Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:22:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884121 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #490 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2012, 04:24:14 am »


Thiếu tướng Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Huỳnh Nghĩ (20.2.1930) từng giữ các chức vụ : Trưởng phòng Quân huấn Quân đoàn 3, Hiệu trưởng Trường Quân chính Quân đoàn 3, Trưởng Khoa Chiến dịch rồi Phó Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Quân công, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Giáo dục, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (1994), Tiến sĩ (1990), Giáo sư (1996), Nhà giáo Nhân dân (1997).


Ông quê tại xã Tam Quan Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nhập ngũ và tham gia Cách mạng năm 1950, được kết nạp vào Đảng năm 1953. Trong Kháng chiến chống Pháp, ông chiến đấu trên chiến trường Liên khu 5. Từ năm 1950 đến năm 1964, ông trưởng thành từ chiến sĩ cho tới tham mưu trưởng tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 812.

Năm 1964, ông vào Chiến trường Tây Nguyên (B3) chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 95, lần lượt giữ các chức vụ : Trưởng Ban Tác chiến, Tham mưu trưởng, Trung đoàn trưởng (1972) ; 1974, Trưởng phòng Quân huấn  Quân đoàn 3, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên rồi Chiến dịch Hồ Chí Minh ; 1979, Hiệu trưởng Trường Quân chính Quân đoàn 3 ; 1980, Trưởng khoa Nghệ thuật Chiến dịch Học viện Lục quân Đà Lạt ; 1990, Phó Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt cho đến khi về hưu (2000).

Cho đến khi về hưu, Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ đã chủ biên 4 công trình cấp Bộ Quốc phòng, xuất bản sáu cuốn sách bao gồm : Buôn Mê Thuột - trận đánh lịch sử  (đã dịch ra tiếng Anh) ; Lịch sử Hoài Nhơn, Tam Quan truyền thống đấu tranh Cách mạng ; Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 ; Chiến dịch đường 9 Nam Lào năm 1971 ; Chiến dịch Plei Me năm 1965 ; Chiến dịch Đắc Tô năm 1967.

Tham khảo : Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Tiến sĩ Bình Định.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #491 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2012, 10:11:31 pm »


Thiếu tướng Hà Quốc Toản (1924 – 2003) từng giữ các chức vụ: Phó Chính ủy rồi Chính ủy Trung đoàn 93, Sư đoàn 316, Phó Chủ nhiệm Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 335, Quân khu Tây Bắc, Trưởng Phòng Cán bộ, Cục Chính trị, Quân khu Tây Bắc, Chủ nhiệm Chính trị, Phó Chính ủy rồi Chính ủy Sư đoàn 316, Phó Chính ủy, Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 3, Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh tỉnh Thái Bình.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (1989).


Thiếu tướng Hà Quốc Toản quê tại xã Thái Thọ, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Là cán bộ tiền Khởi nghĩa, ông tham gia Cách mạng từ tháng 3 năm 1945, nhập ngũ tháng 3 năm 1946. Từ tháng 3 năm 1946 đến năm 1950, ông trưởng thành từ chiến sĩ tới trung đội trưởng Bộ đội địa phương trực thuộc Tỉnh đội Thái Bình ; 1952 – 1953, chính trị viên Đại đội 53, Tiểu đoàn 439, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 ; 1953 – 1955, chính trị viên phó Tiểu đoàn 938, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 ; 1955 – 1959, phó chính ủy rồi chính ủy Trung đoàn 98, Sư đoàn 316.

Từ năm 1959 đến năm 1960, ông được cử đi học tại Trường Chính trị trung cao ; 1960 – 1963, phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm chính trị Lữ đoàn 335, Quân khu Tây Bắc ; 1963 – 1964, trưởng Phòng Cán bộ, Cục Chính trị, Quân khu Tây Bắc ; 1964 – 1969, chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 316, Quân khu Tây Bắc ; 1969 -  1973, phó chính ủy kiêm chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 316 ; 1973 – 1978, chính ủy Sư đoàn 316, tham gia Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Năm 1978, ông được bổ nhiệm chức vụ phó chính ủy kiêm chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 3 ; 1980 – 1983, phó tư lệnh về chính trị (tương đương chính ủy) Quân đoàn 3 ; 1983 – 1985, chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 3 ; 1985 – 1989, phó tư lệnh về chính trị kiêm chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 3. Sau khi về hưu, từ năm 1989 đến 1998, ông là chủ tịch đầu tiên Hội cựu Chiến binh Việt Nam tỉnh Thái Bình.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Tư, 2012, 04:37:18 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #492 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2012, 05:57:11 am »


Thiếu tướng Nguyễn Quang Việt (1917 – 1995) từng giữ các chức vụ : Chính trị viên Tỉnh đội Thủ Dầu Một rồi Thủ Biên, Chính ủy kiêm Phó Tư lệnh Công an Vũ trang (Bộ đội Biên phòng), Phó Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Bộ đội Biên phòng. Ngoài ra, ông còn từng là : Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thái Bình trước 1945, Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một rồi Thủ Biên, Thứ trưởng Bộ Công an.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất…

Thiếu tướng (1977).


Thiếu tướng Nguyễn Quang Việt tên thật là Nguyễn Ngọ, hay còn gọi là Bảy Việt, quê tại xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Là cán bộ tiền Khởi nghĩa, trước năm 1945 ông từng là tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thái Bình, bị bắt và đầy ra Côn Đảo (1942).  

Tháng 8 năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, ông được đón về đất liền cùng với khoảng 1700 tù chính trị khác, được phân công công tác tại miền Tây Nam Bộ (cụ thể là tỉnh Sa Đéc trực thuộc Khu 8 ) phụ trách chính trị Vệ quốc Đoàn Sa Đéc lúc đó do ông Nguyễn Hữu Xuyến (1917 – 2007) làm chỉ huy trưởng. Sau này, ông Nguyễn Hữu Xuyến là Trung tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 9 (sau khi đã hợp nhất với Quân khu 8 ). Tháng 7 năm 1946, khi Chi đội 18 được thành lập trên cơ sở các đơn vị Vệ quốc Đoàn Sa Đéc, Nguyễn Quang Việt được cử giữ chức vụ Chính ủy, ông Nguyễn Hữu Xuyến là Chi đội trưởng. Tháng 10 năm 1947, Chi đội 18 tổ chức lại thành Trung đoàn 115, ông và ông Nguyễn Hữu Xuyến tiếp tục là chính ủy và trung đoàn trưởng. Đầu năm 1948, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sa Đéc, ông được bầu vào Tỉnh ủy, là Ủy viên Thường vụ. Ngày 9 tháng 9 năm 1949 diễn ra hội nghị lớn chưa từng có ở Nam Bộ - Hội nghị cán bộ quân sự toàn Xứ. Hội nghị được tiến hành tại một hội trường mới dựng lên ở giữa hai xã Hậu Thành và Nhơn Hòa Lập phía bờ nam kinh Dương Văn Dương, ông có mặt trong đoàn đại biểu của Khu 8, gồm các cán bộ trung đoàn trở lên, tham dự Hội nghị này.

Ngày 18 tháng 11 năm 1949, Bộ Tư lệnh Nam Bộ ra mệnh lệnh số 137 thành lập các Liên trung đoàn, Trung đoàn 301 sáp nhập với trung đoàn 310 thành Liên trung đoàn 301-310, Nguyễn Quang Việt được Xứ ủy điều từ Khu 8 về Khu 7 làm Chính ủy Liên trung đoàn và giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một. Tháng 5 năm 1951, Trung ương Cục quyết định tổ chức, bố trí lại chiến trường. Toàn Nam bộ được tổ chức thành hai phân liên khu: Phân liên khu miền Đông và phân liên khu miền Tây. Hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một sáp nhập thành tỉnh Thủ Biên, ông tiếp tục là bí thư Tỉnh ủy Thủ Biên – Chính trị viên Liên trung đoàn 301 – 310 đồng thời là Phân liên khu Ủy viên kiêm Chính trị viên Tỉnh đội do ông Huỳnh Văn Nghệ (1914 – 1977), nguyên khu bộ trưởng Khu 7, làm tỉnh đội trưởng. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Nguyễn Quang Việt, trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Thủ Biên kiêm Chính trị viên Tỉnh đội, phụ trách việc thực thi Hiệp định trên địa bàn Tỉnh, cũng như việc chuyển quân tập kết, và chuẩn bị cho thời kì đấu tranh Cách mạng mới, cho đến cuối năm 1954 thì ra Bắc.

Sau khi ra Bắc, năm 1959 khi Công an Nhân dân Vũ trang được thành lập, Nguyễn Quang Việt được cử giữ chức vụ Chính ủy kiêm Phó Tư lệnh hàm Đại tá. Năm 1960, ông là thứ trưởng Bộ Công an và liên tục giữ chức vụ này đến khi về hưu năm 1980. Tháng 12 năm 1967, để tăng cường lực lượng cho An ninh Miền, Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang đã tổ chức huấn luyện 1 đợt cán bộ chi viện cho lực lượng An ninh Vũ trang Miền, trên cương vị thứ trưởng Bộ Công an kiêm Chính ủy Công an Nhân dân Vũ trang, ông dẫn đầu một đoàn cán bộ 40 người vào Chiến trường B2 – Nam Bộ và giữ chức vụ Phó Ban An ninh Miền. Năm 1970, ông ra lại miền Bắc, vẫn giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an, từ năm 1975 đến năm 1977 còn kiêm thêm Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #493 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 06:32:19 pm »


Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam (1914 – 6g30ph 23.9.2007) từng giữ các chức vụ : Chính trị viên Giải phóng Quân tỉnh Thái Bình, Trưởng Phòng Chính trị rồi Trưởng Ban Kiểm tra Liên khu 3 kiêm Phó Bí thư Liên khu Ủy, Ủy viên Kiểm tra Liên khu 3, Phụ trách Hậu cần Liên khu 3, Cục trưởng Cục Quân giới, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Tư lệnh Quân khu 3, Viện trưởng Việt Kiểm sát Quân sự Trung ương.

Ngoài ra, ông còn từng là : Liên huyện Ủy viên Kiến Xương, Thái Ninh, Thụy Anh, Bí thư Huyện ủy Kim Bảng, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời huyện Tiên Hưng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chưong Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy chương Kháng chiến do Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng, Huy chương Bảo vệ Pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, Kỉ niệm chương bị giặc bắt và tù đày, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974).


Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam tên thật là Phạm Luận, trong quá trình hoạt động Cách mạng còn có các bí danh Quân và Thái, quê tại làng Nam Huân, nay thuộc xã Đình Phùng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Là cán bộ tiền Khởi nghĩa, hoạt động Cách mạng trước năm 1930, ông vào Đảng tháng 9 năm 1929, từng bị bắt giam nhiều lần, từng bị đầy đi Côn Đảo, nhập ngũ năm 1945.

Tháng 9 năm 1929, ông là Bí thư Chi bộ tại địa phương. Tháng 11 năm 1929, nhân kỉ niệm Cách mạng tháng Mười Nga, ông cùng với ông Phạm Kim Tôn (1914 – 1989) đã cùng nhau treo cờ đỏ lưỡi liềm trên cổng phủ Kiến Xương, dán truyền đơn lên tường nhà tri phủ, bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ nhất. Ông Phạm Kim Tôn sau này trước khi về hưu là Cục phó Cục Vật tư Bộ Nông nghiệp, Huân chương Độc lập hạng Ba. Đầu năm 1930, ông được phụ trách một cửa hàng buôn bán tạp hóa, đây thực chất là cơ quan liên lạc và tin tài liệu của Tỉnh ủy Thái Bình, bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ hai. Sau 4 tháng, được trả tự do, ông được chỉ định vào liên Huyện ủy Kiến Xương, Thái Ninh và Thụy Anh, được giao tổ chức cơ quan in của tỉnh, rồi tham gia lãnh đạo cuộc biểu tình ở Tiền Hải ngày 14 tháng 10 năm 1930. Ngày này về sau được lấy làm ngày Truyền thống Nôn dân Việt Nam.

Để tránh thực dân Pháp khủng bố sau vụ ‘tiếng trống Tiền Hải’, ông được Xứ ủy Bắc Kỳ điều về thị xã Hà Nam phụ trách huyện Kim Bảng, rồi được được điều ra Cẩm Phả, vùng mỏ Hà Tu tại thị xã Hồng Gai, Quảng Ninh, hoạt động trong phong trào công nhân mỏ. Tháng 1 năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ ba, bị kết án 20 năm tù, bị đầy ra Côn Đảo. Tháng 10 năm 1936, do ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân Pháp, ông được ân xá trước thời hạn sau hơn 5 năm ngồi tù. Thời kì này, ông trở về quê nhà tham gia hoạt động Cách mạng một cách công khai, trong phong trào dân chủ. Tháng 6 năm 1940, Pháp bị phát xít Đức xâm chiếm, quân Nhật lăm le vào Đông Dương. Trước tình hình đó, thực dân Pháp ra sức đàn áp phong trào Cách mạng tại Việt Nam. Tháng 6 năm 1940, ông bị bắt giam lần thứ tư, bị đày đi các nhà lao ở Hà Giang, Thái Nguyên rồi Nghĩa Lộ.

Tháng 3 năm 1945, nhân cơ hội Nhật đảo chính Pháp, ông được chi bộ Đảng trong tù tổ chức cho vượt ngục cùng nhiều tù chính trị khác, như ông Nguyễn Văn Đồi tức Trung tướng Vương Thừa Vũ (1910 – 1980) nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trở về Thái Bình, ông được giao phụ trách phong trào Cách mạng tại hai huyện Tiên Hưng và Duyên Hà. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành chính quyền ở phủ lỵ Tiên Hưng, được chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban Giải phóng lâm thời của huyện, rồi được điều lên tỉnh phụ trách Chính trị viên Giải phóng Quân tỉnh Thái Bình.

Từ tháng 4 năm 1946 đến Toàn quốc Kháng chiến (12.1946), ông lần lượt là Chính trị viên Trung đoàn tại Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình ; 1.1947, Trưởng Phòng Chính trị, Trưởng Ban Kiểm tra Liên khu Ba, Phó Bí thư Liên khu Ủy ; 1.1948, Ủy viên Thanh tra Liên khu ủy ; 7.1950, phụ trách Hậu cần Liên khu Ba – sau này chức vụ này gọi là Chủ nhiệm Hậu cần ; 10.1953, Cục trưởng Cục Quân giới.

Tháng 3 năm 1961, ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần ; 1.1965, lại về Quân khu Ba giữ chức vụ Phó Tư lệnh ; 30.10.1967, ông về làm Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao kiêm Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương thay ông Lê Đình Thiệp (1914 – 1988), Thiếu tướng, đi nhận công tác khác. Từ tháng 8 năm 1971 đến tháng 7 năm 1974, ông còn kiêm thêm chức vụ Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thể thao Quân đội. Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam nghỉ hưu từ ngày 2 tháng 10 năm 1979, và sống tại Hà Nội cho tới khi mất năm 2007.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Clovet
Thành viên

Bài viết: 1


« Trả lời #494 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 06:35:13 pm »

Nguyễn Văn Trí (Hai Trí)

- Nguyễn Văn Trí (Hai Trí) nguyên là Đảng Viên Đảng Cộng Sản Đông Dương, Chính Ủy quân khu 7, quân khu 9, Phó Chính Ủy quân khu 8, Xứ Ủy Viên Nam Bộ, Phó Trưởng Ban Thống Nhất Trung Ương, Thứ Trưởng Bộ Nông Trường VIệt Nam.

- Tên thật: Nguyễn Văn Trí.
- Bí danh: Hai Trí
- Năm sinh: 1912 (trên giấy tờ 1913)
- Quê quán: Tiền Giang.
- Ông thi đỗ vào trường Collège de My Tho, là một trong hai trường trung học ở lục tỉnh Nam Kì lúc ấy, là bạn học cùng lớp của ông Phạm Hùng (sau là Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng)
- Ông tham gia Cách mạng từ năm 1926, được ông Trần Nguyên Phụ (nguyên là lãnh đạo nghĩa quân Đề Thám) giới thiệu gia nhập Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội, và được cử đi học tại Trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc).
- Năm 1927, ông về nước. Năm 1929 gia nhập An Nam Cộng Sản Đảng, trong Ban Chấp Hành đặc ủy Hậu Giang cùng các ông: Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Thanh Sơn,… [1]
- 1930, Ông vào Đảng Cộng Sản Đông Dương, là tỉnh ủy viên Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre. Ông là người xây dựng cơ sở Đảng đầu tiên của tỉnh Bến Tre (2)
- Năm 1931, ông bị bắt và kết án tử hình cùng với các ông Phạm Hùng, Nguyễn Văn Tây. Nhưng do phong trào đấu tranh của nhân dân ta trong nước cùng với Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp, thực dân Pháp phải giảm án xuống chung thân khổ sai và đày ông đi Côn Đảo. (3)
- 1945, Cách mạng tháng 8 thành công, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Trà Vinh (4).
- Tháng 4 – 1946, lực lượng kháng chiến ở khu 8 và khu 9 còn rất ít. Ông Nguyễn Văn Trí mang theo một Đại đội của Khu 7, từ chiến khu Đ về  cùng với ông Trần Văn Trà, Nguyễn Văn Kỉnh được giao nhiệm vụ xây dựng căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười. Trong thời gian này ông đã xây dựng trường Quân Chính Khu 8,và tuyển mộ được khóa đầu tiên, sau này có nhiều cán bộ trở thành tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam như: Trung tướng Nguyễn Văn Tiên (nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 307 huyền thoại, nguyên Tư Lệnh Bộ tư lệnh không quân), Thiếu tướng Trần Mạnh ( nguyên Phó tư lệnh quân chủng không quân), Đại tá Nguyễn Văn Tòng(nguyên phó chính ủy, Chủ nhiệm chính trị Quân khu 9).
- Cuối năm 1946, để tăng cường công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, Xứ Ủy lâm thời điều động đồng chí Nguyễn Văn Trí từ khu 8 về làm Chủ nhiệm chính trị khu 9, Huỳnh Kim Trương làm Tham mưu trưởng.(10)
- 1946 - 1949, Ông làm Thường vụ khu ủy, Bí Thư quân khu Ủy,  Chính ủy khu 7 thay cho ông Trần Xuân Độ, trung tướng Nguyễn Bình làm tư lệnh(5).
- Cuối tháng 7 năm 1948, trên bờ kênh Năm Ngàn giữa chiến khu Đồng Tháp Mười, Đại hội đại biểu xứ Đảng bộ  Nam Bộ lần thứ nhất được triệu tập. Ông được bầu làm Xứ Ủy viên Xứ ủy Nam Bộ cùng các đòng chí: Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Văn Tây, Nguyễn Thị Thập, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Trấn, Trần Văn Trà, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Thái Bường.
- 1949 – 1950, Ông về làm Khu uỷ viên Khu 8, Phó Chính uỷ Bộ Tư lệnh Quân Khu 8.
-  Năm 1950, Xứ uỷ Nam Bộ quyết định thành lập Tỉnh căn cứ Đồng Tháp, ông được củ làm Bí thư tỉnh ủy(6)
-  5-9-1951  Trung ương thành lập Ban căn cứ địa Nam Bộ do ông Nguyễn Văn Trí làm Trưởng ban. Tại chiến khu Đ, Ban Căn cứ địa họp và xác định xây dựng một hệ thống căn cứ địa chính cho toàn chiến trường Nam Bộ, gần chiến khu Đ. Đó là các chiến khu: Minh Châu, Đồng Tháp Mười và U Minh.(7)
- 1954, ông được phân công làm Phó Chánh Văn phòng Ban Thi hành Hiệp định đình chiến Trung Ương, sau Ban đổi tên là Ban Thi Hành Hiệp Định Giơnevơ.
- 1957, Ông Nguyễn Văn Trí được phân công làm Phó trưởng ban Thống nhất TW, ông Phạm Hùng làm trưởng Ban.(Cool
- Một trong những nhiệm vụ của Ban Thống Nhất Trung ương là chăm lo đời sống cho hơn 180.000 cán bộ, con em, gia đình cán bộ tập kết. Trước tình hình đó, năm1960, ông đề xuất với Thủ Tướng Chính phủ thành lập Bộ Nông Trường để xây dựng hệ thống nông trường toàn quốc, giải quyết công ăn việc làm, cuộc sống cho cán bộ tập kết. Chính phủ chấp thuận và phân công làm Thứ trưởng Bộ Nông trường nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với những đóng góp của ông trong thời kỳ này, ông được nhà nước trao tặng Huân chương Lao Động.
- Ông Nguyễn Văn Trí từ trần năm 1965 và được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh vào năm 1997.
- Ông được nhà nước trao tặng các huân huy chương:
            -  Huân chương Hồ Chí Minh 1997
            -  Huân chương Lao Động hạng III.
            -  Huân chương chiến thắng hạng I (9).
                -  Huân chương Kháng Chiến hạng I
============================================================================
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Tư, 2012, 09:39:22 am gửi bởi Clovet » Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #495 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2012, 06:31:03 am »


Thiếu tướng Anh hùng Nguyễn Tư Cường (1927 - 2003) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Bộ đội Đặc công Miền, Tham mưu phó, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, Phó Chủ tịch Hội đồng Quân sự, Tư lệnh kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Binh chủng Đặc công, Trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự Đặc công tại Cu-ba.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 5 hạng Nhì, 5 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng… Ông được phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 7 tháng 5 năm 1956 khi đang là tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Đặc công 323, Đại đoàn 324.

Đại úy (1958), Thiếu tướng (1985).


Ông tên thật là Nguyễn Cụ hay còn gọi là Tư Cường, quê tại xã Ninh Đa, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, nhập ngũ năm 1945, được kết nạp Đảng năm 1946. Trong Kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), ông chiến đấu tại Mặt trận Nha Trang – Khánh Hòa, Liên khu 5, trưởng thành từ chiến sĩ, trung đội trưởng đến cán bộ tiểu đoàn, tham gia chiến đấu và chỉ huy 101 trận, góp phần tiêu diệt 605 địch (cá nhân ông diệt 294), bẩy lần bị thương vẫn không rời trận địa.

Năm 1945, lúc còn là chiến sĩ, ông đã đánh 7 trận, có trận bị lạc nhịn đói 10 ngày phải tìm lá cây, củ rừng ăn nhưng vẫn quyết tâm luồn rừng tìm về đơn vị. Năm 1947, trong trận phục kích ở đèo Phượng Hoàng trên đường 21, Nguyễn Cụ chỉ huy 1 trung đội bộ đội địa phương phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực. Giữa lúc trận chiến đấu đang giằng co ác liệt, ông dẫn đầu trung đội vòng bên sườn rồi bất ngờ xung phong vào giữa đội hình quân Pháp, gây rối loạn, diệt 75, đốt cháy 5 xe, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực diệt gọn gần một tiểu đoàn. Trận Hòn Khói năm 1948, ngay phút đầu Nguyễn Cụ đã xông lên vượt qua hàng rào dây thép gai, ném lựu đạn vào lỗ châu mai diệt địch trong lô cốt, yểm hộ cho đơn vị tiến vào. Sau khi xông lên gác, bắn chết đồn trưởng, ông bị thương nhưng vẫn bình tĩnh chỉ huy trung đội diệt đồn, bắt sống 38 địch, thu toàn bộ vũ khí.

Những năm 1948 – 1949, nhiều lần quân Pháp tập trung lực lượng tiến công trung đội của Nguyễn Cụ, hòng tiêu diệt lực lượng vũ trang của địa phương, có lần địch huy động một trung đoàn có máy bay, pháo binh yểm hộ, bao vây bộ đội và cơ quan chính quyền địa phương. Ông chỉ huy đơn vị ngoan cường chiến đấu suốt một ngày, cơ động chặn địch hết nơi này đến nơi khác, bảo vệ cho cơ quan rút lui an toàn. Một lần, có 40 cán bộ huyện, xã đi hội nghị về nghỉ tại đơn vị, mới mờ sáng đã bị một đại đội địch bao vây, ông dũng cảm chỉ huy trung đội đánh lui địch, diệt một tiểu đội, bảo vệ được cán bộ.

Trận Vạn Khê năm 1952, biết tin địch sắp đi càn, trong khi cơ sở ta chưa chuẩn bị kịp để đối phó, Nguyễn Cụ bí mật đưa trung đội lọt qua nhiều vòng kiểm soát và bố trí trận địa phục kích ngay gần cửa đồn. Địch vừa ra khỏi cửa bị đánh bất ngờ, một tiểu đội bị diệt, hoang mang chạy vào đồn cố thủ, bỏ ý định đi càn ngày hôm đó. Trận Đại Mỹ năm 1953, đồn giặc bố phòng rất nghiêm ngặt, Nguyễn Cụ đã táo bạo và kiên trì bò vào tận đồn điều tra tỉ mỉ, sau đó chỉ huy đơn vị tiến công chớp nhoáng, diệt các mục tiêu rất chính xác bằng thủ pháo, tiêu diệt gọn 2 trung đội, rồi rút ra an toàn.

Tháng 1 năm 1954, đặc công tỉnh Khánh Hoà nhận nhiệm vụ hiệp đồng với bộ binh tiêu diệt đồn Cầu Đúc (Ninh Hoà), nhằm phối hợp với các đơn vị bạn trên chiến trường Liên khu 5. Đồn nằm sâu trong hậu phương địch, được canh gác và bố phòng chặt chẽ nên công tác điều tra gặp nhiều khó khăn. Ban ngày tổ cán bộ dựa vào cơ sở nhân dân để lấy tin tức. Ban đêm các chiến sĩ tiềm nhập vào trong hàng rào điều tra. Có lần tổ trinh sát gặp địch đi tuần, phải nằm lại ẩn nấp. Khi địch đến, địch dừng lại nghỉ, hút thuốc lá rồi ném mẩu thuốc đang cháy dở vào lưng chỉ huy Nguyễn Cụ, ông cắn răng chịu bỏng, nằm im giữ bí mật trận đánh. Sau 7 ngày đêm trinh sát nắm địch, trận đánh được tiến hành dưới sự chỉ huy của ông, 32 chiến sĩ đặc công bí mật tiềm nhập vào trong đồn, đồng loạt đánh sập các lô cốt, các ụ súng, diệt sở chỉ huy, tạo điều kiện cho 4 trung đội bộ binh tiêu diệt địch. Sau 2 giờ 30 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, bắt 30 địch thu 20 tấn đạn, nhiều súng và quân trang quân dụng.

Tháng 5 năm 1954, Nguyễn Cụ chỉ huy 3 tiểu đội đột nhập nhà lao Ninh Hòa diệt gọn hai trung đội địch, giải thoát 600 cán bộ du kích và đồng bào bị giam giữ. Năm 1955, ông làm nhiệm vụ mang báo cáo phong trào mọi mặt của tỉnh ủy Khánh Hòa ra để vào hòm thư “chết” của Trung uơng đặt ở Khu Giới tuyến (Quảng Trị) và nhận ở đó những chỉ thị của trung ương mang về lại Khánh Hòa. Trong thời kì Kháng chiến chống Pháp, ông đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 17 lần được Liên khu 5 và tỉnh khen.

Sau khi tập kết ra Bắc, ông được phân công về Đại đoàn 324 giữ chức vụ tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Đặc công 323 của Sư đoàn, và được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân vào năm 1956. Trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội, năm 1958, ông được phong quân hàm Đại úy. Đến năm 1960, Tiểu đoàn 323 đã đưa gần hết lực lượng trở về miền Nam chiến đấu, còn khung huấn luyện ở lại tiếp tục làm nhiệm vụ huấn luyện tăng cường cho miền Nam. Trên cơ sở khung này, Trường Đặc công của Quân khu 4 được thành lập (Tiểu đoàn 30) do ông làm Tiểu đoàn trưởng, rồi kiêm Chính ủy (10.1960).

Trong Kháng chiến chống Mỹ, ông lần lượt giữ các chức vụ : trung đoàn trưởng Trung đoàn Trinh sát Đặc công (1966), Phó Tư lệnh Đặc công Miền (1969). Ông là người có công lớn trong việc xây dựng, phát triển và lãnh đạo Bộ đội Đặc công, đồng thời trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh trên các Chiến trường miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Trong đó, tiêu biểu là trận đánh ngày 26 tháng 2 năm 1969, của 2 tiểu đoàn đặc công miền và du kích Củ Chi có pháo binh hỗ trợ, vào căn cứ Đồng Dù (cách Sài Gòn 30 km) do Sư đoàn 25 Tia chớp nhiệt đới của Mỹ đóng giữ, tiêu diệt nhiều địch, phá hủy và làm hư hỏng 50 máy bay, 12 khẩu pháo, 176 xe quân sự, 29 hầm ngầm, 1 kho xăng, và 1 kho đạn…

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, ông lần lượt giữ các chức vụ sau trong Bộ tư lệnh Đặc công : Thượng tá - Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng (1980) ; được bầu vào Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Binh chủng, Đại biểu dự khuyết của Binh chủng đi dự Đại hội Đảng toàn quân chuẩn bị cho Đại hội 5 của Đảng (1982), Đại tá – Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng (1983) ; Phó Chủ tịch Hội đồng Quân sự (1984), thời kì này Đảng chủ trương thay đổi cách lãnh đạo trong quân đội thông qua việc xóa bỏ hình thức chính ủy, chính trị viên rồi đảng ủy quân sự thay vào đó là hội đồng quân sự ; trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự Đặc công tại Cuba (9.1984) ; Tư lệnh Binh chủng kiêm Phó Bí thư Đảng ủy (9.1985) ; Đại biểu Binh chủng đi dự Đại hội Đảng toàn quân, chuẩn bị cho Đại hội 6 của Đảng. Là Đại biểu toàn quân đi dự hội nghị của Đảng (1986). Sau khi nghỉ hưu vào năm 1992, ông cùng bạn bè mở Công ty Tư Cường do ông làm tổng giám đốc cho đến khi mất vào năm 2003 tại Hà Nội.

Tham khảo : Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Anh hùng LLVTND tong Kháng chiến chống Pháp, Lịch sử Bộ đội Đặc công QĐNDVN 1967-2007, 50 năm Lực lượng Vũ trang Quân khu 7.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #496 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2012, 08:18:39 pm »


Trung tướng Nguyễn Văn Thái (1930) từng giữ các chức vụ: Phái viên Tổng cục Chính trị tại Chiến dịch Lý Thường Kiệt, Phó Chủ nhiệm Chính ủy Sư đoàn 9, Chủ nhiệm Chính trị rồi Chính ủy Sư đoàn 7, Phó Chủ nhiệm Khoa Công tác Đảng – Công tác Chính trị Học viện Quân sự cấp cao, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị, Phó Giám đốc Chính trị học viện Quân sự Đà Lạt.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (1 hạng Nhì, 2 Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, Huân chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40, 50 và 60 năm tuổi Đảng…

Đại úy (1958), Thiếu tướng (1985), Trung tướng (1994).


Ông sinh ra và lớn lên tại thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Ngày 20 tháng 11 năm 1945, ông xung phong nhập ngũ, là thư ký, rồi chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 2 Giải phóng quân, Tiểu đoàn Cảnh vệ trực thuộc Thị đội Thái Bình. Tháng 9 năm 1950, ông là trưởng Ban Văn thu Tỉnh đội Thái Bình, và sau đo là chính trị viên Đại đội Lê Lợi trực thuộc Tỉnh đội.

Năm 1952, ông được Tỉnh đội Thái Bình cử đi học tại Trưởng Bổ túc Chính trị viên Liên khu 3. Sau khóa học, ông được điều lên Tây Bắc làm phái viên đi chiến dịch Lý Thường Kiệt, rồi về Cơ quan Chính trị Quân khu, và sau đó là bí thư cho Phó Chính ủy Quân khu, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, hòa bình được lập lại trên miền Bắc, năm 1956 ông được điều về công tác tại Tổng cục Chính trị, được phong quân hàm Đại úy tháng 12 năm 1958 trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội. Tháng 7 năm 1965, ông lên đường hành quân vào Nam chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 325C với chức vụ Hiệp lí viên, rồi lần lượt giữ các chức vụ : chính ủy Trung đoàn 3, Sư đoàn 325 (12.1968), Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 9, Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính ủy Sư đoàn 7 (12.1972).

Trong thời gian chiến đấu ở Chiến trường miền Nam, ông đã tham gia nhiều chiến dịch lớn, quan trọng như : Mậu Thân 1968, Chiến dịch 150 ngày chốt chặn Tàu Ô – Xóm Ruộng (1972), Chiến dịch Đường 14 – Phước Long cuối 1974 đầu 1975, Chiến dịch Dầu Tiếng – Đường 20 (3.1975), Xuân Lộc (4.1975), Chiến dịch Hồ Chí Minh (4.1975)… Ngày 2 tháng 5 năm 1975, ông vinh dự có mặt trong cuộc họp báo lịch sử diễn ra tại dinh Độc Lập.

Sau ngày thống nhất đất nước, ông làm nhiệm vụ quân quản tại Quận 1, Quận 2 (cũ), Quận 4 và Quận Bình Thạnh. Năm 1978, ông được điều ra Bắc, về công tác tại Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) làm phó chủ nhiệm Khoa Công tác Đảng – Công tác Chính trị. Tháng 1 năm 1984, ông quay về công tác tại Tổng cục Chính trị, là cục phó rồi cục trưởng Cục Tuyên huấn, được phong Thiếu tướng năm 1985. Tháng 1 năm 1992, ông vào Nam làm phó giám đốc về chính trị Học viện Quân sự Đà Lạt cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1999. Từ năm 2002 tới nay, ông là trưởng Ban Liên lạc Hội đồng hương tỉnh Thái Bình tại thành phố Hồ Chí Minh.
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Tư, 2012, 10:57:12 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #497 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2012, 12:29:13 am »


Thiếu tướng Tô Thuận (1926 - 1g55ph 22.4.2011) từng giữ các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo binh 40 Mặt trận Tây Nguyên (B3), Chủ nhiệm Pháo binh Quân khu 5, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công (hạng Hai, Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng,  Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất do Nhà nước Cam-pu-chia trao tặng, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng…

Thiếu tướng (1985).


Thiếu tướng Tô Thuận sinh ra và lớn lên tại thôn Thái Hòa, làng Thượng Tầm, nay thuộc xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, là cán bộ tiền khởi nghĩa, tham gia Cách mạng trước tháng 8 năm 1945, nhập ngũ tháng 8 năm 1945, Đảng viên từ tháng 8 năm 1948.

Sau khi Cách mạng thành công, ông nhập ngũ là chiến sĩ Vệ quốc đoàn Thái Bình. Khi Trung đoàn 41 (sau đổi tên thành Trung đoàn 42 Trung Dũng) được thành lập tháng 11 năm 1945, ông trở thành tiểu đội trưởng thuộc Trung đội 3, Đại đội 18 đánh Pháp ở khu vực Đồng Thiện, Kiến An (Hải Phòng). Đầu năm 1947, khi quân Pháp đánh chiếm thị xã Hải Dương, trung đội ông chuyển dần sang đây rồi gia nhập vào Đại đội 11, rồi ít lâu sau chuyển về Đại đội 20 đóng quân tại làng Vạc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thời gian này, đơn vị ông chiến đấu trên đường 5 tại khu vực Cống Tranh, Kẻ Sặt, Châu Khê, cầu Thịnh Vạn, Mao Điền, Quán Gỏi, chùa Hồ Liễu…

Cuối năm 1947, ông được bổ nhiệm làm trung đội phó Trung đội 3, rồi chuyển sang Đại đội 74, Trung đoàn 64. Từ năm 1948 đến kết thúc cuộc Kháng chiến chống Pháp, ông cùng đơn vị chiến đấu trên địa bàn Khu 3 tại các tỉnh Thái Bình, Kiến An, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên. Tháng 7 năm 1954, ông chuyển sang chiến đấu tại Binh chủng Pháo binh, là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 45, cùng Trung đoàn tham gia tiếp quản Hải Phòng ngày 13 tháng 5 năm 1955.

Trong Kháng chiến chống Mỹ, khi Không quân Mỹ leo thang ra bắn phá miền Bắc (1964 – 1966), ông là trung đoàn trưởng Trung đoàn 208 Pháo binh bảo vệ bờ biển Thanh Hóa. Trung đoàn ông đã sử dụng pháo 122ly bắn cháy 3 tàu chiến Mỹ, nhiều năm liền được tặng cờ luân lưu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thành tích huấn luyện và xây dựng.

Năm 1967, với kinh nghiệm đưa pháo lên cao chi viện cho bộ binh, ông được giao chỉ huy Trung đoàn 208 vượt Trường Sơn vào chi viện cho pháo binh Mặt trận B3 – Tây Nguyên. Vào Tây Nguyên, quý 2 năm 1968, theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh, Trung đoàn 208 hợp nhất với các Trung đoàn 158 và 40 hình thành lên Trung đoàn 40 mới, với 10 tiểu đoàn: 4 tiểu đoàn (31, 32, 33, 34) trang bị ĐKB, súng cối 120mm, 82mm, ĐKZ; 2 tiểu đoàn (41,42) trang bị pháo 105mm, 85mm; 2 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, Tiểu đoàn 30 súng máy phòng không 12,7mm, Tiểu đoàn 16 xe tăng PT-76 và 4 đại đội trực thuộc là 17, 18, 19, 20 với đầy đủ thành phần: pháo mặt đất, pháo phòng không, xe tăng..., do ông làm Trung đoàn trưởng. Về thực chất, tổ chức của Trung đoàn 40 tương đương với một lữ đoàn cứng.

Sau một thời gian làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 40, năm 1973, ông được điều về làm Chủ nhiệm Pháo binh Quân khu 5 cho đến hết Kháng chiến chống Mỹ. Điểm nổi bật ở Tô Thuận là có cách đánh sáng tạo, hiệu quả: Tháo pháo cơ giới ra từng bộ phận để khiêng, kéo pháo lên núi cao và gần đồn địch, bắn thẳng vào lô cốt công sự chỉ huy địch, có sức công phá lớn bảo đảm bộ binh ta đột phá, xung phong đánh chiếm tiêu diệt quân địch nhanh, ta thương vong thấp, tốn ít đạn. Sau tổng kết: Đưa pháo xe kéo "lên cao, vào gần bắn thẳng".

Sau năm 1975, ông ra Bắc, được cử đi học, rồi về công tác tại Binh chủng Pháo binh, được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1985. Trước khi về hưu, Thiếu tướng Tô Thuận là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Binh chủng.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #498 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2012, 09:41:58 pm »

Trung tướng Trần Văn Nghiêm (1923 – 28.5.1985) từng giữ các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, Cục phó Cục Tác chiến, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Tư lệnh Đoàn 232, Trưởng Ban Tổng kết Chiến tranh Miền, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu 9.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng…

Thiếu tướng (1977), Trung tướng (1984?).


Sinh ra trong một gia đình công chức ở Ninh Sơn, Ninh Bình, sớm tiếp thu những ảnh hưởng của phong trào Cách mạng, tháng 5 năm 1945 khi vừa 22 tuổi, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc rồi giành chính quyền ở thị xã Ninh Bình. Cuối 1945, ông được điều vào Quân đội, được cử đi học Trường Cán bộ Việt Nam (tiền thân của Võ bị Trần Quốc Tuấn).

Trong Kháng chiến chống Pháp, ông chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 64 (sau trực thuộc Đại đoàn 320 Đồng Bằng) từ những ngày đầu thành lập tháng 1 năm 1946, từng là tiểu đoàn trưởng rồi trung đoàn trưởng, tại đồng bằng Bắc bộ. Năm 1951, ông được điều về công tác tại Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.

Trong Kháng chiến chống Mỹ, năm 1963, ông là Cục phó Cục Tác chiến. Năm 1964, ông lên đường Nam tiến vào chiến đấu tại Chiến trường Nam Bộ (B2), từng đảm nhiệm các chức vụ : Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Tư lệnh Quân khu 9, Phó Tư lệnh Binh đoàn 232 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh; từng tham gia chỉ huy và phụ trách công tác tác chiến nhiều chiến dịch như : Chiến dịch đập tan cuộc hành quân Juntion city, Phước Long - Bù Đốp, Đường 22, Nguyễn Huệ, rồi Chenla 1, Chen-la 2 trên Chiến trường Campuchia…

Sau khi đất nước thống nhất, ông được điều về làm Trưởng ban Tổng kết Chiến tranh Miền, Phó Tư lệnh (1977), rồi Tư lệnh Bộ Tư Quân khu 9 (1979) khi đã sát nhập Khu 8 vào. Trung tướng Trần Văn Nghiêm mất ngày 28 tháng 5 năm 1985 tại Hà Nội vì bệnh hiểm nghèo.

Tham khảo: Câu lạc bộ Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn (phía Nam).
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #499 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2012, 08:15:48 am »


Thiếu tướng Vũ Hải (1925) từng giữ các chức vụ: Phó Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu 3, Trưởng Phòng Chính trị Cục Dân quân, Phó Hiệu trưởng kiêm Bí thư Trường Huấn luyện Chiến tranh Du kích, Cục trưởng Cục Dân quân Tự vệ Bộ Tổng Tham mưu, Cục trưởng Cục Quân lực, Cục trưởng Cục Kinh tế Bộ Quốc phòng, Phó Đoàn Chuyên gia Quân sự tại Cam-pu-chia, Hiệu trưởng Trường Huấn luyện Đào tạo Bồi dưỡng Chuyên gia Quân sự Cam-pu-chia.

Ngoài ra, ông còn từng là: Bí thư Huyện ủy kiêm Bí thư Huyện bộ Việt Minh Cẩm Giàng (Hải Dương), Tỉnh ủy viên Tỉnh Hải Dương, Trưởng Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Thái Bình, Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Thái Bình, Phó Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình kiêm Trưởng Ban Tổ chức, Vụ phó Vụ Động viên Kinh tế tại Ủy ban Khoa học Nhà nước.

Huân chương Kháng chiến hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Hai, Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 2 hạng Ba), Huân chương Kháng chiến (chống Mỹ) hạng Nhất. Nhà nước Cam-pu-chia tặng Huân chương Giải phóng Dân tộc hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1983).


Ông tên thật là Vũ Kim Sa, sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở xã Trực Nội, phủ Thái Ninh, nay thuộc thôn Ký Con, xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, tham gia Cách mạng trước năm 1945, Đảng viên tháng 12 năm 1945, nhập ngũ tháng 10 năm 1950.

Lúc còn nhỏ, do hoàn cảnh gia đình, sau khi đỗ bằng tiểu học Pháp – Việt, 16 tuổi ông đã phải thoát ly ra đình kiếm sống, làm thuê tại các vùng mỏ Đông Triều, Mạo Khê. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Đông Triểu, rồi được điều về huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương phụ trách các xã ở phía Nam huyện. Tháng 12 năm 1945, ông được kết nạp Đảng.

Năm 1946, ông là Bí thư Huyện bộ Việt Minh kiêm Bí thư Huyện ủy Gia Lộc (Hải Dương), rồi Bí thư Huyện bộ Việt Minh kiêm Bí thư Huyện ủy Cẩm Giàng (Hải Dương). Tháng 4 năm 1947, ông được bầu vào Tỉnh ủy Hải Dương, rồi chuyển sang Thái Bình lần lượt giữ các chức vụ Trưởng Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy (7.1947), Thường vụ Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy (1948), Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Trưởng Ban Tổ chức (1949).  

Tháng 10 năm 1950, trước yêu cầu mới của công cuộc Kháng chiến chống Pháp, ông được điều động vào Quân đội giữ chức vụ Phó Phòng Chinh trị Bộ Tư lệnh Liên khu 3. Tháng 2 năm 1952, ông là trưởng Phòng Chính trị Cục Dân quân, rồi Bí thư kiêm Phó Hiệu trưởng Trường Huấn luyện Chiến tranh Du kích.

Sau khi Kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông lần lượt giữ các chức vụ: cục trưởng Cục Dân quân Rự vệ Bộ Tổng tham mưu (1960), biệt phái làm vụ phó Vụ Động viên Kinh tế tại Uỷ ban Khoa học Nhà nước (1970), cục trưởng Cục Quân lực (1974), cục trưởng Cục Kinh tế Quân sự Bộ Quốc phòng (1977), phó Đoàn Chuyên gia Quân sự giúp Cam-pu-chia (1981), hiệu trưởng Trường Huấn luyện Đào tạo Bồi dưỡng Chuyên gia Quân sự Cam-pu-chia (1985) cho đến khi về hưu năm 1991.  
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Sáu, 2012, 07:39:09 pm gửi bởi daibangden » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM