước mắt cần thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc tế do ĐCSTQ yêu cầu giúp đỡ”. Lê Quốc Vọng đã hoàn thành xuất sắc bài sát hạch cuối cùng, được phong hàm trung uý và nhận quyết định về một trung đoàn bộ binh. Với cấp hàm này, ông có thể nhận chức Đại đội phó. Nhưng vì muốn tìm hiểu thêm đơn vị cơ sở trong quân đội Tưởng, nên ông chỉ xin nhận chức Trung đội trưởng, khiến cho viên chỉ hy trung đoàn ngạc nhiên hết sức. Nhưng ông chỉ mỉm cười và lặng lẽ làm tốt mọi việc được giao khiến cho cấp trên rất hài lòng; binh lính trong đơn vị cũng rất thích sự gần gũi, giản dị và cách sống tình cảm của “ngài sĩ quan trẻ”… Giữa lúc ấy, Đảng Cộng sản Trung quốc cử người đến bắt liên lạc, đề nghị ông giúp đỡ “cài cắm” vào mỗi tiểu đội một người đã được chọn lựa trước. Kết quả là sau khi được huấn luyện, trang bị hoàn chỉnh,các đơn vị ấy đều bỗng nhiên bị “mất tích” và trở thành quân cách mạng cả… Hồi ấy, việc đào ngũ trong quân đội Tưởng là chuyện bình thường bởi lính càng đào ngũ nhiều, thì cấp trên càng có cơ hội lập ra con số ma để hưởng lợi. Mùa đông năm 1928, liên minh của Tưởng giành được nhiều lợi thế quân sự. Lê Quốc Vọng đã được thăng chức Đại đội trưởng. Đơn vị của ông bị điều lên làm nhiệm vụ sát biên giới Liên Xô… Nhưng ở xa như vậy thì chẳng có lợi cho cách mạng, nên vài tháng sau, theo yêu cầu của Đảng Cộng sản Trung quốc là cần người thường xuyên đi lại làm nhiệm vụ trên tuyến xe lửa Thượng Hải-Nam Kinh-Hán Khẩu, ông đã làm đơn xin chuyển về Nam Kinh và trở thành… sĩ quan đường sắt. Với cương vị mới, ông có thể lên xuống bất kỳ đoàn tàu nào. Và ông đã thực hiện giúp đỡ Đảng Cộng sản Trung Quốc khá nhiều “đặc vụ” trót lọt: đó là việc vận chuyển những vali tài liệu mật, vũ khí trang bị theo yêu cầu của cách mạng Trung Quốc, thậm chí, có lần còn tiến hành cả kế hoạch đánh tráo và giải thoát cho tù chính trị thành công. Tháng 8-1929, ông nhận được chỉ thị phải lên ngay Thượng Hải. Thật bất ngờ, ông được gặp lại ông Lý Thuỵ trong một ngôi nhà nhỏ thuộc tô giới Anh. Thì ra, sau khởi nghĩa Quảng Châu, để tránh sự truy lùng của mật thám, ông Lý Thuỵ đã phải sang Thái Lan, qua Liên Xô rồi trở về Trung Quốc… Ông Lý Thụy đã phân tích tình hình cách mạng Việt Nam, Trung Quốc và mối liên hệ giữa cách mạng hai nước và nói với ông rằng Đảng cộng sản Trung quốc rất tín nhiệm ông và muốn ông ở lại trong quân đội Tưởng để giúp họ. Nhiệm vụ của ông là bằng mọi cách theo dõi nắm chắc âm mưu của quân Tưởng; nếu có thể, lấy được bản kế hoạch tấn công của họ là tốt nhất, rồi báo ngay cho phía Đảng Cộng sản Trung quốc biết để có kế hoạch kịp thời đối phó…Vì lúc đó có thông tin rằng quân đội Tưởng sẽ mở một cuộc tấn công có quy mô nhằm tiêu diệt đầu não của Đảng Cộng sản Trung quốc, tiêu diệt cách mạng Trung quốc. Nhân dịp này, ông Lý Thụy quyết định kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Việt Nam, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành lập. Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ông đã liên hệ với ông Hồ Học Lãm một nhân sĩ yêu nước đồng thời là một yếu nhân của quân đội Tưởng vì bất đắc dĩ mà phải làm trong Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân đội Tưởng. Cha ông từng tham gia phong trào Cần Vương, đã bị giặc Pháp sát hại; và vợ là con gái một tướng tài của cụ Phan Đình Phùng. Được sự giúp đỡ của ông Hồ Học Lãm, Lê Quốc Vọng đã lấy được nhiều tài liệu mật của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Tưởng chuyển về cho cách mạng Trung quốc. Hồi đó, Bộ Tổng tham mưu của quân đội Tưởng do các cố vấn quân sự của Đức trực tiếp chỉ đạo và tổ chức theo mô hình của quân đội phát xít Đức. Bởi vậy, kỷ luật hết sức nghiêm ngặt và khắt khe, nhất là việc quản lý hồ sơ và tài liệu mật. Người nào làm việc gì chỉ biết việc đó. Hết giờ làm việc, tất cả đều được niêm phong và gửi vào két sắt bảo mật, nghiêm cấm mang bất cứ tài liệu gì về nhà… Để có các tài liệu mật do Lê Quốc Vọng, ban ngày ông Hồ Học Lãm đã phải đọc kỹ và “nhập tâm”, buổi tối về nhà thì nhớ lại và chép ra từng câu từng ý, vẽ lại bổ sung vào bản đồ đã được chuẩn bị trước… Ngoài ra, ông còn chi khá nhiều tiền, vàng làm quà cáp và ăn nhậu với các sĩ quan khác để moi thêm tin tức. Chưa yên tâm, để kiểm chứng, xác minh các nguồn tin quan trọng, Hồ Học Lãm còn kiếm cớ “đi kiểm tra” để xuống một số sư đoàn, đơn vị sắp tham chiến xem thực hư thế nào… Tất cả những thông tin đó được hai người sàng lọc, thống nhất rồi Lê Quốc Vọng chuyển cho phía bạn, cũng bằng phương pháp… “nhập tâm” và nhớ lại là chính. Trong khoảng mùa hè và mùa thu năm 1930, nhiều nguồn tin tình báo quan trọng đã tới tấp chuyển về Bộ chỉ huy tối cao Hồng quân Trung Quốc. Từ những “chuyện nhỏ” như: Quân Tưởng đã cấm chở thóc gạo xuôi theo sông Nha Thuỷ và Cống Giang; nhiều sĩ quan quê ở Phúc Kiến, Giang Tây vừa được điều về Bộ Tổng tham mưu… Các sư đoàn của các tướng Trương Huy Tân, Đàm Đà Huyên, Lưu Hoà Dĩnh vừa được tăng quân và trang bị vũ khí ra sao v.v… Cho đến những “chuyện tày đinh”: Kế hoạch tiến công vào cơ quan đầu não Đảng Cộng sản Trung Quốc do chính tay Tưởng Giới Thạch phê chuẩn; phạm vi và mục tiêu các cuộc tấn công ở vùng tứ giác La Lâm, Nghi Hoàng, Lê Xuyên, Thuỵ Kim… Binh lực tham gia tấn công từng giai đoạn… Kế hoạch hoạt động quân sự của quân đội Tưởng cuối năm 1930-1931… Kết quả là cả 3 đợt hành quân quy mô của quân đội Tưởng vào khu Xôviết trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc đều bị thất bại. Đợt một: quân Tưởng huy động tới 10 vạn lính, từ tháng 12-1930 đến tháng 1-1931 thì phải rút lui. Đợt hai: sau 6 tháng chuẩn bị, chúng tăng quân lên gấp đôi, lại thất bại. Đợt ba: đích thân, Tưởng Giới Thạch chỉ huy, số quân được tăng lên 30 vạn… nhưng cuối cùng vẫn không đạt được mục đích đề ra, đành phải rút quân! Tháng 6 năm 1932, Tưởng Giới Thạch mở cuộc tấn công tổng lực lần thứ 4 và kế hoạch tấn công được ông Hồ Học Lãm trao cho ông chuyển cho phía ĐCSTQ, lần này quân Tưởng thất bại ngay từ trong trứng nước. Sau sự thất bại này, ông bị mật vụ Tưởng Giới Thạch theo dõi chặt chẽ, trong khi thực dân Pháp tố cáo ông là cộng sản nguy hiểm làm nhiệm vụ liên lạc giữa Thượng Hải-Hồng Kông và Việt Nam và treo giải 500 nghìn đồng cho ai bắt được ông. Tuy nhiên, nhiều người khi đó vẫn tưởng ông là em họ của ông Hồ Học Lãm cho nên chưa bắt ông. Thực hiện quyết tâm tiêu diệt đầu não của Đảng Cộng sản Trung quốc, Tưởng Giới Thạch được sự hỗ trợ ngầm của Anh-Pháp-Đức đã lên phương án một cuộc tấn công tổng lực. Một đoàn cố vấn cao cấp quân sự Đức do Thượng tướng Seekt dẫn đầu đã tới Nam Kinh…Những thông tin như vậy lại được chuyển đến ĐCSTQ. Cuộc tiến công của quân Quốc dân đảng đã diễn ra vào tháng 10-1933. Đích thân Tưởng Giới Thạch chỉ huy và viên tướng Đức Seekt cố vấn, mọt đạo quân khổng lồ đông tới cả triệu người với rất nhiều xe pháo, phương tiện kỹ thuật hiện đại thời ấy được phía Quốc dân đảng huy động ra trận… Cuộc chiến ác liệt kéo dài tới 11 tháng. Hầu như cả Bộ Tổng tham mưu quân Tưởng đều phải ra trận. Ông Hồ Học Lãm tất bật như con thoi vì những quân lệnh “thượng khẩn” và “tuyệt mật”. Nhưng đồng thời nội dung những quân lệnh ấy cũng được Lê Quốc Vọng thông báo đều đặn cho phía ĐCSTQ để đối phó…Những trận đánh ác liệt gây thiệt hại cho cả hai phía. Hồng quân vừa chống trả quyết liệt vừa tổ chức một số cuộc phản công và đánh vu hồi vào hậu phương Quốc dân đảng… Nhưng rồi quân Tưởng với sự trợ giúp của Anh, Pháp, Đức… vừa đông người lại dư thừa về vũ khí trang bị quân sự, nên đã giành được lợi thế trên chiến trường… Quân kháng chiến do ĐCSTQ lãnh đạo buộc phải rút về phía Tây (Vạn lý trường chinh). Lê Quốc Vọng mất liên lạc với ĐCSTQ từ khi đó.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 06:46:02 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 04:40:46 am » |
|
Dặm trường kháng Nhật hòng nối liên lạc Vào chốn hiếm nguy nhằm giúp cách mạng
Tháng 9-1931, phát xít Nhật bắt đầu xâm lược Trung Quốc. Trong 2 tháng, đã đánh chiếm được một vùng rộng lớn với diện tích cả triệu kilômét vuông với mấy chục vạn dân. Tháng 1-1933, quân Nhật chiếm được Nội Mông, Nhiệt Hà, tràn qua Vạn Lý Trường Thành và uy hiếp thủ đô Bắc Kinh cùng miền Hoa Bắc. Tháng 7-1937, sau khi dựng “vụ Lư Cầu Kiều” để có cớ, Nhật đã đánh chiếm được cả vùng Thượng Hải, Nam Kinh, Hán Khẩu, Từ Châu… Quân Tưởng Giới Thạch thua trận chạy dài. Tưởng Giới Thạch quyết định rút lui về Trùng Khánh, thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Hồi ấy, nơi này chưa có đường xe lửa nối với các tỉnh đồng bằng, quân Tưởng phải sử dụng cả binh đoàn vận tải số 2.
Để có điều kiện đi lại nhiều nơi, hy vọng nối liên lạc với ĐCSTQ, Lê Quốc Vọng đã xin chuyển về binh đoàn vận tải. Thời gian đầu ông được giao chỉ huy một tiểu đoàn đảm nhiệm tuyến đường các tỉnh Giang Tây-Hồ Nam-Quý Châu… Sau đó, ông được thăng cấp đại hiệu (đại tá) và bổ nhiệm làm Hiệu trưởng trường huấn luyện đào tạo lính lái xe tăng, thiết giáp, xe vận tải và lính thợ kỹ thuật… Ông đã miệt mài say sưa học lái xe tăng, xe thiết giáp, nắm vững nguyên lý cấu tạo động cơ máy móc từng loại… vì tin rằng: nhất định sau này quân đội cách mạng của Việt Nam cũng sẽ có xe tăng, xe thiết giáp và cần đến các kiến thức đó.
Đầu năm 1939, chiến sự đã lan tới tỉnh Hồ Nam. ĐCSTQ cử một cán bộ có bí danh là Lôi Chấn đến liên lạc và tha thiết đề nghị được giúp đỡ về súng đạn và trang bị. Hồi ấy, Hoa Bắc là vùng chiến sự đang hết sức căng thẳng và ác liệt. Quân chủ lực của phát xít Nhật tập trung phần lớn tại vùng này. Các tướng tá trong quân đội Tưởng chẳng ai muốn đến miền đất khó khăn chết chóc đó, nên khi Lê Quốc Vọng đặt vấn đề xin chuyển đến Binh đoàn vận tải số 1 đã được đồng ý ngay. Binh đoàn này hoạt động trên một địa bàn rất rộng gồm các vùng Hà Nam-Sơn Tây-Cam Túc…
Lê Quốc Vọng được giao chỉ huy Tiểu đoàn 106, gồm 8 đại đội vận tải cơ giới. Chỉ huy các đơn vị này đều là những sĩ quan hầu hết họ đều kiêm buôn lậu thuốc phiện, vàng bạc và hàng quốc cấm. Nhưng bằng tài trí của mình, Lê Quốc Vọng đã nhanh chóng chinh phục được họ. Ông bí mật vẽ lại sơ đồ bố trí các kho tàng của quân Tưởng ở hai tỉnh Sơn Tây, Hà Nam rồi giao lại cho đại diện phía ĐCSTQ có bí danh là Lục Quần, với chú tích “chỉ cần một lực lượng nhỏ, tập kích bất ngờ là sẽ lấy được ngay”. Hơn thế nữa, trong vòng nửa năm ông đã khôn khéo chỉ huy binh lính, tiến hành vận chuyển và bàn giao trót lọt hơn 30 tấn vũ khí hàng quân sự gồm vũ khí, trang bị, thuốc men cho Bát lộ quân Trung quốc.
Tổ quốc gọi ngàn dặm không mệt mỏi Lập đội vũ trang chờ ngày cứu nước
Mùa hạ năm 1940, Lê Quốc Vọng bất ngờ nhận được 2 lá thư (một của ông Phùng Chí Kiên, một của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc) yêu cầu ông rời hàng ngũ quân Tưởng Giới Thạch về vùng biên giới Quảng Tây nhận nhiệm vụ mới. Lê Quốc Vọng làm đơn nhờ ông Hồ Học Lãm can thiệp “xin chuyển công tác về vùng Hoa Nam vì lý do sức khoẻ”… Trong khi chờ đợi quyết định, ông còn tổ chức một chuyến hàng đặc biệt gồm những khí tài quan trắc đo đạc chính xác. Đó là một chuyến đi xa về phía tây rất vất vả. Thậm chí còn phải nổ súng chiến đấu với thổ phỉ trấn cướp dọc đường… nhưng cuối cùng ông cũng hoàn thành nhiệm vụ.
Giờ phút chia tay với đơn vị vận tải, chỉ có Dương Tử Kiếm, người đồng sự cấp phó mới được đề bạt, tiễn tận xe. Ông ta nói vẻ xúc động:
"Đại hiệu (cách gọi cấp Đại tá của quân đội Quốc dân đảng thời đó) đi lần này, chắc sẽ không về đây nữa”…-“Sao ông lạ nói vậy?”
Dương Tử Kiếm lặng lẽ chìa ra trước mặt Lê Quốc Vọng những bức điện mật và thư tố giác ông gửi đến Binh đoàn, thống kê từng chuyến hàng ông đã giao cho Bát lộ quân với ngày giờ rất cụ thể… Lê Quốc Vọng giật mình, đứng lặng người đi, nhìn người đồng sự thăm dò…
Đại hiệu cứ yên tâm. Trung tướng Binh đoàn trưởng cúng biết nhưng tướng quân đã lờ đi. Ông còn bảo: Họ (tức Bát lộ quân) cũng là người Trung Hoa cả. Có cho họ ít súng đạn để đánh Nhật cho ta cũng chả sao”-Dương Tử Kiếm cười.
Đường từ Hoa Bắc xuống Hoa Nam dài tới mấy ngàn cây số. Để giữ bí mật cho chuyến đi, tránh đặc vụ Tưởng truy đuổi, Lê Quốc Vọng phải cho xe đi vòng vèo trên các vùng núi hiểm trở, khó khăn… Sau một ngày, ông cho xe quay lại. Người lái xe cứ năn nỉ và tình nguyện xin đi theo phục vụ, nhưng ông kiên quyết từ chối. Cuộc hành trình được nối tiếp. Gặp được phương tiện nào, ông nhờ luôn thứ đó: xe khách tư nhân, xe tải quân sự, xe ngựa và cả đi bộ… Một ngày nọ, Lê Quốc Vọng tới khu vực Vĩnh Lạc, tỉnh Sơn Tây, du kích địa phương khám trong người ông thấy có phù hiệu cấp Đại tá của quân Tưởng. Lập tức ông bị trói gô lại, bị đánh một trận nhừ tử rồi… điệu đi xử bắn! Thì ra, người ta cho ông là một tên… “Hán gian” nguy hiểm. Thanh minh thế nào cũng không được. May sao, lúc sắp bị đưa đi xử bắn, ông bỗng nhắc đến tên đồng chí Châu Xương, một cán bộ có uy tín của ĐCSTQ… vậy là được “tạm thời tha chết”. Sau một tuần bị giam giữ cẩn mật và xét hỏi qua nhiều cấp, ông mới được thả để về Quế Lâm…Một buổi chiều Tĩnh Tây se lạnh, theo lời hẹn của tổ chức, ông gặp lại ông Lý Thụy tức Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Cuối năm 1941, tại Pác Bó (Cao Bằng) Lê Quốc Vọng được Bác Hồ giao nhiệm vụ cùng với ông Lê Quảng Ba lập đội vũ trang đầu tiên gồm 12 người, do ông làm Chính ủy. Trường quân sự Cao Bằng được thành lập, ông trở thành hiệu trưởng đầu tiên góp phần đào tạo những cán bộ cho cách mạng đang đến gần. Tiếp đó, ông lại nhận nhiệm vụ cùng ông Võ Nguyên Giáp phụ trách Ban xung phong Nam tiến, mở đường về xuôi… Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (93-1945), Lê Quốc Vọng đã chỉ huy một đơn vị vũ trang và lãnh đạo quần chúng giành chính quyền ở Thất Khê, Đồng Đăng, Na Sầm (Lạng Sơn)… thu hàng ngàn khẩu súng của địch để trang bị cho những đội quân đầu tiên của cách mạng…
Cách mạng thành công, ra sức bảo vệ nền độc lập Tướng đầu tiên, vinh dự cao trách nhiệm nặng nề
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam non trẻ phải gồng mình vì sức ép của “thù trong giặc ngoài”. Mượn danh “quân Đồng minh” đến giải giáp vũ khí của phát xít Nhật, 20 vạn quân Tưởng đã rầm rộ kéo vào miền Bắc nước ta với những mưu đồ nham hiểm… Tại miền Nam, hàng vạn quân viễn chinh Pháp cũng đang núp bóng quân Anh quay lại, âm mưu xâm lược nước ta lần nữa… Tháng 11 năm 1946, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Sau đó, ông được điều ra giữ chức Tư lệnh Quân khu 4.
Với việc ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khôn khéo gạt được hơn 20 vạn quân Tưởng và cơ hội chính trị ăn theo quân Tưởng ra khỏi miền Bắc. Theo điều khoản phụ lục về quân sự của Hiệp định này thì Chính phủ Việt Nam phải tổ chức “Tiếp phòng quân” để thay thế quân Tưởng, giám sát việc rút quân; đồng thời cũng là để buộc phía Pháp phải thi hành đúng Hiệp định đã ký… Và muốn cho quân Tưởng chấp nhận “rút lui trong danh dự”, quân Pháp tôn trọng trong ứng xử và khi giao tiếp, thì Tổng chỉ huy “Tiếp phòng quân” của Việt Nam cũng phải mang quân hàm tướng, cho tướng xứng với chỉ huy của đối phương! Sau khi cân nhắc, Trung ương đã chọn Lê Quốc Vọng. Khi đó, anh đang giữ chức vụ Khu trưởng Khu IV.
Nhận được điện gọi, Lê Quốc Vọng vội ra ngay Hà Nội và được chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ. Sau khi nghe mình được giao trọng trách, lại được phong quân hàm Tướng, Lê Quốc Vọng cảm nhận được vinh dự quá lớn, nhưng ông rất lo. Đắn đo mãi mới dám nói:
"Thưa Bác, tôi tự thấy mình còn ít am hiểu quân đội Pháp, chưa quen việc với bọn chúng. Đề nghị chọn đồng chí khác xứng đáng hơn ạ."
Bác cười, rồi động viên:
"Ô hay, chú định làm công tác cán bộ thay Thường vụ Trung ương hay sao! Việc này đã được cân nhắc kỹ, chỉ có chú là xứng đáng nhất. Chú hãy nhận đi!."
Rồi Bác ân cần bảo:
"Chú đã từng có hơn chục năm sống trong quân đội Tưởng, hoạt động cho Đảng bạn với bao cạm bẫy chông gai… nhưng đã vượt qua được. Bây giờ được giao nhiệm vụ và thử thách mới rất gay go, nhưng là cho nước, cho dân mình, nên phải hết sức cố gắng! Đối thủ của chú là các tướng Valuy, Xalăng, Alếcxăngđri và cả Xanhtơni… rất nham hiểm. Trước đât, “chết thép” trong con người chú đã được tôi luyện, nay vào cuộc chiến đấu mới với thực dân Pháp thì phải cần thêm “chất hùng” nữa. Bác đã nghĩ kỹ và chọn cho chú cái tên mới là Lê Thiết Hùng, chú thấy sao?”."
Lê Quốc Vọng đứng nghiêm, mắt ngấn lệ, nhưng dõng dạc:
"Cảm ơn Đảng và Bác đã tín nhiệm. Tôi nguyện sẽ đem hết tài trí và sức lực của mình phục vụ cách mạng, dù phải hy sinh cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ”!"
Vậy là từ đó, ông chính thức được mang tên mới: Lê Thiết Hùng. Và cái tên này cũng gắn liền với một vinh dự đặc biệt: Người được phong hàm Thiếu tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam! (Cho mãi tới 2 năm sau, ngày 28-5-1948, tại chiến khu Việt Bắc, Trung ương mới chính thức tổ chức Lễ phong quân hàm cấp Tướng và cấp Đại tá cho một số cán bộ cốt cán của quân đội).
Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, tháng 7 năm 1947, ông được điều tham gia xây dựng Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ tháng 1/1948 đến năm 1950, ông được giao trọng trách làm Tổng Thanh tra đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trên cương vị này ông đã góp phần không nhỏ giải quyết các vụ án nổi tiếng thời bấy giờ như vụ án tham nhũng của Đại tá Trần Dụ Châu (Tổng Cục trưởng Tổng cục cung cấp), vụ án gián điệp ảo…Ông còn là Chỉ huy trưởng mặt trận Bắc Kạn-Tuyên Quang (chiến khu 2) rồi Hiệu trưởng Trường bổ túc quân chính trung cấp. Từ năm 1950 đến năm 1954, ông là Cục trưởng Cục Quân huấn kiêm Hiệu trưởng Trường Lục quân Việt Nam. Ông là Ủy viên Bộ Chỉ huy quân sự Trung ương và Ủy viên Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.
Từ năm 1954 đến năm 1956, ông là Tư lệnh Bộ chỉ huy Pháo binh. Tiếp đó từ năm 1956 đến năm 1963, ông là Tư lệnh đầu tiên của Binh chủng Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam kiêm Chỉ huy trưởng Sở chỉ huy phòng không. Năm 1963, ông được giao trọng trách mới: Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại CHDCND Triều Tiên… Hết nhiệm kỳ, ông về nước làm Phó trưởng ban CP48 và Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cho tới ngày nghỉ hưu
Thiếu tướng Lê Thiết Hùng và nhà cách mạng Lê Hồng Phong là cùng một họ, theo vai vế thì ông phải gọi nhà cách mạng Lên Hồng Phong bằng chú. Ảnh của hai ông được đặt trang trọng trong nhà thờ họ Lê tại quê hương.
Thiếu tướng Lê Thiết Hùng có hai người vợ. Người vợ thứ nhất là bà Hồ Diệc Lan, con gái lớn của cụ Hồ Học Lãm. Bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung quốc khi còn rất trẻ và mất vì căn bệnh lao phổi do sống khó khăn trong căn cứ địa cách mạng của Trung quốc. Người vợ thứ hai của ông là bác sĩ quân y Nguyễn Tuyết Mai, từng là học sinh Trường Đồng Khánh (Hà Nội), giỏi tiếng Pháp, đã tốt nghiệp khoa Sản Trường Đại học Y-Dược Hà Nội. Trước khi nghỉ hưu, bà là Trưởng ban Quân y của Tổng cục Kỹ thuật (Bộ Quốc phòng). Người con gái duy nhất của hai ông bà là Lê Mai Hương.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 06:37:33 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
|