Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:07:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884057 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Quân khí viên
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 322


« Trả lời #400 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2011, 11:57:05 am »

Các bác có biết Trung tướng Đàm Quang Long, nguyên phó tư lệnh QK7, quê ở Diên Lạc- Diên Khánh- Khánh Hòa không ạ?
Em thấy hình như không có ảnh và tư liệu về vị tướng này!
Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #401 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2011, 04:46:07 pm »

Các bác có biết Trung tướng Đàm Quang Long, nguyên phó tư lệnh QK7, quê ở Diên Lạc- Diên Khánh- Khánh Hòa không ạ?
Em thấy hình như không có ảnh và tư liệu về vị tướng này!

Mình không biết tướng nào tên là Đàm Quang Long cả. Với lại, họ Đàm là họ dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc, cho nên nếu quê Khánh Hòa thì họ Đàm theo mình là không chính xác. Căn cứ vào thông tin bạn đưa ra theo mình đó là Thiếu tướng Đặng Quang Long quê tại Thanh Minh - Diên Khánh - Khánh Hòa. Trước có bác PallMall hỏi về tướng Đặng Quang Long rồi, rất tiếc là mình không có ảnh, thông tin thì cũng không nhiều.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
trantrung
Thành viên
*
Bài viết: 218


« Trả lời #402 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2011, 05:30:44 pm »

Còn một người rất nổi tiếng trong miền Nam thời chống Pháp đó là thi tướng Huỳnh Văn Nghệ . Mặc dù trên thực tế ông chỉ được mang quân hàm thượng tá nhưng nhân dân miền Nam luôn coi ông là một vị tướng quân tài ba lỗi lạc . Không biết trên này đã có chưa .
Logged
Tr kỹ thuật
Thành viên
*
Bài viết: 20


« Trả lời #403 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2011, 06:02:24 pm »

Thắc mắc :

Em đã xem gần hết mà không thấy tiểu sử của Thiếu tướng Võ văn Dần (tư lệnh Quân đoàn 4 từ 82-88) các bác có thì đưa lên cho em biết với.Cảm ơn các bác.
Logged
Quân khí viên
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 322


« Trả lời #404 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2011, 06:16:27 pm »

Mình không biết tướng nào tên là Đàm Quang Long cả. Với lại, họ Đàm là họ dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc, cho nên nếu quê Khánh Hòa thì họ Đàm theo mình là không chính xác. Căn cứ vào thông tin bạn đưa ra theo mình đó là Thiếu tướng Đặng Quang Long quê tại Thanh Minh - Diên Khánh - Khánh Hòa. Trước có bác PallMall hỏi về tướng Đặng Quang Long rồi, rất tiếc là mình không có ảnh, thông tin thì cũng không nhiều.
[/quote]

Bác nói rất chính xác! Cụ Long quê ở thôn Thanh Minh - xã Diên Lạc- Diên Khánh - Khánh Hòa cách nhà em khoảng 4km. Con cháu cụ đều dân gốc ở đây cả và là họ Đàm. Có thể khi hoạt động cụ đổi tên. Tên ở nhà lúc còn thanh niên của cụ  không phải là Long. Hiện cụ đang sống ở TP Hồ Chí Minh, ít khi về quê, có lẽ sức khỏe cũng yếu lắm rồi. Để bữa nào rảnh em hỏi lại tụi nó( mấy người cháu kêu cụ bằng bác cũng ngang tuổi em). Khi về hưu cụ mang hàm trung tướng!
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Hai, 2011, 05:58:46 am gửi bởi Quân khí viên » Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #405 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2011, 08:49:02 pm »

Thiếu tướng Thanh Quảng (tên thật : Nguyễn Văn Thanh, tên khác : Hồ Tú Nam, 5.5.1924 – 17.9.1992) từng giữ các chức vụ : Phó Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng – Quân ủy Trung ương, Bí thư Tổng Thư lệnh Võ Nguyên Giáp, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tây Bắc, Chính ủy Quân khu Trị Thiên, Chính ủy Học viện Lục quân Đà Lạt.

Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Quân công hạng nhì, ....

Thượng tá (12/1958), Đại tá (4/1966), Thiếu tướng (4/1974).


Trước Cách mạng tháng 8, ông theo học tại Trường Kỹ nghệ Thực hành ở Huế. Tại ngôi trường này, nhiều tướng lĩnh khác cũng từng theo học như Thượng tướng Trần Văn Trà, Thượng tướng Trần Sâm.

Tháng 8 năm 1947, ông là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình ; Tháng 5 năm 1951, ông được điều động lên Việt Bắc, giữ các chức vụ Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng, Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương, Bí thư cho Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Tháng 12 năm 1964, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tây Bắc ; 5.1966, Phó Chính ủy Quân khu Trị Thiên rồi Chính ủy Quân khu (2.1975).

Tháng 9 năm 1976, Chính ủy Học viện Lục quân Đà Lạt ; 12.1977, chuyển ngành làm Thứ trưởng thường trực Bộ Vân Tư ; 1982, Phó Bí thư – Phó Trưởng ban rồi Bí thư – Trưởng ban (1985) Ban Cán sự Đảng ngoài nước trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho đến khi nghỉ hưu năm 1988.

Thông tin do thành viên hoangnamanh cung cấp

« Sửa lần cuối: 02 Tháng Ba, 2011, 01:13:40 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
dinhba
Thành viên
*
Bài viết: 9


« Trả lời #406 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2011, 09:18:03 pm »

Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu: Khúc ca xưa vang vọng đến bây giờ


Cách đây hơn một năm, Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu rời xa chốn quan trường. Hơn 45 năm gắn với cuộc đời binh nghiệp, giờ đây ông mới có những khoảng lặng cho riêng mình, cởi bỏ khỏi chiếc áo phong sương của một đời lính, thanh thản với niềm vui tuổi già. Nhưng một người lính đã từng đi qua trận chiến như ông và may mắn được trở về, vẫn thấy mình mắc nợ với cuộc đời, với đồng đội.

Một vị tướng đi qua nhiều cuộc chiến tranh, cả thời chiến lẫn thời bình như ông, thì câu chuyện không phải là của ngày hôm nay, mà đó là những ký ức, vẫn còn nguyên vẹn, tươi rói như mới chỉ xảy ra ngày hôm qua. Bởi ông còn lưu giữ trong mình quá nhiều những kỷ niệm, về đồng đội năm xưa, những con người vô danh đã bị cuốn trôi trong lớp bụi của thời gian

Ông sinh ra ở một miền quê nghèo của Nghệ An nắng cháy, xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, một cậu bé quê tinh nghịch thông minh. Quê hương của Nguyễn Mạnh Đẩu là những vùng cát pha nắng chói chang, và gió Lào hầm hập, những con người phải quằn mình trước khắc nghiệt của khí hậu, là những ngày theo cha đi ăn cơm tập thể của quân đội, và đầm mình thỏa thích trong dòng sông Lèn thơ mộng, có lần suýt chết đuối vì không biết bơi.

Đó là một tuổi thơ dữ dội với nhiều biến cố trong đời sống riêng của gia đình, khiến cậu bé Đẩu sớm trưởng thành, đĩnh đạc. Lần đầu tiên nhìn thấy máy bay Mỹ, khi đó Nguyễn Mạnh Đẩu tròn 16 tuổi, cậu nằng nặc xin thêm một tuổi và trốn cha đi bộ đội. Ngày lên đường nhập ngũ của Đẩu vì thế không có người đưa tiễn, cậu bé sống mũi cay cay, khi nhìn thấy vòng tay ấm áp của những người thân tiễn người đi chiến trận.

Lúc đó, cậu mới chạnh lòng. Nhưng ý đã quyết, Nguyễn Mạnh Đẩu trở thành chiến sĩ giải phóng quân hoạt động trên những vùng chiến sự ác liệt ở Lào, Quảng Trị - Thừa Thiên.  Và trong những ngày cận kề với cái chết, ông đã viết nhật ký, viết với tâm thế của một người lính ra trận không xác định ngày về. Những dòng nhật ký được viết vội sau từng trận đánh, của một chàng trai trẻ muốn dành niềm tự hào cho cha, và trong những trang đầu tiên của cuốn nhật ký, ông viết: "Sau khi tôi hy sinh, hãy gửi lại cho cha để ông có quyền tự hào về con trai mình, đã sống và chiến đấu trong những ngày khói lửa".

Nhưng cuốn nhật ký đã bị lưu lạc và ông may mắn được trở về. Đó là khi ông tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đại đội đặc công của ông được giao nhiệm vụ đánh vào cao điểm 550, nhằm tiêu diệt Lữ đoàn 147 của địch. Ông đã bị thương nặng, đến nỗi rất nhiều người nghĩ rằng ông đã hy sinh. Một đồng đội đã cầm cuốn nhật ký, và gửi lại nơi hậu cứ. Nhưng sau nhiều cuộc càn quét, người lính ấy cũng đã bị thương và bỏ lại một chân ở chiến trường, và ông đã không thể giữ lại cuốn nhật ký.


Cuốn hồi ký vừa xuất bản của
Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu.

Hơn 40 năm đã đi qua, nhưng đến bây giờ, ông vẫn nhớ như in từng dòng nhật ký đó, chuyện cách đây một, hai năm có thể quên, nhưng câu chuyện hào sảng của một chàng trai 20 tuổi đi vào chiến trận với tâm thế lãng mạn, lạc quan đó thì làm sao có thể quên. Đó là những tháng ngày chiến đấu vô cùng ác liệt mà những người lính như ông đứng mong manh giữa sự sống và cái chết.

Rất nhiều đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh trong những trận chiến ác liệt. Có nhiều chiến thắng, nhưng có rất nhiều mất mát, có những cái chết của đồng đội còn ám ảnh ông đến tận bây giờ. Khe Sanh, Đường 9, không có trận chiến nào khốc liệt hơn thế, và hình ảnh đồng đội, những chiến sĩ liên lạc vượt nguy hiểm khi gặp được đơn vị đã đói lả chỉ còn thoi thóp, những cái bắt tay của đại đội trưởng bộ binh trước giờ xung trận và mãi mãi không trở về…

Tất cả đều trở thành nỗi ám ảnh trong tâm khảm Nguyễn Mạnh Đẩu. Ông đã không thể đi tiếp cùng đồng đội trong cuộc  tiến về giải phóng miền Nam mà lùi lại hậu cứ, về công tác ở Tổng cục Chính trị năm 1972. Và sau này đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau, Cục trưởng Cục Chính sách, Phó hiệu trưởng về Chính trị Trường Lục quân 1 và Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật.

Trở về thời bình, mang tâm thế của một chiến binh đã từng đi qua chiến trận, hiểu được nỗi mất mát, hy sinh, hiểu được cái giá của hòa bình đã trả bằng biết bao máu xương của đồng đội, dù bận trăm công ngàn việc ở những cương vị mới, nhưng Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu vẫn dành một góc riêng cho đồng đội năm xưa. Nhiều câu chuyện buồn thời hậu chiến đã được ông tìm hiểu, hóa giải, về những vấn đề chính sách.

Có những việc ông làm được, nhưng có những việc ông đã bó tay vì sự đã rồi, nhìn đồng đội âm thầm chịu thiệt thòi mà đau xót… Và ông lại bước tiếp trong một cuộc chiến khác. Trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, ông cùng đồng đội tham gia vào nhiệm vụ bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật - một thành tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và tiềm lực Quốc phòng của đất nước.

Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu đã cầm bút từ sự thôi thúc, viết để tri ân những đồng đội không còn nữa. Cuốn hồi ký do chính tự tay ông chấp bút đã tái hiện một không gian lịch sử hào hùng nhưng cũng đầy bi tráng của dân tộc.

Ông tâm sự: "Hơn 60 tuổi đời, chẵn 45 năm quân ngũ, ôn lại những nẻo đường đã qua, hiện lên trong tâm trí tôi như những thước phim quay chậm. Những thước phim lung linh sắc màu thời gian, bao kỷ niệm, ký ức, những hình ảnh thân thuộc. Tương tư gõ vào kỷ niệm. Tôi bồi hồi nhớ về quê hương, gia đình yêu dấu, nhớ lại cánh đồng lúa chiêm mùa một nắng hai sương, với hạt gạo củ khoai cha mẹ tảo tần nuôi tôi từng ngày khôn lớn, nhớ lại người thân bè bạn một thời hồn nhiên trìu mến…".

Nguyễn Mạnh Đẩu đã viết bằng cảm xúc thật của một người đi qua cuộc chiến, nếm trải những mất mát đau thương của đồng đội, vì thế cuốn hồi ký thực sự làm lay động lòng người. Đó không chỉ là những hào quang của chiến thắng, mà có cả sự mất mát, cả những đau thương. Ông viết bằng cả sự chiêm nghiệm về cuộc đời.

Những nẻo đường thời gian của ông không viết nhiều về mình mà đầy ắp những sự kiện về đồng đội, bởi với ông, sự sống còn hôm nay của Nguyễn Mạnh Đẩu có một phần xương máu của đồng đội ông năm xưa. Kể cả những hồi ức trong thời bình, ông cũng khiêm nhường nép mình trong dòng chảy chung của dân tộc. Chuyện đời, chuyện thế sự, lúc buồn lúc vui, âu cũng là lẽ thường tình.

Có một nhà văn Pháp đã nói rằng, viết hồi ký là khi đã đến lúc thấy những khát vọng, những hoài vọng về cuộc đời đã hết. Thế nên quá khứ với Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu không phải là hào quang của chiến thắng, của những đối đãi trọng vọng khi còn chức tước. Quá khứ của ông được viết nên bằng máu và nước mắt của đồng đội, là nỗi day dứt còn đó về những mất mát thời hậu chiến, là những dự định còn dang dở…

Giống như trên một chuyến tàu, đã đến lúc dừng ga, và bước xuống, trong tư thế của một kẻ sĩ luôn biết người biết ta, thấu hiểu thời cuộc. "Trên tàu/ Người giàu ngồi chễm chệ toa sang/ kẻ nghèo hèn ngồi bệt toa đen/ Vốn thế/ Một diện tích nhỏ nhoi rành rẽ/ Phân biệt Anh, Tôi/ Xuống tàu/ tất cả như nhau/ còn ai hay số ghế chỗ ngồi/ quên lãng/ Đoàn tàu đầy ắp lữ hành…

Nhưng đằng sau những chiến công của một vị tướng đã đi qua thời chiến và thời bình ấy, vẫn thấy bóng dáng của một tâm hồn thi sĩ, nhiều chiêm nghiệm trước cuộc đời. Những câu thơ cất lên từ trong tâm hồn của những hoài bão, khát vọng, từ những suy tư sâu sắc về thời cuộc, từ một tâm hồn đa cảm, tinh tế. Và trong một lần trở lại chiến trường xưa ông viết:  Những cánh rừng cao su bạt ngàn/ gợi lại cho ta/ một thời trận mạc/ Người lính kiêu hùng/ có trái tim biết hát/ Khúc ca xưa/ vang vọng đến bây giờ...

Vâng, những khúc ca của người lính trong trận mạc sẽ còn mãi trong hành trình dài của đất nước, bởi chính họ đã góp phần viết nên những trang sử hào hùng và bi tráng của dân tộc hôm nay

  Khánh Linh  CAND.COM

Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #407 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2011, 08:49:12 pm »


Thiếu tướng Thạc sĩ Phan Khắc Hải (Phong Hải, 1.12.1941) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm – Đảng ủy viên Cục Chính trị Quân khu 4, Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân – Đảng ủy viên Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, Thường vụ- Phó Tổng thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, Chủ tịch Công đoàn ngành in Việt Nam, Chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam.

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Lao động (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (10.1994).


Ông xuất thân trong một gia đình ngư dân trong làng vạn chài ở vùng biển Lý Hòa, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Quê hương ông là một mảnh đất nghèo, hiếu học. Riêng làng ông đã có tới 5 vị Tiến sĩ được ghi danh trên văn bia tại Quốc Tử Giám. Ngày tháng sinh trong bài viết này là lấy theo hồ sơ, giấy tờ công tác của ông, chứ ba mẹ ông vì nhà đông con mà không nhớ ngày sinh của ông. Tuy nhiên, với tinh thần hiếu học của quê hương, với khát vọng con mình được ghi danh vào sử sách quê nhà, mẹ ông vẫn cố gắng quanh năm đòn gánh nuôi ông ăn học.

Từ lúc còn nhỏ, ông đã theo anh trai đi kháng chiến, lên các vùng tự do ở Tróoc, Cự Nẫm để theo học tại chiến khu. Học hết cấp 2, ông là một trong những thanh niên hiếm hoi của làng, của huyện đỗ vào trường Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh. Hồi đó, cả đặc khu Vĩnh Linh – Quảng Bình chưa có trường cấp 3, cả Hà Tĩnh cũng chỉ có một trường nổi tiếng đó là trường Phan Đình Phùng.

Năm cuối cấp 3, ông được gọi nhập ngũ. Tết năm đó, ông không dám nói với bố mẹ, vì ông là niềm tự hào cũng như kì vọng của gia đình, dòng họ, tiếp nối truyền thống khoa bảng tiến sĩ của quê hương, làng mạc. Ngày ông chính thức nhập ngũ chỉ sau Tết cổ truyền không lâu, nhằm ngày 20 tháng 2 năm 1961. Ông được phân công về đơn vị Trung đoàn 290 Ra-đa Sông Mã trực thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không, đóng quân ở núi Quyết, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Sau thời gian huấn luyện, tháng 10 năm 1963, cấp trên thấy ông có trình độ học thức liền phân công ông làm giáo viên văn hóa của Trung đoàn đồng thời cử ông theo học khóa bồi dưỡng giáo viên của Trường Văn hóa Tổng cục Chính trị.

Cuối năm 1963, trước yêu cầu của chiến trường miền Nam, cấp trên có chỉ thị tuyển một số cán bộ, chiến sĩ có trình độ học vấn đi B. Ông viết thư tình nguyện xung phong và được chọn trong đội hình vượt Trường Sơn của đơn vị trinh sát bộ binh, huấn luyện tại Lữ đoàn 338. Tháng 6 năm 1964, sau một thời gian huấn luyện vô cùng vất vả và khẩn trương, ban ngày học tập chính trị, kỹ chiến thuật bộ binh, trinh sát, sửa chữa vũ khí… ban đêm đeo ba lô luyện tập hành quân, vượt núi, (thời gian này ông làm văn thư rồi quản lý đại đội) ông cùng đơn vị hành quân vượt Trường Sơn vào chiến đấu tại phía Tây Thừa Thiên thuộc Phan khu Bắc Trị Thiên. Tại đây, ngày 3 tháng 5 năm 1964, ông được chuyển Đảng chính thưc sau đúng một năm tròn đứng trong hàng ngũ dự bị Đảng viên. Sau khi được kết nạp Đảng, ông được cấp trên điều về Phòng Chính trị Phân khu Bắc Trị Thiên làm công tác chính trị, tham gia viết báo.

Là phóng viên, biên tập viên rồi phụ trách tờ báo Quân giải phóng của Cục Chính trị Phân khu Bắc Trị Thiên, ông đồng thời là ủy viên Chi hội Văn nghệ Giải phóng khu Trị Thiên Huế. Là phóng viên chiến trường, ông có mặt và tham gia hầu hết những chiến dịch quan trọng trên chiến trường Trị Thiên thời kháng chiến chống Mỹ như : chiến dịch Mậu Thân 1968, chiến dịch Cocava mùa Xuân năm 1969, chiến dịch ở đồng bằng Hương Thủy, Hương Trà, Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào…

Sau chiến dịch Đường 9 Nam Lào, tháng 7 năm 1971, ông được cử đi học đào tạo chính trị viên tiểu đoàn tại Học viện Chính trị ; 7.1972, tiếp tục được cử đi học đào tạo giáo viên nghiên cứu lý luận tại Học viện Chính trị ; 9.1974, ông chuyển về làm biên tập viên Công tác Đảng, công tác chính trị tại tạp chí Quân đội Nhân dân Bộ Quốc phòng, phó bí thư Đảng ủy Toàn soạn tạp chí Quân đội Nhân dân Tổng cục Chính trị, nghiên cứu sinh tại Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc (1977 – 1980).

Tháng 7 năm 1980, sau khi kết thúc khóa nghiên cứu sinh tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, ông tiếp tục trở lại công tác tại tạp chí Quân đội Nhân dân ; 6.1982, biên tập viên rồi phó bí thư Đảng ủy Tòa soạn tạp chí Quân đội Nhân dân ; 10.1988, ông được điều vào Quân khu 4 công tác tại Cục Chính trị với chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị.

Tháng 5 năm 1989, ông ra Hà Nội giữ chức vụ Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân, đảng ủy viên Tổng cục Chính trị, thường vụ Đảng ủy Báo Quân đội Nhân dân. Thời kỳ ông về báo cũng chính là thời điểm đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Báo Quân đội nhân dân với vị thế của mình làm sao để bắt kịp vào nhịp sống đổi mới trên các lĩnh vực của xã hội, của đất nước, vừa thể hiện được quan điểm tư tưởng của Đảng, và nhà nước, vừa thể hiện sự uyển chuyển, phù hợp, kịp thời, thực sự là một bài toán khó mà bao giờ cũng cần có lời giải tốt đẹp nhất.

8.1997, ông chuyển ngành sang làm thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, ủy viên Ban Cán sự Đảng, Bộ Văn hóa Thông tin. Thường vụ Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam (khóa 6), thường vụ phó tổng thư ký, ủy viên Đảng đoàn Hội Nhà báo Việt Nam (khóa 7) ; 1998, Chủ tịch Công đoàn ngành in Việt Nam (1998 – 2003), 2001, chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu (7.2004).

Tham khảo: Báo Công an Nhân dân điện tử

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #408 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2011, 12:29:47 am »


Thiếu tướng Vũ Tần (19.8.1942) từng giữ các chức vụ : Phó Tùy viên Quân sự Việt Nam tại Ba Lan, Cục trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Phòng Đối ngoại Bộ Quốc phòng(?).

Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Hữu nghị do Cộng hòa Liên bang Nga trao tặng…

Thiếu tướng (11.1999)


Ông quê tại xã Lâu Thượng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nhập ngũ ngày 8 tháng 4 năm 1959, được kết nạp vào Đảng tháng 12 năm 1966 (chính thức ngày 13 tháng 9 năm 1967).

4.1959, chiến sĩ, tiểu đội trưởng Tiểu đoàn 3, Sư đoàn 316 tại Lào ; 5.1961, theo học tiếng Nga tại Trường Văn hóa Lạng Sơn ; 6.1964, phiên dịch tiếng Nga cho Học viện Quân sự.

7.1965, phiên dịch tiếng Nga tại Trung đoàn Tê lửa 238, Trung đoàn 285, Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, đại đội phó Tên lửa, Đại đội 1, Tiểu đoàn 72, Trung đoàn Tên lửa 285, Sư đoàn Phòng không 375, Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1970, học viên bổ túc cán bộ tiểu đoàn tên lửa, trung đoàn tên lửa tại Trường Sĩ quan Phòng không ; 7.1971, đại đội trưởng, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 71, Tiểu đoàn 72, Trung đoàn Tên lửa 285, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng Phòng không Không quân ; 7.1972, tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 74, Tiểu đoàn 72, Trung đoàn Tên lửa 285, Sư đoàn Phòng không 363, Quân chủng Phòng không Không quân.

3.1976, học viên nghiệp vụ đối ngoại quân sự ; 7.1977, trợ lý Phòng Nghiệp vụ 1, Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng; 9.1980, phó tùy viên quân sự Việt nam tại Ba Lan ; 8.1984, học viên Học viện Chính trị Quân sự ; 8.1985, phó Phòng Ngoại vụ Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng.

1.1989, trưởng Phòng Quốc tế, Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng kiêm Bí thư Đảng ủy Cục ; 3.1992, phó cục trưởng Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Cục ; 8.1993, học viên Học viện Quốc phòng ; 6.1995, cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng kiêm Bí thư Đảng ủy Cục cho đến khi về hưu (7.2003).



« Sửa lần cuối: 05 Tháng Hai, 2012, 06:51:51 pm gửi bởi daibangden » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #409 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 04:32:49 am »


Thiếu tướng Anh hùng Lê Xuân Tấu (Kim Thanh, 10.9.1944) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Hạ Sĩ qua Xe tăng II, Tư lệnh Binh chủng Tăng – Thiết giáp.

Huân chương Chiến công Giải phóng (hạng Nhì, Ba)… Được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 19 tháng 5 năm 1972 khi đang là thiếu úy, đại đội trưởng Đại đội Xe tăng số 3, Tiểu đoàn Xe tăng số 3, Lữ đoàn Xe tăng 203, Bộ Tư lệnh Tăng – Thiết giáp.

Thiếu tướng (7.2003).


Thiếu tướng Lê Xuân Tấu quê ở xã Đôn Nhân, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông nhập ngũ ngày 5 tháng 4 năm 1963, đươc kết nạp vào Đảng ngày 25 tháng 10 năm 1967.

Từ năm 1968 đến năm 1972, ông cùng đồng đội tham gia đánh 5 trận, trận nào cũng dũng cảm, xông xáo, tích cực tiến công tiêu diệt địch, chỉ huy mưu trí, linh hoạt và chi viện tốt cho đồng đội chiến đấu.

Trong trận đánh địch ở Tà Mây (Quảng Trị) ngày 24 tháng 1 năm 1968, là trưởng xe đi đầu, khi tiến đến, cửa mở, xe bạn bị hỏng, ông nhanh chóng cho xe mình xông thẳng vào vị trí địch, bắn sập nhiều lô cốt và ụ súng. Mặc dù địch chống cự điên cuồng, ông vẫn bình tĩnh, dũng cảm lái xe vượt làn đạn địch, dẫn dắt bộ binh thọc sâu, chia cắt, tiêu diệt gọn một tiểu đoàn địch.
 
Trận đánh địch ở Làng Vây (Quảng Trị) ngày 7 tháng 2 năm 1968, ông chỉ huy trung đội chi viện tốt cho bộ binh diệt gọn quân địch trong khu vực được phân công, sau đó phát triển đánh sang khu vực khác, chi viện đắc lực cho đơn vị bạn.

Trận đánh địch ở Y Tu - Bản Nhích ngày 10 tháng 6 năm 1971, ông là đại đội trưởng, chỉ huy 3 xe tăng cùng bộ binh tiêu diệt gọn quân địch ở Y Tu. Cuối trận đánh, mặc dù 2 xe bị hỏng, song ông vẫn cùng đồng đội trong xe nhanh chóng đưa xe thọc sâu vào Bản Nhích, chi viện cho đơn vị bạn chiến đấu, tiêu diệt toàn bộ 2 tiểu đoàn, 1 đại đội và 2 trung đội nguỵ Lào, góp phần giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven.

Hoà bình lập lại, từ năm 1980 đến năm 1985, ông được cử đi học tại Học Viện xe tăng của Liên Xô ; Từ năm 1986 đến năm 1992, Hiệu trưởng Trường Hạ sĩ quan xe tăng II ; Từ năm 1993 đến năm 2002, Đại tá- Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng, Bộ Tư lênh Tăng-Thiết giáp ; Tháng 7 năm 2003, ông  được phong quân hàm Thiếu tướng - Tư lệnh Binh chủng Tăng-Thiết giáp cho đến khi về hưu (5.2005).

Bài viết: dựa theo Trang Thông tin Điện tử tỉnh Vĩnh Phúc




« Sửa lần cuối: 19 Tháng Ba, 2011, 05:01:08 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM