Thiếu tướng Nguyễn Thanh Dương (tên thật : Nguyễn Ngọc Điệp, bí danh : Hai Dương, 1929 – 2001), từng giữ các chức vụ : Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tây Ninh, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự Tây Ninh. Ông sinh ra và lớn lên tại ấp Suối Sâu, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ông tham gia kháng chiến từ năm 1946, trưởng thành nhanh chóng từ chiến sĩ trinh sát tới cán bộ quân báo của Chi đội 12, hoạt động tại vùng Trảng Bàng – Hóc Môn – Gia Định.
Năm 1951, bằng cách theo dõi qua hành động của địch và qua nắm tin tức từ cơ sở, ông đã nhận định chính xác, phục vụ cho Ban Tham mưu Chi đội 12 tổ chức trận địa phục kích tại Trung Hưng đánh tiêu diệt nhiều lính lê dương Pháp. Phối hợp với Chiến dịch Điện Biên Phủ, đầu năm 1954, cũng bằng tư duy phán đoán nhạy bén về âm mưu hành động của địch, ông đã cùng ông Đỗ Thế Nhân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 306 bộ đội địa phương tỉnh Gia Định Ninh lên phương án chiến đấu, gài thế trận, đánh diệt một Tiểu đoàn lính Âu -Phi của quân Pháp tại suối Bời Lời. Đây là trận đánh tiêu biểu, lần đầu tiên một Tiểu đoàn địa phương cấp tỉnh (Tiểu đoàn 306) đánh diệt gọn một tiểu đoàn chính quy quân viễn chinh xâm lược Pháp.
Sau Hiệp định Geneve tháng, ông được tổ chức phân công ở lại địa phương bám phong trào, bám quần chúng để duy trì cơ sở quần chúng Cách mạng. Cuối năm 1960 Ban quân sự Miền (R) quyết định thành lập Ban chỉ huy Quân sự tỉnh (Tỉnh đội) Tây Ninh. Cùng với ông Trương Tùng Quân (Sáu Trương) được bổ nhiệm làm Tỉnh đội trưởng, ông được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Tham mưu.
Đầu năm 1961, sau khi bộ đội địa phương (Đại đội 61) và du kích huyện Bến Cầu bao vây bức rút các đồn Xóm Khách, Hố Đồn, Long Giang, nhận định địch sẽ đưa quân về Bến Cầu hòng đánh lấy lại những vị trí đã mất, ông đã chỉ đạo cho Tiểu đoàn 14 của Tỉnh đội đưa quân về ém trước tại ấp Bến Đình, xã Tiên Thuận. Tại đây, ngày 23 tháng 9 năm 1961, Tiểu đoàn 14 đã phục kích diệt gọn 1 đại đội lính Biệt động biên phòng nguỵ. Tháng 11 năm 1961, nhận định âm mưu quân địch sẽ càn bố vào vùng Xóm Sóc, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, ông chỉ đạo cho Đại đội 1, Tiểu đoàn 14 đưa quân về ém sẵn trên lộ 19, đoạn qua Xóm Sóc, phục kích diệt gọn 1 đại đội bảo an địch.
Tháng 10 năm 1963, trước âm mưu và hành động của địch tăng cường đánh phá lấn chiếm tỉnh lộ 19, 26. Tại cuộc họp Ban cán sự Tỉnh đội, ông đã đưa ra nhận định:
“Địch sẽ tập trung lực lượng đánh chiếm các xã vùng ruột huyện Gò Dầu. Từ dự đoán này tôi đề nghị xác định chiến trường trọng điểm, nơi kiên quyết bám trụ của ta là Gò Dầu. Địch có thể nghi binh đánh phá nhiều nơi khác nhưng vùng đất mà chúng muốn chiếm, muốn đánh bật ta ra khỏi đó là vùng ruột Gò Dầu. Theo tôi, chiến trường Gò Dầu sẽ là nơi đấu trí, đấu lực giữa ta và địch bất kể tương quan lực lượng như thế nào, không chỉ trong năm 1963, 1964 mà sẽ còn lâu dài hơn nữa”. Ông khẳng định:
“Giữ được Gò Dầu ta sẽ tạo thế giữ được cơ sở của ta trong vùng phía Nam huyện Toà Thánh. Huyện Toà Thánh có ý nghĩa chiến lược, theo tôi, ta thắng địch là ở đây, mà kết thúc chiến tranh cũng là đây”. Ông đề nghị Tỉnh uỷ, Ban cán sự Tỉnh đội khẩn cấp chỉ đạo Huyện uỷ Gò Dầu phát động phong trào “Một tấc không đi, một ly không rời”, với khẩu hiệu hành động “Quyết tử giữ Gò Dầu”. Tỉnh uỷ, Ban cán sự Tỉnh đội đồng thuận rất cao với nhận định về địch và ý kiến đề xuất của ông.
Năm 1966, ông nhận quyết định thay ông Võ Văn Tới - Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tây Ninh được trên quyết định rút về R (Trung ương Cục miền Nam) nhận công tác khác. Đây cũng là năm Mỹ đổ quân xuống Tây Ninh, chiếm đóng Trảng Lớn (Châu Thành) làm căn cứ lớn. Ông tham mưu cho Tỉnh uỷ chỉ đạo Huyện uỷ Châu Thành lập “Vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn”. Về sau “Vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn” trở thành nơi đánh Mỹ giỏi nhất miền Đông. Được Bộ Tư lệnh Miền tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất.
Những năm 1969 – 1970, địch một lần nữa đánh chiếm ác liệt các xã vùng ruột huyện Gò Dầu. Một số lượng lớn xe cơ giới đã được sử dụng nhằm ủi phá phát quang địa hình huyện thành vùng trắng. Địch ngày đêm càn bố, phục kích, xom hầm. Huyện Gò Dầu buộc phải ly hương rời địa bàn lên vùng biên giới. Trước vị trí quan trọng của huyện đối với Trung ương cục, Bộ Tư lệnh Miền đã giao nhiệm vụ cho ông tìm cách đối phó. Chỉ sau một thời gian, Phong trào Gò Dầu sau đó dần dần khôi phục, Huyện uỷ, Huyện đội, Đại đội 33, du kích, cán bộ phong trào các xã lần lược quay về bám trụ vững.
Bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với tư cách là chỉ huy trưởng Ban chỉ huy chiến dịch giải phóng tỉnh, ông đã lên phương án chọn hướng Nam huyện Toà Thánh (Hoà Thành ngày nay) làm mũi đột phá chính diện. Sau khi giải phóng và làm chủ chi khu Phú Khương, dù nhiều người trong Ban chỉ huy đề xuất lợi dụng thời cơ địch đang hoang mang, vì bị cô lập ta đẩy mạnh tiến công đánh chiếm Thị xã, song ông đã quyết định khác: cho dừng quân tại chỗ, chuyển phương thức đấu tranh từ vũ trang là chủ yếu, sang đấu tranh chính trị, binh vận, dùng mũi vũ trang để khống chế răn đe. Với phong thái đĩnh đạc, lập luận sắc sảo đầy sức thuyết phục, ông đã phân tích điều hơn lẽ thiệt cho viên Đại tá Tỉnh trưởng nguỵ. Kết quả là Tỉnh trưởng nguỵ quyền cùng với đồng sự của ông ta đã kéo ra đầu hàng. Thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh được giải phóng nguyên vẹn, máu xương của bộ đội của đồng bào được giảm thiểu ở mức thấp nhất, nhà cửa của dân, các công trình công cộng, đền đài tôn giáo không bị tàn phá.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông nhiều năm liền giữ chức vụ Tỉnh đội trưởng rồi Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh kiêm Tỉnh ủy viên cho đến khi về hưu năm 1989.
Theo Trang tin Điện tử tỉnh Tây Ninh