Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:54:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884292 lần)
0 Thành viên và 6 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #80 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2008, 07:07:39 am »


Thiếu tướng Lưu Vũ Súy (1924-24/5/2007), nguyên Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Quê xã Yên Bái, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, cán bộ Tiền khởi nghĩa.

Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 1; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng 1; Huân chương Chiến thắng hạng 2; Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Xô-viết; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 1, 2, 3; Huân chương Chiến công hạng 1; Huân chương Quân công hạng 2; Huân chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #81 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2008, 07:11:30 am »


Thiếu tướng Lê Mai Chương (1930-5/4/2007), nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 7. Quê xã Hưng Dũng, TP Vinh, Nghệ An.

Huân chương Độc lập hạng 3, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 2, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng 1, Huân chương Quân công hạng 2, Huân chương Chiến công hạng 1, 2, 3; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng 1, 2, 3; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 1, 2, 3; Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #82 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 01:24:00 am »


Trung tướng Bằng Giang (1915 - 1990), từng giữ các chức vụ: Tỉnh ủy viên Cao Bằng phụ trách Quân sự, Khu trưởng Khu 1, Khu 10, Khu Tây Bắc, Phó Tổng Thanh tra Quân đội, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Ngoài ra, ông còn từng là Chủ tịch Khu tự trị Việt Bắc, Đại biểu Quốc hội liên tục từ Khóa 3 đến Khóa 6.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Nhất...

Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974)


Trung tướng Bằng Giang, tên thật là Nguyễn Văn Cơ, là người dân tộc Tày, quê tỉnh Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ 1932, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1935), nhiều lần bị Pháp bắt giam. Tỉnh uỷ viên Cao Bằng, tổ chức đội trừ gian, phụ trách binh vận, uỷ viên thường vụ Liên Tỉnh uỷ Cao Bắc Lạng (1941-1943), tỉnh uỷ viên Cao Bằng phụ trách quân sự, chỉ huy diệt phỉ và tước khí giới tàn quân Pháp (1944-1945).

Khu phó, Khu trưởng Khu 1, Khu 10 (1946-1947), Tư lệnh Liên khu 10, Khu Tây Bắc (1948-1954), tham gia các Chiến dịch Biên giới, Tây Bắc, Điện Biên Phủ... (1950-1954). Tư lệnh Quân khu Tây Bắc (1958-1964), hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân (1965-1966), tư lệnh Quân khu Việt Bắc, kiêm chủ tịch Uỷ ban Hành chính Khu Tự trị Việt Bắc (1967-1975). Đại biểu Quốc hội khoá 3, 4, 5, và 6.

Tham khảo: Từ điển Bách khoa Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2011, 06:28:28 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #83 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 01:44:05 am »


Thiếu tướng Trần Kinh Chi (20/5/1927), nguyên Cục trưởng Cục bảo vệ An ninh Quân đội, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Lăng Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Lao động và Thương binh Xã hội.

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Trần Kinh Chi quê ở xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây trong một gia đình nông dân nghèo khó. Ông tham gia Cách mạng từ rất sớm, Năm 1943, ở tuổi 16, trong khi các bạn đồng trang lứa còn bay nhảy thì ông đã là một cán bộ lãnh đạo Việt Minh, tham gia cách mạng với khát vọng cùng nhân dân đập tan ách thống trị thực dân phong kiến, đem lại cuộc sống tươi đẹp cho những người bần cùng, bất hạnh. Từ đó tới năm 1945, ông hăng hái tham gia các phong trào cách mạng tại địa phương, trở thành cán bộ hoạt động chuyên nghiệp của tỉnh ủy Sơn Tây, có sứ mệnh võ trang tuyên truyền, tham gia đội trừ gian, và vận chuyển vũ khí từ miền Bắc và miền Trung. Tiếng súng khởi nghĩa nổ ra, ông có mặt trong Ban chỉ huy khởi nghĩa Quốc Oai – huyện đầu tiên của Sơn Tây giành chính quyền.

Dẫu rất trẻ, nhưng uy tín của những năm hoạt động đã đưa ông trở thành Bí thư huyện uỷ Tùng Thiện, Bí thư kiêm Chủ tịch huyện Quảng Oai rồi Cảnh sát trưởng thị xã Sơn Tây. 21 tuổi, ông đã là Thường vụ Tỉnh uỷ Sơn Tây, Hưng Yên và Hải Dương. Năm 1949, tại chiến khu Việt Bắc, do yêu cầu cách mạng, ông được Trung ương Đảng cử sang làm công tác Đảng ở Nha Công an Trung ương (NCATƯ). Sau chiến dịch biên giới, ông tham gia đoàn công tác của NCATƯ sang quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ chiến dịch (BVCD), do ông Lê Giản làm trưởng ban. Từ đó, suốt hơn 30 năm, ông gắn bó với công việc bảo vệ an ninh đất nước cho đến khi về hưu với chức vụ Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: trưởng phòng của Cục từ năm 1950-1960,  quyền Cục trưởng rồi Cục trưởng  từ tháng 6 năm 1960  đến năm 1976.

Từ năm 1967 ông được tham gia công tác chuẩn bị, và sau đó từ ngày 2 tháng 9 năm 1969 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông được tham gia giữ gìn lâu dài và bảo vệ thi hài. Ông cũng đã chỉ huy thành công 5 cuộc hành quân di chuyển thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Hà Nội lên Đá Chông (Sơn Tây), qua sông Đà sang Phú Thọ, rồi lại trở về Hà Nội trong những điều kiện chiến tranh và thiên tai cực kỳ khắc nghiệt, với các yêu cầu khắt khe cả về khoa học lẫn bảo mật. Khi Lăng Bác hoàn chỉnh và đi vào hoạt động, ông được cử làm Trưởng ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng đồng thời là Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng (1976-1979). Năm 1980, ông chuyển ngành sang làm Thứ trưởng Bộ lao động và thương binh xã hội cho đến khi về hưu.

Thiếu tướng Trần Kinh Chi đã gắn bó một đời với sự nghiệp bảo vệ an ninh đất nước. Ông vinh dự được nhiều lần bảo vệ tiếp cận Hồ Chủ tịch, ngay từ thời Cách mạng còn trứng nước, cho đến khi Chủ tịch về cõi vĩnh hằng... Người ta gọi ông là "vị tướng cận vệ".
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2011, 06:35:06 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #84 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 01:55:30 am »


Thiếu tướng Anh hùng Huỳnh Công Thân (1923 - ?), từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Phân khu 3 trong Tết Mậu Thân, Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Long An.

Huân chương Độc lập, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến công, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương bảo vệ Tổ quốc do Nhà nước Campuchia trao tặng.

Thiếu tướng (1980).


Thiếu tướng Huỳnh Công Thân (tên thật Huỳnh Công Mến) sinh năm 1923, quê ở xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ sớm. Năm 1946 là Uỷ viên Thường vụ Huyện uỷ Cần Giuộc. Năm 1948 là Bí thư, Chính trị viên đại đội căn cứ Vườn Thơm. Năm 1954 là cán bộ quân sự cốt cán, Thường vụ Huyện uỷ Đức Hoà.

Những năm 1955–1957, ông tham gia tổ chức và chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh Long An trong phong trào Đồng Khởi (1960). Huỳnh Công Thân là người chỉ huy trận đánh vào căn cứ biệt kích Mỹ ở Hiệp Hoà (23.11.1963), diệt và làm bị thương 500 tên địch, thu trên 500 súng các loại. Trận đánh giành thắng lợi có ý nghĩa quan trọng trong nhiệm vụ phá quốc sách “ấp chiến lược” của Mỹ - nguỵ.
 
Trong cuôc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, ông là Tư lệnh Phân khu 3, chỉ huy 9 tiểu đoàn đánh vào các căn cứ địch ở Quận 6, 7 và 8, mở đường đánh vào Tổng nha cảnh sát chính quyền Sài Gòn. Tháng 5 năm 1968, chỉ huy các Lực lượng vũ trang Long An tham gia chiến dịch Mậu Thân đợt 2, diệt 10 đồn ở Quận 8 và 1 tiểu đoàn Mỹ.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Xuân 1975, cánh quân phía Tây Nam do Huỳnh Công Thân chỉ huy đã chiến đấu dũng cảm, đập tan các ổ đề kháng cuối cùng của địch. Sau khi đất nước thống nhất, Huỳnh Công Thân được phong quân hàm Thiếu tướng, đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Long An, tiếp tục chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh chiến đấu bảo vệ tuyến biên giới trong chiến tranh biên giới Tây Nam (1978–1979).

Tham khảo: Từ điển Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2011, 07:59:30 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #85 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 02:06:22 am »


Thiếu tướng Hoàng Minh Thi (Huỳnh Nhất Long, 1922-1981), nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Chính ủy Quân đoàn 1 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, Chính ủy Trường sĩ quan lực quân, Cục trưởng Cục tuyên huấn Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba).

Thiếu tướng (1974).


Ông quê xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1945, nhập ngũ tháng 2 năm 1945. Tháng 5 năm 1945, ông tham gia du kích Ba Tơ.

1945-1955, ông là Chính ủy trung đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 304. 1956, ông là Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 335 thuộc Quân khu Tây Bắc. 1958-1965, ông là Cục phó rồi Cục trưởng Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị. 1966, ông là Phó Chính ủy Quân khu 3. Tháng 9 năm 1968, ông là Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân.

Tháng 11 năm 1971, ông là Phó Chính ủy Mặt trận B5. Từ tháng 4 năm 1973 đến năm 1975, ông là Phó Giám đốc Học viện Chính trị, Phó Chính ủy rồi Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 1 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. 1978-1981, ông là Tư lệnh Quân khu 4. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV. Ông mất năm 1981 vì tai nạn máy bay.

Tham khảo: Từ điển Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2011, 06:52:10 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #86 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2008, 04:10:55 am »


Đại tá Liệt sỹ Trần Đình Xu (Ba Đình, 1921-1969) từng giữ các chức vụ: Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Gia Ninh, Cục trưởng Cục Công binh, Tư lệnh Quân khu Sài Gòn-Gia Định, Chỉ huy trưởng Phân khu 1.

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 2001)...

Đại tá (1961)


Ông tên thật là Trần Sinh, sinh ra tại làng một làng quê nghèo thuộc tỉnh Quảng Bình, làng Thuận Bài, xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch. Dòng họ Trần của ông vốn di cư từ Nam Định vào, thuộc dòng dõi vua Trần. Trước Cách mạng, do hoành cảnh gia đình khó khăn, ông phải phiêu bạt vào Nam cũng nhiều người trong làng, và sinh sống bằng nghề điện.

Ông nhập ngũ tháng 8 năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947. Trong Kháng chiến chống Pháp giữ các chức vụ từ Đại đội trưởng đến Trung đoàn trưởng, Chỉ huy liên trung đoàn 306-312 rồi Tỉnh đội trưởng Gia Ninh.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc và giữ chức vụ Cục trưởng Cục công binh từ năm 1956 cho đến năm 1961. Tháng 5 năm 1961, ông có mặt trong đoàn cán bộ nòng cốt thuộc nhiều quân binh chủng khác nhau, mang tên Phương Đông, hành quân vào Nam chiến đấu, chi viện cho chiến trường Nam Bộ chuẩn bị bước vào thời kỳ đánh Mỹ. Đoàn gồm khoảng 600 cán bộ, do các ông Trần Văn Quang, Trần Nam Trung, Lê Văn Tưởng và ông chỉ huy.

Vào nam chiến đấu ông chỉ huy nhiều chiến dịch trong đó nổi tiếng nhất là chiến dịch Bình Giã (11.1964). Năm 1967, được cử giữ chức Tư lệnh Quân khu Sài Gòn-Gia Định, Chỉ huy trưởng Phân khu 1 (Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, một phần các huyện Trảng Bàng, Bến Cát, Dầu Tiếng) mà ông Mai Chí Thọ (sau này Đại tướng Công an) làm Chính ủy. Ông hy sinh năm 1969, trong khi chỉ huy chiến đấu.

Sau 1975, tại nghĩa trang Liệt Sĩ thành phố Hồ Chí Minh, mộ ông được đặt trang nghiêm ở khu chính, nhưng đó chỉ là ngôi mộ tượng trưng. Sau nhiều năm tìm kiếm với sự giúp đỡ của tỉnh Tây Ninh và huyện Trảng Bàng, năm 1998, gia đình mới tìm được hài cốt của ông. Và, sáng ngày 14 tháng 9 năm 1998, Chính quyền và Tỉnh đội Tây Ninh đã thực hiện việc bốc mộ và đưa hài cốt ông về Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh.

Đại tá Trần Đình Xu được đánh giá là một người "chỉ huy bình tĩnh, kiên cường trong mọi tình huống" (Thượng tướng Trần Văn Trà). Tên ông được đặt cho một đường phố ở thành phố Hồ Chí Minh, đường Trần Đình Xu, Quận 1.

Tham khảo: Từ điển Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2011, 08:32:04 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #87 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2008, 04:23:23 am »


Trung tướng Lê Thùy (1922-1999), từng giữ các chức vụ: Chính trị viên Giải phóng quân Chiêm Hóa, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 335, 316,  Tư lệnh Quân khu Tây Bắc, Phó Tư lệnh Quân khu Việt Bắc, Phó Tư lệnh Quân khu 1, Phó Tư lệnh Quân khu 2.

Huân chương Độc Lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng...

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1986)


Ông tên thật là Lê Văn Lộc, người dân tộc Tày, quê ở xã dân chủ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia Cách mạng từ rất sớm (1940), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam (1941). Từ năm 1940 đến năm 1944, ông hoạt động tổ chức xây dựng cơ sở Cách mạng ở các tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái. Năm 1945, là Chính trị viên Giải phóng quân ở huyện Chiêm Hóa.

Từ năm 1946 đến năm 1954, giữ chức vụ trung đoàn trưởng và chính trị vị trung đoàn ở nhiều đơn vị. Từ năm 1955 đến năm 1966, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 335 rồi 316, Tham mưu trưởng Quân khu Tây Bắc. 1967-1974, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Từ 6/1974 đến 1978, Phó Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. 1976, Phó Tư lệnh Quân khu 1. Năm 1978, Phó Tư lệnh Quân khu 2.

Tham khảo: Từ điển Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2011, 08:39:29 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #88 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2008, 04:31:28 am »


Trung tướng Nguyễn Đôn (Nguyễn Xuyên, 1919) từng giữ các chức vụ : Chính trị viên Đội Du kích Ba Tơ, Phó Tư lệnh Liên khu 5, Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 324, Tư lệnh Quân khu 4, Tư lệnh Quân khu 5, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Ngoài ra, ông còn từng là : Ủy viên Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi, Bí thư Khu 5, Trưởng Ban Công tác miền Tây (CP-38) giúp Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng (1960-1975), Đại biểu Quốc hội các Khóa 4 và 5.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng… Ngoài ra, ông còn được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng Huân chương Ít-xa-la hạng Nhất.

Thiếu tướng (1958), Trung tướng (1974).


Trung tướng Nguyễn Đôn quê tại thôn Vĩnh Lợi, xã Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Huyện Sơn Tịnh quê hương ông vốn là một vùng đất có truyền thống yêu nước và cách mạng, đặc biệt trải qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, mảnh đất này đã sản sinh cho đất nước 11 vị tướng mà nhiều người trong số họ rất nổi tiếng. Có thể kể ra đây như : tướng Nguyễn Chánh, Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Trần Quý Hai, Trung tướng Phạm Kiệt, Trung tướng Võ Thứ, Thiếu tướng Võ Bẩm, Thiếu tướng Huỳnh Kim, Thiếu tướng Châu Khải Định, Thiếu tướng Lê Trung Ngôn, Thiếu tướng Phạm Quang Tiệp. Có thể nói, Sơn Tịnh là huyện có nhiều tướng nhất Việt Nam.

Trung tướng Nguyễn Đôn tham gia Cách mạng từ rất sớm, thời kì Mặt trận Dân chủ. Năm 1936, ông tham gia Đoàn Thanh niên Dân chủ và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1938, là Bí thư chi bộ, 9.1939, bị thực dân Pháp bắt ; 1941, ra tù, lên huyện Ba Tơ tổ chức cơ sở cách mạng ; 1942, tham gia tổ chức Uỷ ban Vận động cách mạng Ba Tơ, năm 1943 đổi thành Uỷ ban Cứu quốc Việt Minh ; Cuối năm 1944, tham gia thành lập Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi, chuẩn bị khởi nghĩa.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi quyết định khởi nghĩa. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, ông là Chính trị viên tham gia tổ chức khởi nghĩa Ba Tơ, tiến đánh quận lỵ Ba Tơ, thành lập Đội du kích Ba Tơ, thành lập Tỉnh uỷ Quảng Ngãi ; 14.3.1945, tham gia lập căn cứ ở rừng núi Kơ Nhất, Đông Bắc Ba Tơ, là Uỷ viên Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ông làm Chính trị viên Trung đội Đội du kích Ba Tơ (Trung đội do ông Phạm Kiệt làm Trung đội trưởng). Ngày 23 tháng 9 năm 1945, núp bóng quân Anh, quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, ông được lệnh đi Nam tiến, thành lập cơ quan chỉ huy Quân chính Nam phần Trung Bộ gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Đắc Lắc, tổ chức phòng giữ đưa lực lượng chi viện vào Nam Bộ.

Cuối năm 1946, ông lần lượt giữ chức Chính trị viên Đại đội 31 Chi đội 2 Quảng Ngãi, Chính trị viên Trung đoàn 94, 68 ; 1948, Trưởng phòng Tổ chức - kiểm tra Liên khu 5 kiêm Chính trị viên Ban Quân giới Liên khu 5 ; 1950, Chính ủy Trung đoàn 210 Liên khu 5 (Sau trung đoàn đổi thành Trung đoàn 108), tham gia chỉ huy Mặt trận Quảng , Chính uỷ kiêm Chỉ huy Mặt trận Nam Tây Nguyên ; 1951-1953, Tham mưu trưởng Liên khu 5 ; 1953-1954, Phó tư lệnh Liên khu 5, tham gia chỉ huy chiến dịch An Khê (1953), chiến dịch chống cuộc hành quân Át-lăng (1954), Sư đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Sư đoàn 324.
 
Năm 1955, ông tập kết ra Bắc ; 1956-1960, Tư lệnh Quân Khu 4 ; 19611-964, Bí thư Liên khu 5 ; 1961-1967, Tư lệnh Quân khu 5 ; 1968-1972, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Uỷ viên Thường vụ Quân uỷ Trung ương ; 1973-1977, chuyển ra Trung ương là Trưởng ban Công tác miền Tây (CP-38) giúp Lào.

Từ năm 1978 đến năm 1982, ông là Phó chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra Chính phủ ; 1992, Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt . Trung tướng Nguyễn Đôn là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1960-1975), Đại biểu Quốc hội Khóa 4, 5.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Từ điển Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2011, 09:36:27 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #89 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2008, 04:45:57 am »


Thiếu tướng Lê Quảng Ba (1914 - 1988) từng giữ các chức vụ: Phụ trách Đội Du kích đầu tiên ở Cao Bằng, Ủy viên Quân sư Liên tình Cao Bắc Lạng, Khu phó Khu 1, Khu trưởng Hà Nội rồi Khu 12, Chỉ huy phó Mặt trận 2 - Đông Bắc, Chỉ huy trưởng Mặt trận Duyên Hải - Đông Bắc, Chỉ huy bộ đội Việt Nam tham gia Thập Vạn Đại Sơn, Tư lệnh Liên khu Việt Bắc, Đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 316, Tư lệnh đầu tiên Quân khu Việt Bắc.

Ngoài ra, ông còn từng là: Phái viên Kỳ bộ Việt Minh tại Cao Bắc Lạng, Trưởng Ban Dân tộc Trung ương, Phó Ban Nông nghiệm Trung ương, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 3, Đại biểu Quốc hội các từ Khóa 2 đến Khóa 6.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến cộng hạng nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

Thiếu tướng (1958)


Ông tên thật là Đàm Văn Mông, người dân tộc Tày, quê ở xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ 1935. Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1936, phụ trách Đội Du kích đầu tiên ở Cao Bằng (1941). Từ năm 1944 đến năm 1945, ông là Uỷ viên Quân sự Liên tỉnh Cao Bắc Lạng và phái viên Kỳ bộ Việt Minh ở đây.

Trong Kháng chiến chống Pháp: từ tháng 11 năm 1945 đến năm 1947, ông là Khu phó Khu 1, Khu trưởng Khu Hà Nội rồi Khu trưởng Khu 12. Từ năm 1948 đến năm 1949, Chỉ huy phó Mặt trận 2 (Đông Bắc), rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận Duyên hải Đông Bắc và Thập vạn Đại sơn. Từ tháng 12 năm 1949, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Liên khu Việt Bắc rồi Đại đoàn trưởng đầu (5.1951) tiên Đại đoàn 316 tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ năm 1957 đến năm 1959, ông là Tư lệnh đầu tiên của Quân khu Việt Bắc. Năm 1960, ông chuyển chuyển ngành sang làm trưởng Ban Dân tộc Trung ương và đảm nhiệm nhiều trọng trách khác như Phó Ban Nông nghiệm Trung ương. Thiếu tướng Lê Quảng Ba là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 3, Đại biểu Quốc hội từ Khoá 2 đến Khóa 6.

Tham khảo: Từ điển Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2011, 09:50:42 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM