Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:23:45 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884267 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #430 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2011, 07:24:45 am »

Đại tá Trần Dụ Châu (1906 – 6.9.1950) từng giữ chức vụ Giám đốc Nha Quân nhu trực thuộc Cục Quân nhu (tiền thân của Tổng cục Cung cấp tức Tổng cục Hậu cần ngày nay).

Đại tá (1948), bị tước quân hàm (1950).


Trần Dụ Châu sinh năm 1906 tại một tỉnh miền Trung (có tài liệu nói là Thừa Thiên). Sau khi đỗ tú tài, được chính quyền thực dân Pháp tuyển vào làm thư kí cho Tòa sứ Pháp tại tỉnh. Là người có học thức, Trần Dụ Châu tham gia viết bài cho báo « Thanh Nghệ Tĩnh ». Có tài liệu nói do  vừa đi làm vừa viết báo, sợ bị lộ chuyện công sở Tòa sứ cho Trần Dụ Châu nghỉ việc.Cũng có tài liệu nói do Trần Dụ Châu chủ động xin thôi việc.

Sau khi dời Tòa sứ, Trần Dụ Châu chuyển sang làm nhân viên Quận Hỏa xa Bắc Trung Kỳ, đến khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, 9.3.1945, thì được bổ nhiệm làm trưởng phòng kế toán Quận Hỏa xa Bắc Trung Kỳ.

Cách mạng tháng 8  năm 1945 thành công, Trần Dụ Châu tham gia một cách hăng hái các hoạt động trong các tổ chức cứu quốc, đồng thời tiếp tục công tác trong ngành hỏa xa của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Thời gian này, Trần Dụ Châu hiến cho Chính phủ một phần tài sản của mình và hoạt động trong Ủy ban Công sở, Nha Hỏa xa Việt Nam và Hội Công nhân Cứu quốc Hỏa xa. Theo những lời khai sau này, thì thời gian làm ở Quận Hỏa xa Bắc Trung Kỳ, nhờ quen biết người Nhật, ngày Nhật đảo chính Pháp, Trần Dụ Châu lấy được một kho vải ở huyện Đức Phong (tỉnh Quảng Ngãi ?) bán đi và mua được một căn biệt thự ở Đà Lạt.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, 12.1946, Trần Dụ Châu được điều ra Bắc và được giao một nhiệm vụ hết sức quan trọng là tổ chức vận chuyển một kho hàng lớn gồm hơn ngàn tần gáo muối từ Vân Đình, Hà Đông (Hà Nội ngày nay) lên Việt Bắc giao lại cho ngành hậu cần quân đội. Mặc dù, lúc này đã có dư luận là Trần Dụ Châu bớt xén số hàng được phân công vận chuyển, nhưng do là người năng nổ, tháo vát, có đầu óc kinh doanh, có kinh nghiệp trong công việc và lại là người có học thức, cho nên Trần Dụ Châu tiếp tục được trọng dụng.

Ngày 19 tháng 3 năm 1947, Trần Dụ Châu được điều sang quân đội công tác tại Cục Quân nhu và giữ chức vụ Giám đốc Nha Quân nhu phụ trách thu mua, cung ứng lương thực, quân trang, quân dụng, thuốc men và đạn dược cho các đơn vị bộ đội. Nhờ làm tốt công việc được giao, năm 1948, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên, Trần Dụ Châu được phong quân hàm Đại tá. Lúc đó, Cục Quân nhu do ông Vũ Anh làm cục trưởng chỉ đảm nhiệm chức năng quản lí quản trị, còn Nha Quân nhu mới thực sự là đơn vị trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ sản xuất.

Do hành vi tham ô, nhận hối lộ, lừa trên dối dưới, kết bè kéo cánh, trù dập cán bộ nhân viên dưới quyền và lối sống xa đọa, ngày 5 tháng 9 năm 1950, tại Thái Nguyên, Trần Dụ Châu và bè cánh (Phạm Toàn, Phó của Trần Dụ Châu, và Lê Sĩ Cửu, cán bộ Nha Quân nhu) đã được đưa ra xét xử tại Tòa Án binh do Thiếu tướng Chu Văn Tấn (sau này là Thượng tướng) làm Chánh án và Thiếu tướng Trần Tử Bình làm Công tố viên. Tòa đã tuyên phạt Trần Dụ Châu tử hình và tịch thu ¾ tài sản. Sau đó 15’, Tòa tiếp tục đọc công lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh về việc tước quân hàm của Trần Dụ Châu. Theo quy định, Trần Dụ Châu đã gửi thư xin giảm tội lên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau một đêm thức trắng, đã bác thư của Trần Dụ Châu đồng thời chỉ đạo cho Báo Cứu quốc đăng công khai sự việc vào ngày 27 tháng 9 năm 1950 nhằm làm gương cho các cán bộ và làm yên lòng đồng bào chiến sĩ.

Một ngày sau, tức 6 tháng 9 năm 1950, vào lúc 6 h, Trần Dụ Châu bị đưa ra pháp trường xử bắn, đúng 10 ngày trước khi Chiến dịch Biên Giới diễn ra, trước sự chứng kiến của đại diện Bộ Tư pháp, Nha Công an, Cục Quân nhu và một số cơ quan khác.

Theo cáo trạng và lời khai của Trần Dụ Châu, bè đảng cùng các nhân chứng thì trong thời gian làm Giám đốc Nha Quân nhu Trần Dụ Châu đã biển thủ công quỹ một số tiền lớn so với thời bấy giờ là 57.959 đồng, 149 đôla Mỹ, các tài sản khác trị giá 143.900 đồng. Hồi đó, giá gạo ở Thái Nguyên – Bắc Cạn là 50 đồng/một kg,và chiến sĩ ngoài mặt trận mỗi ngày được cấp vài lạng gạo và hơn 10 đồng tiền thức ăn. Các thủ đoạn Trần Dụ Châu dùng là ăn bớt, cùng bè cánh lập hóa đơn khống, khai man để hưởng phần chên lệch… Ngoài ra, Trần Dụ Châu còn nhận hối lộ, chuyên quyền, độc đoán, sống sa đoạ, đồi truỵ. Uỷ ban Tiếp liệu Thu - Đông 49, các kho số 1, 4, 10 thường xuyên nộp cho Trần Dụ Châu tiền tiêu, rượu, đồ hộp, hải sản khô, thuốc lá, quần áo, chăn len... ; tuyển người, thải người theo sở thích cá nhân, vung tiền bao gái; có lần dùng ôtô công đưa gái đi chơi ở Bắc Cạn ; quan hệ bất chính với một nữ nhân viên, bổ nhiệm làm “bí thư văn phòng” của Nha, làm việc cùng buồng, ăn ở cùng nhà với Châu. Giữa lúc nữ bí thư đi dự lớp huấn luyện thì Trần Dụ Châu lại đưa từ Phú Thọ về cơ quan một cô gái giới thiệu là em nuôi, suốt ngày ở trong buồng riêng của mình dẫn đến một cuộc đánh ghen ầm ĩ. Mỗi lần đi công tác ở Liên khu 10 gồm các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Trần Dụ Châu đều đưa bạn bè đi ăn uống tại các quán ăn sang trọng ở Hanh Cù, tiêu tốn nhiều tiền công quỹ. Tiêu biểu là việc Trần Dụ Châu tổ chức đám cưới cho Bùi Minh Trân, trưởng Ban Mậu dịch của Quân giới Liên khu Việt Bắc tiêu tốn hàng vạn đồng gây dư luận trong đồng bào và chiến sĩ. Báo Cứu quốc lúc đó cũng có bài phê phán chuyện này và nhiều đơn tố cáo cũng xuất hiện từ đây. Trong Nha Quân nhu, những cán bộ chiến sĩ không đồng tình với Trần Dụ Châu, tố cáo lên trên đều bị thẳng tay trù dập, thuyên chuyển, sa thải hay bị Trần Dụ Châu báo cáo lên trên là vu khống, cố ý gây chia rẽ nội bộ, cố ý gây bất lợi cho Cách mạng, Kháng chiến và nhân dân hiểu nhầm….

Theo đánh giá của nhiều người thì Trần Dụ Châu là một trí thức có tài, tinh thông nghiệp vụ nhưng là một người cơ hội chủ nghĩa và khá thức thời. Từ việc chuyển từ Sở Pháp sang Quận hỏa xa Bắc Trung Kỳ, đến việc kết thân với người Nhật rồi nhanh chóng hiến tài sản cho Cách mạng. Đặc biệt, Trần Dụ Châu đã biết lợi dụng chính sách thu hút, trọng dụng trí thức ngoài Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tiến thân rất nhanh trên con đường làm « quan Cách mạng », đề từ đó th   am ô, biển thủ, sống xa đọa… Tuy chỉ bắt đầu tham gia Cách mạng sau ngày 19.8.1945, sau 2 năm, Trần Dụ Châu đã là Đại tá, sĩ quan cao cấp lúc bấy giờ, và đứng đầu một Nha hết sức quan trọng của Quân đội.

Sưu tầm và tổng hợp
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #431 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2011, 05:30:53 am »


Đại tá Phạm Trinh Cán (1912 – 2003) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục Quân pháp Bộ Quốc phòng, Chánh Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu kiêm Chánh án Tòa án binh Trung ương.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời tỉnh Quy Nhơn (tức Bình Định ngày nay), Chánh Văn phòng Bộ Giáo dục, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ (nay là Đại học Ngoại ngữ Đại học Quốc gia  Hà Nội).

Đại tá (1948).


Ông sinh tại xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Lúc còn nhỏ, sau khi học hết trung học và có bằng tú tài, ông tiếp tục theo học ngành luật tại Trường Cao đẳng Đông Dương. Thời gian này, vừa đi học ông vừa đi dạy tư tại Trường Trung học Tư thục Thăng Long cùng các thầy giáo Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai, Phan Thanh, Võ Nguyên Giáp…

Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội rồi được cử vào làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời tỉnh Quy Nhơn (nay là tỉnh Bình Định). Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12.1946), ông lên Chiến khu Việt Bắc. Do trước Cách mạng học Trường Luật, cho nên ông được điều sang Quân đội làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục Quân pháp Bộ Quốc phòng. Năm 1948, trong đợt phong quân hàm tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông vinh dự được phong quân hàm Đại tá. Thời gian làm Cục trưởng Cục Quân pháp, ông được phân công trực tiếp chỉ đạo tiến hành điều tra vụ án Trần Dụ Châu nổi tiếng lúc bấy giờ.

Sau khi kết thúc điều tra và chuyển giao vụ án Trần Dụ Châu về Ban Thanh tra Bộ Quốc phòng, khoảng nửa đầu năm 1950, Đại tá Phạm Trinh Cán thôi giữ chức vụ cục trưởng Cục Quân pháp, chuyển giao chức vụ cho ông Ngô Minh Loan, sang Bộ Tổng Tham mưu giữ chức vụ Chánh Văn phòng kiêm  Chánh án Tòa án binh Trung ương.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông chuyển ngành sang công tác tại Bộ Giáo dục và lần lượt giữ chức vụ Phó rồi Chánh Văn phòng Bộ. Đại tá Phạm Trinh Cán về hưu năm 1973 khi đang giữ chức vụ hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Ngoại ngữ trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Ông mất năm 2004 tại Hà Nội.

Đại tá Phạm Trinh Cán là bố của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, từng là Tổng Thư kí và Phó Chủ tịch của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ.

Tham khảo : Bee.net
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #432 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2011, 05:19:02 pm »


Đại tá Phạm Hoàng (tên thật : Phạm Khắc Hệ, 1911 – 17.9.1979) từng giữ các chức vụ : Cục phó Cục Quân nhu (tiền thân của Tổng cục Cung cấp tức Tổng cục Hậu cần ngày nay), Trung đoàn trưởng (đầu tiên) Trung đoàn Công binh (đầu tiên) 151, Cục trưởng Cục Công binh, Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự (tức Học viện Kỹ thuật Quân sự ngày nay).

Đại tá (1974)


Ông sinh tại xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương trong một gia đình trí thức. Ông nội ông đỗ đại khoa Tiến sĩ Đệ nhị giáp, bố ông đỗ Hậu bổ (đào tạo viên chức hành chính) nhưng không ra làm quan mà ở nhà dậy học.

Năm 1937, ông tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương khóa 8 (1932 – 1937). Sau khi tốt nghiệp, ông là trưởng Phòng Nhà cửa của Hãng Hàng không Đông Dương, cố vấn doanh trại Quân đội Pháp. Là viên chức cao cấp được hưởng mọi chế độ đãi ngộ như một viên chức mang quốc tịch Pháp. Thời bấy giờ, gia đình ông ở tại số nhà 113 Hàng Bạc ngày nay.

Cùng với lớp thanh niên trí thức tiến bộ ngày đó, ông tham gia Cách mạng trong những ngày Tổng khới nghĩa rồi được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Hải Dương. Ngày 22 tháng 9 năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng, rồi được cử đi học tại Trường Ngoại ngữ do Bộ Giáo dục mở tại Việt Bắc. Ngày 3 tháng 10 năm 1947, mở đầu cho cuộc tấn công của thực dân Pháp lên Việt Bắc trong Chiến cuộc Thu Đông 1947, Trường bị máy bay oanh tạc, 45 học viên được phái về cơ quan Trung ương, riêng ông, Phạm Hoàng – trưởng lớp, được điều lên Văn phòng Trung ương Đảng giúp việc cho tổng bí thư Trường Chinh.

Năm 1948, do yêu cầu của cuộc kháng chiến, ông được điều sang công tác bên Quân đội giữ cương vị Cục phó Cục Quân nhu. Thời gian này, chính ông là một trong những người có nhiều ý kiến trái chiều nhất đối với Đại tá Trần Dụ Châu, giám đốc Nha Quân nhu. Tháng 5 năm 1949, ông chuyển sang công tác tại Cục Công binh, là phó cục trưởng. Tháng 1 năm 1951, chuyển thể Cục Công binh thành Trung đoàn Công binh 151, đơn vị công binh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông là trung đoàn trưởng, trực tiếp chỉ huy bộ đội công binh tham gia các chiến dịch lớn từ Biên giới phía Bắc đến Đồng bằng Bắc Bộ rồi tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Năm 1953, Trung đoàn do ông chỉ huy được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí tặng Huân chương Chiến sĩ hạng Nhì (tức Huân chương Chiến công).

Trong cuốn sách « Điện Biên Phủ - Chiến dịch lịch sử », Đại tướng Hoàng Văn Thái viết : Ngày 8 tháng 5 năm 1954, khi thất bại và đầu hàng, từng đoàn tù binh đi trên các trục đường kéo pháo về trại tập trung đã hết sức ngạc nhiên, không hiểu vì sao ta đã làm được những công trình to lớn như vậy sát tập đoàn cứ điểm, họ phải thốt lên: Chỉ với việc làm được những trục đường này, các ông đã thắng chúng tôi rồi… Trung đoàn Trưởng, Trung đoàn 151 Công binh là đồng chí Phạm Hoàng, một kiến trúc sư tham gia Cách mạng từ những ngày đầu Tổng Khởi nghĩa, là một cán bộ có quyết tâm và trách nhiệm cao, có tính kế hoạch chu đáo trong việc làm.

Tháng 8 năm 1954, ông được giao giữ trọng trách chủ nhiệm Cục Công binh. Từ năm 1955 đến 1965, là tham mưu trưởng rồi cục trưởng Cục Công binh. Trong thời gian này, ông là người trực tiếp chỉ đạo, thiết kế hệ thống sân bay quân sự từ Vĩnh Linh đến Yên Bái, từ Kiến An đến Hòa Lạc, Cẩm Thủy, Gát, Thọ Xuân…, các hệ thống sơ tán máy bay, các công trình phòng tránh, kể cả những công trình đào sâu vào trong lòng núi để cất giấu máy bay. Với Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, chính ông cũng là người chỉ đạo, thiết kế bến cảng, cầu tàu, căn cứ xuất phát của những con tầu không số. Rồi các trận địa Ra-đa trên dãy núi Tam Đảo…

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh khi còn sống đã từng nói : Rất hoan nghênh và cảm ơn Bộ tư lệnh Công binh và đồng chí Tư lệnh Phạm Hoàng đã làm được công trình quan trọng này (cầu tàu bến cảng ở Đồ Sơn). Chúng ta có được những công trình như thế này, có được những con người như thế này làm gì mà không đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Bên cạnh các công trình quân sự, Đại tá Phạm Hoàng còn hết sức chú ý đến vấn đề nhà ở cho các đồng bào dân tộc, quy hoạch đường sá, giếng nước, khu nuôi trâu bò, gia súc, khu vệ sinh…, cũng như vấn đề nhà cửa, sinh hoạt, đi lại của người dân Đồng bằng sông Cửu Long.

Từ năm 1965 đến năm 1974, ông là hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự. Năm 1974, ông là ủy viên Hội đồng Quốc gia giám sát Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong 2 năm 1977 đến 1979, ông làm chuyên viên phụ trách thiết kế xây dựng Tổng cục Hàng không Dân dụng, Bộ Quốc phòng cho đến khi mất ngày 17 tháng 9 năm 1979.

Theo Blog "Kiến trúc Việt"
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #433 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2011, 12:25:42 am »


Võ Chí Công (7.8.1912 – 8.9.2011) từng giữ các chức vụ : Chính trị viên  Trung đoàn 93 Liên khu 5, Phó Ban Tổ chức Cán bộ kiêm Thanh tra Liên khu 5, Chính ủy Quân khu 5, Đảng ủy viên Đảng Ủy Quân sự Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng.

Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Bí thư Khu ủy Khu 5, Phó Bí thư Trung ương cục miền Nam, Phó Ban đại diện Trung ương Đảng tại miền Nam phụ trách Khu 5, Bộ trưởng Bộ Hải sản, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp kiêm Trưởng ban Cải cách Nông nghiệp miền Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ (có thời gian gọi là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Chủ tịch nước) ; và là : Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 3 đến khóa 6), Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa 7, 8 ), Ủy viên Bộ Chính trị (khóa 5, 6), Đại biểu Quốc hội (khóa 6 đến 8 ).

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,… Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.


Ông tên thật là Võ Toàn, còn gọi là Năm Công, sinh tại làng Tam Mỹ, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ (nay là thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) trong một gia đình nhà Nho giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Cha ông, cụ Võ Nghiệm,  vừa là thầy giáo dậy chữ đầu tiên vừa là đồng chí đồng đội sau này của ông. Trước Cách mạng tháng 8, cụ Võ Nghiệm tham gia Cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và cũng có thời kì sinh hoạt trong chi bộ Đảng bao gồm anh em họ hàng do con mình lãnh đạo. Chính cụ Võ Nghiệm là người đầu tiên truyền cho con mình lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc thông qua tấm gương của những chí sĩ đất Quảng như : Hoàng Diệu, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Sau khi mất, cụ được Chính phủ truy tặng liệt sĩ ; Mẹ ông, cụ Nguyễn Thị Thân, vừa gánh vác công việc gia đình giúp chồng con yên tâm tham gia Cách mạng, đồng thời cũng là cơ sở hay lui tới của các chiến sĩ Cách mạng trong vùng thời kì tiền khởi nghĩa. Sau này, cụ được Chính phụ phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Ông tham gia hoạt động Cách mạng từ rất sớm, tháng 5 năm 1930, và thuộc lớp những nhà Cách mạng thế hệ thứ 2, những người tham gia Cách mạng sau khi Đảng ra đời. Từ năm 1930 đến năm 1934, ông tham gia vào phong trào thanh niên tại địa phương đo Đảng lãnh đạo. Tháng 5 năm 1935, ông được kết nạp Đảng, và năm 1936,  được cử làm bí thư chi bộ ghép một số tổng của phủ Tam Kỳ. Sau đó, ông lần lượt là : Bí thư Phủ ủy lâm thời Tam Kỳ (đầu 1939), Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam – Đà Nẵng do ông tự động ra các phủ huyện phía bắc của tỉnh tìm mối thành lập lại sau khi Mặt trận Bình dân sụp đổ (3.1940), phụ trách các cơ sở Đảng từ Đà Nẵng đến Phú Yên (10.1941). Đầu năm 1942, thực dân Pháp khủng bố phong trào Cách mạng tại các tỉnh miền Trung, nhiều cán bộ Xứ ủy Trung Kỳ bị bắt, một số tạm thời chuyển vùng hoạt động, bắt liên lạc với cấp trên tiếp tục hoạt động. Ông lánh vào Phan Thiết, Bình Thuận hoạt động, rồi tiếp tục lên Đà Lạt gây dựng cơ sở. Tháng 6  năm 1942, bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Trương Hoàn bị bắt, ông điều về giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy lần thứ 2. Tháng 8 năm 1942, các tỉnh ủy Quảng Nam – Hội An – Đà Nẵng hợp nhất lại, ông tiếp tục được cử làm bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng.

Là một cán bộ cốt cán của Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng, một trong những nơi mà phong trào Cách mạng bị thực dân Pháp đàn áp dã man trong cả nước, ông có công lớn trong việc gây dựng cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng Cách mạng thời kì đầu của Đảng bộ, có đóng góp to lớn làm chuyển biến phong trào của quần chúng. Thời kì hoạt động Cách mạng từ năm 1936 đến năm 1942, ông từng 2 lần bị thực dân Pháp bắt nhưng đều thoát được. Lần thứ nhất đó là khi ông còn làm bí thư chi bộ liên tổng ở phủ Tam Kỳ, cơ sở bị vỡ, có người khai cơ sở Đảng, ông bị bắt, tuy nhiên cha ông nhận ở tù thay. Lần thứ hai, bị bắt và bị tra hỏi, ông không khai, không đủ chứng cứ, thực dân Pháp giam ông 3 tháng rồi phải thả. Tháng 10 năm 1943, do bị phản bội của Cao Tiến Khai được kết nạp bổ sung vào cán bộ thoát li của Tỉnh ủy, ông cùng một số cán bộ Tỉnh ủy như các ông Nguyễn Sắc Kim và Lê Bá bị bắt giam, kết án chung thân, giảm xuống còn 25 năm, giam tại nhà lao Hội An, sau đó bị đày lên Buôn Ma Thuột giam cầm cố không cho ai gặp. Tại đây, ông tham gia nhóm trung kiên cùng các nhà Cách mạng nổi tiếng khác như các ông Nguyễn Chí Thanh, Trần Hữu Dực, Trương Chí Cương và Trần Tống tích cực hoạt động lãnh đạo các hoạt động bí mật trong nhà lao, chống lại tư tưởng dao động có phần hữu khuynh của một số ít người, đồng thời bàn cách vượt ngục. Tháng 5 năm 1944, ông cùng các ông Nguyễn Chí Thanh, Trần Hữu Dực, Trương Chí Cương nhờ các đồng chí cùng giam đánh vào má cho sưng lên, giả bệnh quai bị để được cho ra nằm ở buồng cách ly để thoát. Ở phòng cách ly, tù nhân thường không bị cùm vào buổi tối, không có lính gác và chỉ cần dỡ ngói là ra ngoài nhà giam. Tuy nhiên, không biết vì lí do gì, kế hoạch bị bại lộ, tối đó Pháp cho lính canh phòng cách ly, cuộc vượt ngục bị thất bại. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, nhằm mị dân và lôi kéo người dân Việt Nam, phát-xít Nhật cho thả nhiều tù chính trị, và ông cũng được thả trong đợt này.

Sau khi được thả tự do, ông về Nha Trang rồi nhờ người mua vé tàu về Tam Kỳ, Quảng Nam được phân vào Ban Cứu quốc của Tỉnh bộ Việt Minh Quảng Nam làm trưởng Ban Khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 18 tháng 8 năm 1945, Quảng Nam trở thành 1 trong 4 tỉnh của cả nước giành chính quyền thành công đầu tiên. Cũng cần nói thêm về dấu ấn Võ Chí Công trong việc thành công này. Lúc đầu, ban lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng thống nhất chủ  trương tổ chức quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền ở các phủ huyện trước sau đó mới tập trung lực lượng giành chính quyền ở tỉnh lị Hội An. Tuy nhiên, khi trực tiếp đi thực tế ở Hội An, nhận thấy thời cơ ở đây đã chín muồi, ông đã báo cáo xin kiến nghị Tỉnh ủy thay đổi kế hoạch, khởi nghĩa giành chính quyền ở Hội An trước. Sự thành công của khởi nghĩa ở Hội An ngày 17 tháng 8 năm 1945, khiến cho các phú huyện hoang mang, dẫn đến ngay ngày hôm sau khởi nghĩa nhanh chóng thành công trong toàn bộ tỉnh.

Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông được cử làm Trưởng ty Tư pháp tỉnh Quảng Nam, rồi Chính ủy Trung đoàn 93. Từ năm 1946 đến năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ : Phó Ban Tổ chức Cán bộ và làm thanh tra Liên khu 5 (1946), Bí thư Ban Cán bộ Đông Bắc Cam-pu-chia kiêm Khu ủy viên Khu 5 (1951), Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng (1952), Đoàn ủy viên cải cách ruộng đất ở Việt Bắc (1954). Chính ông là một trong những người phát hiện và báo cáo với Trung ương những sai lầm gây mất đoàn kết ở nông thôn, đồng thời chủ trương không thực hiện cải cách ruộng đất, mà chỉ thực hiện giảm tô, hiến ruộng đất.

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #434 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2011, 12:26:28 am »

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được Trung ương cử « tập kết ngược » trở lại Khu 5 hoạt động bí mật, giữ chức vụ Phó Bí thư Khu ủy. Cuối năm 1957, ông ra Bắc dự hội nghị Bộ Chính trị bàn về tình hình Cách mạng miền Nam. Là một người luôn gắn bó với dân, bám sát thực tiễn Cách mạng miền Nam, ông là một trong những người tích cực ủng hộ đấu tranh vũ trang ở miền Nam, đồng thời đóng góp những ý kiến xác đáng góp phần làm lên Nghị quyết 15 nổi tiếng trong lịch sử. Tên tuổi ông gắn liền với phong trào Đồng khởi tại các tỉnh khu 5 mà nổi tiếng với khúc dạo đầu Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi. Ông đã tổng kết khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi và phát động tại Quảng Nam cũng như trên toàn Nam Trung Bộ. Tháng 9 năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3, ông được bầu vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy Khu 5. Ngày 23 tháng 1 năm 1961, Trung ương Cục miền Nam được thành lập, ông được phân công làm Phó Bí thư Trung ương Cục. Sau khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, năm 1962, ông được bầu là Phó Chủ tịch, đại diện Đảng tại Mặt trận. Năm 1964, trước tình hình Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, mà Quảng Nam Đà Nẵng là một trong những chiến trường trọng điểm, nơi đặt nhiều căn cứ lớn của Mỹ ngụy, trên cương vị Phó Bí thư Trung ương Cục, ông được cử phụ trách Bí thư Khu ủy Khu 5 kiêm Chính ủy Quân khu 5.

Năm 1964, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, có sự khủng hoảng liên tục trong chính quyền ngụy quyền miền Nam ; Dương Văn Minh lên thay rồi bị lật, Nguyễn Khánh và ông Trần Văn Hương lên thay rồi tiếp tục bị lật đổ và thay bằng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ. Thất bại trong chiến tranh đặt biệt, Mỹ tính toán chuyển sang chiến tranh cục bộ, giữa lúc đó, ông từ Trung ương Cục miền Nam về Khu 5, với những kinh nghiệm của Đồng Khởi ở miền Nam, ông góp phần quan trọng lãnh đạo đưa phong trào quần chúng nổi dậy giành thắng lợi, góp phần giành lại nhiều vùng nông thôn, đồng bằng. Trong việc dám đánh và biết cách đánh Mỹ trên chiến trường Khu 5, trên cương vị Bí thư Khu ủy và Chính ủy Quân khu, ông chủ trương củng cố tinh thần, đẩy lùi sự dao động và tư tưởng sợ Mỹ trong đồng bào và chiến sĩ của Khu. Sự trở về Khu 5 của ông gắn liền với phong trào đánh Mỹ, tìm Mỹ mà diệt được phát động trên toàn Khu với sự ra đời của hàng loạt các vành đai diệt Mỹ, căn cứ kháng chiến, cùng với các thắng lợi của quân và dân khu 5 trước Mỹ ngụy ngày càng phát triển với chiến thắng đầu tiên, trận Núi Thành. Thời kì sau Hiệp định Paris, ông và ông Hai Mạnh (tức Đại tướng Chu Huy Mân) đi họp ngoài Trung ương, các ông trong Khu ủy Khu 5 và Quân khu ủy ở lại đã cho thi hành Hiệp định một chiều, làm cho phong trào Cách mạng của Khu gặp nhiều khó khăn, mất đất, mất dân, mất quyền chủ động trên chiến trường. Trở về từ ngoài Bắc mang theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương, ông đã góp phần chỉ đạo chuyển hướng phong trào đi lên.

Sự nắm bắt kịp thời, mau lẹ tình hình để ra quyết lược đúng đắn của ông còn thể hiện trong việc chỉ đạo Khu 5 tham gia vào Chiến dịch Xuân 1975. Tháng 3 năm 1975, sau khi chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi, Bộ Chính trị điện cho ông lên Daklak để gặp các ông Văn Tiến Dũng và Bùi San (khi đó đang là Phó Bí thư Thường vụ Khu ủy, sau này là Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Tiểu ban Dân tộc). Trên đường đi, thấy quân ngụy đã rút khỏi Buôn Ma Thuột và Pleiku, ông thấy rằng thời cơ đã đến lên điện ra xin Bộ Chính trị cho Khu 5 đánh luôn và không lên gặp các ông Văn Tiến Dũng và Bùi San nữa, và về ngay cơ quan Khu ủy họp Thường vụ Khu ủy rồi về ngay Quảng Đà (Quảng Nam Đà Nẵng) để chuẩn bị. Ông chỉ thị : « Một là dùng lực lượng quân sự và chính trị địa phương giải phóng; hai là có Sư đoàn 2 tham gia; thứ ba là phải chờ lực lượng Bộ Tổng tham mưu nhưng nếu chờ thì phải 15 đến 20 ngày mới lật được tình thế. ». Chính nhờ chỉ đạo kịp thời của ông trên cơ sở tình thần tự giải phóng Đà Nẵng đã góp phần nhanh chóng giải phóng thành phố này, đập tan 10 vạn quân ngụy, làm tinh thần ngụy quân sụp đổ nhanh chóng, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam trong một thời gian ngắn.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông được chỉ định là Phó Ban đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ tại miền Nam, trực tiếp chỉ đạo Khu 5. Năm 1976, ông được bầu là đại biểu Quốc hội Khóa 6, giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Hải sản trong Chính phủ Việt Nam thống nhất. Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử vào Bộ Chính trị. Năm 1978, ông là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và là Trưởng Ban cải tạo Nông nghiệp miền Nam. Thời gian này, ông góp phần không nhỏ trong việc khôi phục sản xuất nông nghiệp tại miền Nam vốn bị tiêu điều trì trệ bởi chiến tranh và chính sách ấp chiến lược ấp trù mật của Mỹ ngụy. Tháng 4 năm 1981, ông tiếp tục được bầu vào Quốc hội Khóa 7 và tiếp tục giữ chức vụ Phó Thủ tướng, khi ấy gọi là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 3 năm 1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng kiêm thường trực Ban Bí thư.

Tháng 6 năm 1986, ông tiếp tục được phân công giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 12 năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị và tham gia Quân ủy Trung ương. Tháng 4 năm 1987, ông lại tiếp tục được bầu vào Quốc hội Khóa 8, được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Chủ tịch nước) và là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Sau khi nghỉ hưu, ông tiếp tục là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 7 (6.1991), Khóa 8 (6.1996). Ông mất ngày 8 tháng 9 năm 2011, tại thành phố Hồ Chí Minh hưởng thọ 99 tuổi, sau một thời gian lâm bệnh vì bệnh tuổi già.

Ông là một trong những người đề xuất và góp phần quan trọng, đi đầu và có công đầu vào công cuộc Đổi mới của nước ta. Từ rất sớm, ông đã ủng hộ cải cách hợp tác xã, cởi trói cho người xã viên, tăng tính tự chủ cho họ, là tiền đề quan trọng cho khoán hộ, trực tiếp sau này. Thời kì là bộ trưởng Bộ Hải sản, tư duy đầu tiên của ông là qua mấy chục năm tồn tại các hợp tác xã và quốc doanh đánh bắt cá, quy mô chúng quá lớn cho nên mặc dù có đầy đủ phương tiện nhưng làm ăn ngày càng thua lỗ, không phát triển được vì bị động trước khó khăn của nền kinh tế, gò bó trong cơ chế quản lý bao cấp và luôn ỷ lại Nhà nước... Từ thực tế này, ông đã tìm hiểu và đề nghị Chính phủ cho tổ chức lại các hợp tác xã nghề cá theo thuyền nghề truyền thống, các quốc doanh đánh cá được phép sử dụng phương tiện sẵn có, tự lực, tự lo liệu nhiên liệu, Nhà nước không cung cấp nữa đã góp phần giúp họ tự xóa bỏ bao cấp vươn lên vượt khó, đẩy mạnh hoạt động một cách chủ động đem lại kết quả tự nuôi mình và phát triển.

Đặc biệt trên mặt trận Nông Lâm nghiệp, trong một thời gian dài các xã và quốc doanh làm ăn ngày càng xuống dốc, dần tan rã, xã viên bỏ làm chung hoặc làm nghề khác vì đói kém, tiêu cực. Những năm 1979-1980, một số nơi đã "phá rào" tìm cách "làm chui" bỏ cách khoán đội, khoán việc kiểu cũ, thực hiện khoán hộ hoặc khoán trực tiếp cho người lao động đã đưa lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Trước tình hình này, ông đã luôn trăn trở và quyết định đi đến tận những nơi làm chui, gặp xã viên, khảo sát tình hình thực tế, đặc biệt là Hợp tác xã (HTX) Đồ Sơn (Hải Phòng) nơi làm chui đầu tiên và nhiều HTX ở Thái Bình, Hà Nam Ninh… Từ kinh nghiệm thực tiễn, ông viết thư cho Tỉnh ủy Vĩnh Phú chỉ đạo điểm cách khoán mới này ở HTX Thổ Tang, Vĩnh Tường, là cái nôi của phong trào "làm chui, khoán hộ". Qua sơ kết thí điểm và thực tế nhiều nơi, ông đã ủng hộ cách làm mới này và đề nghị Bộ Chính trị và Chính phủ cho tổ chức lại các HTX nông nghiệp, đồng thời Đảng và Nhà nước có thái độ rõ ủng hộ cách khoán mới trong các HTX. Đến tháng 1 năm 1981, Bộ Chính trị quyết định đổi mới cách khoán trong nông nghiệp, ông được giao nhiệm vụ dự thảo nội dung chỉ thị về việc này. Từ kinh nghiệm thực tế đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, ông được cử làm Trưởng tiểu ban nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và đã đề nghị ban hành nhiều chủ trương và biện pháp đổi mới góp phần quan trọng về đổi mới quản lý kinh tế chung và xây dựng đường lối đổi mới toàn diện.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #435 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2011, 02:31:21 am »


Đỗ Mười (tên thật : Nguyễn Duy Cống, 2.2.1917) từng giữ các chức vụ : Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 3, Chính ủy Quân khu Tả Ngạn, Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hải Phòng.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Nam Định, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu 3, Bí thư Khu ủy Tả Ngạn kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến và Hành chính Khu, Bí thư Thảnh ủy Hải Phòng, Bộ trưởng Bộ Nội thương, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Trưởng Phái đoàn Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng), Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ; và là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 2, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các Khóa 3 đến 8, Ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị Khóa 4, Ủy viên Bộ Chính trị Khóa 5 đến 8, Tổng Bí thư Đảng Khóa 8, Đại biểu Quốc hội Khóa 2, 5 đến 8.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất…, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.


Ông sinh tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội trong một gia đình trung nông, tham gia Cách mạng từ năm 1936, thời kì Mặt trận Bình dân, được kết nạp vào Đảng năm 1939.

Năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù và giam tại Hỏa Lò, Hà Nội ; 3.1945, ông tham gia vượt ngục cùng các ông Trần Đăng Ninh (sau là Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp) và Trần Tử Bình (sau được phong Thiếu tướng trong đợt phong tướng đầu tiên vào năm 1948, Ủy viên Trung ương Đảng và là Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc), tham gia Tỉnh ủy Hà Đông, trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền rồi trở thành Bí thư Tỉnh ủy ở đây (8.1945).

Trong Kháng chiến chống Pháp, từ năm 1946 đến năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Nam Định, Khu ủy viên Khu 3, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Phó Bí thư Liên khu ủy Khu 3 kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Liên khu, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 3, Bí thư Khu ủy Khu Tả Ngạn kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Khu và là Chính ủy Quân khu.

Năm 1955, Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hải Phòng, được bầu bổ sung Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng (3.1955) ; 1956, thứ trưởng Bộ Nội thương, rồi Bộ trưởng (1958) và là đại biểu Quốc hội Khóa 2 ; 1960, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Từ năm 1961 đến 1969, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Trưởng Phái đoàn Thanh tra của Chính phủ ; 1971, Phó Thủ tướng phụ trách Văn phòng Kinh tế Phủ Thủ tướng ; 1973, Bộ trưởng Bộ Xây dựng và là đại biểu Quốc hội Khóa 5 và 6.

Năm 1976, tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời được cử là Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị tiếp tục giữ chức vụ Phó Thủ tướng ; 1977, là phó thủ tướng phụ trách cải tạo Công Thương nghiệp Xã hội Chủ nghĩa, chỉ đạo cải tạo Công Thương nghiệp XHCN tại miền Nam ; 1981, phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng) và được bầu vào Quốc hội Khóa 7 ; 1982, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Năm 1986, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư và là đại biểu Quốc hội Khóa 8 ; 1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ; 1991, tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ; Từ năm 1997 đến 2001, cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Theo Trang Thông tin Đảng Cộng sản Việt Nam
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #436 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2011, 06:09:01 am »


Liệt sĩ Dương Hữu Miên (bí danh : Chính Tâm, 1912 – 2.7.1954) từng giữ các chức vụ : Tham mưu trưởng Tiếp phòng quân Hải Dương, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42, Chỉ huy trưởng Mặt trận Hải Kiến, Chỉ huy trưởng Mặt trận Đường 5, Phó Tư lệnh Khu Tả Ngạn.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.


Ông quê ở xã Quảng Châu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Trước Cách mạng tháng 8, ông từng đi lính khố xanh và làm tới quản cơ. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, ông được cử giữ chức Chỉ huy trưởng Bảo An binh Thái Bình. Là một người có tinh thần yêu nước, trong Cách mạng tháng 8, ông đã đứng về phía Cách mạng, đưa toàn bộ lực lượng Bảo an binh và cảnh sát Thái Bình về với nhân dân góp phần giành chính quyền không tốn một viên đạn. Trước đó, do sự vận động của các cán bộ Việt Minh đặc biệt là ông Nguyễn Tài (tức Nguyễn Tài Khoái hay Tĩnh), ông đã ngầm chuyển cho Việt Minh 50 khẩu súng.

Cách mạng tháng 8 (1945) thành công, ông gia nhập Việt Nam giải phóng quân, sau đổi tên thành Vệ quốc đoàn, và được kết nạp vào Đảng tháng 4 năm 1946. Thời gian này, ông lần lượt giữ các chức vụ : đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng rồi tham mưu trưởng Tiếp phòng quân tỉnh Hải Dương.

Cuối năm 1946, để chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến, ông được điều về Hải Phòng làm trung đoàn phó Trung đoàn 41 (sau đổi tên là Trung đoàn 42) và tham gia vào Ủy ban Bảo vệ thành phố cùng các ông : Đinh Thịnh, Nguyễn Văn Kha, Vũ Quốc Uy, Trần Thành Ngọ. Năm 1947, ông thay ông Đinh Thịnh giữ chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 kiêm chỉ huy trưởng Mặt trận Kiến Hải và đồng thời là chủ tịch Ủy ban Bảo vệ thành phố.  

Ngày 25 tháng 8 năm 1948, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, Liên khu 3 được thành lập bao gồm các tỉnh tả hữu ngạn sông Hồng theo sắc lệnh 120SL do chủ tịch Hồ Chí Minh kí. Trung đoàn 42 là một trong những đơn vị chủ lực của Liên khu 3, hoạt động trong vùng địch hậu gồm các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên và 2 bên bờ sông Luộc, và là đơn vị hoạt động địch hậu xuất sắc nhất của Liên khu.

Tháng 2 năm 1948, nhằm ngăn chặn việc vận chuyển (đường bộ, đường sắt) quân cùng trang thiết bị, vũ khí của quân Pháp từ cảng Hải Phòng lên Hà Nội rồi ra các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, Liên khu ủy Khu 3 quyết định thành lập Mặt trận đường 5 do ông là trung đoàn trưởng, ông Nguyễn Năng Hách, chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Hải Dương làm chính ủy, ông Đặng Tính, Liên khu ủy viên làm Bí thư Đảng ủy. Dưới sự chỉ huy của ông, đường số 5 thật sự là con đường tử địa của thực dân Pháp với huyền thoại « sấm đường 5 ».

Tháng 5 năm 1952, Liên khu 3 được tách thành 2 Khu là Tả Ngạn và Hữu Ngạn. Khu Tả Ngạn do ông Đỗ Mười làm Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến. Khi Khu ủy thành lập Quân khu Tả Ngạn do ông Đỗ Mười làm tư lệnh kiêm chính ủy, Dương Hữu Miên tham gia Đảng ủy Quân khu cùng các ông Văn Tiến Dũng, Nguyễn Khai, là Tư lệnh phó đồng thời tiếp tục là chỉ huy trưởng Mặt trận đường 5.

Dương Hữu Miên hy sinh ngày 2 tháng 7 năm 1954 trong khi đi làm nhiệm vụ. Có thể nói trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động liên tục trong vùng địch hậu đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh, bám dân bám giặc. Theo nguyên tổng bí thư Đỗ Mười thì mặc dù xuất thân là lính khố xanh rồi Bảo an binh, nhưng ông luôn « tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và sự nghiệp Cách mạng của dân tộc. Là người chỉ huy có bản lĩnh, trong tình huống nào cũng bình tĩnh, sáng suốt, gan dạ và có quyết tâm, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, sống chan hòa với cán bộ, chiến sĩ, có nghị lực khắc phục khó khăn trong công tác và sinh hoạt ». Tên của ông đã được đặt tên cho một con phố ở thành phố Hưng Yên, và được ghi trong Từ điển Quân sự Việt Nam.

Theo Nhân vật Lịch sử Hải Phòng tập 3.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Chín, 2011, 03:01:50 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #437 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2011, 04:45:49 am »


Trần Kiên (15.5.1920 – 13h30’ 26.5.2004) từng giữ các chức vụ : Trung đội trưởng Đội Du kích Ba Tơ, Phó Ban Quân sự Khu 5, Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu 5, Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Ngãi, Phó Tư lệnh Quân khu 5 – Thường trực Quân khu ủy – Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 773.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum - Liên tỉnh Ủy viên 4 tỉnh Tây Nguyên, Ủy viên thường vụ Khu ủy Khu 5, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Trung Trung Bộ, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai – Kon Tum, Bí thư Tỉnh ủy Đắc Lắc, Bộ trưởng Bộ Lâm Nghiệp, Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình (Quảng Ngãi + Bình Định), Bí thư Trung ương Đảng – Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương, Đại biểu Quốc hội Khóa 6.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương thành Đồng hạng Nhì, Huân chương Giải phóng hạng Nhất… Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Ông tên thật là Nguyễn Tài, bí danh Quốc Sơn, sinh tại xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình nông dân nghèo, bắt đầu tham gia hoạt động Cách mạng năm 1936, được kết nạp vào Đảng ngày 15 tháng 7 năm 1945, nhập ngũ tháng 3 năm 1945.

Năm 1936, thời kì Mặt trận bình dân, ông hoạt động trong các tổ chức quần chúng hợp pháp, dưới sự  lãnh đạo của Ðảng; làm liên lạc cho cán bộ cách mạng ở  Ba Tơ, rồi tham gia Việt Minh tại địa phương. Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945, ông tham gia Ðội Du kích Ba Tơ, là Tiểu đội trưởng, Trung đội phó, Trung đội trưởng  và tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại Quảng Ngãi.

Cách mạng tháng 8 thành công, ông tiếp tục công tác trong Quân đội, là Ðại đội trưởng, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó rồi Trung đoàn  trưởng ; về Ðảng, là Bí thư cán sự huyện Ðắk Glây, huyện Plei Kon, Tỉnh  ủy viên, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Gia Kon (nay là Gia Lai và  Kon Tum). Cuối năm 1954, ông được phân công ở lại hoạt động ở miền Nam.

Từ cuối năm 1954 đến năm  1960, ông là Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum và Liên tỉnh ủy viên liên tỉnh 4 (Tây  Nguyên) ; Cuối 1960, Phó ban Quân sự Khu 5 ; 1962 – 1964, Khu ủy viên,  Ủy viên Thường vụ Khu ủy 5, Thường trực Quân khu ủy, kiêm Chủ nhiệm  Hậu cần Quân khu 5.

Từ năm 1964 đến 1965, ông là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, kiêm Chính trị viên Tỉnh  đội ; 1966 – 1969, Thường vụ Khu ủy 5, Phó Tư lệnh Quân khu 5, Thường  trực Quân khu ủy, 1970, Thường vụ Khu ủy 5, phụ trách công tác tổ chức ; 1971 – 1975, Thường vụ Khu ủy 5, Cục trưởng Cục Hậu cần  Quân khu 5, Thường trực Quân khu ủy, có thời gian trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Ðoàn 773, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng Trung Trung Bộ.

Tháng 12 năm 1975, ông được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai-Kon Tum ; Tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Ðảng (12.1976), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương ; 1977 - 1978, Bí thư Tỉnh ủy Ðắc Lắc.

Từ năm 1979 đến năm 1980, ông là Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp ; 12.1980, Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình (nay là Quảng Ngãi và Bình Ðịnh) ; Tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Ðảng (3.1982), được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương  bầu vào Ban Bí thư Trung ương và làm Trưởng ban Ủy ban Kiểm tra Trung  ương ; Tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Ðảng (12.1986), ông tiếp được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương  bầu lại vào Ban Bí thư Trung ương và làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra  Trung ương cho đến khi về hưu; Ông là đại biểu Quốc hội Khóa 6.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #438 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2011, 04:17:02 am »


Trần Hữu Dực (15.1.1910 – 21.8.1993) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy (đầu tiên, thời tiền khởi nghĩa) Quảng Trị, Xứ ủy viên Trung Kỳ phụ trách 11 tỉnh Nam Trung Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Quảng Trị, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân (đầu tiên) tỉnh Quảng Trị, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời Trung Bộ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Trung Bộ, Đổng lý sự vự Bộ Nội vụ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước kiêm Trưởng Ban Công tác Nông thôn Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nông trường, Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Bí thư Khu ủy Trị Thiên, Trưởng Ban Công tác Đặc biệt của Đảng và Nhà nước, Phó Thủ thướng Chính phủ, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao ; và là Ủy viên Trung ương Đảng các Khóa 1 đến 4, Đại biểu Quốc hội các Khóa 1 đến 7.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc Lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,…, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Ông sinh tại làng Dương Lệ Đông, tổng An Dạ, phủ Triệu Phong (nay thuộc xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) trong một gia đình nông dân nghèo hiếu học, cả ông nội và cha đều là những nhà Nho trường làng.

Huyện Triệu Phong vốn là cái nôi Cách mạng của tỉnh Quảng Trị và cũng là quê hương của nhiều nhà Cách mạng nổi tiếng như Tổng Bí thư Lê Duẩn, Thiếu tướng Lê Chưởng, Đại tướng Đoàn Khuê, Đại tá Phan Phác, Trung tướng Đoàn Chương… Lúc còn nhỏ, 7 – 8 tuổi, ông đã có dịp tiếp xúc với tư tưởng yêu nước thông qua những người bạn của ông nội ở trong Hội Văn thân khi đến chơi nhà, đàm đạo bình luận, từ chuyện Pháp chiếm Việt Nam đến chuyện khởi nghĩa đánh Pháp, chiếu Cần Vương, rồi chuyện cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu… vả cả về nhà Cách mạng Nguyễn Ái Quốc.

Do hoàn cảnh gia đình, lớn tuổi ông mới được đi học. Cũng chính ông nội là người theo dõi, động viên ông học hành, đồng thời hướng ông tới nhận thức, hành động của một người dân yêu nước. Năm 12 tuổi, ông phải nghỉ học đi làm. Năm 13, 14 tuổi, ông chuyển qua dạy tư, để cho đỡ vất vả và có thời gian nghiên cứu sách vở, tự học mở mang kiến thức. Năm 15 tuổi, ông nội mất, hoàn cảnh gia đình ngày càng khó khăn, sa sút, ông bỏ dạy về quê với ý định đi làm phụ giúp gia đình. Lao động một thời gian, hoàn cảnh gia đình vẫn không khấm khá thêm, lại chứng kiến những bất công diễn ra hàng ngày ở làng xã, ông tiếp tục con đường dạy học tại làng và bắt đầu dấn thân vào con đường Cách mạng khi mới chỉ 15 tuổi.

Năm 1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhà Cách mạng Trần Phú thành lập Hội Phục Việt ở thành phố Vinh, Nghệ An. Cùng thời gian này, tháng 11 năm 1926, sau một thời gian suy nghĩ, tìm tòi hướng đi, Trần Hữu Dực đã tổ chức một cuộc họp tại nhà mình thành lập tổ chức Ái hữu Dân đoàn. Đây là một tổ chức yêu nước, độc lập, không hề chịu ảnh hưởng của bất kì tổ chức đảng phái nào khi đó, nhằm tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt già trẻ gái trai, với mục đích làm cho ngày càng nhiều người dân biết nước mình bị Pháp cướp, phần đông vua quan nhà Nguyễn vì lợi ích của bản thân gia đình mà cam chịu làm tay sai cho Pháp, trong khi đại bộ phận người dân Việt Nam chịu khổ cực, vì vậy người Việt phải cùng nhau, thân ái, đoàn kết đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, xóa bọ chế độ vua quan phong kiến làm cho nước nhà được độc lập phú cường. Hội Ái hữu Dân đoàn tổ chức họp mỗi tháng một lần do ông là nòng cốt, chủ động biên soạn tài liệu, điều lệ hoạt động cũng như nhiệm vụ mục đích của hội. Ở tuổi 16, có thể nói ông nghĩ được như vậy, dám làm như vậy quả thực là hiếm có.

Sau một năm thành lập, Ái hữu Dân đoàn ngày càng phát triển mạnh. Thời gian này, hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lan rộng. Các thành viên của Ái hữu Dân đoàn có điều kiện giao lưu, tiếp xúc và tiếp nhận tư tưởng của Chủ nghĩa Marx Lenin cũng như con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc thông qua tài liệu, sách báo cũng như những bài nói chuyện của hội viên Thanh niên. Đây cũng là giai đoạn mà tư tưởng của Trần Hữu Dực trưởng thành mạnh mẽ, và ngày càng thấy rõ vai trò quan trọng của người nông dân trong công cuộc đánh đuổi thực dân, lật đổ phong kiến. Chính vì vậy, trong quá trình tập hợp lực lượng, ông đặc biệt chú ý đến những người nông dân trong tỉnh, và trên thực tế Hội Ái hữu Dân đoàn đã trở thành tiền thân của Hội Nông dân Quảng Trị. Do chủ trương đúng đắn của ông trong việc chọn lực lượng nòng cốt của hội, mà đến năm 1928, hoạt động của hội đã bướng sang một thời kì mới, mạnh mẽ, hiệu quả hơn, và tinh thần Cách mạng của ông đã được Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Trị chú ý. Sau quá trình tìm hiểu vận động, Tỉnh bộ quyết định kết nạp Ái hữu Dân đoàn.

Tham gia Việt Nam Cách mạng Thanh niên giúp Trần Hữu Dực có dịp tìm hiểu kĩ càng hơn về Marx – Lenin, về Cách mạng Nga, và đặc biệt những số báo Người cùng khổ gửi từ Pháp về nước cùng những bài giảng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong các lớp bồi dưỡng ở Quảng Châu. Từ nhận thức mới, phải và chỉ có thành lập các tổ chức cộng sản mới có thể lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập thắng lợi, tháng 5 năm 1929, ông tham gia thành lập nhóm cộng sản đầu tiên của tỉnh Quảng Trị gồm 7 người trực thuộc Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #439 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2011, 04:17:53 am »

Đầu năm 1929, ông chuyển lên An Tiêm, xã Triệu Thành để dạy học, thức chất là để có điều kiện hoạt động Cách mạng ráo riết hơn. Tháng 6 năm 1929, trong một lần tham gia rải truyền đơn, Trần Hữu Dực bị bắt lần thứ nhất và bị giam tại nhà lao Quảng Trị. Tại đây, ông cùng một số đảng viên cùng các hội viên Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã tổ chức đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù đối với tù nhân, giúp đỡ nhau khi ốm yếu. Đồng thời, ông còn vận động mọi người bớt suất ăn hàng ngày mua giấy bút xuất bản tờ báo Tiến lên do ông làm chủ bút, giới thiệu về Đông Dương Cộng sản Đảng và chủ trương của nó. Tờ báo có tác dụng rất lớn trong việc tuyên truyền và giác ngộ Cách mạng cho quần chúng nhân dân Quảng Trị nhất là tầng lớp thanh niên. Tờ báo đồng thời cũng là tài liệu hướng dẫn cho  những đảng viên bên ngoài lãnh đạo phong trào quần chúng.

Tháng 1 năm 1930, ngay sau khi ra tù, ông nhanh chóng bắt mối với các đảng viên tiếp tục xây dựng và phát triển các cơ sở Đảng, thống nhất nội dung hoạt động của các chi bộ. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản trong nước diễn ra dưới sự chỉ đạo của nhà Cách mạng Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngày 21 tháng 4 năm 1930, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ Quảng Trị được thành lập gồm ông, cùng 2 ông Lê Thế Tiết, Nguyễn Hữu Mão và do ông Lê Thế Tiết làm bí thư. Tháng 10 năm 1930, Tỉnh ủy bị vỡ, 2 ông Lê Thế Tiết và Nguyễn Hữu Mão bị bắt giam, Tỉnh ủy chính thức được thành lập gồm 5 ủy viên do ông làm Bí thư.

Tại phiên họp đầu tiên, Tỉnh ủy do ông lãnh đạo đã đề ra nhiều chủ trương biện pháp để lãnh đạo, phát triển phong trào đấu tranh trong toàn tỉnh Quảng Trị, đồng thời quyết định duy trì tờ Tiến Lên làm cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ, và ra tờ Bạn Dân cày, sau đổi tên thành Mặt trận đỏ (có phụ trang nói về vấn đề Phụ nữ) lưu hành trong các hội quần chúng. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy do ông đứng đầu, phong trào đấu tranh ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh phát triển rất mạnh mẽ. Thực dân Pháp ra sức khủng bổ, nhiều đảng viên bị bắt trong đó có ông. Ông bị kết án 7 năm đày đi Lao Bảo lần thứ hai. Tại Lao Bảo, ông tiếp tục tham gia đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù thực dân, không ngừng tự và giúp các đồng chí của mình giữ vững tinh thần Cách mạng, nâng cao trình độ. Tại đây, ông viết tác phẩm « Các nước trên Thế giới » giúp mọi người mở rộng kiến thức. Đầu năm 1937, thực dân Pháp đày ông lên Buôn Ma Thuột.

Năm 1938, mãn hạn tù, ông trở về quê vừa giải quyết công việc gia đình, vừa tìm hiểu phong trào, bắt liên lạc với tổ chức, chủ động bàn bạc với Tỉnh ủy quyết tâm thoát ly hoạt đông, rồi tham gia Xứ ủy Trung Kỳ phụ trách 11 tỉnh Nam Trung Bộ. Đó là tháng 2 năm 1940, Hội nghị Xứ ủy Trung Kỳ họp để nghiên cứu nghị quyết lần thứ 6 của Trung ương Đảng, quyết định thành lập Mặt trận Phản đế Đồng minh thay cho Mặt trận Dân chủ. Có thể nói rằng Trần Hữu Dực là một trong những nhà Cách mạng bị bộ máy cầm quyền thực dân phong kiến bắt bớ, tra tấn dã man và bỏ tù nhiều năm nhất. Đến năm 1941, do có nội phản, ông tiếp tục bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ 3. Lúc đầu, ông bị giam ở nhà lao Bình Thuận, bị dùng đủ cực hình để tra tấn, không khai thác được gì thực dân Pháp lại đầy ông lên Buôn Ma Thuột. Như vậy trong vòng 15 năm trước Cách mạng, ông đã bị bắt giam 3 lần, bị kết án tổng cộng 29 năm tù, 22 năm quản thúc tại các nhà tù khét tiếng của miền Trung như Quảng Trị, Lao Bảo (2 lần), Buôn Ma Thuột (2 lần).

Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, tù nhân chính trị được thả, ông trở về quê tham gia vào Ban lãnh đạo Tỉnh ủy, gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Cách mạng tháng 8 thành công, ngày 31 tháng 8 năm 1945, ông được bầu vào Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ. Tiếp đó, vào ngày 2 tháng 9, trong cuộc họp các đại biểu Trung Kỳ, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Trung Bộ với sự tín nhiệm tuyệt đối. Thời gian từ năm 1945 đến 1947, Ủy ban Nhân dân Cách mạng Trung Bộ dưới sự lãnh đạo của ông đã góp phần quan trọng vào công việc xây dựng chính quyền Cách mạng ở khu vực Trung Bộ, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị cho hai năm đầu tiên của cuộc Kháng chiến chống Pháp.

Giữa năm 1948, Trần Hữu Dực được Trung ương điều động ra Việt Bắc. Từ năm 1948 đến năm 1950, ông là Ủy viên Đảng Đoàn Chính phủ, Bí thư Đảng bộ các cơ quan Đảng Dân chính Trung ương và là Đổng lý sự vụ Bộ Nội vụ. Từ năm 1950 đến năm 1957, ông được điều sang công tác bên Quân đội giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh, rồi sau Chiến thắng Điện Biên Phủ là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Cuối năm 1957, khi đất nước bắt đầu thành lập Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, ông chuyển ngành khỏi Quân đội và được cử làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban này đồng thời là lãnh đạo đầu tiên góp phần xây dựng ngày thống kê Việt Nam. Năm 1958, ông được phân công làm Trưởng Ban Công tác Nông thôn của Trung ương Đảng, kiêm Trưởng Ban Liên lạc Nông dân toàn quốc. Đầu năm 1960, ông được phân công xây dựng các nông trường quốc doanh, và đứng đầu (Bộ trưởng) ngành kinh tế mới ra đời đó là Bộ Nông trường Quốc doanh. Giữa năm 1962, ông được cử làm Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp Phủ Thủ tướng, kiêm Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp và là Trưởng Ban Phòng chống lụt bão Trung ương.

Năm 1968, ông lên làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Tổng Thư ký Hội đồng Chính phủ kiêm Trưởng Ban Nội chính Trung ương. Năm 1973, ông được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ. Năm 1977, ông chuyển sang Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao giữ chức vụ Viện trưởng. Năm 1982, ông được Quốc hội cử vào Ủy ban Lập pháp cho đến khi về hưu. Trần Hữu Dực là đại biểu Quốc hội liên tục từ Khóa 1 đến Khóa 7, và là Ủy viên Trung ương Đảng từ Khóa 1 đến Khóa 4.

Tham khảo : Báo Quảng Trị, Báo Đảng
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM