Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:46:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884445 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #220 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2009, 06:40:13 am »


Trung tướng Trần Linh (tên thật : Trần Như Linh, 1929) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Chính trị Bộ đội Biên phòng.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công ( 1 hạng Nhì, 2 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Ít-xa-la (Nhân dân) hạng Nhất của Nhà nước Lào, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985), Trung tướng (12.1992).


Trung tướng Trần Linh nguyên quê tại xã Cự Khôi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Lớn lên tại thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Tháng 7 năm 1945, ông tham gia Đội Thiếu niên Tiền phong cứu quốc, làm liên lạc cho Việt Minh hoạt động tại thị trấn Ninh Giang. Tham gia giành chính quyền tại thị trấn trong Cách mạng tháng 8.

Tháng 4 năm 1946, ông nhập ngũ vào Đội tuyên truyền vũ trang ở Tiểu đoàn Quảng Yên ; 8.1946, học lớp đào tạo Chính trị viên Trung đội của Khu 3, sau khi tốt nghiệp ông là Chính trị viên Trung đội đóng quân ở Đồ Sơn, tham gia chiến đấu ở mặt trận Hải Phòng Đồ Sơn Kiến An ; 3.1947, Chính trị viên Trung đội Tiểu đoàn 160 (Phủ Thông) chủ lực cơ động của Bộ Quốc phòng (sau chuyển thành Tiểu đoàn 11) ; 9.1949, Chính trị viên đại đội thuộc Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 141 Đại đoạn 308, sau Trung đòan này chuyển về Đại đoàn 312 ; 1.1951, Trưởng tiểu ban Tuyên huấn Trung đoàn 141-Ba vì Anh dũng ; 1.1952, Chính trị viên phó (1952-1953), Chính trị viên Tiểu đoàn 11 kiêm Bí thư Tiểu đoàn ủy ; 6.1954, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 209 – Sông Lô anh hùng – Đại đoàn 312 rồi đi học Trường Quân chính Bắc Sơn, Trưởng Ban Tuyên huấn Đại đoàn 312.

Tháng 10 năm 1955, ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 325 Quân khu 4 ; 1958, đi học Trung cao Chính trị tại Trường Chính trị Trung cao ; 8.1959, Phó Chủ nhiệm Phòng Chính trị, trực tiếp phụ trách Chủ nhiệm Khoa Công tác Đảng công tác Chính trị Trương Trung cao Chính trị ; 1962, đi học tại Học viện Quân chính Lê-nin (Liên Xô).

Sau khi về nước, năm 1965 ông làm công tác biên soạn giáo khoa công tác Đảng, công tác Chính trị đại đội tại Tổng Cục Chính trị ; 3.1966, Cục phó Cục Chính trị kiêm Trưởng Phòng Tổ chức Học viện Chính trị ; 8.1966, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Phòng không Quân khu 4 kiêm Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Phòng không Quân khu ; 12.1968, Chính ủy Bộ Tư lệnh Phòng không nam Khu 4, Chính ủy Sư đoàn Phòng không 375 ; 4.1969, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4 ; 6.1970, Phó Chủ nhiệm Chính trị Học viện Chính trị, Đảng ủy viên nhà trường .

Năm 1978, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Binh đoàn 687 Quân tình nguyện và chuyên gia Quân sự tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ; 7.1981, Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng Bộ Quốc phòng ; 10.1985, Phó Tư lệnh về Chính trị Bộ đội Biên phòng Bộ Quốc phòng (từ tháng 6 năm 1986 chuyển về Bộ Nội vụ) cho đến khi nghỉ hưu tháng 5 năm 1998.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #221 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2009, 07:03:23 am »


Trung tướng Phó Giáo sư Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Phan Thu (tên thật : Phan Hữu Thu, 16.06.1931) từng giữ các chức vụ : Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự, Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không, Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba) Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Khi tuyên dương Anh hùng ông là Đại úy, Kỹ sư vô tuyến điện thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (12.1985), Trung tướng (8.1990).


Trung tướng Phan Thu quê tại xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Tháng 1 năm 1947, ông là Đoàn viên thanh niên cứu quốc, phụ trách công tác thiếu nhi và tham gia dạy bình dân học vụ ; 1.1948, là hoc sinh và làm công tác vận đông học sinh ở Trường Nguyễn Huệ (tỉnh Hà Đông) ; 1.1949, đi học và công tác vận động học sinh Trường Ngô Sĩ Liên (tỉnh Bắc Giang) ; 1.1950, tham gia Đại hội Thanh niên Việt Nam lần thứ nhất (tháng 2 năm 1950), là cán bộ Trung ương Đoàn Thanh niên Việt Nam (Ban vận đông sinh Trung ương) ; 5.1950, nhập ngũ và theo học Trường Lục quân khóa 6 chuyên ngành Pháo binh ; 6.1951, Trung đội trưởng, cán bộ khung và là giáo viên Trường Lục quân khóa 7 và 8 ; 5.1954, được cử đi học lớp Ra-đa, pháo cao xạ 88mm ở Đông Bắc Trung Quốc.

Tháng 3 năm 1955, ông là Tổ trưởng giáo viên lớp chuyển Binh chủng Ra-đa thuộc Đại đoàn Phòng không 367 ; 9.1955, Trợ lý Ra-đa Phòng Tham mưu Đại đoàn Phòng không 367 ; 11.1958, Trợ lý Ra-đa Phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh Phòng không ; 22.10.1963, Trợ lý Ra-đa Phòng Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1967, Đội trưởng đội nhiễu Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1968, Phó Phòng nghiên cứu Khoa học Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1969, Phó Phòng Quân báo Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1970, Phó Phòng Quân báo kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu dodàn nhiễu Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1970, Phó Phòng nghiên cứu Khoa học Quân sự Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân, 3.1972, Trưởng Phòng nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1975, Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1977, ông là Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không kiêm Bí thư Đảng ủy Cục Kỹ thuật ; 5.1979, Viện phó Viện Kỹ thuật Quân sự Tổng cục Kỹ thuật ; 8.1981, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự ; 12.1987, đồng Chủ tịch Ủy ban phối hợp Trung tâm nhiệt đới Việt Xô, Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Trung tâm nhiệt đới ; 6.1988, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng ; 4.1989, Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế Bộ Quốc phòng ; 7.1993, Giám đốc Công ty Kinh tế Kỹ thuật GAET ; 11.1993, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế.

Trung tướng Phan Thu là Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 6, Ủy viên Trung ương Đảng khóa 7 và là Đại biểu Quốc hội khóa 8 và 9. Ông nghỉ hưu ngày 5 tháng 1 năm 1997.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #222 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2009, 07:23:39 am »


Thiếu tướng Phạm Đăng Ty (bí danh : Hà, Hồng Bắc ; 23.07.1926) từng giữ các chức vụ : Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị Quân sự.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương Vì sự nghiệp Giải phóng Thủ đô, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp Hàng không Việt Nam.

Thiếu tướng (12.1984).


Thiếu tướng Phạm Đăng Ty quê tại xã Dỵ Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Năm 1944, ông tham gia Thanh niên cứu quốc tại quê nhà ; 1945, ông theo học lớp Quân chính đầu tiên tại Hà Nội rồi trở về làm Chính trị viên Huyện đội Kim Động ; 1946, tham gia chiến đấu đánh địch ở Hải Phòng rồi về Trung đoàn 34 (Khu 3) bảo vệ thành phố Nam Định ; 1948, Chính trị viên Đại đội Độc lập (Đại đội 100) Trung đoàn 34 (nay là Trung đoàn Tất Thắng), hoạt đồng vùng địch hậu (tỉnh Hà Nam), huyện ủy viên huyện Lý Nhân (tỉnh Hà Nam) ; 7.1948, Chính trị viên Đại đội 245 Tiểu đoàn 11 (Phủ Thông, Thái Nguyên) Đại đoàn 308 chủ lực Bộ ; 1950, được cử đi học Trường Nguyễn Ái Quốc, phụ trách công tác Tổ chức Trung đoàn 141 (Ba Vì anh dũng), Phó Ban Tổ chức Đại đoàn 312, Chính trị viên Tiểu đoàn 232 Đại đoàn 312 ; 1953, Chính trị viên Tiểu đoàn pháo cao xạ 394 Trung đoàn pháo cao xạ 367.

Tháng 10 năm 1955, ông là Phó Chính ủy Trung đoàn pháo cao xạ 685 (Trung đoàn pháo cao xạ 250) Đại đoàn pháo cao xạ 367 ; 3.1957, Chính ủy Trung đoàn pháo cao xạ 689 (Trung đoàn pháo cao xạ 240) Đại đoàn pháo cao xạ 367 ; 8.1957, Trưởng phòng Cán bộ Đại đoàn pháo cao xạ 367 ; 3.1958, Trưởng Phòng Cán bộ Bộ Tư lệnh Phòng không ; 9.1959, Chính ủy Trung đoàn Ra-đa 290 Bộ Tư lệnh Phòng không ; 10.1960, đi học tại Trường Chính trị Trung cao khóa 4 ; 3.1962, Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Phòng không ; 10.1963, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân.

Năm 1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chính ủy Trung đoàn Tên lửa 236 Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Quân chủng, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361-Cận vệ Đỏ), Bí thư Đảng ủy Sư đoàn ; 3.1967, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Tên lửa, Đảng uy rviên Bộ Tư lệnh Tên lửa ; 3.1968, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Quân chủng ; 8.1971, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 2 năm1976, ông chuyển sang giữ chức vụ Tổng Cục phó Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam ; 1980, đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc ; 6.1981, Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị Quân sự Bộ Quốc phòng ; 8.1987, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam cho đến khi về hưu năm 1991.




« Sửa lần cuối: 18 Tháng Tư, 2009, 07:27:37 am gửi bởi DepTraiDeu » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #223 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2009, 07:43:05 am »


Thiếu tướng Trần Hiếu Tâm (tên thật : Trần Văn Luân, bí danh : Thanh Tâm ; 1925) từng giữ chức vụ : Phó Tư lệnh về trang bị kỹ thuật kiêm Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu Thủ đô, Cục trưởng Cục quy hoạch và quản lý xây dựng cơ bản Bộ Quốc phòng, Tham mưu phó Tổng cục Hậu cần.

Huân chương Độc Lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba) Huy chưong Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1984).


Thiếu tướng Trần Hiếu Tâm quê tại Làng Vọc, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Trước Cách mạng ông theo học tại Hà Nội. Tháng 10 năm 1942, ông là Ủy viên Ban chấp hành Thanh niên cứu quốc Trường Kỹ nghệ Hà Nội rồi vào tự vệ chiến đấu ; 3.1945, là cán bộ Việt Minh huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang ; 6.1945, tham gia quân Giải phóng và theo học Trường Quân chính kháng Nhật tại Tân Trào, Việt Bắc.

Từ tháng 8 năm 1945, ông lần lượt giữ các chức vụ : Chính trị viên trung đội, đại đội, tiểu đoàn (Tiểu đoàn Hùng Vương), Chi đội giải phóng quân Trần Quốc Toàn (tức Trung đoàn 115 Phú Yên), Ủy viên Quân sự trong Ủy ban Hành chính kháng chiến tỉnh Phú Thọ ; 4.1947, chính trị viên Tiểu đoàn độc lập Hà Giang, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang, Ủy viên Quân sự Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Hà Giang ; 6.1949, Chính trị viên Tiểu đoàn 542 Trung đoàn Lao Hà ; 10.1949, đi học bổ túc quân sự Trung cao cấp khóa Tổng phán công ; 3.1950, Chính trị viên Ban nghiên cứu Không quân Bộ Tổng tham mưu ; 7.1951, Trưởng phòng Chính trị Cục Quân báo Bộ Tổng Tham mưu ; 6.1954, Trưởng Phòng Điệp báo Cục Quân báo.

Tháng 11 năm 1955, ông đi học văn hóa và ngoại ngữ tại Kiến An ; 8.1956, đi học tại Học viện Quân sự Nam Kinh, Trung Quốc ; 10.1960, Cục phó Cục Trang bị vật tư Bộ Tổng Tham mưu ; 12.1963, Cục trưởng Cục Vật tư nhiên liệu Tổng cục Hậu cần.

Tháng 9 năm 1964, ông giữ chức vụ Tham mưu phó Bộ Tham mưu Tổng cục Hậu cần ; 3.1974, Cục trưởng Cục Quy hoạch và quản lý xây dựng cơ bản Bộ Quốc phòng.

Tháng 7 năm 1979, ông đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc ; 8.1980, Phó Tư lệnh về trang bị kỹ thuật kiêm Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu Thủ Đô cho đến khi nghỉ hưu tháng 10 năm 1987.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #224 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2009, 08:01:21 am »


Thiếu tướng Cao Văn Chấn (08.03.1929) từng giữ chức vụ : Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chưuơng Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Cao Văn Chấn quê tại xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Tháng 1 năm 1947, ông tham gia Đoàn thanh niên rồi vào dân quân du kích tại địa phương ; 10.1947, nhập ngũ là chiến sĩ Đại đội 50, văn thư ban quân sự, phụ trách văn phòng Liên chi tỉnh đội Hải Dương ; 8.1949, học đào tạo chính trị viên đại đội Khu 3 (Trường Quân chính Lê Lợi) ; 1.1950, phái viên, Trợ lý Văn phòng Cục Chính trị (Tổng cục Chính trị) ; 10.1950, Phó Tiểu ban Tổ chức Trung đoàn 675, Chính trị viên Liên đội 755, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 355, Chính trị viên Đại đội 756. Trưởng tiểu ban Tuyên huấn Trung đoàn 675 ; 4.1954, Phó tiểu ban, Trưởng tiểu ban tổ chức Trung đoàn Pháo binh 675 ; 8.1954, Trưởng tiểu ban tổ chức Trung đoàn 84, Phó Ban Tổ chức Sư đoàn 675, Trợ lý tổ chức cán bộ Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 6 năm 1956, ông là Phái viên Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị, Trợ lý Tổng cục Cán bộ Bộ Quốc phòng ; 1.1959, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 82 ; 8.1959, đi học bổ túc tại Trường trung cao chính trị ; 10.1960, Phó Chủ nhiệm Lữ đoàn Pháo binh 374 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 6.1961, Chính ủy Trung đoàn 82 (sau lấy lại tên cũ Trung đoàn 675) Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Năm 1964, ông là Chính ủy Trung đoàn 675 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 6.1966, Chính ủy Trung đoàn Tên lửa Phòng không 263 thuộc Quân chủng Phòng không Không quân. Bộ Tư lệnh Tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân (tháng 3 năm 1967) ; 3.1968, Chính ủy Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1968, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Phòng không 377 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 10.1970, Phó Chính ủy Sư đoàn Phòng không 367, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Sư đoàn ; 8.1971, Chính ủy Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn, Đảng ủy viên Quân chủng.

Tháng 8 năm 1976, ông được cử giữ chức vụ Chính ủy Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân, Bí thư Đảng ủy Sư dodàn, Đảng ủy viên Quân chủng ; 8.1979, đi học tại Học viện Quân sự cấp cao ; 12.1979, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô kiêm Tổng Biên tập báo Chiến sĩ Thủ đô (năm 1987), Đảng ủy viên Quân khu ; 10.1987, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô, Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu cho đến khi nghỉ hưu ngày 1 tháng 7 năm 1995.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #225 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2009, 01:54:56 am »


Thiếu tướng Phan Thái (tên thật : Phan Hữu Thái, bí danh : Trần Hồng ; 15.12.1928) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1984).


Thiếu tướng Phan Thái nguyên quán tại xã Phù Chính, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). Tháng 3 năm 1945, ông hoạt động Việt Minh rồi tham gia nghĩa quân Chiến khu Đông Triều (Đệ tứ chiến khu). Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở thị xã Quảng Yên rồi làm cán bộ tuyên truyền tỉnh Quảng Yên (nay là huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh).

Tháng 2 năm 1946, ông nhập ngũ và được cử đi học tại Trường sĩ quan Sơn Tây ; 1947, ông được cử giữ chức vụ đại đội trưởng Đại đội Ký Con, Đại đội quyết tử của Hải Phòng, trực thuộc Trung đoàn 66 rồi Trung đoàn 42 ; 1949, Tổng đội trưởng Trường Trung sơ cấp Bộ Quốc phòng ; 1951, tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng Tiểu đòan 265 Trung đoàn 57 Sư đoàn 304 ; 5.1953, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn cao xạ 396 Trung đoàn pháo cao xạ 367 ; 11.1954, trung đoàn phó rồi trưởng ban tác huấn Trung đoàn pháo cao xạ 367.

Năm 1955, ông được cử đi học tại Học viện Phòng không Bắc Kinh, Trung Quốc ; 1956, quyền trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 Đại đoàn pháo cao xạ 367 ; 4.1958, trưởng ban cần vụ đối không Bộ Tư lệnh Phòng không.

Tháng 2 năm 1964, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ trưởng phòng trinh sát trên không Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1967, Hiệu trưởng Trường Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1970, cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1975, tham mưu phó Bộ Tham mưu Tổng cục Kỹ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam ; 11.1985, Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật cho đến khi về hưu năm 1990. Thiếu tướng Phan Thái hiện đang sống tại Hà Nội.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #226 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2009, 02:23:02 am »


Thiếu tướng Đặng Văn Duy (tên thật : Đặng Văn Duy, bí danh : Hương Minh, 05.10.1928) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng cục tuyên truyền đặc biệt Tổng cục Chính trị, Phó ban cơ yếu Trung ương, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Đoàn kết Hữu nghĩ chiến đấu của Xô viết tối cao Liên Xô, Huân chương Đoàn kết Liên minh chiến đấu của Nhà nước Cu ba, 1 Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 50 tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Văn Duy quê tại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là quê hương của đại thi hào Nguyễn Du. Tháng 10 năm 1944, ông bắt đầu hoạt động trong Đoàn thanh niên cứu quốc (Mặt trận Việt Minh) rồi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội (8.1945). Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông được điều về công tác ở Ban dân vận Mặt trận Trung ương do ông Hoàng Quốc Việt phụ trách.

Tháng 2 năm 1947, khi đang là cán bộ tự vệ ngoại thành Hà Nội ông đi học Hoa ngữ. Tháng 10 năm 1947, ông là đoàn trưởng kiêm chính trị viên Đoàn công tác đặc biệt, trong đó có Đội vũ trang tuyên truyền vùng Đông Bắc, với nhiệm vụ chính là mở đường bí mật của Trung ương Đảng liên lạc với đại diện Quốc tế cộng sản ở Hương Cảng, Trung Quốc kiêm Giám đốc Trường Lý luận Hoa vận ; 1950, được cử đi học ở Trường Mác Lê-nin ở Trung Quốc ; 1951, phiên dịch Trung văn và phái viên Tổng cục Chính trị ; 1952, ông là bí thư cho ông Nguyễn Chí Thanh Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, và là chiến sĩ thi đua đi dự Hội nghị Chiến sĩ Thi đua toàn quân lần thứ nhất tại Việt Bắc được chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp gắn huy hiệu của Người ; 10.1953, bí thư cho Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Tháng 9 năm 1955, ông tiếp tục là bí thư cho Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh ; 9.1958, đi học tại Trường trung cao Quân đội ; 5.1959, về công tác tại Cục Bảo vệ ; 10.1960, Trưởng phòng nghiên cứu Cục Bảo vệ ; 8.1961, đi học tại Trường Cao đẳng An ninh Liên Xô ; 9.1962, Trưởng phòng bảo vệ Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1966, ông được bổ nhiệm chức vụ Chính ủy Trung đoàn Tên lửa 274 Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1967, Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1968, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1974, Chính ủy Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; Năm 1975, ông được biệt phái sang làm Phó Ban cơ yếu Trung ương.

Tháng 12 năm 1978, ông quay trở về làm Cục trưởng Cục tuyên truyền đặc biệt Tổng cục Chính trị cho đến tháng 10 năm 1989 chuyển sang chờ nghỉ hưu, tham gia Ban chấp hành Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam.

‘’Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1944, vào bộ đội năm 1947, Văn Duy được giao nhiều chức vụ quan trọng: Chính ủy trung đoàn tên lửa H74, Phó chủ nhiệm Chính trị Binh chủng Tên lửa, Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng Không quân, Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân, Phó ban cơ yếu Trung ương, Cục trưởng Cục Tuyên truyền đặc biệt (Tổng cục Chính trị)… Nhiệm vụ nào Văn Duy cũng hoàn thành xuất sắc và hầu hết những đơn vị ông tham gia lãnh đạo, chỉ huy đều được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Không chỉ là người cán bộ tài năng, Văn Duy còn có một hồn thơ chiến sĩ. Sống, chiến đấu, làm việc, đồng cam cộng khổ cùng những người lính trên suốt chặng đường chinh chiến, Văn Duy đã viết nhiều bài thơ khắc họa hình ảnh những người lính ở các đơn vị mà ông đã kinh qua. Đến nay, có thể nói, ông đã có đủ “bộ sưu tập” thơ về bộ đội ở nhiều quân-binh chủng.

Với bộ đội tên lửa, nơi ông có nhiều gắn bó, trong bài thơ “Đẹp mãi vùng trời”, Văn Duy viết: … Chốt giữ trong, cơ động đường dài/ Bánh xe lăn, cánh sóng vươn xa tìm địch/ Đạn đạo vạch nhiễu thù, lao tới đích/ Sáng mãi trong ta, Đẹp mãi vùng trời… Bài thơ này đã được đài Tiếng nói Việt Nam phổ nhạc, trở thành một trong những bài hát hay về bộ đội tên lửa.

Với bộ đội không quân, Văn Duy đã khắc họa hình ảnh đẹp về chiến thắng trận đầu: Bay cao, bay xa, thần tốc/ Chiến công, nối tiếp chiến công; Ta bồi hồi nhớ lại/ Những biên đội không quân/ Vút cao hình đất nước/ Cất cánh bay, theo tay/ Bác vẫy, trên đầu…

Không trực tiếp công tác ở Quân chủng Hải quân, nhưng tướng Văn Duy vẫn rung động, đồng cảm với những người lính biển. Ông mơ ước được làm “cánh chim báo tin vui” cho họ: Ước được làm chim ra đảo xa/ Nghe sóng gió nói lời của biển/ Ta thương ta, tình người lính chiến…

Nhớ về những ngày cùng đồng đội tham gia đoàn công tác đặc biệt mở đường liên lạc với quốc tế theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phá thế bao vây của địch, Văn Duy viết những vần thơ tái hiện về hình ảnh những người lính một thời gian khổ, hào hùng không thể nào quên: Hữu Lũng đêm mưa cọp gầm rung bóng núi/ Đồi cỏ gianh trăn cuốn vút tên bay/ Bìm bịp kêu hoài nghe não ruột…; Mở đường ra biển xa/ Mở đường cho ta gặp bạn/ Trong bão bùng lửa đạn/ Cửa Ngăn dựng lán, nhường hầm/ Cho ta áo cơm/ Cho đồng đội ta tấm chăn vùi thân hồi ngã xuống…

Công việc của ngành cơ yếu âm thầm, tưởng chừng khó viết thành thơ, vậy mà Văn Duy vẫn viết nên Bài ca cơ yếu. Bài thơ này đã được nhạc sĩ An Thuyên phổ nhạc thành bài Hành khúc cơ yếu Việt Nam phát trên sóng đài Tiếng nói Việt Nam: Luật của chúng mình/ Lung linh nhịp điệu/ Mã của chúng mình/ Huyền diệu nét tinh khôi…

Vừa làm thơ, vừa viết văn, đến nay, Văn Duy đã có 5 tập thơ được xuất bản tại Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và Nhà xuất bản Thanh niên: Bến nhớ, Thấp thoáng thời gian, Tình bạn xuyên thế kỷ, Nhịp cầu, Ký ức thời gian. Ngoài ra, ông còn có 4 tập sách được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và Nhà xuất bản Lao động ấn hành: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; Bắn rơi tại chỗ máy bay B52; Sáng tối một vùng; Sáng mãi vùng trời; Kiến trúc sư Phạm Hoàng-một nhân cách lớn…’’ (QDND)




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #227 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2009, 02:44:30 am »


Thiếu tướng Phó Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Quân sự Ngô Huy Biên (bí danh : Huy Hoàng, 20.08.1927) từng giữ các chức vụ : Trưởng phòng Huấn luyện Học viện Quân sư cấp cao.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ và Môi trường, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (6.1988).


Thiếu tướng Ngô Huy Biên quê tại xã Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Tháng 3 năm 1945, ông tham gia Đội tuyên truyền xung phong thành phố Hà Nội. Tháng 5 năm 1945, chuyển về Đội vũ trang tuyên truyền Việt Minh, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hưng Yên thuộc Đệ tứ Chiến khu Đông Triều. Ngày 17 tháng 8  năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở huyện Cầm Giàng, là Chính trị viên Đại đội Đề Thám. Tháng 11 năm 1945, ông được điều về làm trung đội trưởng rồi đại đội phó (11.1947) Đại đội Ký con.

Tháng 12 năm 1949, ông là đại đội trưởng Mặt trận Hà Nội ; 10.1950, đại đội trưởng Đại đội 737 Tiểu đoàn 884 Trung đoàn 48 ; 12.1951, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 337 Trung đoàn 52 Đại đoàn 320 ; 12.1952, đi học chỉnh huấn khóa 7 Bộ Quốc phòng ; 3.1953, được cử đi học pháo cao xạ ở Trung Quốc ; 8.1953, tham mưu trưởng Tiểu dodàn 392 Trung đoàn pháo cao xạ 367 Đại đoàn pháo binh 351 ; 11.1953, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 396 Trung đoàn pháo cao xạ 367 Đại đào pháo binh 351 ; 8.1954, Phó ban tác huấn Đại đoàn pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh pháo binh.

Tháng 2 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ tham mưu phó, tham mưu trưởng, trung đoàn phó Trung đoàn pháo cao xạ 685 Đại đoàn cao xạ 367 Bộ Tư lệnh pháo binh ; 10.1955, đi học Trường Văn hóa Bộ Tổng Tư lệnh ; 1.1957, được cử đi học cao xạ tại Trung Quốc ; 4.1958, trưởng Ban cao xạ Trường sĩ quan Pháo binh ; 6.1961, là phó phòng rồi trưởng phòng huấn luyện Trường Sĩ quan Pháo binh ; 8.1964, trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo cao xạ 218 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 5 năm 1965, ông được cử giữ chức vụ trưởng Phòng Tác chiến Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1968, tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1969, tham mưu phó tác chiến Bộ Tư lệnh 559 ; 7.1970, tham mưu trưởng cao xạ Bộ Tư lệnh 559 ; 7.1971, Tư lệnh Sư đoàn 472 Bộ Tư lệnh 559 ; 8.1973, Trưởng đoàn nghiên cứu viết tổng kết chiến tranh (Tiểu đoàn 100) Quân chủng Phòng không Không quân ; 4.1975, đại diện Quân chủng Phòng không Không quân tại Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tháng 2 năm 1977, ông về làm giáo viên tại Học viện Quân sự cấp cao ; 9.1983, Phó Chủ nhiệm Khoa Chiến dịch Học viện Quân sự cấp cao : 5.1985, làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1988, trưởng Phòng huấn luyện Học viện Quân sự cấp cao, được phong học hàm Phó Giáo sư năm 1991 và là thư ký chuyên ngành Quốc phòng và An ninh thuộc Hội đồng xét duyệt học vị và chức danh khoa học Nhà nứoc (từ năm 1992 đến năm 1997). Thiếu tướng Ngô Huy Biên nghỉ hư tháng 10 năm 1995 và hiện sống tại Hà Nội.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #228 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2009, 02:58:18 am »


Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh (bí danh : Hồng Vinh) từng giữ các chức vụ : Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.

Huân chương Quân công hạng Ba, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, 1 Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (6.1988).


Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh quê tại xã Đức Lâm, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông hoạt đông thanh niên cứu quốc xã và ở trường học, là Phân đoàn trưởng Trường chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng Khu 4.

Tháng 12 năm 1949, ông là Cán bộ tổ chức Ban thanh vận Trung ương ; 7.1950, nhập ngũ, là phái viên kiểm tra Ban Cung cấp chiến dịch Biên giới (Cao Bằng, Lạng Sơn), chiến dịch Trung Du (Vĩnh Yên), chiến dịch đường số 18 Hoàng Hoa Thám (phái viên Chính trị Ban Quân y tiền phương chiến dịch) ; 6.1951, Cán bộ tổ chức Đảng vụ Phòng Chính trị Cục Quân y, Bí thư chi bộ ; Đầu 1952, chính trị viên Tổng trạm vận chuyển thương binh mặt trận Hòa Bình, phái viên Cục Quân y vào Liên khu 3 và 4 giúp các bệnh viện, các đội điều trị và xưởng dược học chỉnh huấn chính trị ; 1954, là cán bộ tổ chức Đảng vụ Phòng Chính trị Cục Quân y.

Tháng 5 năm 1955, ông là Trợ lý chính trị Đội điều trị 7 Viện Quân y 4 Phòng Hậu cần Quân khu 4 ; 8.1958, Trợ lý Tổ chức Phòng sản xuất Cục Hậu cần Quân khu 4 ; 7.1959, học bổ túc văn hóa Trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn ; 9.1961, đi học tên lửa tại Hoc viện Phòng không Quốc gia Ka-li-nin của Liên Xô ; 8.1964, tiếp tục học pháo cao xạ 100mm, 14.5 mm tại Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 3 năm 1965, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 64 Trung đoàn Tên lửa 236 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1967, Phó Phòng tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1967, Phó Phòng tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam theo dõi về bộ đội tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 7 năm 1976, ông là phó phòng quân binh chủng Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu cho đến tháng 5 năm 1978 là trưởng phòng ; 12.1979, ông được cử giữ chức vụ Cục phó, Phó Bí thư Đảng ủy Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu tháng 5 năm 1998.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #229 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2009, 03:11:45 am »


Thiếu tướng Ngô Văn Ry (tên thật : Ngô Khắc Thực, bí danh : Ngô Thế Bình ; 8.1.1931-9.2002) từng giữ các chức vụ : Phó Giám đốc Chính trị Học viện Chính trị Quân sự.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Nông dân Việt Nam, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1989).


Thiếu tướng Ngô Văn Ry quê tại xã Hồng Việt, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Năm 1947, ông tham gia tự vệ chiến đấu xã Hồng Việt ; 10.1948, chiến sĩ Đại đội Lê Lợi của tỉnh đội Thái Bình ; 2.1949, tiểu đội trưởng Đại đội Lê Lợi ; 6.1952, thư ký chính trị Đại đội 332 tỉnh đội Thái Bình ; 6.1954, chính trị viên phó rồi chính trị viên Đại đội thông tin thuộc Trung đoàn 50 Đại đoàn 332.

Tháng 1 năm 1955, ông là Chính trị viên Đại đội 104 Trung đoàn 50 Sư đoàn 332 ; 6.1955, đi học Trường Chính trị sơ cấp Quân khu Tả ngạn ; 11.1959, chính trị viên phó Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 50 Quân khu Tả Ngạn ; 11.1960, học viên lớp đào tạo chính trị trung cấp khóa 1 Học viện Chính trị ; 10.1963, trợ lý giáo dục Ban Chính trị, Phó chủ nhiệm chính trị, chủ nhiệm chính trị Trung đoàn Không quân 910 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1968, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Không quân 923 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1969, Phó Trưởng phòng Tuyên huấn Quân chủng Phòng không Không quân ; 7.1971, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quana ; 3.1974, Trưởng phòng Tuyên huấn Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1975, Phó Chính ủy Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 10 năm 1975, ông là Phó Chính ủy Sư đoàn Không quân 372 Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1976, Phó Chính ủy Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1976, Chính ủy Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1979, được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao ; 9.1980, Hệ trưởng Hệ Lục quân Học viện Chính trị Quân sự ; 10.1987, Chủ nhiệm Chính trị Học viện Chính trị Quân sự ; 10.1988, Phó Giám đốc Chính trị Học viện Chính trị Quân sự cho đến khi nghỉ hưu tháng 10 năm 1988.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM