SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #100 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2010, 04:35:25 pm » |
|
Quân đoàn bộ binh cận vệ 1 và quân đoàn xe tăng 7 ở sườn phải của tập đoàn quân đã được dành để đóng vai trò chủ chốt. Quân đoàn cận vệ 2 và quân đoàn cơ giới 6 được dự đinh điều đến vùng Ác-xai - Pê-rê-gru-dơ-nưi chậm nhất là tòi 24 tháng Chạp để công kích vào sườn của quân đoàn xe tăng 57 của Đức được yếm hộ rất yếu bằng quân Ru-ma-ni, rồi sau đó sẽ phát triển thắng lợi trên hướng Tây - Nam và chặn đường rút lui của địch. Tất cả các dự tính và ý định hành động của chúng tôi đã được kịp thời báo cáo lên Đại bản doanh.
Đối với ý đồ chiến dịch mà Đại bản doanh đã duyệt ngày 19 tháng Chạp và bản kế hoạch đưa tập đoàn quân cận vệ 2 vào chiến đấu tiêu diệt quân của Man-stai-nơ, thì không có sửa chữa gì cơ bản và càng không có gì thay đổi, người ta chỉ dự tính tăng cường đòn công kích đánh vu hồi phía sườn quân địch từ phía Đông để tiến đến các đường giao thông của địch ở vùng Cô-ten-ni-cô-vô.
Ngày 23 tháng Chạp, tư lệnh Phương diện quân Xta-lin-grát A. I. Ê-ri-ô-men-cô đến Véc-khơ-ne - Txa-ri-txưn-xki. Chúng tôi đã bàn với đồng chí về kế hoạch tiến công. Nhưng tin tức nhận được của tù binh cho biết rằng từ sáng sớm ngày 24 tháng Chạp, địch có thể lại đánh ác liệt để giành bờ Bắc sông Mư-sơ-cô-va. Song, kế hoạch của chúng tôi đã không còn gì có thể làm thay đổi nữa: tập đoàn quân cận vệ 2 đã tập kết xong trên hướng này, quân đoàn xe tăng 7 cũng đã tới đây và còn có thêm quân đoàn cơ giới 6.
Như thế là đã thay đổi hẳn so sánh lực lượng có lợi cho bộ đội Liên Xô. Điều đó và cả tình hình chiến sự phát triến thuận lợi cho ta ở trung lưu sông Đôn, đã tạo nên điều kiện tốt để chuyển ngay tập đoàn quân cận vệ 2 và tập đoàn quân 51 sang tiến công.
Việc Phương diện quân Tây - Nam đánh bại tập đoàn quân 8 của I-ta-li-a, và các quân đoàn xe tăng của phương diện quân đã tiền sâu về phía Mô-rô-dốp-xcơ và Ta-xin-xcai-a đều đã nói lên rằng trong một ngày không xa, quân thù không những sẽ buộc phải chấm dứt mưu toan giải thoát quân của Pao-lút bị vây, mà còn phải rút quân trước nguy cơ bị bao vây của chính bản thân mình.
Trong khi thảo luận vấn đề về cách thức đưa tập đoàn quân cận vệ 2 vào chiến đấu, A. I. Ê-ri-ô-men-cô đã đòi phải tăng cường cho đòn đánh đối diện của các quân đoàn bộ binh cận vệ từ phía Bắc không những bằng quân đoàn xe tăng 7, mà cả bằng quân đoàn cơ giới cận vệ 2 nữa; đồng thời phải tập trung ở ngay tại đây, ở vùng Dê-ta, quân đoàn cơ giới 6, sau khi đã chuẩn bị cho nó phản kích. Còn việc công kích cạnh sườn từ phía Đông vào sau lưng quân đoàn xe tăng 57 của Đức thì đồng chí đề nghị chỉ giao cho quân đoàn xe tăng 13 và quân đoàn cơ giới cận vệ 3 của tập đoàn quân 51 đảm nhiệm. Tôi đã báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao những đề nghị này. Đồng chí dặn chúng tôi là không nên giữ ý kiến mình nữa, và chúng tôi đồng ý với những yêu cầu khẩn khoản của tư lệnh phương diện quân.
Sau khi quân của Man-stai-nơ bị chặn lại, tập đoàn quân cận vệ 2 và tập đoàn quân 51 đã chuyển sang tiến công. Đôi khi có người viết rằng cuộc tiến công đó trùng khớp với việc rút quân đã định sẵn của Man-stai-nơ từ sông Mư-sơ-cô-va sang bên kia sông Ác-xai và xa hơn nữa về phía Nam.
Về vấn đề này, tôi có ý kiến khác. Tôi tin rằng trước tiên đó là vì đã có những trận đánh khốc liệt nhất mà tập đoàn quân cận vệ 2 đã phải tiến hành trong hai ngày 24 và 25 tháng Chạp ở khoảng giữa sông Mư-sơ-cô-va và sông Ác-xai chống với các sư đoàn xe tăng 23 và 17 của địch. Đó không phải là địch “rút lui” về phía bên kia sông Ác-xai và tiếp đó về Cô-ten-ni-cô-vô, mà chính là bắt buộc phải chuyển sang phòng ngự quyết liệt vì bị tổn thất nặng nề và vì tình hình ở hướng Ni-giơ-ne - Tsi-rơ-xcai-a trở nên phức tạp đối với chúng do quân đoàn xe tăng 57 bị hở sườn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #101 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2010, 04:36:11 pm » |
|
Cũng đáng chú ý đến những trang hồi ký của chính Man-stai-nơ mà chúng tôi tìm thầy trong cuốn sách của hắn “Những thắng lợi tiêu tan”:
“Thế là giờ đây, trên mặt trận phía Đông sông Đôn cũng đã đến lúc quyền chủ động chuyển sang tay kẻ địch. Ngày 25 tháng Chạp, với lực lượng ngày càng tăng, địch đã công kích quân đoàn xe tăng 57 trên sông Mư-sơ-cô-va và ép nó vào sông Ác-xai.
Những ngày sau đó thì rõ là địch quyết định đánh bọc sườn quân đoàn từ phía Đông và phía Tây... Vì có lực lượng lớn hơn ta nhiều lần, địch đã buộc tập đoàn quân xe tăng 4 trong những ngày sau đó phải rút lui xa hơn nữa đến tận Cô-ten-ni-cô-vô là nơi tập đoàn quân đó đã mở đầu cuộc tiến công của mình ngày 12 tháng Chạp...
Những cố gắng đã bắt đầu ngày 12 tháng Chạp để cứu nguy cho tập đoàn quân 6 đã bị thất bại, ít ra là thất bại tạm thời. Trong tình hình cụ thể lúc bấy giờ liệu có còn hy vọng nào lặp lại cố gắng đó không?
Giờ đây, khi đã có thể nhìn lại toàn bộ quá trình diễn biến tình hình trên mặt trận của cụm tập đoàn quân “B", thì câu hỏi này, có lẽ phải trả lời là không. Nhưng lúc bấy giờ thì không thể thấy trước được rằng vào tháng Giêng, sau thảm họa thất bại của tập đoàn quân I-ta-li-a lại tiếp đến thảm họa còn lớn hơn nữa của tập đoàn quân Hung-ga-ri ở sông Đôn. Bộ chỉ huy cụm tập đoàn quân “Sông Đôn” lúc bấy giờ đã cho là mình không có quyền từ bỏ hy vọng cứu nguy cho tập đoàn quân 6, mặc dầu làm như thế có rất nhiều khó khăn".
Như vậy là ngày 24 tháng Chạp, tập đoàn quân cận vệ 2 và tập đoàn quân 51 chuyển sang tiến công quyết liệt, đẩy lùi quân địch về Cô-ten-ni-cô-vô và phát triển công kích từ phía Bắc và Đông - Bắc. Trong tung thâm tác chiến ở hướng này, hành động có kết quả nhất là quân đoàn xe tăng 7, rồi đến quân đoàn cơ giới 6.
Các quân đoàn xe tăng 13 và quân đoàn cơ giới cận vệ 3 của tập đoàn quân 51 chuyển sang tiến công ngày 27 tháng Chạp từ Xa-đô-vưi và U-man-txe-vô, đã chọc thủng đội hình chiến đấu của tập đoàn quân 4 của Ru-ma-ni và có triển vọng thọc sâu đánh vu hồi từ phía Nam vào cánh quân Cô-ten-ni-cô-vô. Lúc bấy giờ, chính là bắt đầu cuộc chiến đấu trực tiếp giành giật Cô-ten-ni-cô-vô. Địch tăng cường phòng ngự thành phố. Nhưng sáng 29 tháng Chạp, bằng những trận đánh ngoan cường trên đường phố, quân đoàn xe tăng 7 đã quét sạch quân thù khỏi thành phố và nhà ga.
Tàn quân phát-xít Đức vừa chống cự, vừa rút lui qua thảo nguyên Can-mư-ki-a và vùng ven sông Đôn về hướng Tây và Tây - Nam. Do cuộc tiến công của Phương diện quân Xta-lin-grát từ ngày 24 đến 31 tháng Chạp. tập đoàn quân 4 của Ru-ma-ni đã hoàn toàn bị tiêu diệt, còn quân đoàn xe tăng 57 thuộc tập đoàn quân xe tăng 4 của Đức thì bị tổn thất nặng nề và bị đánh bật ra xa 150 ki-lô-mét.
Tôi xin nói mấy lời về những sự kiện ở trung lưu sông Đôn đã có tác dụng quan trọng trong việc bẻ gãy cuộc tiến công của Man-stai-nơ và tiêu diệt cánh quân của hắn. Tại đây cuộc tiến công của các Phương diện quân Tây - Nam và Vô-rô-ne-giơ đã bắt đầu hôm 16 tháng Chạp. Đòn công kích chủ yếu là do tập đoàn quân 6 và tập đoàn quân cận vệ 1 đánh ở điểm tiếp giáp giữa hai tập đoàn quân đó.
Tập đoàn quân cận vệ 3 của Phương diện quân Tây - Nam tiên hành trận đánh đối diện. Mục đích trước mắt là tiêu diệt tập đoàn quân 8 của I-ta-li-a và cụm tác chiến “hô-lít”. Tiếp đó, sau trận công kích mới của các quân đoàn cơ động trên những hướng đồng quy (về phía Ta-xin-xcai-a và Mô-rô-dốp-xcơ), các tập đoàn quân cận vệ 1 và 3 phải tiến vào sau lưng quân địch dành để tham gia vào cuộc giải phóng cánh quân Pao-lút bị vây
Ngay ngày thứ năm của chiến dịch, toàn bộ trận địa của bọn I-ta-li-a đã bị phá vỡ. Việc điều khiển quân đội của địch bị rối loạn nhanh chóng. Bắt đầu một cuộc tháo chạy tán loạn. Các quân đoàn xe tăng và cơ giới của bộ đội Liên Xô đã đóng một vai trò tích cực, táo bạo tiến xen kẽ thật sâu vào sau lưng địch, và vừa tiến vừa tiêu diệt quân địch rút lui.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #102 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2010, 04:36:45 pm » |
|
Các tập đoàn quân không quân 17 và 2 đã yểm trợ đắc lực cho bộ đội mặt đất. Trong số các đơn vị cơ động cần đặc biệt nêu lên quân đoàn xe tăng 24. Ngày 24 tháng Chạp, quân đoàn này đã tách khỏi đại quân của mình, bất ngờ đột kích và chiếm được nhà ga Ta-xin-xcai-a, thu được rất nhiều chiến lợi phẩm.
Sự phát triển thắng lợi của cuộc tiến công của bộ đội Phương diện quân Tây - Nam đã buộc bộ chỉ huy Đức phát-xít phải tung toàn bộ lực lượng dành để thành lập cánh quân xung kích ở vùng Toóc-mô-xin nhằm mở một cuộc công kích giải vây thứ hai ra đối phó.
Để thủ tiêu nguy cơ đe dọa cụm tập đoàn quân “Sông Đôn”, địch đã điều đến vùng Min-le-rô-vô, Ta-xin-xcai-a và Mô-rô-dôp-xcơ cả bốn sư đoàn xe tăng và bốn sư đoàn bộ binh đang tiến đến gần đấy, mà trước kia đã dành để tăng cường cú đấm vào Xta-lin-grát từ phía Ni-giơ-ne - Tsi-rơ-xcai-a. Bọn Hít-le đã có thể thiết lập một trận địa phòng ngự ở phía Bắc Ta-xin-xcai-a và Mô-rô-dốp-xcơ. Quân đoàn xe tăng 24 bị tách ra khói đại quân Liên Xô, đã chiến đấu bốn ngày trong vòng vây. Sau khi nhận được lệnh rút ra, nó đã chọc thủng đội hình chiến đấu của địch và trở về với đại quân mà không bị thiệt hại gì đáng kể.
Địch chống cự kịch liệt ở vùng Toóc-mô-xin, tạo nên sự uy hiếp đối với sườn phải của cánh quân xung kích tập đoàn quân cận vệ 2. Nói chuyện với Tổng tư lệnh tối cao, tôi đã đề nghị chuyển tập đoàn quân xung kích 5 cùng với quân đoàn kỵ binh cận vệ 3 từ Phương diện quân Xta-lin-grát sang Phương diện quân Tây - Nam.
Bằng lực lượng của tập đoàn quân xung kích 5 và tập đoàn quân xe tăng 5 có gộp thêm cả quân đoàn xe tăng 23, Phương diện quân Tây - Nam phải tiêu diệt bọn địch ở phía Nam Xu-rô-vi-ki-nô để nắn thẳng chiến tuyền và đẩy lùi quân địch từ sông Tsi-rơ đến sông Rôt-xô-sơ-ca. Ngày 26 tháng Chạp, Đại bản doanh đã cho phép hành động như thế. Việc lãnh đạo các hành động đó được giao cho M. M. Pô-pốp, lúc đó là phó tư lệnh Phương diện quân Tây - Nam.
Tình hình gay go ở vùng Toóc-mô-xin buộc chúng ta phải lệnh cho quân đoàn cơ giới cận vệ 2, sư đoàn cận vệ 33 và sư đoàn bộ binh 387 phải tập trung mọi cố gắng đề chậm nhất là ngày 29 tháng Chạp phải vượt qua sông Đôn và công kích vào Toóc-mô-xin. Việc chỉ huy cánh quân này, tư lệnh tập đoàn quân cận vệ 2 giao cho phó tư lệnh là trung tướng I-a. G. Crây-de.
Sáng 29 tháng Chạp, nhận được báo cáo là quân đoàn xe tăng 7 đã hoàn toàn quét sạch quân phát-xít khỏi Cô-ten-ni-cô-vô, tôi liền tới Véc-khơ-ne - Cuốc-mô-i-ác-xcai-a để giúp đỡ bộ đội hoàn thành nhiệm vụ trên hướng Toóc-mô-xin. Ở Véc-khơ-ne - Cuốc-mô-i-ác-xcai-a đã có mặt I-a. G. Crây-de và chỉ huy quân đoàn cơ giới cận vệ 2 C. V. Xvi-ri-đốp. Các đồng chí đó đang lãnh đạo cuộc vượt sông Đôn của quân đoàn, còn sư đoàn cận vệ 33, sau khi chiếm được bàn đạp ở bờ Tây thì yểm hộ cho cuộc vượt sông. Hai ngày sau, các binh đoàn này cùng hiệp đồng tác chiến với các đơn vị của tập đoàn quân xung kích 5 (tập đoàn quân này tiến công từ đông-bắc) đã chiếm được Toóc-mô-xin và vùng xung quanh.
Đêm giao thừa, I. V. Xta-lin giao cho tôi chuyển tới bộ đội quân đoàn xe tăng 7 lời khen ngợi của Tổng tư lệnh tối cao về thành tích xuất sắc và lời chào mừng nhân thắng lợi rất quan trọng mà họ giành được. Nhiệm vụ được giao thật là thú vị, và tôi rất vui lòng chúc bộ tư lệnh quân đoàn một năm mới đầy may mắn.
Đó là một đêm đẹp trời, đầy sao, ánh trăng trong tỏa sáng trên đồng cỏ giá lạnh im lìm. Trong những ngôi nhà tối om của Cô-ten-ni-cô-vô lóe lên đâu đấy những ánh lửa thuốc lá và bật lửa. Thỉnh thoảng từ xa vọng lại những tràng súng máy ngắn ngủi. Tôi hít đầy lồng ngực không khí mùa đông của Tổ quốc. Thắng lợi đã chất đầy lòng tôi một niềm vui, và một làn gió nhẹ của vùng biển Ca-xpi thổi vào má như báo trước những thắng lợi to lớn nay mai của chúng ta. Nhớ lại đêm giao thừa năm 1942. Lúc bấy giờ, chúng ta chiến thắng quân địch lần đầu tiên ở gần Mát-xcơ-va.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #103 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2010, 04:37:43 pm » |
|
Sáng sớm 1 tháng Giêng năm 1943, tôi trở lại sở chỉ huy của mình ở Véc-khơ-ne - Txa-ri-txưn-xki. Tại đây, tôi nhận được tin báo từ Mát-xcơ-va là phải liên lạc điện thoại với Xta-lin và bản chỉ thị do Xta-lin và Giu-cốp ký vào đêm giao thừa gửi cho tôi và Ê-ri-ô-men-cô. Chỉ thị cho biết rằng kế hoạch về hành động sắp tới của phương diện quân do chúng tôi trình lên đã được duyệt.
Đồng thời có quy định thêm là phải dùng lực lượng của các đơn vị cơ động để chiếm Txim-li-an-xcai-a vào ngày 2 tháng Giêng; chiếm Côn-xtan-ti-nốp-xcai-a vào chiều tối 4 và nhất thiết không được để chậm quá ngày 5 tháng Giêng; chiếm các thành phố Sa-khơ-tư và Nô-vô-tséc-cát-xcơ vào ngày 7 tháng Giêng; chiếm Xan-xcơ. vào ngày 5 tháng Giêng; chiếm Ti-khô-rét-xcai-a vào ngày 15 - 16 tháng Giêng.
Việc tổ chức hiệp đồng giữa Phương diện quân Nam (trước là phương diện quân Xta-lin-grát) và Phương diện quân Tây - Nam được giao cho tôi. Chiến dịch được đặt mật danh là “Sông Đôn".
Trong cuộc nói chuyện qua điện thoại liền ngay sau đó, Xta-lin báo cho tôi biết là Đại bản doanh đã xem xét lại vấn đề giao nhiệm vụ kế tiếp cho tôi và báo tôi phải đi ngay đến Phương diện quân Vô-rô-ne-giơ, để tại đây, với tư cách là đại diện Đại bản doanh, tham gia vào việc chuẩn bị và tiến hành những chiến dịch tiến công đã định trong kế hoạch ở thượng lưu sông Đôn. Trong việc này, tôi chịu trách nhiệm tổ chức hiệp đồng tác chiến giữa Phương diện quân Vô-rô-ne-giơ với Phương diện quân Bri-an-xcơ và Phương diện quân Tây - Nam.
Thắng lợi ở Xta-lin-grát đã làm thay đổi căn bản tình hình trên toàn bộ mặt trận Xô - Đức. Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đã có khả năng triển khai tiến công chiến lược trên một khu vực mặt trận rộng lớn nói chung và trước tiên là trên cánh Nam và trên hướng Vô-rô-ne-giơ. Việc tiến quân của Phương diện quân Nam ra tuyến Di-mốp-ni-ki ở thảo nguyên Xan, đồng thời phát triển tiến công của Phương diện quân Tây - Nam trên hướng Vô-rô-si-lốp-grát, đã tạo nên một nguy cơ nghiêm trọng cho toàn thể cánh quân địch ở Cáp-ca-dơ.
Để nêu rõ Bộ Tổng tư lệnh tối cao đã đánh giá như thế nào về tình hình lúc đó ở Cáp-ca-dơ và muốn hướng những cố gắng tiếp theo của bộ đội Liên Xô trên khu vực mặt trận này vào đâu, tôi xin dẫn ra bức điện của Xta-lin, do chính đồng chí đọc ngày 4 tháng Giêng cho Bộ Tổng tham mưu gửi tư lệnh Phương diện quân Da-cáp-ca-dơ I. V. Ti-u-lê-nép.
Tôi nêu ra bức điện này cũng còn là vì tôi thấy nó rất có ích trong việc đánh giá Xta-lin với tư cách một nhà hoạt động quân sự, với tư cách là Tổng tư lệnh tối cao lãnh đạo cuộc đấu tranh có quy mô to lớn của các Lực lượng vũ trang Liên Xô. Trong thời gian chiến tranh đã có rất nhiều những văn kiện tương tự do Xta-lin trực tiếp thảo ra và có liên quan đến việc quyết định các vấn đề chiến dịch - chiến lược quan trọng nhất.
Toàn văn bức điện như sau:
"Một, địch rút khỏi Bắc Cáp-ca-dơ, vừa đi vùa đốt kho, phá đường. Cụm quân Bắc của Ma-xlen-ni-cốp đang biên thành một cụm quân dự bị có nhiệm vụ truy kích quân địch một cách vừa phải, đuổi địch ra khỏi Bắc Cáp-ca-dơ là không có lợi cho ta. Có lợi cho ta hơn là kìm chúng lại để đánh từ phía cụm quân Biển Đen nhằm bao vây chúng. Do đó, trọng tâm tác chiến của Phương diện quân Da-cáp-ca-dơ đang chuyển đến khu vực của cụm quân Biển Đen; điều đó cả Ma-xlen-ni-cốp lẫn Pê-tơ-rôp đều không hiểu.
Hai. Lập tức chở quân đoàn bọ binh 3 ra khỏi khu vực của cụm quân Bắc và chuyển thật nhanh đến khu vực của cụm quân Biển Đen. Ma-xlen- ni-cốp có thể sử dụng tập đoàn quân 58 đang rỗi rãi loay hoay trong lực lượng dự bị của đồng chí ấy, mà trong tình hình tiến công thắng lợi của chúng ta, nó có thể mang lại lợi ích lớn.
Nhiệm vụ thứ nhất của cụm quân Biển Đen là tiến ra Ti-khô-rét-xcai-a và, nhờ đó, ngăn cản không cho địch chở phương tiện kỹ thuật của chúng về phía Tây. Trong công tác này, tập đoàn quân 51 và có thể, cả tập đoàn quân 28 nữa sẽ giúp đỡ cho đồng chí.
Nhiệm vụ thứ hai và chủ yếu của đồng chí là lấy ở cụm quân Biển Đen ra một lực lượng mạnh để chiếm Ba-tai-xcơ và A-dốp, luồn vào Rô-xtôp từ phía Đông và, do đó, bịt kín lối thoát của cụm quân địch ở Bắc Cáp-ca-dơ nhằm bắt chúng làm tù binh hoặc tiêu diệt. Trong việc này, đồng chí sẽ được sự giúp đỡ của sườn trái Phương diện quân Nam của Ê-ri-ô-men-cô đang có nhiệm vụ tiến ra phía Bắc Rô-xtốp.
Ba. Hãy ra lệnh cho Pê-tơ-rốp phải bắt đầu tiến công đúng hạn, không thể trì hoãn một giờ nào, không đợi tất cả lực lượng dự bị đến đủ. Pê-tơ-rốp cứ phòng ngự mãi, và đồng chí ấy không có nhiều kinh nghiệm tiến công. Giải thích cho đồng chí ấy rõ là phải quý trọng từng ngày, từng giờ.
Bốn. Đồng chí hãy đi ngay... đến khu vực của cụm quân Biển Đen và hãy đảm bảo thực hiện chỉ thị này”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #104 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2010, 04:38:21 pm » |
|
Lúc ấy, mỗi người đều hiếu rõ ý nghĩa của tất cả những điều đó. Phải chặn quân Đức lại, không cho chúng rút khỏi Cáp-ca-dơ và phải cắt rời các binh đoàn địch mới hôm qua đây ngang ngược bò xuống phía Nam, đến tận En-bru-xơ, vào Gru-di-a, vào A-déc-bai-gian. Đó là vấn đề phải giải quyết trước mắt!
Chiến lược đó được đặt ra do yêu cầu của tình huống quân sự sau cuộc phản công thắng lợi của bộ đội Liên Xô ở Xta-lin-grát. Đồng thời và trước hết, việc đánh bại quân địch ở trung lưu sông Đôn, đặc biệt ở vùng Cô-ten-ni-cô-vô, đã tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt hoàn toàn cánh quân Đức bị vây ở Xta-lin-grát.
Hồi cuối của bản anh hùng ca Xta-lin-grát, màn chót thắng lợi của nó là chiến dịch tiến công của Phương diện quân sông Đôn ở vùng giữa sông Vôn-ga và sông Đôn. Chiến dịch đã được chuẩn bị và tiến hành thắng lợi vào tháng Giêng năm 1943 dưới sự điều khiển của tư lệnh Phương diện quân sông Đôn C. C. Rô-cô-xốp-xki và đại diện Đại bản doanh N. N. Vô-rô-nốp.
Tôi muốn nói ở đây mấy lời về Trưởng nguyên soái pháo binh N. N. Vô-rô-nôp. Tôi đã quen biết đồng chí ở Mát-xcơ-va hồi đầu những năm 30, lúc đồng chí chỉ huy trung đoàn pháo binh của Sư đoàn Vô sản Mát-xcơ-va, còn tôi thì công tác ở cơ quan quân huấn của Hồng quân công nông. Tất thảy chúng tôi đều thấy ở N. N. Vô-rô-nôp một chuyên gia xuất sắc, một cán bộ pháo binh thực hành, mà cũng rất thông hiểu các vấn đề bộ đội hợp thành. Sau đó, đồng chí được phái đi Tây Ban Nha, rồi khi trở về nước, đồng chí được bổ nhiệm làm tư lệnh pháo binh Hồng quân.
Đặc biệt tôi được tiếp xúc gần gũi với đồng chí trong những năm chiến tranh. Là tư lệnh pháo binh, N. N. Vô-rô-nốp thường hay được phái đến các phương diện quân với tư cách là đại diện của Đại bản doanh. Không phải là không có căn cứ mà Tổng tư lệnh tối cao tín nhiệm đồng chí, xem đồng chí là một chuyên gia quân sự lớn, có rất nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Đồng chí đã có đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng và tiến hành nhiều chiến dịch quan trọng. Đồng chí cũng đã đóng vai trò lớn trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ chỉ huy pháo binh Liên Xô, trong việc cải tiến và chế tạo những loại súng và khí tài kỹ thuật mới của pháo binh cũng như trong việc phát triển chiến thuật áp dụng binh chủng hùng mạnh này trong chiến đấu, một binh chủng đã đóng vai trò vô giá trong những năm Chiến tranh giữ nước vĩ đại
Chiến dịch tiêu diệt cánh quân của Pao-lút đã bắt đầu ngày 10 tháng Giêng, sau khi địch từ chối ngừng chống cự theo yêu cầu của ta. Từ lúc đó, tinh thần của quân địch sa sút và hy vọng mở vây giảm dần. Điều đó biểu hiện ở tinh thần chán nản và tan rã từng bước của quân địch bị vây. Những người lính Đức ngày càng mệt mỏi và kiệt sức đã cố tìm cho mình một nơi ẩn nấp dưới các hầm nhà ở Xta-lin-grát. Ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng chống cự là vô nghĩa.
Mười bốn ngày sau đó, Pao-lút báo cho bộ tổng chỉ huy Đức: “tai họa không thể tránh khỏi. Để cứu lấy những người sống sót, tôi yêu cầu lập tức cho phép đầu hàng”. Lời yêu cầu đó đã bị bác bỏ.
Ngày 2 tháng Hai năm 1943, những loạt súng cuối cùng của trận chiến đấu ở sông Vôn-ga đã vang lên. Trận này đã tạo nên hàng nghìn anh hùng cho Tổ quốc trong số chiến sĩ, chỉ huy và cán bộ chính trị. Chiến công của họ tượng trưng cho sự vẻ vang của các Lực lượng vũ trang Liên Xô. Một số lớn các đơn vị được tuyên dương những danh hiệu vinh dự, tặng thưởng huân chương, chuyển thành đơn vị cận vệ.
Hơn 70 vạn người tham gia bảo vệ thành phố anh hùng và tiêu diệt quân địch được thưởng huy chương “bảo vệ Xta-lin-grát”. Sau chiến tranh, việc xây dựng trên đồi Ma-ma-ép thần thoại một hệ thống đài kỷ niệm hùng vĩ là một sự công nhận những công trạng đặc biệt của những người anh hùng Xta-lin-grát.
Hơn bao giờ hết, Đại bản doanh và Bộ Tổng tham mưu đã chỉ đạo toàn bộ đợt chiến đấu này một cách khéo léo và có mục đích rõ rệt. Kế hoạch trận đánh được xây dựng rất kỹ lưỡng, thể hiện rõ ý đồ rất độc đáo và nội dung chiến dịch - chiến lược rất sâu sắc. Trong đó có thể thấy toát lên một trường phái chỉ huy già dặn và thiên tài.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #105 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2010, 04:39:39 pm » |
|
Đại bản doanh và Bộ Tổng tham mưu đã làm một khối lượng công tác to lớn trong việc chuẩn bị và thực hiện chiến dịch: làm quán triệt nhiệm vụ đến những người chấp hành và cụ thể hóa nhiệm vụ với các tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân, giải quyết các vấn đề hiệp đồng ở tất cả các cấp chỉ huy, bảo đảm vật chất - kỹ thuật. Tóm lại, Đại bản doanh và Bộ Tổng tham mưu đã làm đến mức tối đa để đánh thắng.
Trong trận Xta-lin-grát, các tư lệnh phương diện quân N. Ph. Va-tu-tin, A. I. Ê-ri-ô-men-cô và C. C. Rô-cô-xốp-xki, Các bộ tham mưu của họ cũng đã đáp ứng xuất sắc những nhiệm vụ gay go, tỏ rõ đã trưởng thành về nghệ thuật điều khiển bộ đội. Vấn đề sử dụng những đơn vị cơ động lớn trong chiến dịch phức tạp này, vấn đề hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, rành mạch và kịp thời của tất cả các binh chủng và ở tất cả các giai đoạn chiến dịch, việc tổ chức bao vây, xây dựng trận tuyến vòng ngoài để cô lập một cánh quân địch lớn như thế với những lực lượng dự bị đang kéo tới, vấn đề phòng không và đảm bảo vật chất cho bộ đội, tất cả các vấn đề đó đã được giải quyết một cách thông thạo.
Trận này đã tỏ rõ trình độ cao của nghệ thuật quân sự Liên Xô, và về thực chất đã trở thành một bài học xứng đáng, bổ ích của lịch sử. Đồng thời, thắng lợi ở Xta-lin-grát còn là một bằng chứng hiển nhiên về sức mạnh to lớn, về sự trưởng thành trong nghệ thuật quân sự của các Lực lượng vũ trang Liên Xô nói chung. Nó là một tấm gương xuất sắc, một đà thúc đẩy để tiến hành trong năm 1943 cả một loạt chiến dịch tiến công mới, là giai đoạn quan trọng nhất trên đường đi tới thắng lợi hoàn toàn trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại.
Hoạt động của các tư lệnh phương điện quân và tập đoàn quân không tách rời nhóm hoạt động của các bộ tham mưu của họ. Tham mưu trưởng cửa Phương diện quân Tây - Nam là X. P. I-va-nôp, của Phương diện quân Xta-lin-grát là I. X. Va-ren-ni-cốp và của Phương diện quân sông Đôn là M. X. Ma-li-nin. Tài tổ chức và năng lực nghiệp vụ của họ đã giúp rất nhiều cho việc giải quyết tất cả các nhiệm vụ về chiến lược, tác chiến, chiến thuật và về tổ chức đơn thuần trong suốt quá trình chiến dịch và đặc biệt là trong thời kỳ chuẩn bị chiến dịch.
Các hiệu sách ở phương Tây tư sản tiếp tục tràn ngập những “công trình nghiên cứu” đủ loại màu sắc, trong đó trình bày một cách định kiến, có dụng ý về tình hình đã diễn ra trên sông Vôn-ga và trên các khu vực khác của mặt trận Xô Đức.
Một số tác giả của những “công trình nghiên cứu” đó thí dụ như tướng Mỹ U-ô-cơ, lại vô lý đến nỗi nói rằng hoàn toàn không có trận đánh Xta-lin-grát. Viên tướng này nói rằng trận đánh trên sông Vôn-ga chỉ là một sự bịa đặt có tính chất tuyên truyền của những người cộng sản. Thiết nghĩ, chỉ có người bị bệnh loạn óc mới có thể nói như vậy.
Chúng ta hãy xem nguyên văn một tài liệu được lưu trữ cùng với nhiều kỷ vật khác trong viện bảo tàng của thành phố anh hùng mà tên gọi của nó là tên trận đánh trên sông Vôn-ga. Đó là bằng khen của Tổng thống Hợp chủng quốc Mỹ Phran-cơ lin Ru-dơ-ven, nguyên văn như sau:
“Nhân danh nhân dân Hợp chủng quốc Mỹ, tôi xin trao bằng khen này cho Xta-lin-grát để bày tỏ lòng khâm phục của chúng tôi trước những người anh dũng bảo vệ thành phố mà lòng dũng cảm, sức mạnh tinh thần và sự hy sinh quên mình của họ trong thời gian địch đánh phá thành phố từ 13 tháng Chín năm 1942 đến 31 tháng Giêng năm 1943, sẽ mãi mãi cổ vũ lòng mọi người tự do. Thắng lợi vẻ vang của họ đã chặn đứng làn sóng ngoại xâm và đã trở thành bước ngoặt trong cuộc chiến tranh của các nước Đồng minh chống xâm lược”.
Tìm trong các “công trình nghiên cứu” như kiểu của U-ô-cơ vừa kể trên một sự phân tích khách quan về diễn biến và kết cục của chiến tranh thế giới thứ hai, một sự trung thực khoa học sơ đẳng, thì cũng chẳng khác nào đi thổi một đồng tro tàn để tìm lửa. Bởi lẽ các tác giả đó là những tên đầy tớ trung thành của thế lực phản động thế giới, chuyên nghề vu khống bỉ ổi đối với nhân dân và quân đội Liên Xô. Họ ra sức hạ thấp những thắng lợi quân sự của Hồng quân. Chính những thắng lợi đó đã thúc đẩy hàng triệu người ở các nước bị bọn Hít-le chiếm đóng chuyển từ sự chống đối tiêu cực sang đấu tranh tích cực. Chính những thắng lợi đó đã là thảm họa cho nước Đức phát-xít.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #106 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2010, 04:39:48 pm » |
|
Các nhà sử học tư sản có chứng minh rằng “những trận đánh quyết định” của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã diễn ra ở những nơi quân đội Anh - Mỹ hoạt động. Ví dụ, người ta nêu lên vùng En A-la-mên. Một lần nữa chúng ta nhắc lại rằng: vào tháng Mười năm 1942, trên hướng Xta-lin-grát, quân Đức có hơn 50 sư đoàn, còn ở vùng En A-la-mên chỉ có 12 sư đoàn. Ta thấy hoàn toàn khác nhau về căn bản.
Chúng ta cũng nhắc lại là hồi đó bộ chỉ huy Đức đã giữ lại ở gần Xta-lin-grát đại bộ phận lực lượng xe tăng và không quân. Hơn nữa, các nhà sử học tư sản, mất hết cả ý thức điều độ có khi đã đặt trận Xta-lin-grát ngang hàng với cuộc đổ bộ của quân Mỹ lên đảo Goa-đan-ca-nan. Nhưng chúng ta đã biết, số quân Nhật phòng thủ đảo này không quá hai nghìn tên.
Trong các “công trình nghiên cứu” của họ không hề nói gì đền những thành tựu của nghệ thuật quân sự Liên Xô trong trận Xta-lin-grát. Ngược lại, bằng nhiều hình thức, các tác phẩm đó nhắc đi nhắc lại lời quả quyết của bọn tướng quốc xã nói rằng dường như Hồng quân có ưu thế hơn hẳn về lực lượng và phương tiện.
Trong quân sự, người ta phân biệt hai loại ưu thế về lực lượng và phương tiện: ưu thế chung và ưu thế trên các hướng chính. Tất nhiên, bao giờ cũng rất đảng mong muốn có được ưu thế chung, vì đó là nhân tố quan trọng nhất để giành thắng lợi.
Song ở Xta-lin-grát, chúng ta không có ưu thế chung. Đây là so sánh lực lượng và phương tiện vào ngày 19 tháng Mười một năm 1942. Bộ đội Liên Xô: 1.000.500 người, 13.541 pháo và cối, 894 xe tăng, 1.115 máy bay chiến đấu. Quân địch: 1.011.500 người, 10.290 pháo và cối, 675 xe tăng, 1.216 máy bay. Như thế là lúc bắt đầu phản công, chúng ta chỉ có ưu thế không đáng kể về pháo và xe tăng, còn về không quân thì ưu thế thuộc về phía địch.
Thực chất vấn đề là ở chỗ, tuy không có ưu thế chung về lực lượng và phương tiện, bộ chỉ huy Liên Xô đã khéo léo tạo nên các cánh quân xung kích mạnh trên các hướng đột kích chính. Có thể nêu thí dụ Phương diện quân Tây - Nam có địa bàn rộng 250 ki-lô-mét. Trên khu vực đột phá rộng 22 ki-lô-mét (khoảng 9% toàn bộ chiều dài trận địa) đã tập trung đến 50% số sư đoàn bộ binh, toàn bộ các quân đoàn xe tăng và kỵ binh, 85% pháo binh tăng cường. Toàn bộ máy bay của phương diện quân cũng hoạt động phục vụ cho cánh quân này. Các cánh quân xung kích ở các Phương diện quân sông Đôn và Xta-lin-grát cũng được thành lập theo cách tương tự.
Chúng ta còn có thể kể thêm những điểm nữa là: lựa chọn đúng các hướng để đưa cánh quân xung kích vào sau lưng địch; xác định chính xác lúc chuyển sang phản công; thành lập cùng một lúc cả vòng vây ngoài và vòng vây trong; tổ chức tốt việc dùng không quân phong tỏa cánh quân địch ở trong “cái chảo” khổng lồ.
Dù cho các nhà sử học tư sản hiện đại có mưu toan xuyên tạc lịch sử với ý đồ xấu đến đâu, thì chúng cũng không thể nào làm cho loài người quên được ý nghĩa vĩ đại của trận Xta-lin-grát. Cả đối với thế hệ chúng ta cũng như thế hệ mai sau, mãi mãi vẫn không thể chối cãi được là sau trận thất bại ở Xta-lin-grát, bè lũ cầm đầu quân sự và chính trị Hít-le, mặc dù hết sức cố gắng cũng không thể khôi phục được khả năng chiến đấu cũ của quân đội chúng và lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc về quân sự - chính trị.
Trận Xta-lin-grát đã được công nhận một cách xứng đáng là một biến cố quân sự - chính trị quan trọng nhất của toàn bộ cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Chính chiến thắng Xta-lin-grát đã quyết định sự bắt đầu sụp đổ của khối phát-xít, đã mở rộng quy mô phong trào giải phóng trong các nước bị bọn quốc xã chiếm đóng, đã chứng minh hiển nhiên rằng không phải chỉ có chính nghĩa, mà cả sức mạnh sinh động đã bảo vệ chủ nghĩa xã hội, và nhất định chủ nghĩa phát-xít không tránh khỏi diệt vong.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #107 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2010, 07:32:59 pm » |
|
Ở THƯỢNG LƯU SÔNG ĐÔN Mùa đông năm 1942 - 1943, Hồng quân tiến công trên đại bộ phận mặt trận từ Lê-nin-grất đến Cáp-ca-dơ. Trong những ngày đó, khi nhìn lại một năm rưỡi chiến tranh mà đất nước đã trải qua và trong khi chiến đấu sâu trong nội địa Tổ quốc, chúng ta tin tưởng chắc rằng đã vượt qua được những khó khăn chủ yếu. Thắng lợi ở Xta-lin-grat, mục tiêu đã rõ ràng, sự chi viện ngày càng tăng của hậu phương, tất cả những điều đó làm cho chúng ta vô cùng hào hứng, phấn khởi và thúc giục chúng ta xốc tới phía trước giành thắng lợi cuối cùng. Chúng ta không còn là những người bị chiến tranh kẹp chặt giữa những gọng kìm khắc nghiệt như hồi tháng Sáu năm 1941, và Hồng quân cũng đã khác xưa. Nghệ thuật quân sự của Hồng quân được hoàn thiện lên, sức chiến đấu đã mạnh thêm. Trong tiến trình chiến tranh đã xuất hiện một đội ngũ cán bộ chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, được tôi luyện trong chiến đấu. Tháng Mười năm 1942, trong các Lực lượng vũ trang Liên Xô đã hoàn toàn áp dụng đầy đủ chế độ một người lãnh đạo. Các cán bộ chính trị cũng trưởng thành về chất lượng, và nhiều người đã được chuyển sang giữ chức vụ chỉ huy theo chế độ đó. Đầu năm 1943, binh sĩ và sĩ quan trong các lực lượng lục quân, không quân và hải quân lần đầu tiên đeo cấp hiệu tượng trưng nghĩa vụ quang vinh của quân nhân Liên Xô đối với Tổ quốc. Cấp hiệu được áp dụng là theo đề nghị của I. V. Xta-lin. Khi thông qua quyết định áp dụng cấp hiệu, đồng chí đã yêu cầu tướng A. V. Khơ-ru-li-ốp, chủ nhiệm hậu cần, cho xem những cấp hiệu của quân đội Nga trước kia. Khi xem các cấp hiệu đó, tôi nhớ Xta-lin quay lại bảo tôi: - Đồng chí Va-xi-lép-xki, hãy chỉ cho tôi xem những cấp hiệu mà ngày xưa đồng chí đã đeo. Nhân thể tôi cần phải nói thêm rằng các loại huân chương Xu-vô-rốp, Cu-tu-dốp, A-lếch-xan-đrơ Nép-xki, Na-khi-mốp được đặt ra cũng là theo đề nghị của Tổng tư lệnh tối cao. Trong những năm chiến tranh, ở phòng làm việc của đồng chí treo chân dung những nhà cầm quân Nga nổi tiếng là Xu-vô-rốp và Cu-tu-dốp. Những thành tích của Hồng quân trên chiến trường đã được phản ánh vào các điều lệnh quân sự mới. Điều lệnh chiến đấu của bộ binh năm 1942 và sau đó là Điều lệnh dã chiến năm 1943 đã đúc kết kinh nghiệm tiên tiến của quân đội và tạo điều kiện để áp dụng rộng rãi kinh nghiệm đó trong thực tiễn. Thí dụ, căn cứ vào kinh nghiệm, điều lệnh đã nêu lên những yêu cầu mới cho các cán bộ chỉ huy. Trước kia, khi tiến công. cán bộ chỉ huy các phân đội bộ binh phải đi trước bộ đội của mình. Vì vậy, quân đội đã bị thiệt hại nặng nề về cán bộ chỉ huy trung cấp. Thêm vào đó, cán bộ chỉ huy cứ cố nhất thiết ở đằng trước thì rất trở ngại cho việc điều khiển trận chiến đấu “Điều lệnh chiến đấu - 42” quy định cán bộ chỉ huy (trừ tiểu đội trưởng) trong chiến đấu phải chọn cho mình một vị trí để trước hết thuận lợi nhất cho việc Tổ chức điều khiển trận đánh, quan sát trận địa và giữ vững liên lạc với cấp trên và các đơn vị bạn. Theo điều lệnh, khi tiến công quân địch đang phòng ngự thì các phân đội bộ binh không được máy móc dùng đội hình thê đội theo chiều sâu, mà phải cố hết sức tập trung lực lượng và phương tiện của các binh đội và phân đội trên hướng công kích chính, thu hẹp chiều rộng các khu vực đột phá và tiến công để ra sức tăng cường mật độ chiến thuật trên mỗi đơn vị diện tích do các đơn vị phụ trách. Số quân của các phân đội và binh đội bộ binh có giảm đi nhưng hỏa lực lại tăng thêm nhiều. Ví dụ, thời gian diễn ra trận đánh ở Xta-lin-grất, trong một sư đoàn bộ binh có thêm 150 khẩu trung liên, số đại bác 45 mi-li-mét cũng tăng thêm 18 khẩu. Số súng tiểu liên cũng tăng thêm nhiều. Sau đó không bao lâu, bộ đội đã chuyển sang sử dụng súng tiểu liên kiểu Xu-đa-ép và súng đại liên kiểu Gô-riu-nốp, thích hợp hơn với yêu cầu của chiến đấu hiện đại. Số lượng pháo trước kia có 21 kiểu, nay giảm quãng còn 8 kiểu. Như vậy ngành công nghiệp quốc phòng dễ dàng thực hiện các đơn đặt hàng của chiến trường, nhờ sử dụng được những phôi đã tiêu chuẩn hóa. Sản lượng những loại đạn lõm và cỡ nhỏ có sức xuyên thủng vỏ thép dày tăng lên gấp bội. Nạn khan hiếm đạn pháo cao xạ đã chấm dứt.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #108 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2010, 07:33:37 pm » |
|
Từ những lữ đoàn M-30 đã thành lập những sư đoàn pháo phản lực hạng nặng; một sư đoàn pháo phản lực gồm 864 dàn bắn một loạt có thể trút vào đầu địch 3.840 quả đạn, nặng tất cả 320 tấn. Các binh đoàn pháo binh lớn, có hỏa lực tập trung cao độ đã ra đời để thay thế cho rất nhiều những đơn vị Pháo binh nhỏ thuộc Lực lượng dự bị của Bộ Tổng tư lệnh tối cao trước đây hợp thành những trung đoàn và tiểu đoàn độc lập. Những trung đoàn pháo tự hành được trang bị đại bác 76 mi-li-mét và 122 mi-li-mét đã xuất hiện.
Mỗi một phương diện quân được biên chế một lữ đoàn cối và một lữ đoàn pháo chống tăng, còn tập đoàn quân bộ đội hợp thành thì được biên chế một lực lượng pháo binh tập đoàn quân gồm có: một trung đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn cối, một trung đoàn pháo chống tăng và một trung đoàn đại bác.
Bây giờ ở chiến trường khó mà gặp những chiếc xe tăng đi lẻ. Xe tăng đã được sử dụng hàng phân đội, rồi hàng binh đội và về sau đến hàng binh đoàn. Các trung đoàn đột phá với những xe tăng hạng nặng đã được thành lập và sử dụng thành công. Cuối năm 1942, trong quân đội tác chiến đã có khoảng 6.000 xe tăng và pháo tự hành (so với một năm trước đây thì nhiều gấp hơn ba lần).
Không quân đã thay đổi một cách rõ rệt. Tốc độ, hỏa lực và số lượng bom, tầm bay cao và bay xa tăng lên nhanh chóng. Các phương tiện điều khiển không quân chiến đấu cũng được cải tiến rất nhiều. Đến mùa xuân năm 1943, chỉ có máy bay ném bom ban đêm PO-2, một loại máy bay đơn giản, làm được các nhiệm vụ mà loại máy bay khác không thể thay thế được, chưa được trang bị đài thu phát vô tuyến điện mới. Thay thế cho những cuộc xuất kích lẻ tẻ của các phi đội nhỏ, là những loạt trận công kích liên tiếp bằng rất nhiều máy bay.
Những con đường quân sự đã trở thành những mạch máu giao thông hoạt động thường xuyên: ngành vận tải ô-tô và ngành cầu đường được tách riêng thành những cục độc lập, chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ hệ thống lực lượng vũ trang. Cho đến cuối năm 1942 đã có 822 nghìn sĩ quan được đưa vào quân đội. Ngày 22 tháng Sáu năm 1941, trong quân đội tác chiến có không đầy 3 triệu người, và đến tháng Chạp năm 1942 đã có trên 6 triệu.
Lực lượng dự bị chiến lược được tăng cường. Trước chiến cục mùa đông 1942 - 1943, Đại bản doanh có một lực lượng dự bị gồm 1.600 máy bay chiến đấu, hơn 1.000 xe tăng và khoảng 25 vạn chiến sĩ đã được huấn luyện. Khả năng của chúng ta đã lớn lên như vậy đấy. Chỉ cần sử dụng cho hợp lý tất cả những gì mà nhân dân Liên Xô đã cung cấp cho Hồng quân của mình là được.
Vào tháng Giêng - tháng Hai năm 1943, trong khi Phương diện quân sông Đôn đánh tan cánh quân của Pao-lút bị vây, thì trên các khu vực khác nhau của mặt trận Xô - Đức đã tiến hành một loạt chiến dịch theo ý đồ chung của Bộ Tổng tư lệnh tối cao nhằm phát huy thế chủ động chiến lược mà Hồng quân đã giành được.
Các chiến dịch tiến công tiến hành ở vùng thượng lưu sông Đôn đã đóng một vai trò rất quan trọng trong ý đồ đó. Tôi được phân công ở lại đây suốt mùa đông 1943 để giúp cho bộ tư lệnh Phương diện quân Vô-rô-ne-giơ và sau đó, cho cả Phương diện quân Bri-an-xcơ thực hiện các kế hoạch của Bộ Tổng tư lệnh tối cao và Bộ Tổng tham mưu.
Cũng cần nêu một vài nét về tình hình chung trên mặt trận Xô - Đức hồi bấy giờ để bạn đọc dễ theo dõi những diễn biến đã xảy ra ở vùng thượng lưu và trung lưu sông Đôn lúc đó. Công cuộc giải phóng đất đai của Tổ quốc khỏi bọn phát-xít xâm lược đã được thực hiện bằng một loạt chiến dịch tiến công xen kẽ nhau theo thời gian.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #109 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2010, 07:34:25 pm » |
|
Về phía Nam có: chiến dịch Rô-xtốp từ 1 tháng Giêng đến 18 tháng Hai (giải phóng Rô-xtốp trên sông Đôn); chiến dịch Nan-tsích - Xta-vrô-pôn từ 3 tháng Giêng đến 4 tháng Hai (giải phóng Xta-vrô-pôn); chiến dịch tiêu diệt cánh quân phát-xít ở Xta-lin-grất từ 10 tháng Giêng đến 2 tháng Hai; chiến dịch Cra-xnô-đa - Nô-vô-rô-xi-xcơ từ 11 tháng Giêng (kết thúc vào tháng Năm bằng việc quét sạch quân địch khỏi hầu hết vùng Pri-cu-ban).
Ở trung tâm có: chiến dịch Ô-xtơ-rô-gô-giơ-xcơ - Rốt-xô-sơ từ 13 đến 27 tháng Giêng (tiến về phía Tây ở vùng các sông nhánh của sông Đôn là sông Pô-tu-đan, Ti-khai-a Xô-xna và Tsi-oóc-nai-a Ca-lít-va); chiến dịch Vô-rô-ne-giơ - Ca-xtô-rơ-nôi-ê từ 24 tháng Giêng đến 17 tháng Hai (giải phóng tỉnh Vô-rô-ne-giơ); chiến dịch Khác-cốp từ 2 đến 26 tháng Hai (đuổi quân địch ra khỏi khu vực Khác-cốp).
Về phía Bắc: chọc thủng vòng vây Lê-nin-grat từ 12 đến 30 tháng Giêng; thủ tiêu bàn đạp của phát-xít ở Đê-mi-an-xcơ từ 15 tháng Hai đến 1 tháng Ba. Như vậy, tất cả các chiến dịch đó, trên cả ba hướng chính đều được bộ đội Liên Xô thực hiện với thành công tối đa trong nửa cuối của chiến cục mùa đông 1942 - 1943 .
Tình hình trên hướng Vô-rô-ne-giơ sẽ nói dưới đây, như sau: bộ đội của Phương diện quân Vô-rô-ne-giơ (từ tháng Mười năm 1942, do Ph. I . Gô-li-cốp làm tư lệnh) và của Phương diện quân Bri-an-xcơ (do M. A. Rây-te làm tư lệnh) trong mùa hè và mùa thu năm 1942 đã hoạt động tích cực không cho địch điều động lực lượng của chúng từ hướng này đến Xta-lin-grất. Trong thời gian đó, các phương diện quân nói trên đã nhiều lần mở những đợt tiến công bằng lực lượng của từng tập đoàn quân hoặc binh đoàn bộ đội hợp thành.
Chiến dịch tiến công cục bộ của tập đoàn quân 60 nhằm giải phóng Vô-rô-ne-giơ đã không mang lại kết quả. Chỉ mới quét được quân Đức ra khỏi một khu vực nhỏ bé ở phía Bắc thành phố. Chiến dịch phối hợp của tập đoàn quân 38 thuộc Phương diện quân Bri-an-xcơ và tập đoàn quân 60 của Phương diện quân Vô-rô-ne-giơ vào giữa tháng Bảy nhằm mục đích nói trên, cũng thất bại, tuy có kìm chân được lực lượng của địch. Nguyên nhân thất bại chủ yếu là do các tập đoàn quân đó thiếu kinh nghiệm trong việc chuẩn bị và tiến hành tiến công và do đánh giá thấp lực lượng địch.
Nhờ chiến dịch tiến công vào cuối tháng Bảy năm 1942 do tập đoàn quân 6 tiến hành, ta đã chiếm được ở hữu ngạn sông Đôn, trong khu vực Xtô-rô-giê-vôi 1, một bàn đạp dài 10 ki-lô-mét và sâu 8 ki-lô-mét, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với chúng ta.
Giữa tháng Chín, theo sáng kiến của tư lệnh Phương diện quân Vô-rô-ne-giơ là N. Ph. Va-tu-tin, ta đã mở chiến dịch tiến công nhằm giải phóng Vô-rô-ne-giơ. Tham gia chiến dịch này có các tập đoàn quân 60 và 40 và cả tập đoàn quân 38 chuyển từ Phương diện quân Bri-an-xcơ tới. Tập đoàn quân 40 chiếm được vùng ngoại ô Tsi-giap-ca và phần phía Nam của Vô-rô-ne-giơ; tập đoàn quân 38 thu được thắng lợi không đáng kể; tập đoàn quân 60 đánh không thắng lợi.
Các đơn vị của phương diện quân đã không hoàn thành nhiệm vụ được giao, vì thiếu lực lượng và cũng vì sự chống cự kịch liệt của tập đoàn quân 2 của Đức dựa vào những trận địa phòng ngự chuẩn bị tốt. Do đó, Đại bản doanh đã ra lệnh cho Phương diện quân Vô-rô-ne-giơ đình chỉ các hoạt động tiến công và chuyển sang phòng ngự vững chắc. Tháng Mười, N. Ph. Va-tu-tin được điều sang chỉ huy Phương diện quân Tây - Nam vừa mới thành lập.
Cho đến cuối tháng Chạp năm 1942, Phương diện quân Vô-rô-ne-giơ đã hoàn thiện xong tuyển phòng ngự kéo dài từ đường sắt Ê-lê-txơ - Ca-xtô-rơ-nôi-ê đến Vô-rô-ne-giơ, tiếp đó dọc theo tả ngạn sông Đôn đến Nô-vai-a Ca-lít-va, đi về phía Tây - Nam đến Can-tê-mi-rốp-ca (có các bàn đạp ở hữu ngạn sông Đôn, tại Xtô-rô-giê-vôi 1 và Su-tsi-ê). Lúc đó phương diện quân gồm có các tập đoàn quân 38, 60, 40 và quân đoàn bộ binh độc lập 18.
Chống lại các đơn vị đó, về phía Bắc có 7 sư đoàn bộ binh của tập đoàn quân 2 của Đức; về phía Nam có tập đoàn quân 2 của Hung-ga-ri phòng ngự; xa hơn nữa về phía Nam có quân đoàn miền núi của I-ta-li-a; cuối cùng, ở khu vực Rôt-xô-sơ còn có một số sư đoàn Đức và I-ta-li-a. Đằng sau chỗ tiếp giáp các tập đoàn quân Đức và Hung, bộ chỉ huy phát-xít để một lữ đoàn xe tăng làm lực lượng dự bị, và ở gần Ca-men-ca thì để một sư đoàn bộ binh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|