Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:05:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884231 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #440 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2011, 05:01:19 am »


Đại tá Hoàng Anh (10.2.1912) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Chính ủy Quân khu Trị Thiên Huế kiêm Bí thư Quân Khu ủy.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Phó Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Thừa Thiên, Bí thư Thừa Thiên, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Phân khu Bình Trị Thiên, Bí thư Liên khu ủy Khu 4, Bộ trưởng Bộ Tài chính kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính Thương nghiệp, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp, Phó Thủ tướng kiêm Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ; và là Đại biểu Quốc hội Khóa 1, 2, 3 và 6, Ủy viên Trung ương Đảng và tham gia Ban Bí thư.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất,…, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1954)


Ông sinh ngày 10 tháng 2 năm 1912, có tài liệu ghi là 28 tháng 3 năm 1911, tại xã Phong Thái, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong một gia đình nông dân, ngoài ra ông còn các bí danh Bình và Hoàng.

15 tuổi, do hoàn cảnh gia đình sa sút, ông nghỉ học ở nhà làm ruộng. Năm 1936, ông tham gia Mặt trận Dân chủ rồi Mặt trận Phản đế Đông Dương đấu tranh hợp pháp đòi quyền lợi cho nhân dân cũng như cải cách sự cai trị của thực dân phong kiến. Năm 1938, Mặt trận Bình dân sụp đổ, thực dân Pháp đàn áp phong trào, ông bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ cùng với các ông Nguyễn Vịnh (tức Đại tướng Nguyễn Chí Thanh), Tố Hữu… và được kết nạp vào Đảng tại đây.

Tháng 5 năm 1945, ông ra tù, bắt liên lạc và tham gia hoạt động trong Mặt trận Việt Minh của tỉnh Thừa Thiên. Ngày 23 tháng 5, ông tham gia Hội nghị Ban Chấp hành Việt Minh tỉnh Thừa Thiên và được bầu vào Ban Thường vụ gồm 5 người gồm ông và các ông Lê Dĩnh, Lê Tự Đồng, Trần Thanh Từ do ông Mỹ Sơn làm bí thư. Trong quá trình chuẩn bị tổng khởi nghĩa, giành chính quyền, ông được Việt Minh Thừa Thiên giao nhiệm vụ tiếp xúc và vận động các bộ trưởng trong Chính phủ thân Nhật do ông Trần Trọng Kim đứng đầu. Ngày 20 tháng 8, ông được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên, ngày 23 tháng 8, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Thừa Thiên được thành lập, ông tiếp tục giữ chức vụ Phó Chủ tịch. Chính ông cùng với ông Phan Tử Lăng (trước Cách mạng là Chỉ huy trưởng Bảo An binh Trung Kỳ, sau tham gia Cách mạng được phong hàm Đại tá trong đợt phong quân hàm tướng đầu tiên, năm 1948, và là Cục trưởng Cục Quân huấn đầu tiên) chỉ huy tổ bắt giữ nhóm nhảy dù của Thiếu tá Castella (đặc phái viên của tướng De Gaulle).

Tháng 1 năm 1946, trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội Khóa 1. Tháng 3 năm đó, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Thừa Thiên. Sau khi Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, tháng 11 năm 1946, ông tham gia Ủy ban Kháng chiến Thừa Thiên. Khi Ủy ban Hành chính Kháng chiến Thừa Thiên được thành lập, ngày 28 tháng 7 năm 1947, ông giữ chức vụ Chủ tịch, rồi giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Bí thư Phân khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Bình Trị Thiên. Năm 1948, ông được chỉ định làm Bí thư Liên Khu ủy Liên khu 4.

Tháng 2 năm 1951, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (tên gọi lúc đó của Đảng) ; 11.1953, được Trung ương điều vào làm Chủ nhiệm Việt Minh Thanh Hóa, tổ chức và chỉ đạo mở đường 41 lên Điện Biên Phủ, chuẩn bị công tác chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ sẽ mở vào đầu năm 1954 ; 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được Trung ương điều sang công tác bên Quân đội với quân hàm Đại tá phụ trách theo dõi thi hành của Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Sau khi kết thúc nhiệm vụ theo dõi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tiếp tục công tác trong Quân đội, giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp (1956 – 1958), đồng thời tham gia Quân ủy Trung ương ; 6.1958, Bộ trưởng Bộ Tài chính và được bầu bổ sung vào Ban Bí thư Trung ương Đảng (11.1958) ; 1960, tiếp tục được bầu vào Quốc hội Khóa 2 (1 trong 4 đại biểu lưu nhiệm của Thừa Thiên), tiếp tục giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính, đồng thời kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính – Thương nghiệp, và tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng cùng Ban Bí thư ; 1.1963, thôi làm Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính Thương nghiệp.

Năm 1964, ông tiếp tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội lưu nhiệm của Thừa Thiên trong Quốc hội Khóa 3, và tiếp tục là Bộ trưởng Bộ Tài chính ; 4.1965, chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp ; 11.1967, thôi chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp quay trở lại Quân đội và được điều động vào làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Trị Thiên Huê cho đến tháng 12 năm 1969 thì thôi luôn chức vụ Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp Trung ương. 


Tháng 4 năm 1971, ông quay về Trung ương và được cử giữ chức vụ Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương (đến tháng 4 năm 1974 thì thôi giữ chức vụ này). Tại Quốc hội Khóa 6, Quốc hội Thống nhất năm 1976, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội và được cử giữ chức vụ Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tháng 2 năm 1977, ông tiếp tục được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính lần thứ 2 và giữ chức vụ này cho đến khi về hưu, tháng 5 năm 1982.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #441 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2011, 03:02:34 pm »


Anh hùng Liệt sĩ Lê Thiệu Huy (6.3.1921 – 21.3.1946) từng giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân Việt Lào.

Huân chương Quân công hạng Ba (truy tặng 1957), Huân chương Độc lập của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (truy tặng 1991).

Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 9.2.2011 theo quyết định 161/QĐ-CTN của Chủ tịch Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.


Ông sinh tại làng Trung Lễ, xã Đức Trung, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình Nho học yêu nước. Ông nội ông là một nhà Nho nghèo. Bố ông, Giáo sư Hán Nôm Lê Thước (13.4.1891 – 1.10.1975), trước Cách mạng, từng đỗ Giải Nguyên Nho học, rồi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương và là giáo sư tại Trường Quốc học Vinh (Nghệ An), Trường Bưởi (Hà Nội), Trường Đào Duy Từ (Thanh Hóa) cũng như Đốc học Lạng Sơn. Trong Kháng chiến chống Pháp, cụ Lê Thước được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban Tăng gia Sản xuất Thanh Hóa, và được bầu vào Ban Chấp hành Mặt trận Liên Việt toàn quốc. Sau năm 1954, cụ về công tác tại Bộ Giáo dục tham gia soạn thảo sách giáo khoa văn, sử, địa… ; đồng tham gia Ban phụ trách Bảo tồn Bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa xây dựng các tủ sách Hán Nôm, tủ hồ sơ di tích lịch sử và danh nhân đất Việt… ; và là một trong những học giả hiếm hoi uyên bác về Hán Nôm của nước ta.

Lúc còn nhỏ, thời kì cụ Lê Thước làm giáo sư tại Trường Quốc học Vinh, ông ở cùng mẹ và ông bà nội tại quê nhà, và được ông nội dạy chữ Nho khi mới lên 5 tuổi. Năm 1927, bố ông được chuyển ra Hà Nội dạy học, ông cùng mẹ ra theo và thi vào lớp 3 Trường Tiểu học Sinh Từ gần Văn Miếu. Tháng 9 năm 1931, ông vào học lớp 9 tại Trường Trung học Bảo hộ mang tên Albert Sarraut (tức Trường Bưởi, hay Trường Chu Văn An ngày nay), cùng học chung với con cái người Pháp. Năm học tiếp theo, do sức học vượt trội hơn hẳn so với các bạn cùng lớp, ông được đặc cách vượt qua lớp 8 vào thẳng lớp 7 (trường Pháp thời bấy giờ tính từ trên xuống dưới). Từ đó đến năm 1940, không năm nào ông không đứng đầu lớp. Tháng 6 năm 1939, ông thi tốt nghiệp tú tài toán học phần một đỗ đầu, hạng ưu, và còn đỗ cả tú tài triết học loại giỏi. Năm 1940, ông tiếp tục thi đậu tú tài phần hai ban toán và triết đạt hạng ưu và khá.

Do luôn luôn đứng đầu lớp trong suốt những năm học tại trường Trung học, ông được bạn bè gọi là « vô địch », và được giới trí thức cũng như học sinh sinh viên cả nước biết tới với biệt danh « Thần đồng Đông Dương ». Do những thành tích như vậy, Toàn quyền Đông Dương đã mời mẹ ông lên gặp mặt, tuyên dương gia đình về dạy dỗ con cái, đồng thời cấp học bổng cho ông qua Pháp học mà không đòi hỏi bất cứ một điều kiện gì. Cần phải nói thêm cho rõ ở đây rằng, thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp chia nước ta ra làm 3 miền với những quy chế khác nhau, miền Bắc và Trung do Nhà Nguyễn cai quản dưới sự bảo hộ của họ, miền Nam trực tiếp cai trị bởi họ. Tại miền Nam, thực dân Pháp hộ trợ và cho đi qua Pháp du học không hề hạn chế, trong khi ở miền Trung và đặc biệt miền Bắc, rất hạn chế, nếu có đi thì phải chịu những ràng buộc ngặt nghèo như nhập quốc tịch Pháp hay về phải làm việc cho Pháp… Cho nên, điều dễ thấy, sau Cách mạng, số lượng trí thức ở Pháp về thường có gốc gác ở trong Nam, và trường hợp của Lê Thiệu Huy là rất hiếm. Tuy nhiên, do chiến tranh Thế giới thứ 2 bùng nổ trên đất Pháp, ông không qua Pháp học được mà ở lại nước học Trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương (nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà nội).

Tháng 6 năm 1942, ông thi đậu cử nhân khoa học, chuyên ngành Toán lý thuyết. Đúng một năm sau, tháng 6 năm 1943, ông tiếp tục thi đậu cử nhân khoa học, chuyên ngành Vật lý và Hóa lý thuyết. Đánh giá về ông, nhà toán học gốc Do thái, Giáo sư Burcher nói « Tôi chưa bao giờ thấy có sinh viên nào xuất chúng hơn Lê Thiệu Huy, và cũng không dám mơ thấy được người thứ hai tài ba đến nhường vậy », còn Giáo sư Hoàng Xuân Hãn nói « Tôi có 2 người học trò, đều quê Đức Thọ. Một là Lê Văn Thiêm, hai là Lê Thiệu Huy, học giỏi ít ai sánh bằng ».

Là một người sẵn lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, Lê Thiệu Huy luôn hướng về các phong trào yêu nước của thanh niên, học sinh, sinh viên lúc bấy giờ như tham gia hướng đạo sinh, hát các bài hát yêu nước, đi xe đạp từ Bắc vào Nam... Lại nói thêm về cụ Lê Thước, trong quá trình dạy học, cụ luôn khéo léo lồng ghép, khơi dậy trong học trò của mình tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc cùng nỗi nhục mất nước cũng như trách nhiệm trước vận mệnh của Tổ quốc. Những hành động và tư tưởng của cụ có những ảnh hưởng mạnh mẽ đối với Lê Thiệu Huy.  

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), do lời khuyên của các trí thức tiến bộ, những huynh trưởng trong phong trào hướng đạo sinh như Tạ Quang Bửu, Phan Anh, và bạn bè ông cùng một số sinh viên rời Hà Nội vào Huế học tại Trường Thanh niên tiền tuyến. Trường Thanh niên tiền tuyến là ngôi trường « xanh vỏ đỏ lòng », bề ngoài do Chính phủ bù nhìn thân Nhật Trần Trọng Kim thành lập, thực chất được lãnh đạo bởi những trí thức yêu nước như Tạ Quang Bửu, Phan Anh, ủng hộ Việt Minh. Nhiều bộ trưởng, tướng lĩnh, cán bộ và sĩ quan cao cấp cùng giáo sư đã xuất thân từ ngôi trường này. Cách mạng tháng Tám nổ ra tại Huế, Lê Thiệu Huy tham gia giành chính quyền tại đây cùng những học viên của Trường Thanh niên tiền tuyến, và họ đóng một vai trò quan trọng then chốt. Ngày 29 tháng 8 năm 1945, ông cùng các học viên đi bộ ra cách Huế 20 cây số bất ngờ bắt 6 người Pháp giả bộ Đồng minh nhảy dù.

Là một người thông thạo và biết nhiều thứ tiếng như Pháp, Anh, La tinh, Trung Quốc và sau này là Lào, Thái, đầu tháng 9 năm 1945, ông được Trung ương gọi ra Hà Nội làm việc tại Bộ Ngoại giao, là thư ký riêng của Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Chí Minh đồng thời được cử làm liên lạc với Phái Bộ Đồng minh.

Tháng 10 năm 1945, ông được Bộ Quốc phòng phái vào Trung Bộ tổ chức phòng thủ con Đường số 9 nối Đông Hà với Savanakhet (Lào). Thời gian này, thực dân Pháp đang lăm le trở lại xâm chiếm toàn bộ Đông Dương, và Mặt trận Đường 9 là một trong những mặt trận trọng điểm, được tổ chức đầu tiên. Lê Thiệu Huy đã cùng đồng đội chiến đấu nhiều trận oanh liệt tại Mường Phìn, Sê Pôn. Ngày 2 tháng 12 năm 1945, ông cùng đồng đội phá tan một căn cứ của Pháp ở Keng Khang (Trung Lào). Ngày 19 tháng 12 năm 1945, ông chỉ huy một đơn vị đập tan cuộc hành binh táo bạo của Pháp định chiếm Mường Phin (Trung Lào). Rời Mặt trận Đường 9, trên cương vị Tham mưu trưởng Liên quân Việt Lào, ông cùng Hoàng thân Suvanuvong tổ chức phòng tuyến bảo vệ Thà Khẹt. Ngày 21 tháng 3 năm 1946, quân Pháp ồ ạt tấn công Thà Khẹt, Liên quân Việt Lào mặc dù chiến đấu anh dũng nhưng lực lượng yếu hơn và trang bị kém phải lui quân. Thà Khẹt thất thủ, Liên quân phải vượt sông Mê Kong rút lui trong điều kiện bị quân Pháp truy đuổi và máy bay bắn phá. Ngày 21 tháng 3 năm 1946, Lê Thiệu Huy hi sinh trong quá trình vượt sông khi lấy thân mình cố gắng chắn đạn cho Hoàng thân Suvanvong. Trong thư chia buồn gửi cho gia đình giáo sư Lê Thước, Hoàng thân viết “Thưa ngài! Anh Lê Thiệu Huy - người con yêu quý bậc nhất của ngài mất đi, không riêng gì gia quyến mất đi một người con yêu dấu nhất mà nước Việt Nam và nhân dân Lào mất đi một người chiến sỹ đầy tinh thần hy sinh vì công lý. Riêng tôi, cái chết của anh Lê Thiệu Huy không khỏi làm cho tôi bùi ngùi, thương tiếc… tinh thần cao cả ấy đã nhắc nhở cho thanh niên Lào, cho nhân dân Lào luôn bền bỉ chiến đấu tiêu diệt đế quốc dành độc lập cho đất nước”.


Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #442 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2011, 03:55:29 am »


Trần Lê (5.2.1921 – 2.4.2003) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu 5, Chính ủy Quân khu 6.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Việt Minh rồi Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, Ủy viên Liên Khu ủy Khu 5, Bí thư Liên tỉnh ủy (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai thượng), Bí thư Khu ủy Khu 6 (Đắc Lắc, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng), Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao ; và là Đại biểu Quốc hội các Khóa 1, 7 ; Ủy viên Trung ương Đảng các Khóa 4, 5.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,…, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Ông tên thật là Lê Tuệ, sinh tại xã Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nông dân. Sớm tiếp thu tư tưởng yêu nước, ông bắt đầu tham gia Cách mạng từ những năm 1936 – 1939, khi còn là học sinh, trong phong trào đấu tranh dân chủ và báo chí công khai do Đảng lãnh đạo. Từ năm 1938, ông tham gia hoạt động trong tổ chức Đoàn Thanh niên Dân chủ của huyện Duy Xuyên, và được kết nạp Đảng tháng 2 năm 1943. Cùng năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt và đày lên nhà lao Buôn Ma Thuột, và bị giam với nhiều nhà Cách mạng nổi tiếng khác.

Tháng 3 năm 1945, lợi dụng thời điểm Nhật đảo chính Pháp, theo sự lãnh đạo của Đảng bộ nhà lao, ông cùng với nhiều tù chính trị khác vượt ngục, chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền. Sau khi liên lạc với tổ chức Đảng, ông được phân công về hoạt động tại tỉnh Bình Định, là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy lâm thời. Cách mạng tháng 8 thành công, ông được chỉ định làm Chủ tịch Việt Minh Bình Định, rồi Bí thư Tỉnh ủy (đầu năm 1946). Trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội Khóa 1.

Trong Kháng chiến chống Pháp, từ năm 1949 đến năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ như : Ủy viên Liên Khu ủy Khu 5, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu 5, phụ trách Trường Đảng Liên Khu ủy Khu 5…

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông không tập kết ra Bắc mà được phân công ở lại chiến trường miền Nam trên cương vị Bí thư Liên tỉnh ủy Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai thượng. Năm 1958, ông ra miền Bắc trong đoàn cán bộ Liên khu 5, tham gia đóng góp vào « Đề cương Cách mạng miền Nam » và dự Hội nghị lần thứ 15 Trung ương Đảng bàn về Cách mạng miền Nam.

Tháng 7 năm 1961, nhằm đáp ứng yêu cầu về xây dựng hành lang chiến lược Bắc Nam thông suốt và từng bước xây dựng vùng căn cứ Nam Trung Bộ gồm cả Nam Tây Nguyên tiếp giáp Đông Nam Bộ, Khu 6 được thành lập gồm các tỉnh Đắc Lắc, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng, ông được Trung ương chỉ định làm Bí thư Khu ủy Khu 6 rồi sau đó kiêm luôn Chính ủy Quân khu 6.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, năm 1976, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng. Tháng 5 năm 1980, ông ra Bắc giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, rồi Viện trưởng (1988) cho đến khi về hưu. Thời gian này, ông lại được bầu vào Quốc hội Khóa 7. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng các Khóa 4 và 5.

Tham khảo: Tạp chí Kiểm sát
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #443 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2011, 04:52:27 pm »


Lê Văn Hiền (1925 – 8h45’ 2.8.2010) từng giữ các chức vụ : Chính trị viên Tỉnh đội Ninh Thuận, Chính trị viên Tỉnh đội Bình Thuận kiêm Trưởng Ban Quân sự, Chính ủy tiền phương A Quân khu 6, Phó Chính ủy thứ Nhất Quân khu 6 kiêm Phó Bí thư Quân khu ủy, quyền Chính ủy Quân khu 6.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận, Thường trực Liên tỉnh ủy 3 (Đắc Lắc, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng), Ủy viên thường vụ, thường trực Khu ủy Khu 6, Bí thư Tỉnh ủy Thuận Hải ; và là Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 4, 5.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì,…, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Ông còn có tên khác là Lê Văn Toàn, sinh tại xã Hòa Vinh, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên trong một gia đình trung nông.

Cuối năm 1944 đầu năm 1945, là cơ sở đơn tuyến hoạt động tại tỉnh Phú Yên ; 3.1945 đến 1.1946, phụ trách Thanh niên Cứu quốc, Tự vệ mật, tham gia Ủy ban khởi nghĩa, Ủy ban Việt Minh, Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
 
Từ 2.1946 đến 3.1946, chuyển qua quân đội công tác tại Đại đoàn 27 ; 4.1946 đến 9.1946, Bí thư Công vận tỉnh, phụ trách Liên hiệp Công đoàn tỉnh, Ủy viên Ủy ban Mặt trận tỉnh Phú Yên ; 10.1946 đến 1.1947, chuyển công tác vào tỉnh Ninh Thuận ; 2.1947 đến 7.1948, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, Tỉnh ủy viên, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Thuận ; 8.1948 đến 7.1949, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận ; 8.1949 đến 7.1950, Ủy viên Thường vụ, Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận, phụ trách Dân vận – Mặt trận.
 
Từ 8.1950 đến 5.1951, thành viên Đoàn đại biểu Đảng bộ Liên khu V dự Đại hội Đảng toàn quốc lần II ; 5.1951 đến 11.1951, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội, Quyền Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận ; 12.1951 đến 8.1954, Bí thư Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh Đội Ninh Thuận.
 
Từ 8.1954 đến 5.1957, được phân công ở lại hoạt động bí mật tại miền Nam là Ủy viên liên Tỉnh ủy 3 (Đắc Lắc, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng), Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận ; 5.1957 đến 4.1960, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa, kiêm Thường trực Liên Tỉnh ủy 3 ; 5.1960 đến 5.1961, Thành viên Đoàn đại biểu Đảng bộ Liên khu V dự Đại hội Đảng toàn quốc lần III.
 
Từ 5.1961 đến 6.1968, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận kiêm Trưởng Ban quân sự, Chính trị viên Tỉnh đội, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VI. Chính ủy tiền phương A Quân khu VI trong chiến dịch Mậu Thân ; 7.1968 đến 10.1968, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu VI, phụ trách Dân vận – Mặt trận;
 
Từ 11.1968 đến 6.1969, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Tiền phương A, Quân khu VI. Tháng 7/1969: Ủy viên Thường vụ, Thường trực Khu ủy Khu VI ; 9.1969 đến 1.1976, Ủy viên Thường vụ Khu ủy, Phó Bí thư Quân khu ủy, Phó Chính ủy thứ nhất Quân khu VI; 3.1974 đến 4.1975, quyền Bí thư Khu ủy, Quyền Chính ủy Quân khu VI.
 
Từ 2.1976 đến 12.1986, Bí thư Tỉnh ủy Thuận Hải; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 4, 5 ; 1.1987 đến 3.1988, giúp Tỉnh ủy Thuận Hải trong lúc chờ Ban Bí thư Trung ương Đảng bố trí công tác ; 4.1988 đến 8.1988, Phái viên, công tác viên Ban Nội chính Trung ương Đảng cho đến khi nghỉ hư (1.9.1988). Sau khi nghỉ hưu, ông tiếp tục làm cộng tác viên cho Ban Nội chính Trung ương đến tháng 12 năm 1992.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #444 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 09:36:34 pm »


Đại tá Anh hùng Nguyễn Hữu Trí (28.12.1926 – 1993) từng giữ các chức vụ : quyền Trưởng phòng Tình báo Chiến lược Miền (J22), Đoàn trưởng Đoàn Tình báo 22 trực thuộc Bộ Tham mưu Quân Giải phóng miền Nam, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự thành phố Hồ Chí Minh.

Huân chương Chiến công (2 hạng Nhì, 2 hạng Ba)…

Ông được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 20 tháng 9 năm 1971, và là người thứ 2 của Ngành Tình báo Chiến lược Quân sự nhận Danh hiệu này sau Đại tá Đinh Thị Vân (1916 – 1995).


Ông tên thật là Nguyễn Văn Bốn, hay còn gọi là Tư Bốn, sinh tại xã Vĩnh Lợi, huyện Gò Công, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình đông anh em có bố là thợ kim hoàn. Ông là con trai thứ ba cho nên thường được gọi là Tư Bốn. Trong Kháng chiến chống Pháp, hai anh trai ông đi bộ đội và đều hy sinh. Một em trai khác của ông cũng đi bộ đội, nhưng do bệnh tật, phải giải ngũ về sống với gia đình tại Sài Gòn (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh).

Ông tham gia Cách mạng tháng 8 năm 1945, gia nhập Cộng hòa vệ binh tháng 10 cùng năm, được ít lâu thì chuyển sang công tác trinh sát. Thời gian đầu của Kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt là trinh sát viên ở Khu 7, tổ trưởng trinh sát thuộc Phòng tham mưu Khu 8, trung đội trưởng trinh sát thuộc Phòng tham mưu Khu 9.

Năm 1949, ông được giao nhiệm vụ tổ chức mua thuốc tây, hóa chất, thuốc nổ, điện đài... ở vùng tạm chiếm và vận chuyển những hàng hóa đó ra vùng căn cứ Khu 9. Không những hoàn thành tốt nhiệm vụ này, ông còn xây dựng được nhiều cơ sở vững chắc ở Sài Gòn và trực tiếp đưa thư từ, tài liệu vận động cách mạng tới một số nhân sĩ, trí thức… Vì vậy mà được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Có lần bị địch bắt và tra tấn rất dã man song ông vẫn kiên trì bảo vệ bình phong, giữ vững khí tiết nên cuối cùng địch phải thả vì không tìm ra chứng cớ để kết tội.

Do những thành tích trong công tác và chiến đấu, tháng 6 năm 1951, ông vinh dự được kết nạp Đảng. Năm 1953, ông được rút về làm Trưởng Ban Hành chính Quản trị của Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, cuối năm 1954 ông tập kết ra Bắc và giữ chức vụ Trưởng Ban Hành chính Trung đoàn 78, rồi được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân. Tháng 12 năm 1959, tốt nghiệp, ông được điều về Cục Tình báo với quân hàm Trung úy, và được huấn luyện tương đối bài bản về chính trị và nghiệp vụ tình báo trong 2 năm 1960 và 1961. Tháng 1 năm 1963, ông theo đường biển vào Nam chiến đấu, rồi được cử là tổ trưởng điệp báo, có nhiệm vụ tạo lập bình phong, chỗ đứng chân, từng bước hợp pháp hóa tại địa bàn Sài Gòn.

Với nhiệm vụ mới, ông tìm lại, rồi mau chóng vận động được em ruột là Nguyễn Hữu Nghĩa tham gia công tác tình báo. Ông còn chắp nối với bà Trịnh Thị Ngọc Sương, người vẫn thủy chung chờ đợi ông gần 10 năm trời. Em ruột bà Sương là Trịnh Hoài Châu thì tham gia công tác tuyên huấn của Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn từ năm 1954, hoạt động trong bộ phận in báo và truyền đơn. Năm 1958, bà Châu bị bắt khi đang là Đảng viên dự bị, đã kiên quyết không khai nhận gì, và được thả vào năm 1962, rồi về nhà vừa lo làm ăn sinh sống vừa tìm cách chắp nối liên lạc với tổ chức. Nguyễn Hữu Nghĩa, Trịnh Thị Ngọc Sương, Trịnh Hoài Châu lập tức trở thành ba cộng sự đắc lực, giúp đỡ ông rất nhiều trong việc phát triển công tác.

Thông qua quan hệ của bản thân và khai thác các mối quan hệ của người thân, bạn bè, ông đã xây dựng được nhiều cơ sở bảo đảm đáng tin cậy như các ông Đỗ Ngọc Diệp (công chức ngành hàng hải), Lâm Văn Tường (chủ xe đò), Lý Sến (tiểu thương), A Khải (kế toán viên), Lê Văn Nghiêm (lái xe tắc-xi), Võ Văn Ngưu (thợ mộc). Nhờ họ mà đêm mùng 1, trưa, chiều mùng 2 tháng 11 năm 1963, bằng 3 bức điện đài, ông đã kịp thời báo cáo Cục Tình báo về tình hình đảo chính lật đổ anh em ông Diệm và Nhu. Tháng 7 năm 1964, khi nhu cầu liên lạc tăng cao, ông đón được điện đài viên Nguyễn Thế Huỳnh vào, làm việc an toàn, có hiệu quả cho tới khi ông Huỳnh được rút về (11.1965). Riêng ông Đỗ Ngọc Diệp dưới sự dìu dắt và chỉ đạo của ông sau này còn trực tiếp xây dựng được điệp viên, và được giao nhiệm vụ như một tổ trưởng điệp báo.

Cũng thông qua quan hệ của bản thân và khai thác các mối quan hệ của người thân, bạn bè mà ông còn tiếp cận được, đồng thời đi sâu quan hệ, chuyển hóa, giác ngộ, từng bước nâng cao nhận thực và trình độ chính trị, nghiệp vụ cho nhiều sĩ quan, công chức ngụy như các ông Trần Văn Bèo, Lê Văn Phủ, Phan Đình Thu, Lê Văn Đức, Trần Văn Lộc, Nguyễn Công Tuấn thành điệp viên trong lưởi của mình. Nhiều người trong số họ đã chui sâu, leo cao trong hàng ngũ địch, đi vào những mục tiêu chiến lược quan trọng. Ví dụ: điệp viên Trần Văn Bèo từ nhân viên Phòng Quân huấn, Trường Sĩ quan Thủ Đức, lên phó ban Quân lực ở Bộ Tổng tham mưu ngụy, thân cận với nhiều tướng lĩnh như Trần Văn Minh, Vĩnh Lộc, Trần Ngọc Tám, Đặng Văn Quang; Điệp viên Lê Văn Phủ từ thiếu úy ở một đơn vị lẻ thuộc Sư đoàn 7 chuyển về Phòng Quản trị - Kế hoạch của Nha tổng giám đốc bảo an, sau lên Trưởng ban Thống kê - Bộ tư lệnh bảo an rồi lên Bộ Tổng tham mưu làm sĩ quan giúp việc cho tướng ngụy Trần Ngọc Tám, phụ tá Tổng Tham mưu trưởng; Trần Văn Lộc từ huấn luyện viên ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung lên làm sĩ quan hành chính - quản trị rồi chủ sự Phòng Hành chính - Quản trị ở Phủ tổng thống, thân cận với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng như Nguyễn Văn Vỹ, Chung Tấn Cang; Trịnh Hoài Châu từ làm ăn bên ngoài vào làm ở Nha Kế hoạch - Bộ Phát triển nông thôn; Nguyễn Hữu Nghĩa từ chạy xe tắc-xi vào làm tài xế riêng cho Đại tá, Trưởng phòng 1 - Bộ Tổng tham mưu ngụy. Họ đã liên tục thu thập được những tin tức, tài liệu có giá trị về nhiều mặt, trong đó có một số tin tức, tài liệu được Cục Tình báo đánh giá là chiến lược, cao sâu.

Bản thân Nguyễn Hữu Trí cũng rất chủ động mở rộng, đi sâu quan hệ nên đã khéo léo khai thác được từ Nguyễn Mộng Bích (Đại tá, giám đốc Nha Quân pháp), Trần Văn Triều (sĩ quan không quân), Hồ Văn Tiêu (nhân vật Công giáo), Nguyễn Hữu Lương (nhân vật Phật giáo), Lê Thương (nhạc sĩ)... được nhiều tin tức, tài liệu có giá trị về quân sự, chính trị của Mỹ ngụy. Từ năm 1963 đến năm 1970, lưới điệp báo của ông đã có vai trò như một trong vài lưới hiệu lực chủ yếu của tình báo chiến lược về quân sự. Đặc biệt, tuy số lượng điệp viên, quan hệ điệp báo, cơ sở bảo đảm... của lưới là khá lớn và nhiều người được xây dựng thông qua quan hệ “bắc cầu” song ông vẫn bảo đảm tốt yêu cầu cự ly, đơn tuyến trong lưới, vì vậy mà khi một nữ giao thông viên nối lưới với trung tâm chỉ huy bị nghi ngờ, bắt giữ cùng tài liệu đã không lây lan rộng.

Cuối tháng 4 năm 1970, ông được trên rút ra vùng giải phóng để bảo đảm an toàn, và được bổ nhiệm Phó phòng Tình báo chiến lược miền (J22) tháng 2 năm 1971. Đầu năm 1973, ông được cử phụ trách Ban Tình báo ngoại giao của Phòng và tham gia Đoàn Đại biểu Quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ủy ban Quân sự 4 bên, vào làm việc tại trại David ở Sài Gòn. Giữa năm 1973, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông lại trở về vùng giải phóng, làm phó phòng rồi từ tháng 4 năm 1974 làm quyền trưởng phòng Tình báo chiến lược miền. Tháng 12 năm 1974, khi Phòng Tình báo chiến lược miền chuyển thành Đoàn tình báo 22 thuộc Bộ tham mưu miền, ông được bổ nhiệm quyền đoàn trưởng. Trên những cương vị ấy, ông đã lãnh đạo, chỉ huy lực lượng tình báo chiến lược miền hoàn thành tốt nhiệm vụ nắm địch, phục vụ chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và điều tra mục tiêu, chuẩn bị cho bộ đội tác chiến trong những năm tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, ông tiếp tục công tác trong ngành tình báo một thời gian rồi chuyển sang làm Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi về hưu.

Theo Báo Quân đội Nhân dân Điện tử.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #445 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2011, 06:43:15 am »


Thiếu tướng Lê Đình Thiệp (1.1.1914 – 20.3.1988) từng giữ các chức vụ : Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 349, Phó Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Trường chỉnh huấn cán bộ trung cao Quân đội, Phó Chính ủy kiêm Phó Bí thư Quân khu ủy Quân khu Việt Bắc, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Tây Bắc, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, Bí thư Đảng ủy Đảng bộ Tổng cục Chính trị, Bí thư Ban cán sự Việt Kiểm sát Quân sự Trung ương, Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị Quân sự.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Bí thư Huyện ủy Đông Anh (Hà Nội), Thường vụ Tỉnh ủy Phúc Yên, Phái viên kiểm tra Liên khu Việt Bắc, Thường vụ Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Lao động & Thương binh & Xã hội)

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 15.4.2011), Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,…, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1961 ?)


Ông sinh tại thôn Du La, xã Cẩm Chế, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương trong một gia đình nông dân nghèo. Tham gia Cách mạng tháng 3 năm 1937, được kết nạp vào Đảng tháng 10 năm 1939.

Từ 3.1937 đến 10.1939, tham gia Hội ái hữu thợ giặt, Tự vệ Đỏ của thành phố Hà Nội, và gia nhập Đoàn Thanh niên phản đế ; 11.1939 đến 12.1958, ông lần lượt là : Bí thư Chi bộ phố Hàng Mành, Ủy viên Ban Chấp hành Công hội Đỏ thành phố Hà Nội, phụ trách binh vận ở tổng Sơn Tây, công tác tại Ban Kinh tế và Ban Công tác Đội bảo vệ an toàn khu của Trung ương, Bí thư Huyện ủy Đông Anh, Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên, phái viên kiểm tra Liên khu Việt Bắc, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 349, Phó Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Trường Chỉnh huấn cán bộ trung cao Quân đội, Phó Chính ủy kiêm Phó Bí thư Quân khu ủy Việt Bắc.

Từ 1958 đến 8.1969, giữ các chức vụ : Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu tự trị Việt Bắc, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Tây Bắc, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, Bí thư Đảng ủy Đảng bộ Tổng cục Chính trị, Bí thư Ban Cán sự Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương, Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Chính trị Quân sự.

Tháng 9.1969, chuyển ngành giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Nội vụ(nay là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) cho đến khi về hưu tháng 7 năm 1977.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #446 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2011, 04:34:59 am »


Đại tá Hà Kế Tấn (1914 – 1997) từng giữ các chức vụ : Thường vụ Quân khu ủy Khu Việt Bắc, Chính ủy Mặt trận Đường 4 kiêm Chính ủy Trung đoàn 28 Lạng Sơn, Tư lệnh Liên khu 3 kiêm Thường vụ Khu ủy, Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy (đầu tiên) Đại đoàn 350 (nay là Đoàn B50) bảo vệ Trung ương và Hà Nội, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ : Trưởng Ban Công vận Xứ ủy Bắc Kỳ, Trưởng Ban Chỉ huy Công trường Bắc Hưng Hải, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi kiêm Chủ nhiệm Ủy ban trị thủy và khai thác sông Hồng, Bộ trưởng đặc trách khởi công công trình Thủy điện sông Đà, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Bí thư Ban cán sự Tòa án Nhân dân tối cao kiêm Chánh án ; và là Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 3 (dự khuyết), 4.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất,…, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1958).


Ông sinh ngày 1 tháng 1 năm 1914 (có tài liệu ghi 1912) tại làng Mông Phụ, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội). Quê hương ông là một vùng địa linh nhân kiệt, với các tên tuổi như : Bố cái Đại vương Phùng Hưng, Tiên vương Ngô Quyền, Thám hoa Giang Văn Minh, Phó bảng Kiều Oánh Mậu, và Khâm sai Đại thần Phan Kế Toại (sau là Phó Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Bố ông vốn làm nghề thợ mộc, là một tay thợ có tiếng trong vùng, chuyên việc tu sửa đình, chùa, cầu, và đóng đồ gỗ dân dụng, từng được quan lại và nhân dân trong vùng phong làm « mục xứ ». Thuở nhỏ, mẹ ông mất sớm, ông thường theo bố đi khắp nơi hành nghề, ở các làng quê, có khi ra khỏi thị xã Sơn Tây, lên tận Phú Thọ để nhận làm công cho một xưởng đóng gỗ kiểu mới với tiền công rẻ mạt.

Năm 1936, ông về Hà Nội tìm việc làm cùng một số người bạn giữa lúc Đảng đang lãnh đạo phong trào đấu tranh dân chủ phát triển rộng khắp. Bên Pháp, Mặt trận bình dân lên cầm quyền. Thời gian này, ông bắt đầu giác ngộ Cách mạng, và tham gia cùng một số bạn bè vận động cho phong trào Đông Dương đại hội, rồi ra nhập Nghiệp đoàn để đi vận động công nhân trong các công xưởng, nhà máy; mua đọc báo Tin tức, Bạn dân, Ngày nay, và vận động các tầng lớp cá nhân quyên tiền bạc ủng hộ báo Đảng cùng nhà Cách mạng Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam); tổ chức huấn luyện cho các nhóm công nhân có tình cảm về giai cấp vô sản, sơ giải các phương pháp tổ chức đấu tranh và vận động nhân dân, bầu đồng chí Khuất Duy Tiến vào Nghị viện Thành phố Hà Nội và đồng chí Phan Thanh (quê ở Quảng Nam) vào Nghị viện Dân biểu Bắc Kỳ. Tháng 6 năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng, sau đó được tổ chức bầu cử vào ban lãnh đạo Nghiệp đoàn của các giới lao động ở Hà Nội và trực tiếp vận động phong trào gồm giới thợ xẻ và thợ mộc, được cử vào Ban lãnh đạo công nhân đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện đời sống, chống đánh đập, phân biệt đối xử, tạo quyền bình đẳng.

Cuối tháng 4 năm 1940, ông bị mật thám bắt và bị đày lên giam giữ tại Căng Bá Vân cùng giam với nhiều nhà Cách mạng khác như Trần Huy Liệu, Đào Gia Lựu, Vương Thừa Vũ, Bùi Lâm… Ở trong tù, ông không ngừng đấu tranh, tập hợp các đồng chí để cùng sinh hoạt và tổ chức đấu tranh đòi cai ngục trả đủ tiêu chuẩn, thả những người bị bắt oan sai, sinh hoạt khám chữa bệnh, nghỉ ngơi và tổ chức 8 ngày tuyệt thực khiến cho thực dân Pháp phải chùn tay. Tháng 8 năm 1944, theo chỉ thị của Trung ương và quyết định của tổ chức, ông được bố trí vượt ngục, ra ngoài hoạt động bí mật và được Trung ương Đảng cử làm trưởng ban công vận xứ uỷ Bắc Kỳ.

Đầu tháng 5 năm 1945, ông được phân công phụ trách hai tỉnh: Nam Định và Hà Nam. Sau đó, được Trung ương điều động làm Thường vụ Liên khu uỷ, phụ trách việc xây dựng các lực lượng quân sự toàn Lhu Việt Bắc, trực tiếp làm Chính uỷ mặt trận đường số 4, kiêm Chính uỷ Trung đoàn 28 Lạng Sơn, rồi được giao nhiệm vụ đi chuẩn bị mở chiến dịch đường số 18 (Hoàng Hoa Thám), và chiến dịch Quang Trung (Liên khu 3). Sau khi chiến dịch Quang Trung, Trung ương Đảng lại quyết định cử ông tham gia Thường vụ khu uỷ và trực tiếp làm Tư lệnh Liên khu 3. Tháng 5 năm 1954, Liên khu 3 đã có những trận đánh thắng lợi, để phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ tư lệnh Liên khu đã trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy lực lượng chiến đấu từng bước để giải phóng hoàn toàn các tỉnh thuộc Liên khu, ông chỉ huy bộ đội lần thứ 2 tiến vào giải phóng Thành phố Nam Định, sau đó lại trực tiếp truy kích quân Pháp lên tận đường số 6.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hoà bình được lập lại ở miền Bắc, ông được Trung ương Đảng giao cho nhiệm vụ tổ chức Đại đoàn 350 (nay là Đoàn B50) bảo vệ Trung ương và Hà Nội và trực tiếp làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ. Sau đó, trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, Miền Bắc phải khẩn trương khắc phục hậu quả chiến  tranh, xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và công cuộc cải tạo xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, ông được Trung ương quyết định cử làm Trưởng Ban Chỉ huy Công trường Bắc Hưng Hải (công trình trị thuỷ đầu tiên của miền Bắc) với nội dung và ý nghĩa kết quả lớn nhằm khai thác trị thuỷ sông Hồng tại địa phận 3 tỉnh: Bắc Ninh – Hải Dương- Hưng Yên.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9.1960), ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng, sau đó được Quốc hội cử vào trọng trách mới Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban trị thuỷ và khai thác sông Hồng và được cử làm Bộ trưởng đặc trách việc khởi công công trình thuỷ điện sông Đà. Ngày 1 tháng 4 năm 1980, ông được Trung ương có quyết định thôi giữ chức Bộ trưởng phủ Thủ tướng để làm Bí thư Ban cán sự Toà án nhân dân tối cao và trực tiếp đảm nhận chức Chánh án cho đến khi nghỉ hưu. Tại Đại hội Hội cựu chiến binh Thành phố Hà Nội ( năm 1993), ông được Đại hội suy tôn và bầu là chủ tịch Hội Cựu chiến binh Thành phố.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #447 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2011, 07:03:32 am »


Nguyễn Ngọc Bích (18.5.1911 – 4.12.1966) từng giữ chức vụ Khu bộ phó Khu 9. Ngoài ra, ông còn là Đại biểu Quốc hội Khóa I - Ủy viên Thường vụ Quốc hội.

Kỹ sư, Bác sỹ Nguyễn Ngọc Bích sinh tại làng An Hội, tổng Bảo Hựu, huyện Bảo An, nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ông là con thứ Tư trong số 8 người con của nhân sĩ Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951), người từng giữ đến chức vụ Đốc phủ sứ trong chính quyền Phong kiến Thực dân, Giáo tông của đạo Cao Đài, và được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) truy tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất do những công lao của ông hướng đạo Cao Đài đi theo Kháng chiến. Em ông, Kỹ sư Liệt sỹ Nguyễn Ngọc Nhựt (1918-1952) từng du học tại Pháp và là Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ.

Khi còn nhỏ, ông ở cùng với bố, sinh sống ở nhiều nơi như Cần Thơ, Hà Tiên, Cần Giuộc và chủ yếu học tại Cần Giuộc. Năm 1926, 15 tuổi, ông lên Sài Gòn (nay là tp. Hồ Chí Minh) học và tốt nghiệp tú tài với số điểm rất cao, được đi du học bên Pháp. Tại Pháp, ông lần lượt học và lấy bằng kỹ sư của các trường Bách khoa Paris, Cầu đường Paris. Đây là 2 trường đại học danh tiếng của nước Pháp, cũng như trên Thế giới từ trước đến nay.

Sau khi tốt nghiệp, ông về nước làm việc cho chính quyền bảo hộ, tại Sở Thủy lợi Sóc Trăng cho đến ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945). Sau Cách mạng tháng Tám rồi Nam Bộ Kháng chiến (23.9.1945), ông tham gia Kháng chiến ở khu căn cứ Sóc Trăng, phụ trách các đơn vị làm nhiệm vụ phá cầu, đường (như các cầu Cái Răng, Nhu Gia…) chặn bước tiến của quân Pháp của các Tướng Valluy, Nyo…, rồi được cử làm Khu Bộ phó Khu 9.

Tháng 7 năm 1946, trên đường lên Đà Lạt dự Hội nghị Sơ bộ Việt Pháp để chuẩn bị cho Hội nghị Fontainebleau sẽ diễn ra ở Pháp, ông bị thực dân Pháp bắt. Bị tra tấn và mặc dù dấu tung tích, nhưng người Pháp vẫn nhận ra ông sau một thời gian. Tướng Boyer de Latour tức giận định đưa ông ra Tòa án Tối cao xử tử hình với tội danh phản bội đất nước do ông có quốc tịch Pháp. Tuy nhiên, do trong Hội nghị Sơ bộ có điều khoản trao đổi tù binh, đồng thời do tác động của bạn bè của ông ở bên Pháp, thực dân Pháp buộc phải trả lại ông vào danh sách tù binh và buộc phải quay trở lại Pháp vào năm 1948.

Trở lại Pháp, ông kết hôn với bà Henriette Bui, người được coi là nữ bác sỹ đầu tiên của Việt Nam.  Thời gian đầu mới qua lại, ông mở hiệu sách rồi theo học ngành Y. Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp Y khoa, nhận bằng bác sỹ, ông không hành nghề mà ở lại dạy Vật Lý tại Trường Y cho tới khi qua đời, sau này, gia đình ông đưa hài cốt về Việt Nam.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #448 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2011, 06:30:37 am »


Liệt sỹ Đàm Minh Viễn (1919-1946) từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Tham mưu Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ. Ngoài ra, ông là người đã tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên, Đội Nhi đồng Cứu quốc đầu tiên, Bí thư Tỉnh đoàn Thanh niên Cứu quốc Cao Bằng đầu tiên, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn. Ông là một trong 40 học trò được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp rèn luyện, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào Cách mạng Việt Nam thời kỳ tiền Khởi nghĩa.

Ông tên thật là Đàm Văn Lân, ngoài ra còn có bí danh là Đức Thanh, Minh Viễn và Kỹ Sư, sinh tại làng Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng trong một gia đình dân tộc Tày giàu truyền thống yêu nước. Gia đình ông có 7 anh em, trong đó người anh cả là Đàm Văn Lý (bí danh là Quý Quân) sinh năm 1915, tham gia Cách mạng từ rất sớm, vào Đảng năm 1932, năm 1936 là Châu Ủy viên Hà Quảng, năm 1939 bị bắt và đầy lên Sơn La, năm 1940 lãnh đạo tổ chức vượt ngục nhưng bị bắt lại rồi bị sát hại ; người em út của ông là Đàm Ngọc Lưu tức Thượng tướng Đàm Quang Trung, sau này là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (tức Phó Chủ tịch nước bây giờ).

Nà Nghiềng là từ được đọc chệch từ từ Nà Nghèng  trong tiếng Tày, có nghĩa là ngang ngạnh, là vùng đích nổi tiếng « nghịch » từ xưa. Đến thời tiền Khởi nghĩa vẫn mang tiếng « nghèng » nhưng với ý nghĩa kiên cường, không chịu khuất phục trước cường quyền, bạo lực. Phong trào chống Pháp ở Nà Nghiềng nói riêng và Hà Quảng nói chung có từ rất sớm. Ngôi làng này đã sinh ra nhiều nhà Cách mạng, tướng lĩnh và lãnh đạo cấp cao sau này ví dụ như : Thiếu tướng Lê Quảng Ba tức Đàm Văn Mông, anh em Đàm Minh Viễn, Đàm Quang Trung…; rồi Liệt sỹ Đàm Văn Nhủng tức Xuân Trường, 1 trong 34 người có mặt trong ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, được ghi nhận là Liệt sỹ đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam kể từ ngày 22.12.1944 trở về sau.

Là người được học hành từ nhỏ, ông theo anh trai là Đàm Văn Lý tham gia hoạt động Cách mạng từ rất sớm, năm 1930 khi ông mới 11 tuổi. Đó là tháng 6 năm 1930 khi chi bộ Đảng đầu tiên của Cao Bằng ra đời, rồi năm 1935 Châu ủy Hà Quảng được thành lập, mà anh trai ông giữ vai trò nòng cốt, ông là một trong những người đi đầu trong phong trào, tự nguyện đến những vùng sâu, vùng xa và khó khăn để tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia, ủng hộ Cách mạng.

Cuối năm 1936, đầu năm 1937, trong Phong trào « Đông Dương đại hội » ông nhiệt tình tham gia kêu gọi đồng bào các dân tộc trong vùng góp tiền, gạo, làm đơn để đoàn đại biểu của châu do anh trai ông dẫn đầu về Hà Nội gặp thống sứ đòi giảm thuế thân. Do thực dân Pháp đàn áp, khủng bố ác liệt, ông cùng một số cán bộ cốt cán sang Trung Quốc hoạt động, được dự lớp huấn luyện cán bộ ở Tĩnh Tây do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… giảng dạy.

Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, sống và làm việc tại hang Pác Bó, ông được trực tiếp sống và làm việc cùng lãnh tụ, được giao nhiệm vụ soạn thảo Điều lệ Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Sau đó, ông lại trực tiếp đem bản điều lệ này đi phổ biến, tuyên truyền, và giác ngộ một nhóm thanh niên đầu tiên tại Nà Mạ, xã Trường Hà (Hà Quảng) gồm các ông : Bát Ngư, Phục Quốc, Phục Hưng…

Sau đó, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ngày 20.4.1941, Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên ra đời do ông làm Bí thư, đồng có nhiệm vụ thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc trong cả nước. Cùng với nhiệm vụ thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc, ông còn có nhiệm vụ tuyên truyền, giác ngộ Cách mạng cho thiếu niên, nhi đồng, và ngày 15.5.1941, ông đã tổ chức Đội Nhi đồng Cứu quốc đầu tiên do Nông Văn Dền (tức Kim Đồng) làm đội trưởng. Thời gian này, để dễ bề hoạt động, ông sang Trung Quốc học nghề xiếc và nhận bán thuốc cho hiệu thuốc Hồng Khê chữa các bệnh thông thường. Vừa biểu diễn xiếc, vừa rao bán thuốc, ông đã thu hút rất đông thanh thiếu niên từ các thôn bản đến xem, từ đó có điều kiện nắm tình hình, tìm ra những thanh niên tốt để kết bạn, giác ngộ Cách mạng hoặc tranh thủ sự ủng hộ của họ.

Tháng 6 năm 1941, Đảng bộ Hà Quảng tổ chức Đại hội lần thứ I, Đàm Minh Viễn và các ông Lê Quảng Ba, Hoàng Tô, Hoàng Sâm (sau là Thiếu tướng), Thụy Hùng được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ huyện. Cuối năm 1941, thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tỉnh ủy Cao Bằng thành lập Đội Du kích tập trung do ông Lê Quảng Ba làm Đội trưởng, ông là một trong 12 đội viên đầu tiên. Tháng 8 năm 1942, Đại hội đại biểu Việt Minh châu Hà Quảng đã tín nhiệm bầu ông và các ông Hoàng Tô, Nông Thị Trưng, Dương Đại Lâm (sau là Đại tá), Tư Bào vào Ban Việt Minh châu Hà Quảng, riêng ông được phân công phụ trách Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội Nhi đồng Cứu quốc.

Tháng 11 năm 1942, tại Đại hội đại biểu Việt Minh toàn tỉnh lần thứ I đã bầu Ban Việt Minh tỉnh và bầu Ban Chấp hành các hội Cứu quốc, ông lại được bầu vào Ban Việt Minh, giữ chức Bí thư Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh. Trước yêu cầu phát triển ngày càng mạnh của phong trào Đoàn Thanh niên Cứu quốc cả tỉnh, Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn tỉnh (ngày 22 tháng 12 năm 1942) đã bầu Đàm Minh Viễn làm Bí thư Tỉnh đoàn (đầu tiên) thanh niên Cứu quốc tỉnh.

Giữa năm 1943, thực hiện chủ trương của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, của liên Tỉnh ủy Cao Bắc Lạng và của Nghị quyết Đại hội đại biểu Việt Minh toàn tỉnh lần thứ Nhất, Huyện ủy Hà Quảng thành lập Các đội Nam tiến, Đông tiến, Tây tiến phối hợp với 19 đội khác trong tỉnh xuất phát từ Cao Bằng tiến về Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang nhằm nối liền căn cứ địa Cao Bằng với các tỉnh trung du và miền xuôi. Đàm Minh Viễn được giao nhiệm vụ tham gia lãnh đạo Đội Đông tiến về Lạng Sơn,  sau đó tiếp tục hoạt động, củng cố, xây dựng và phát triển phong trào cách mạng, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền ở đây.

Là một người có năng lực và xông xáo nên công việc Nam tiến ở Lạng Sơn phát triển rất nhanh. Chỉ trong thời gian ngắn, các tổ chức Việt Minh ở Xuân Sơn được củng cố và phát triển đến các vùng thuộc châu Thạch An, như Bốc Thượng, Nà Ngòa, Nà Đoỏng, Nà Kể, Nà Mu, Nà Cọn, Nặm Tàn, giáp với Cao Môn, Bắc Khê thuộc tỉnh Lạng Sơn. Ở các nơi này đã mở được khoảng mười lớp huấn luyện, cũng như ở Đào Ngạn và Nhượng Bạn, mỗi lớp khoảng mười hai đến hai mươi người, thời gian trên dưới mười ngày.

Giữa năm 1945, Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh chuyển về Tân Trào, Tuyên Quang, chuẩn bị Đại hội Quốc dân Đồng bào, tiến tới lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền. Đàm Minh Viễn được tin tưởng điều từ Lạng Sơn về cùng đội vũ trang do mình lãnh đạo bảo vệ cơ quan Trung ương rồi Đại hội.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh trở lại xâm lược Nam Bộ, Đàm Minh Viễn lại được giao trọng trách chỉ huy một đội quân Nam tiến chi viện cho đồng bào Nam Bộ, rồi dẫn đầu Phái đoàn Bộ Tổng tư lệnh thị sát, lãnh đạo, động viên cán bộ chiến sĩ tại các chiến trường Tây Nguyên, Nam Trung Bộ rồi Nam Bộ… Ngày 10 tháng 12 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị mở rộng tại một xã bên sông Vàm Cỏ Đông. Hội nghị bàn về thực hiện chỉ thị của Trung ương, bố trí cán bộ theo quyết định của Trung ương. Hội nghị quyết định giải thể Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, thành lập Ủy ban kháng chiến miền Nam do ông Cao Hồng Lãnh (Hồng Lĩnh) làm Chủ tịch, ông Trần Ngọc Danh làm Chủ nhiệm Chính trị, cụ Tôn Đức Thắng (sau này là Chủ tịch nước) làm Chủ nhiệm Hậu cần, còn ông là Chủ nhiệm Tham mưu và là người trẻ nhất. Sau hội nghị, ông làm việc tại Ủy ban Kháng chiến miền Nam, được giao trực tiếp chỉ huy một đơn vị bộ đội cấp trung đoàn, cho đến khi hy sinh vào năm 1946.

Tham khảo : Báo CAND, Báo Cao Bằng…
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #449 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2011, 04:46:17 am »

Thiếu tướng Nguyễn Nam Hồng (bí danh Sơn Nam, 2.10.1930) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Pháo binh Quân đoàn 29, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh, Tư lệnh kiêm phó Bí thư Đảng ủy Binh chủng Pháo binh.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng,…, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1981), Thiếu tướng (1989).


Ông sinh tại xã Nghĩa Long, nay thuộc phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang trong một gia đình nho học, khá giả, được học hành cẩn thận. Ông nhập ngũ tháng 7 năm 1945, khi mới 15 tuổi, được kết nạp Đảng ngày 25 tháng 7 năm 1955.

7.1945, chiến sĩ Giải phóng quân Nghĩa Lộ, Yên Bái ; 11.1945, tiểu đội trưởng Trung đoàn Phú Yên, tỉnh Yên Bái ; 1.1947, trung đội trưởng trinh sát Tiểu đoàn 478, Trung đoàn Bắc Bắc ; 1.1949, trợ lý rồi quản trị trưởng Đại đội Vận tải, Liên khu Việt Bắc ; 1.1951, học viên Khóa 6 Trường Sĩ quan Lục quân ; 1.1952, trung đội trưởng trực thuộc Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 44, Liên khu 4.

2.1955, phái viên huấn luyện tác chiến, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 20; 3.1956, lần lượt giữ các chức vụ : trợ lý trinh sát, đại đội trưởng, tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 78, Sư đoàn 325. Trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội (1958), ông được phong quân hàm Trung úy.

5.1964, trợ lý Phòng Pháo binh Quân khu 4, trợ lý Phòng Pháo binh Trị Thiên, phó Phòng Pháo binh Sư đoàn 324 ; 5.1973, học viên lớp tham mưu tại Học viện Quân sự ; 2.1974, phó Phòng Tác chiến Binh chủng Pháo binh rồi được cử đi học tại Liên Xô.

5.1975, trưởng Phòng Tác chiến, Tham mưu phó Binh chủng Pháo binh kiêm Chủ nhiệm Pháo binh Quân đoàn 29 ; 6.1980, theo học tại Học viên Quân sự cấp cao, Bộ Quốc phòng ; 7.1981, lần lượt giữ các chức vụ : trưởng Phòng Tác chiến, Tham mưu phó, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh ; 7.1988, Tư lệnh kiêm phó Bí thư Đảng ủy Binh chủng Pháo binh cho đến khi về hưu (4.1997).
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM