Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:23:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884122 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #390 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 06:40:09 am »



Thiếu tướng Trần Việt (29.4.1946) từng giữ các chức vụ : Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Là phi công trực tiếp chiến đầu, bắn rơi 3 máy bay Mỹ (chỉ trong một lần xuất kích) được tặng thưởng 3 Huy hiệu Bác Hồ.  

Thiếu tướng (1999)


Thiếu tướng Trần Việt nguyên quán tại xã Nhơn Phú, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông nhập ngũ tháng 7 năm 1965, được kết nạp vào Đảng ngày 25 tháng 10 năm 1968 (chính thức 25.7.1969).

7.1965, chiến sĩ dự khóa Không quân và học lái máy bay chiến đầu MiG-21 tại Trường Không quân Liên Xô ; 4.1968, sĩ quan lái máy bay MiG-21 tại Đại đội 3, Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1971, đại đội phó lái máy bay MiG-21 thuộc Trung đoàn 921 Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1974, phi đội trưởng Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân.

10.1977, trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371 Quân chủng Không quân ; 9.1978, học viên Học viện Không quân Ga-ga-rin của Liên Xô ; 7.1982, trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371 Quân chủng Không quân.

4.1987, sư đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Không quân ; 10.1989, sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Không quân ; 4.1994, theo học bổ túc tại Học viện Quốc phòng ; 8.1994, sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Không quân ; 7.1997, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân ; 10.1997, học bổ túc hệ A Học viện Chính trị Quân sự, Bộ Quốc phòng ; 1.1998, tham mưu phó Quân chủng Không quân ; 7.1999, tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.2005, phó tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.2007, nghỉ chuẩn bị hưu.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #391 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 07:54:54 pm »


Trung tướng Tiến sĩ Anh hùng Nguyễn Đức Soát (24.6.1946) từng giữ các chức vụ : Tư lệnh Quân chủng Không quân, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Phó Tổng Tham mưu trưởng.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công (2 hạng Nhì, 5 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước (hạng Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Là phi công trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 6 máy bay Mỹ, được tặng thưởng 6 Huy hiệu Bác Hồ.

Được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 11 tháng 1 năm 1973 khi đang là trung úy, đại đội phó Đại đội 3, Trung đoàn Không quân 927, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (10.1994), Trung tướng (11.1999).


Trung tướng Nguyễn Đức Soát quê tại xã Nam Phong, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Ông nhập ngũ ngày 5 tháng 7 năm 1965, được kết nạp vào Đảng ngày 24 tháng 2 năm 1969 (chính thức ngày 24 tháng 11 năm 1969).

7.1965, chiến sĩ dự khóa bay và đào tạo lái máy bay Mig.21 tại Trường Không quân Liên Xô ; 4.1968, sĩ quan lái máy bay tại Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1972, đại đội phó lái máy bay Trung đoàn Không quân 927 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân.

23 .5.1972, ông bắn rơi chiếc A-7B Corsair II của Hải quân Hoa Kỳ bằng pháo 30mm ; 24.6.1972, trong trận chiến đấu bảo vệ Nhà máy gang thép Thái Nguyên, là biên đội trưởng, ông hạ chiếc F-4E bằng quả tên lửa không đối không có đầu dẫn nhiệt R-3S Atoll; 27.6.1972, cùng đồng đội cất cánh từ sân bay Nội Bài  để đánh chặn một tốp F-4, ông bắn rơi một chiếc cũng bằng tên lửa R-3 ; 26.8.1972, ông tiếp tục lập công khi bắn hạ một chiếc F-4 duy nhất của Lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam ; 12.10.1972, ông bắn hạ chiếc F-4E.

5.1973, đại đội trưởng lái máy bay Trung đoàn Không quân 927 Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân.

9.1975, trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn 371 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1976, học tại Học viện Không quân Ga-ga-rin (Liên Xô) ; 6.1980, trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn 371, Quân chủng Không quân ; 8.1982, học tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu Vô-rô-si-lốp (Liên Xô) ; 9.1984, phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 372 Quân chủng Không quân.

4.1990, sư đoàn trưởng Sư đoàn 372 Quân chủng Không quân ; 2.1993, bổ túc cán bộ cao cấp tại Học viện Chính trị Quân sự ; 12.1993, phó tư lệnh Quân chủng Không quân ; 12.1997, tư lệnh Quân chủng Không quân ; 7.1999 đến 3.2002, tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.2002, phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi về hưu (1.1.2008).

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #392 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 05:39:11 pm »


Trung tướng Phạm Phú Thái (30.12.1949) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, Phó Tư lệnh thứ Nhất Quân chủng Phòng không Không quân.

2 Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công (2 hạng Nhì, 4 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Là phi công trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 4 máy bay Mỹ, được tặng thưởng 4 Huy hiệu Bác Hồ.

Thiếu tướng (4.1998), Trung tướng (1.2008).


Trung tướng Phạm Phú Thái quê tại xã Đình Phùng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, có bố là cụ Phạm Thuần nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ. Ông nhập ngũ ngày 5 tháng 7 năm 1965, được kết nạp vào Đảng ngày 20 tháng 11 năm 1968 (chính thức ngày 20 tháng 2 năm 1970).

7.1965, chiến sĩ Dự khóa bay Cục Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1965, học viên lái máy bay tại Trường Không quân Liên Xô ; 2.1968, sĩ quan lái máy bay tại Trung đoàn Không quân 921, Bộ Tư lệnh Không quân (KQ), Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 3.1972, đại đội trưởng lái máy bay Đại đội 1, Trung đoàn Không quân 921, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ.

2.1977, trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ ; 9.1977, học tại Học viện Không quân Ga-ga-rin (Liên Xô) ;

8.1980, thanh tra bay Cục Huấn luyện Nhà trường Quân chủng KQ ; 11.1982, trung đoàn trưởng Trung đoàn 929 Sư đoàn Không quân 370 và trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn 371, Quân chủng KQ ; 2.1986, phó sư đoàn trưởng Huấn luyện, phó sư đoàn trưởng kiêm tham mưu trưởng Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng KQ.

5.1988, sư đoàn trưởng Sư đoàng Không quân 371, Quân chủng KQ ; 9.1989, học bổ tục tại Học viện Chính trị Quân sự ; 9.1990, học bổ tục tại Học viện Quân sự cấp cao ; 3.1991, phó tham mưu trưởng Quân chủng KQ ; 9.1993, tham mưu trưởng Quân chủng KQ ; 7.1995, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân chủng KQ ; 7.1999, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không Không quân ; 2002, phó tư lệnh thứ nhất Quân chủng PKKQ ; 31.12.2007, Chánh thanh tra Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu (2008). 

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #393 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 06:43:56 pm »


Thiếu tướng Nguyễn Đăng Kính (19.8.1941) từng giữ các chức vụ : Cục phó Cục Huấn luyện – Nhà trường Quân chủng Không quân, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công (3 hạng Nhất, 2 Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Là phi công trưc tiếp chiến đấu, bắn rơi 6 máy bay Mỹ, được tặng thưởng 6 Huy hiệu Bác Hồ.

Thiếu tướng (10.1994).


Thiếu tướng Nguyễn Đăng Kính quê tại xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông nhập ngũ ngày 23 tháng 3 năm 1959, được kết nạp vào Đảng ngày 25 tháng 3 năm 1966 (chính thức ngày 25 tháng 12 năm 1966).

Lúc còn nhỏ, do hoàn cảnh gia đình khó khăn (bố ông là du kích thời Kháng chiến chống Pháp, bị thương nặng phải mổ đi mổ lại nhiều lần, ông chỉ học hết lớp 4 hệ 10 năm. Năm 1957, ông xin vào làm nhân viên thông tin tuyên truyền tại xã nhà ; 3.1959, ông nhập ngũ, là chiến sĩ rồi tiểu đội trưởng của Trung đoàn 250, Bộ Tư lệnh Phòng không (PK) ; 10.1961, được cử đi học lái máy bay chiến đấu tại Trường Không quân Liên Xô. Đây là lớp học tiêm kích đầu tiên của Việt Nam gồm 40 người do ông Nguyễn Hồng Nhị (sau là Thiếu tướng) làm đoàn trưởng.

10.1965, về nước, là phi công lái máy bay rồi trung đội trưởng Đại đội 2, Trung đoàn Không quân 921 Quân chủng Phòng không Không quân (PKKQ) ; 2.1968, đại đội phó Đại đội 2 và Đại đội 5, Trung đoàn Không quân 921, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ.

Là phi công trực tiếp chiến đấu, ông bốn lần bị bắn rơi (1.1966 tại Thái Nguyên, 2.1.1967 khi cả biên đội của ông bị 56 chiếc « con ma » vây, 4.1967 tại Hữu Lũng- Lạng Sơn, lần cuối tại Nà Sản – Sơn La) và 6 lần bắn rơi máy bay Mỹ.

11.1967, được sự yểm trợ của phi công Vũ Ngọc Đỉnh, ông bắn rơi một chiếc máy bay trinh sát điện tử RB66 tại Lang Chánh (Thanh Hóa) ; 1.1968, cùng với phi công Đồng Văn Song, ông tiếp tục hạ thêm một chiếc RB66 ; 26.1.1968, cùng với phi công Vũ Xuân Thiều ông, với 2 quả tên lửa RC12 điều khiển bằng hồng ngoại, bắn rơi một chiếc « con ma » của Hạm đội 7  Hoa Kỳ trên vùng trời Vinh (Nghệ An) ;  7.1968, ông bắn rơi một máy bay trinh sát tầm thấp không người lái tại Ninh Bình ; cũng trong năm 1968, ông tiếp tục bắn rơi một máy bay không người lái và một « con ma » (tại Thiên Cầm, Cẩm Xuyên) rồi chuyển sang bay đêm bám đuổi theo B52, C130 bảo vệ bộ đội.

8.1970, đại đội trưởng Đại đội 7 và Đại đội 3 Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ ; 8.1971, đại đội phó Đại đội 5, Trung đoàn 921, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ ; 2.1972, trung đoàn phó Trung đoàn 927, Bộ Tư lệnh KQ, Quân chủng PKKQ ; 8.1972, theo học tại Học viện Không quân Liên Xô ; 7.1974, phó Ban rồi trưởng Ban (12.1974) Nghiên cứu Sư đoàn 371, Quân chủng PKKQ.

9.1975, tham gia viết giáo trình huấn luyện tại Bộ Tham mưu PKKQ, 6.1977, phó trưởng Phòng Khoa học Quân sự Bộ Tham mưu Quân chủng KQ ; 5.1978, phó trưởng Phòng Quân huấn Bộ Tham mưu Quân chủng KQ ; 4.1979, trưởng phòng Quân huấn Bộ Tham mưu Quân chủng KQ.

4.1980, trưởng Phòng Kế hoạch, Cục Huấn luyện – Nhà trường Quân chủng KQ ; 7.1981, phó cục trưởng, trưởng Phòng Kế hoạch, Cục Huấn luyện – Nhà trường Quân chủng KQ ; 12.1983, trưởng Phòng Cán bộ Quân chủng KQ.

1.1988, cán bộ chuyên trách, phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân chủng KQ ; 4.1989, chuyển sang công tác tại Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương ; 6.1989, theo học chuyên tụ tại Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội ; 6.1990, viện phó Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương ; 12.1994, phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương cho đến khi về hưu (8.2006). Ông hiện là đại biểu Quốc hội khóa 12.

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #394 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2011, 07:25:35 pm »



Đại tá Trần Ngọc Lân (6.1938) từng giữ các chức vụ : Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 367, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Đại tá (4.1989).


Ông quê tãi xã Khánh Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Nhập ngũ ngày 1 tháng 2 năm 1964, được kết nạp vào Đảng tháng 7 năm 1966 (chính thức 7.1967).

Tập kết ra Bắc, 3.1954 là học sinh Trường miền Nam thành phố Hải Phòng ; 10.1958, học sinh Trường Bổ túc Công nông ; 10.1959, sinh viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

2.1964, chiến sĩ Đại đội 5, Trung đoàn 228B Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1965, sĩ quan điều khiển tên lửa – trưởng xe YA Đại đội 1, Tiểu đoàn 61, Trung đoàn Tên lửa 236, Quân chủng Phòng không Không quân.

1.1968, trợ lý huấn luyện tên lửa Phòng Quân huấn, Bộ Tham mưu, Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1969, bồi dưỡng xạ kích tên lửa tại Trường Sĩ quan Phòng không ; 2.1970, trợ lý huấn luyện tên lửa Phòng Quân huấn, Bộ Tham mưu, Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1972, trưởng Tiểu ban Tác huấn Trung đoàn Tên lửa 277 (tham gia huấn luyện chuyển loại tên lửa tại Liên Xô) ; 1.1973, trợ lý huấn luyện Tên lửa Phòng Quân huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân.

10.1976, trưởng Ban Huấn luyện Sư đoàn Phòng không 367, Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1979, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 263, Sư đoàn Phòng không 367, Quân chủng Phòng không ; 8.1983, sư đoàn phó Sư đoàn Phòng không 367, Quân chủng Phòng không.

12.1987, sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 367, Quân chủng Phòng không ; 10.1994, phó tư lệnh Quân chủng Phòng không cho tới khi về hưu (8.2000).

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #395 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2011, 07:49:34 pm »


Trung tướng Tiến sĩ Nguyễn Văn Thân (18.11.1945) từng giữ các chức vụ : quyền Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Tư lệnh – Phó Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không Không quân.

Ngoài ra ông còn từng là Đại biểu Quốc hội khóa 11.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Thiếu tướng ( 4.1998), Trung tướng (7.2003).


Ông quê tại thông Xuân Vũ, xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Nhập ngũ tháng 4 năm 1962, được kết nạp vào Đảng ngày 26 tháng 3 năm 1965 (chính thức 26.3.1966).

4.1962, chiến sĩ bộ binh Tiểu đoàn 12, Trung đoàn 68, Sư đoàn 304, rồi chiến sĩ Trung đoàn 228B ; 3.1965, văn thư bảo mật rồi trắc thủ (8.1965) Đại đội 1, Tiểu đoàn 61, Trung đoàn Tên lửa 236, Quân chủng Phòng không Không quân.

4.1967, sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 61, Trung đoàn Tên lửa 236, Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa ; 11.1967, học viên Trường Cao đẳng Phòng không Ô-đéc-xa (Liên Xô) ; 12.1972, dịch tiếng Nga tại Trung đoàn 172, Bộ Tư lệnh Hải quân ; 12.1973, tiểu đoàn phó quấn sự Tiểu đoàn 52, Trung đoàn Tên lửa 267, Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1974, phiên dịch tiếng Nga cho Đoàn Học viên Cán bộ Cao cấp Quân chủng Phòng không Không quân tại Liên Xô.

7.1975, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 81, Trung đoàn Tên lửa 238, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1977, nghiên cứu sinh cao học tại Học viện Quân sự Cấp cao ; 8.1978, tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 277 chuyển loại tên lửa Von-ga tại Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không.

3.1979, phó trung đoàn trưởng, tham mưu trưởng, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 277, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không ; 8.1981, trung đoàn trưởng Trung đoàn 277 ; 10.1983, nghiên cứu sinh khoa học quân sự tại Liên Xô.

18.2.1987, phó sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 369, Quân chủng Phòng không ; 14.10.1987, lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Phòng không 378, Quân chủng Phòng không, Phó Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn ; 8.1991, phó Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Bộ Tham mưu.

9.1993, tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 4.1994, học bổ tục tại Học viện Chính trị Quân sự ; 7.1995, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 2.1996, học bổ túc tại Học viện Quốc phòng ; 2.1997, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 3.1998, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng, phụ trách Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng.

6.1999, phó tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng ; 7.2.2002, tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, phó bí thư Đảng ủy Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu (2.2007).

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #396 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2011, 08:48:51 pm »


Trung tướng Nguyễn Ngọc Văn (1944) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 14, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Bắc, quyền Tư lệnh Quân khu 1, Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Quốc phòng.

Trung tướng (2002).


Ông quê tại xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Học hết lớp 4 (hệ 10 năm), năm 1961, ông nhập ngũ, sau 3 tháng huấn luyện tân binh, ông được cử đi học lớp khẩu đội trưởng pháo binh.

Năm 1962, đơn vị ông về đóng quân tại Tiên Yên, Quảng Ninh, tại đây, ông học bổ túc hết chương trình cấp 2 (tức Trung học Cơ sở bây giờ) rồi sau đó được cử đi học tại Trường Sĩ quan Pháo binh.

Năm 1965, ra trường, ông được phân công về Trung đoàn 247 đóng quân tại Xuân Hòa làm nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô Hà Nội chống chiến tranh leo thang của Đế quốc Mỹ ra bầu trời miền Bắc ; 1966, trợ lý tham mưu của Trung đoàn 246 đóng quân tại Tuyên Quang tới năm 1967 cùng đơn vị vào chiến đấu tại Chiến trường B5 (Quảng Trị) : tham gia Chiến dịch Mậu thân 1968 được đề bạt đại đội trưởng Hỏa lực, rồi cán bộ tiểu đoàn trong các chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào…

Năm 1970, khi đang là tiểu đoàn trưởng độc lập, ông được điều sang làm trung đoàn phó Trung đoàn hỗn hợp chiến đấu tại Cửa Việt trong đội hình Sư đoàn 325 ; 1973, được cử đi học bổ túc cán bộ trung đoàn nâng cao rồi về công tác tại Phòng Tác chiến Quân khu Trị Thiên Huế.

Năm 1975, ông về công tác tại Phòng Tác chiến Quân khu 4, tiếp tục theo học hết chương trình cấp 3 (hết năm 1976) tại Trường Văn hóa Quân đội ; Năm 1978, đi học tại Học viện Quốc phòng, ra trường về làm Sư đoàn phó Sư đoàn 337, Quân đoàn 14, Quân khu 1 phòng thủ tại Biên giới Lạng Sơn rồi Sư đoàn trưởng cho đến Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 14 (1986). Sau đó ông được cấp trên giao nhiệm vụ làm Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Lạng Sơn, tổ chức mạng lưới quân sự làm nhiệm vụ phòng thủ thay cho cả Quân đoàn 14 rút về phía sau.

Năm 1988, Tham mưu phó Quân khu 1đến năm 1989 về là Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Hà Bắc. Năm 1993, ông tiếp tục đi học đến 1995 lên là Phó Tư lệnh Quân khu 1. Từ cuối 1996 đến 1997, là Thiếu tướng Phụ trách Quân khu 1. Năm 1998 là Viện phó, rồi Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự Bộ Quốc phòng. Năm 2002, được phong Trung tướng cho tới năm 2004 về hưu. Ông hiện đang sống tại quê nhà xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang sau 43 năm mặc áo lính.

Theo Báo Bắc Giang

« Sửa lần cuối: 26 Tháng Hai, 2011, 07:26:49 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
dinhba
Thành viên
*
Bài viết: 9


« Trả lời #397 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2011, 09:08:38 pm »

.

Người mã hoá bức điện mật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp



 
Đồng chí Nguyễn Đức Mãi.


Ông đã dành trọn tuổi thanh xuân của mình trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, ông cũng chứng kiến bao đồng chí đồng đội đã ngã xuống trước ngày toàn thắng. Giữa những năm tháng máu lửa bi hùng đó, ông đã dịch, mã hóa và truyền đi hàng trăm ngàn trong tổng số gần 51 triệu bức điện của toàn ngành cơ yếu quân đội.

Ông cũng là người vinh dự được cấp trên lựa chọn để mã hóa và truyền đi bức điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa...". Đó là Đại tá Nguyễn Đức Mãi, nguyên cán bộ cơ yếu Đoàn 559...

Không khó để tìm ra nhà Đại tá Nguyễn Đức Mãi ở thành phố Vinh, Nghệ An. Căn nhà nhỏ, giản dị nằm sâu trong ngõ số 10, đường Nguyễn Văn Cừ, nhưng dường như hỏi ai cũng đều biết ông. Thoạt nhìn không ai nghĩ người cựu binh này đã bước sang tuổi 85. Mấy năm gần đây, tuy bị căn bệnh tim hành hạ, nhưng do luyện tập dưỡng sinh thường xuyên, trông da dẻ ông vẫn hồng hào, giọng nói hào sảng. Đôi mắt ông rực sáng lên khi hồi ức lại những năm tháng thời chiến tranh máu lửa...

Tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám 1945, sau đó công tác tại Huyện ủy Kỳ Anh (Hà Tĩnh), tháng 7/1950, chàng thanh niên trẻ Nguyễn Đức Mãi vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đó ít ngày, ông xung phong nhập ngũ. Sau huấn luyện, ông được đơn vị cử đi học một lớp cán bộ công tác chính trị, đến năm 1952, sau nhiều lần thử thách, ông tiếp tục được đi học lớp cơ yếu. Từ đó, cuộc đời binh nghiệp của ông gắn liền với tín hiệu, ký hiệu, con số của ngành mật mã.

Gần chục năm sau đó, ông lăn lộn trên khắp các chiến trường miền Trung; đóng quân trên đảo từ Mũi Gòn, Hòn Én (Hà Tĩnh) đến Hòn La (Quảng Bình), đến miền Tây Vĩnh Linh trong biên chế quân số của Tiểu đoàn 25 thuộc Tỉnh đội Quảng Bình. Theo yêu cầu ngày càng cấp bách của chiến trường miền Nam, Đoàn 559 ra đời và ngày càng lớn mạnh; từ quy mô cấp sư đoàn đến binh đoàn bao gồm nhiều binh chủng hợp thành dưới sự chỉ huy của Tướng Đồng Sĩ Nguyên. Lực lượng cơ yếu của Đoàn 559 giữ vai trò "kết nối" sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu đến khắp các chiến trường. Ông là thế hệ lính cơ yếu đầu tiên của đơn vị chiến lược này.


 
Đồng chí Nguyễn Đức Mãi (người ngồi ngoài cùng bên phải) trong những năm ở Trường Sơn.

Lúc đầu đơn vị đóng quân tại Khe Hó (Vĩnh Linh), trụ sở đầu tiên của Đoàn 559, sau đó đơn vị rút về Làng Ho (Quảng Bình). Giai đoạn này cũng chính là thời điểm khó khăn nhất của đơn vị, vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng. Trên đường Trường Sơn, lực lượng cơ yếu được thành lập 9 trạm, bắt đầu từ Làng Ho qua vùng Hạ Lào, Ka Ra Chê (Campuchia) rồi vòng về Lộc Ninh. Bấy giờ, điều kiện vô cùng khó khăn, ăn trong hang đá, ngủ dưới tán cây rừng, đối mặt với cái đói triền miên, rồi rắn độc, sốt rét, bom đạn của kẻ thù. Trong khi đó, địch lại liên tục tung các toán gián điệp, biệt kích và tổ chức các đợt hành quân quy mô lớn để càn quét, tìm diệt lực lượng ta, nên cứ hai ba hôm cả đơn vị lại phải di chuyển một lần để đảm bảo tuyệt đối bí mật.

Giai đoạn khó khăn nhất của ông và đồng đội phải trải qua, chính là những thời điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh. Lực lượng cơ yếu Đoàn 559 vừa phải chiến đấu như những đơn vị chủ lực thực sự trong Chiến dịch đường 9 Nam Lào, đợt Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, đợt phản công mùa hè năm 1972, đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Trong những thời khắc bi hùng nhất của cuộc chiến tranh, chính ông đã chứng kiến và mai táng hàng chục đồng đội mình, trong tổng số gần 600 cán bộ cơ yếu của Đoàn 559 ngã xuống trong những trận đánh, trận phục kích, trận B52 rải thảm của địch. Công việc cơ yếu khi đó chủ yếu được tiến hành vào ban đêm. Ban đầu, trang thiết bị thiếu thốn, chủ yếu làm thủ công nên càng khó khăn bội phần. Tuy nhiên, các ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đảm bảo liên lạc thông suốt, an toàn và bí mật tuyệt đối trong suốt những năm ác liệt của cuộc chiến tranh...

Lật giở từng trang kỷ yếu về các thế hệ lính cơ yếu, trong đó có bức điện mật do chính tay ông mã hóa và truyền đi năm xưa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khuôn mặt ông ngập tràn xúc động. Ông vẫn coi đó là vinh dự nhất của cuộc đời mình. Ngày 7/4/1975, ông nhận được chỉ thị từ Ban Cơ yếu Bộ Tổng tham mưu, giao một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đó là mã hóa bức điện mật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, truyền tới tất cả các đơn vị trên đường Trường Sơn, với nội dung: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận. Giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc tới đảng viên và chiến sĩ".

Ông kể: "Nhận được nội dung bức điện mật quan trọng này, lúc đó tôi rất lo, làm sao hoàn thành thật tốt nhiệm vụ, chẳng nghĩ được điều gì khác cả". Ông phải mã hóa bức điện theo mã mới và phát trên làn sóng vô tuyến đến các đơn vị đang làm nhiệm vụ bảo vệ đường Hồ Chí Minh và đội hình hành quân đang rầm rập tiến vào Nam. Khi phát lên vô tuyến thì có nghĩa là cả quân ta và quân địch đều thu được tín hiệu, nên yếu tố bảo mật là quan trọng nhất. Giây phút đó ông đã rất hồi hộp và lo lắng, nhưng bản lĩnh người chiến sĩ cơ yếu được tôi luyện mấy chục năm trên đường Trường Sơn đã khiến ông xác định tư tưởng, tập trung vào công việc.


 
Bức điện mật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngày hôm sau, ông và anh em trong đơn vị cơ yếu phải dò sóng, nghe ngóng xem kẻ địch có phát hiện được nội dung bức điện không, nhưng "nó" đã được đảm bảo yếu tố bí mật tuyệt đối, các lực lượng của địch không có phản ứng lớn. Tuy nhiên, phải nhiều ngày sau, khi tiếp nhận, mã dịch và chuyển ra Bắc những trận đánh thắng của quân và dân miền Nam trên khắp các chiến trường, ông mới cảm thấy sung sướng và thở phào nhẹ nhõm vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, kịp thời truyền đạt sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, trực tiếp là Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Mệnh lệnh của Đại tướng ngay sau đó đã được các cánh quân tiếp nhận và là "kim chỉ nam" tiến thẳng vào sào huyệt của kẻ thù. "Khi tiếp nhận tin và mã dịch bức điện báo tin quân ta đã tiến quân vào Dinh Độc Lập, anh em trong đội cơ yếu của tôi đã ôm nhau khóc òa sung sướng" - ông Nguyễn Đức Mãi xúc động kể tiếp. Vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, ông lại là người vinh dự đầu tiên ở Đoàn 559 mã dịch và truyền đi bức mật điện của Bộ chỉ huy mặt trận cánh Đông do Trung tướng Lê Trọng Tấn chuyển về Bộ Tổng tham mưu thông báo quân ta đã chiếm lĩnh Dinh Độc Lập, tiếp nhận sự đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các chính quyền ngụy Sài Gòn...

Đất nước hoàn toàn giải phóng, Đại tá Nguyễn Đức Mãi tiếp tục gắn bó với ngành cơ yếu, nhưng trên cương vị Hiệu trưởng Trường Mật mã thuộc Bộ Quốc phòng. Đến năm 1991, ông mới chính thức nghỉ hưu. 41 năm quân ngũ là ngần ấy năm ông làm nhiệm vụ người chiến sĩ cơ yếu. Dù ở cương vị nào ông vẫn thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu: "Mật mã phải bí mật, nhanh chóng, chính xác. Các chú làm mật mã phải bí mật và đoàn kết". Ông và đồng đội của mình, đã đóng góp những chiến công thầm lặng cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Trong những ngày tháng 4 lịch sử này, ký ức một thời hoa lửa lại có dịp tràn về, khiến người cựu binh già bồi hồi, xao xuyến...

  Phan Hoạt - Mạnh Hà

Theo CAND.COM

« Sửa lần cuối: 25 Tháng Hai, 2011, 09:18:15 pm gửi bởi dinhba » Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #398 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2011, 09:14:46 pm »


Thiếu tướng Tiến sĩ Võ Minh Cẩm (25.4.1948) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không, Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Thiếu tướng (7.2003).


Thiếu tướng Võ Minh Cẩm quê tại xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Nhập ngũ ngày 20 tháng 7 năm 1969, được kết nạp vào Đảng ngày 3 tháng 1 năm 1969 (chính thức ngày 3 tháng 10 năm 1969). Ông là con trai của Thiếu tướng Võ Bẩm.

7.1965, học viên thợ máy Cát Bi trực thuộc Cục Không quân ; 12.1967, tổ trưởng máy bay Đại đội 13, Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1969, học viên dự khóa kỹ thuật Phòng không Không quân ; 9.1969, học viên Trường Cao đẳng Kỹ thuật Không quân Ki-ép (Liên Xô) ; 9.1974, kỹ sư thực tập Đại đội 13, Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1975, trợ lý Phòng Kỹ thuật, Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1975, trợ lý kỹ thuật đoàn lắp ráp Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

9.1975, trợ lý Phòng Nghiên cứu Kỹ thuật, Sư đoàn Không quân 370, Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1976, trợ lý phòng nghiên cứu Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1977, dự khóa nghiên cứu sinh Đoàn 871, Tổng cục Kỹ thuật ; 8.1977, nghiên cứu sinh tại Học viện Giu-cốp-xki (Liên Xô).

8.1980, trợ lý Phòng Nghiên cứu Kỹ thuật, Viện Kỹ thuật Không quân, Quân chủng Không quân ; 3.1982, trưởng Ban Kết cấu Phòng Kỹ thuật máy bay, Viện Kỹ thuật Không quân ; 4.1988, trưởng Phòng Máy bay Động cơ – Cục Kỹ thuật Không quân ; 3.1989, chủ nhiệm Kỹ thuật Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Không quân.

4.1990, phó chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Không quân ; 5.1999, phó chủ nhiệm Kỹ thuật, Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.2000, phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu (1.8.2007).

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #399 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2011, 09:59:00 pm »


Thiếu tướng Phạm Ngọc Nguyên (2.9.1949) từng giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (2.2006).


Thiếu tướng Phạm Ngọc Nguyên quê tại thôn Dưỡng Thông, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Nhập ngũ ngày 1 tháng 8 năm 1967, được kết nạp vào Đảng ngày 8 tháng 4 năm 1975 (chính thức 8.1.1976). Ông là con trai Thượng tướng Phạm Ngọc Mậu.

8.1967, nhập ngũ tại Cục Cán bộ ; 10.1967, học viên Trường Cao đẳng Phòng không Ô-đéc-xa (Liên Xô) ; 10.1973, sĩ quan điều khiển Đại đội 1, Tiểu đoàn 84, Trung đoàn Tên lửa 238, Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1974, Đội cải tiến Tên lửa, Xưởng A-31, Quân chủng Phòng không Không quân.

7.1975, trợ lý kỹ thuật Trung đoàn Tên lửa 267, Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1976, học viên đào tạo cán bộ chỉ huy Trường Phòng không, Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1977, đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không ; 3.1978, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 63, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không ;

5.1979, tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 161, Trung đoàn Tên lửa 236, Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không ; 20.6.1980, trung đoàn phó kỹ thuật kiêm chủ nhiệm kỹ thuật Trung đoàn Tên lửa 276, Quân chủng Phòng không ; 9.1981, học tại Học viện Phòng không Ka-li-nin (Liên Xô) ; 9.1983, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 276, Quân chủng Phòng không ; 11.1984, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 276, Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không.

1.1988, tham mưu phó Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không ; 4.1989, học bổ túc chiến thuật phòng không tại Liên Xô ; 26.5.1989, sư đoàn phó Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng Phòng không ; 1.1991, sư đoàn phó Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không ; 12.1993, sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không ; 6 .2000, chủ nhiệm hậu cần Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.2005, phó tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân cho đến khi về hưu (2010).

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM