Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:14:45 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự nghiệp cả cuộc đời  (Đọc 139274 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #220 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 02:12:11 pm »

Đêm 17 rạng ngày 18 tháng Ba, lúc nói điện thoại với Tổng tư lệnh tối cao, tôi báo cáo rằng các thời hạn đó là không thực tế. Việc tiêu diệt cánh quân Hai-nơ-xbe sẽ kết thúc vào khoảng 25 - 28 tháng Ba. Việc bố trí lại đội hình các đơn vị phải mất gần 3 - 4 ngày. Vì vậy, tôi đề nghị bắt đầu cuộc tiến công của không quân và pháo binh vào những ngày đầu tháng Tư. Tổng tư lệnh tối cao đồng ý và khuyên tôi nên huy động vào chiến dịch lực lượng không quân của Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 2, của Hạm đội Ban-tích và của tập đoàn quân không quân 18 (không quân hoạt động tầm xa) và hứa sẽ phái các Trưởng nguyên soái không quân A. A. Nô-vi-cốp và A. E. Gô-lô-va-nốp đến giúp đỡ tôi

Ngày 25 tháng Ba, bộ đội Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3 chiếm thành phố Hai-lin-ghen-bai-lơ - điểm tựa phòng thủ cuối cùng của địch trên bờ vịnh Phơ-ri-sét, và đến 29 tháng Ba thì tiêu diệt xong cánh quân Hai-nơ-xbe. Sau đó, chúng ta đã lập trung tất cả chú ý vào cánh quân Cơ-ních-xbe.

Cuối tháng Ba, để cho việc chỉ huy bộ đội ở mặt trận được tập trung thống nhất, Đại bản doanh ra quyết định giải thể cụm quân ở Dem-lan-dơ. Cơ quan chỉ huy cụm quân này (nguyên là cơ quan chỉ huy Phương diện quân Pri-ban-tích 1) cùng những đơn vị thông tin liên lạc, những đơn vị báo vệ và hậu cần chưa cần hoạt động thì chậm nhất là ngày 15 tháng Tư phải được rút ra làm lực lượng dự bị của Đại bản doanh ở vùng In-xtéc-bua. Đại tướng Ba-gra-mi-an là phó tư lệnh Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3.

Trước khi bắt đầu cuộc tấn công, pháo binh và không quân Liên Xô trong suốt bốn ngày đã bắn phá các công sự phòng thủ kiên cố của pháo đài. Chúng ta biết rõ tất cả các chi tiết của trận địa phòng thủ của địch. Trên một hình mẫu rất chính xác vẽ thành phố, cán bộ chỉ huy tất cả các cấp đã nghiên cứu từng bước kế hoạch tấn công. Bộ đội đã luyện tập ở những hỏa điểm kiên cố và những hầm hào đã chiếm được của địch và học chiến thuật chiến đấu trong thành phố.

Ngày 6 tháng Tư, trời quang đãng. Sau trận bắn pháo chuẩn bị rất mạnh, cuộc tấn công bắt đầu. Dưới sự yểm trợ của làn sóng hỏa lực dữ dội, bộ binh và xe tăng đã công kích địch. Đến buổi chiếu, cả không quân Liên Xô cũng bắt đầu hoạt động hết sức tích cực. Từ phía Nam thì có tập đoàn quân không quân 1, từ phía Đông thì có tập đoàn quân không quân 3, từ phía Bắc thì có tập đoàn quân không quân 15, từ phía Tây thì có máy bay của Hạm đội Ban-tích Cờ đỏ, và từ tất cả các hướng thì có không quân hoạt động tầm xa.

Trong những ngày này, tôi đến các đơn vị của các tập đoàn quân 43, 39 và tập đoàn quân cận vệ 11, ở đâu các chiến sĩ Liên Xô cũng can đảm, không chút do dự xông lên tấn công thành trì địch. Cụm quân tác chiến “Dem-lan-dơ” của địch bị tập đoàn quân cận vệ 2 làm tê liệt. Chúng tôi điều tập đoàn quân 5 từ ngoại ô phía Nam đến vùng Tây - Bắc của thành phố, ở đây có tập đoàn quân 39 đã cắt Cơ-ních-xbe ra khỏi bán đảo Dem-lan-đơ bằng một đòn đánh từ Bắc xuống Nam, và có tập đoàn quân 43 đang đột phá từ phía Tây - Bắc vào trung tâm thành phố. Từ phía Bắc có hai quân đoàn của tập đoàn quân 50 hoạt động, còn quân đoàn thứ ba thì chặn các con đường dẫn đến thành phố từ phía Đông. Tập đoàn quân cận vệ 11 đánh từ phía Nam lên.

Địch ngoan cố chống cự, chúng tung các đơn vị bộ binh và chống tăng dự bị từ bán đảo Dem-lan-dơ đến Cơ-ních-xbe. Song, ngay trong ngày giao chiến đấu tiên, bộ đội Liên Xô đã tiến lên được 3 - 4 ki-lô-mét, chiếm và vây hãm một số đồn, quét sạch địch ra khỏi khoảng mười lăm khu dân cư ở gần thành phố và cắt đường xe lửa Cơ-ních-xbe - Pi-lau. Đến tối, hệ thống phòng thủ thống nhất của Cơ-ních-xbe thực tế không còn nữa. Bọn Đức ráo riết dựng những công sự mới và chiến lũy trên các đường phố, phá hủy các cầu. Quân địch đóng trong pháo đài được lệnh cố thủ bằng bất kỳ giá nào.

Đêm 6 rạng ngày 7 tháng Tư, bộ chỉ huy phát-xít cố chấn chỉnh lại việc điều khiển đã bị rối loạn, và chỉnh đốn lại các đơn vị đã bị đánh. Từ sáng 7 tháng Tư diễn ra những trận đánh ác liệt ở ngoại ô và ngay ở Cơ-ních-xbe. Bọn địch tuyệt vọng đã mở những cuộc phản kích dữ dội, ném ra trận những đội dân quân xung kích mới được tập hợp một cách vội vàng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #221 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 02:12:58 pm »

Bọn Hit-le đã cấp tốc bố trí lại lực lượng và đưa ra trận những lực lượng dự bị cuối cùng mà chúng đã điều từ khu vực này sang khu vực khác. Nhưng tất cả mọi cố gắng hòng chặn đứng cuộc tấn công đều bị thất bại. Ngày thứ hai của trận đánh là ngày quyết định. Bộ đội Liên Xô đã tiến thêm được 3 - 4 ki-lô-mét, chiếm ba đồn mạnh và giành được 130 khu phố.

Không quân và pháo binh Liên Xô hoạt động tích cực. Chỉ trong ngày 7 tháng Tư, máy bay đã tiến hành hơn 4.700 phi vụ và ném xuống công sự của địch hơn 1.500 tấn bom. Cuộc chiến đấu không lắng dịu một giờ nào. Nhờ đêm tối, các tổ xung kích đã tấn công các mục tiêu được trinh sát trước Công binh mở đường. Đồng thời, không quân đã ném bom, trong đêm 7 rạng ngày 8 tháng Tư đã có tới 1.800 phi vụ. Các công sự bê-tông cốt sắt đo vỡ ầm ầm, những đám cháy bùng lên.

Bọn địch cùng đường đã chống cự điên cuồng, chuyển sang phản kích. Nhưng trong khỏi lửa và bụi mù, các chiến sĩ Liên Xô vẫn cứ tiến băng băng bất chấp trở ngại. Sau khi đè bẹp sự chống cự ngoan cố của địch ở vành đai phòng thủ bên trong pháo đài, tập đoàn quân 43 đã quét sạch chúng ở vùng Tây - Bắc thành phố. Đồng thời, tập đoàn quân cận vệ 11 tiến công từ phía Nam đã vượt sông Prê-ghen.

Bây giờ mà sử dụng hỏa lực pháo và súng cối thì nguy hiểm, vì có thể bắn vào bên mình. Pháo phải ngừng bắn, và các chiến sĩ Liên Xô anh hùng, trong suốt ngày tấn công cuối cùng, thực tế chỉ dùng súng bộ binh, xông vào các trận đánh giáp lá cà. Và thế là vòng vây đã khép lại ở vùng phía Tây thành phố. Phần quân địch còn lại trong pháo đài đã bị tách khỏi cụm tác chiến “Dem-lan-dơ”. Đến cuối ngày tấn công thứ ba thì ta chiếm được 300 khu phố của pháo đài cổ.

Ngày 8 tháng Tư, để tránh thương vong không cần thiết, với tư cách là tư lệnh phương diện quân, tôi đã kêu gọi các tướng tá, sĩ quan và binh lính Đức của cụm quân Cơ-ních-xbe hạ vũ khí. Song, bọn phát-xít quyết định kháng cự. Từ sáng 9 tháng Tư, cuộc chiến đấu lại tiếp tục dữ dội, 5.000 pháo và súng cối, 1.500 máy bay Liên Xô đã giáng một đòn chí tử vào pháo đài. Bọn Hít-le bắt đầu ra hàng cả từng phân đội. Sau bốn ngày chiến đấu liên tục, Cơ-ních-xbe đã bị hạ.

Trong cuộc hỏi cung ở bộ tham mưu phương diện quân, tướng La-sơ, chỉ huy trưởng pháo đài Cơ-ních-xbe, nói:

“Binh lính và sĩ quan của pháo đài trong hai ngày đầu đã chống cự kiên cường, nhưng người Nga có nhiều lực lượng và mạnh hơn chúng tôi. Họ đã khéo léo bí mật tập trung được nhiều pháo và máy bay đến nỗi việc sử dụng chúng hàng loạt đã phá hủy các công sự của pháo đài và làm mất tinh thần binh lính và sĩ quan. Chúng tôi hoàn toàn không điều khiển được các đơn vị nữa.

Khi rời công sự ra đường để liên lạc với bộ tham mưu các đơn vị chúng tôi không biết đường nào mà đi nữa, hoàn toàn mất phương hướng bởi vì thành phố bị phá hủy và đang bùng cháy đã thay đổi hẳn bộ mặt. Không thể nào tưởng tượng được rằng một pháo đài như Cơ-nich-xbe lại bị hạ nhanh như vậy. Bộ chỉ huy Nga đã vạch kế hoạch chiến đấu rất giỏi và đã thực hiện một cách tuyệt vời. Ở Cơ-nkh-xbe, chúng tôi mất gọn cả 10 vạn quân. Mất Cơ-ních-xbe là mất một pháo đài lớn nhất, là mất thành trì của Đức ở phía đông”.

Hít-le không thể chịu được cái nhục mất cái thành phố mà hắn đã tuyên bố là pháo đài tốt nhất trong toàn bộ lịch sử nước Đức và là “một thành trì tuyệt đối bất khả xâm phạm của tinh thần Đức", và trong cơn giận dữ bất lực, hắn đã kết án vắng mặt La-sơ tội tử hình.

Trong thành phố và ở ngoại ô, bộ đội Liên Xô bắt được gần 92 nghìn tù binh (trong đó có 1.800 sĩ quan và tướng), hơn 3.500 pháo và súng cối, gần l30 máy bay và 90 xe tăng, nhiều ô-tô, xe kéo và máy kéo, một số lớn kho tàng các loại với đủ thứ vật tư.

Trong lúc kiểm kê chiến lợi phẩm thì tin vui được báo về Mát-xcơ-va. Và đêm 9 rạng ngày 10 tháng Tư năm 1945, thủ đô Liên Xô đã chào mừng lòng dũng cảm, gan dạ và tài nghệ của những anh hùng trong trận tấn công Cơ-ních-xbe bằng 24 loạt đạn của 324 khẩu đại bác.

Trong trận đánh chiếm Cơ-ních-xbe, các chiến sĩ Liên Xô lại một lần nữa biểu lộ ý chí bất khuất tuyệt vời, lòng gan dạ và chủ nghĩa anh hùng tập thể. Vì những chiến công vô song, gần 200 người được tuyên dương Anh hùng Liên Xô. Hàng nghìn quân nhân được thưởng huân chương, hàng vạn người được thưởng huy chương. Chính phủ đã khen thưởng nhiều trung đoàn và sư đoàn, 98 binh đội và binh đoàn được tặng thưởng danh hiệu đơn vị Cơ-nich-xbe. Huy chương “Chiếm Cơ-ních-xbe" mới đề ra hồi tháng Sáu năm 1945, được tặng cho tất cả những người tham gia trận đánh thủ phủ Đông Phổ
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #222 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 02:13:56 pm »

Sau khi Cơ-ních-xbe bị chiếm, Đông Phổ chỉ còn lại cánh quân Dem-lan-đơ của địch gồm 8 sư đoàn, trong đó có 1 sư đoàn xe tăng. Ngày 11 tháng Tư, tôi lại một lần nữa kêu gọi quân địch đình chỉ cuộc kháng cự vô hy vọng. Đây là văn bản lời kêu gọi đó:

“Tư lệnh bộ đội Liên Xô của Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3 Nguyên soái Liên Xô Va-xi-lép-xki gửi các tướng tá, sĩ quan và binh lính Đúc còn lại ở bán đảo Dem-lan-đơ.

Các người đã biết rõ rằng toàn bộ quân đội Đức đã bị thất bại hoàn toàn, quân Nga đã ở gần Béc-lin và ở Viên. Bộ đội đồng minh đang ở cách sông Ranh 300 ki-lô-mél về phía Đông. Quân đồng minh đã ở Brê-men, Han-nô-ve, Brao-nơ-svai-gơ, đã tiến gần đến Lép-đích và Muy-ních. Một nửa nước Đức đã lọt vào tay quân đội Nga và quân đồng minh.

Một trong những pháo đài mạnh nhất của nước Đức, là Cơ-ních-xbe, đã bị hạ trong ba ngày. Chỉ huy trưởng pháo đài, tưởng bộ binh La-sơ đã nhận những điều kiện đầu hàng do tôi đưa ra và đã xin hàng cùng với phần lớn quân dồn trú. Tổng số quân Đức đã đầu hàng ở đây là 92.000 lính. 1.819 sĩ quan và 4 tướng.

Hỡi các sĩ quan và binh lính Đức còn lại ở bán đảo Dem-lan-đơ! Gìơ đây, sau khi mất Cơ-ních-xbe, thành trì cuối cùng của quân Đức ở Đông Phổ tình thế của các người đã hoàn toàn hết hy vọng. Không còn ai chi viện cho các người nữa. Các người đã cách xa trận tuyến hiện đang ở tận Stét-lin tới 450 ki-lô-mét. Đường biển đi về phía Tây đã bị tàu ngầm Nga cắt đứt. Các người đang nằm sâu trong hậu phương bộ dội Nga.

Các người đã ở trong một tình thế không có lối thoát. Đối thủ của các người là lực lượng Hồng quân trội hơn gấp nhiều lần. Sức mạnh thuộc về phía chúng tôi, và sự chống cự của các người không có ý nghĩa gì hết. Chống cự chỉ dẫn các người đến chỗ chết và gây nhiều thiệt hại cho số dân thường tập trung ở vùng Pi-lau.

Để tránh sự đổ máu không cần thiết, tôi yêu cầu các người: trong vòng 24 giờ phải hạ vũ khí, đình chỉ chống cự và ra hàng. Tất cả các tướng tá, sĩ quan và binh lính thôi không chống cự sẽ được bảo toàn tính mạng, được ăn uống đầy đủ và cho trở về đất nước sau chiến tranh. Tất cả những người bị thương và ốm đau được cứu chữa ngay. Tôi hứa với tất cả những người ra hàng một sự đối xử xứng đáng với binh lính. Những người dân thường sẽ được phép trở về các thành phố và làng mạc của minh làm ăn yên ổn.

Những điều kiện này áp dụng đồng đều cho các binh đoàn, trung đoàn, phân đội, nhóm và cá nhân. Nếu yêu cầu của tôi không được thực hiện trong vòng 24 tiếng đồng hồ thì các người thật là liều mạng.

Hỡi các sĩ quan và binh lính Đức! Nếu bộ chỉ huy của các người không chấp nhận tối hậu thư của tôi, các người hãy tự định liệu. Hãy cứu lấy tính mạng mình, hãy ra đầu hàng.

Tư lệnh bộ đội Liên Xô của Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3 Nguyên soái Liên Xô Va-xi-lép-xki.
24 giờ theo giờ Mát-xcơ-va.
11 tháng Tư năm 1945".


Lời kêu gọi này không được trả lời. Và sáng 13 tháng Tư, bộ đội Liên Xô lại tiến công. Sau khi tập trung một lực lượng lớn gấp đôi, phương diện quân đã đánh đòn chủ yếu vào trung tâm, trên hướng chung đến Phi-sơ-hau-den, nhằm chia cắt quân Đức và, sau đó, tiêu diệt từng bộ phận. Từ Bắc xuống Nam, các tập đoàn quân sát cánh chiến đấu, các tập đoàn quân cận vệ 2 và 11, tập đoàn quân 5, 39 và 43. Ngay trong ngày tiến công đầu tiên, trận địa phòng thủ của địch đã bị phá vỡ. Không chống đỡ nổi, ngày 14 tháng Tư. bọn Hít-le bắt đấu rút lui.

Ngày 17 tháng Tư, bộ đội Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3, sau một trận chiến đấu kịch liệt, đã chiếm Phi-sơ-hau-den. Nhiệm vụ quét sạch quân địch khỏi bán đảo Dem-lan-đơ về căn bản đã được giải quyết. Tỉnh trưởng Cô-khơ, đại diện riêng của Hít-le, ở trên một chiếc tàu phá băng, chuẩn bị sẵn sàng suốt từ mùa đông, đã chuồn khỏi bán đảo Dem-lan-đơ sang Đan Mạch, sau khi ra lệnh cho binh lính chiến đấu đến người cuối cùng. Ngày 25 tháng Tư, bộ đội Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3, với sự tham gia tích cực của Hạm đội Ban-tích, đã chiếm pháo đài và cảng Pi-lau (Ban-tích-xcơ) - điểm tựa cuối cùng của địch trên bán đảo Dem-lan-đơ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #223 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 02:14:34 pm »

Chiến dịch Đông Phổ tiến hành trong những điều kiện cực kỳ phức tạp là một trong những bằng chứng tỏ rõ sức mạnh chiến đấu hùng hậu và sự trưởng thành về nghệ thuật quân sự của các Lực lượng vũ trang Liên Xô. Qua chiến dịch này, Hồng quân đã có thêm nhiều kinh nghiệm chiến đấu với một kẻ địch mạnh, có trận địa phòng ngự được chuẩn bị rất tốt và rất phát triển về mặt công sự và hỏa lực trên địa hình hết sức thuận lợi cho chúng.

Bộ đội Liên Xô phải giải quyết nhiệm vụ tiêu diệt địch trên một địa bàn rộng, dồn chúng ra biển Ban-tích và đồng thời ra các vịnh ở vùng Cơ-ních-xbe. Tình hình đó buộc bộ chỉ huy Liên Xô phải đánh vào chính diện là chủ yếu và thường là không có điều kiện đánh bao vây. Do đó có nhiều khó khăn mà chúng ta phái tính đến khi tổ chức và thực hiện chiến dịch. Lực lượng pháo binh và không quân ném bom mạnh đã đóng vai trò chủ chốt trong chiến dịch. Kinh nghiệm sử dụng pháo binh và không quân hiệp đồng với các đơn vị tiến công là rất hay và bổ ích.

Bộ đội mặt đất và Hạm đội Ban-tích cũng thu được kinh nghiệm bổ ích về phối hợp hành động trong suốt thời gian chiến dịch. Hạm đội đã phong tỏa bờ biển Đông Phổ, công kích vào các đường biển hết sức quan trọng của địch. Đặc biệt nó đã giúp đỡ tích cực cho bộ đội mặt đất trong các trận đánh Cơ-ních-xbe và căn cứ hải quân Pi-lau (Ban-tích-xcơ).

Cần đặc biệt nhắc đến công tác rất vất vả của các cán bộ hậu cần các binh đoàn, tập đoàn quân và phương diện quân. Khu vực tác chiến ở rất xa các trung tâm kinh tế chủ yếu của Liên Xô, đường xe lửa bị địch phá, thiếu toa xe và đầu máy, mỗi chuyến tàu chở hàng đến các đơn vị đều phải chuyển tải (vì chiều rộng đường sắt của Liên Xô và của nước ngoài không giống nhau); tất cả những điều đó đòi hỏi các cán bộ hậu cần và đường sắt phải dốc hết sức phục vụ, thật sự hy sinh quên mình.

Từ đầu chiến dịch Đông Phổ, bộ đội đường sắt có ba nhiệm vụ sau đây: phục hồi con đường sắt và tất cả các công trình trên hướng Gum-bi-nen - In-xtéc-bua – Cơ-ních-xbe; chuyển đoạn đường Sta-lu-pê-nen - Gum-bi- nén sang khổ đường của Liên Xô và tổ chức ở đây một khu vực chuyển tải; phục hồi ngay phương tiện vận tải đường sắt ở địa phương và tổ chức sử dụng nó một cách hợp lý và linh hoạt. Việc hoàn thành nhanh chóng các công việc này đã có tác dụng cực kỳ to lớn đối với mặt trận.

Trong khi chuẩn bị tấn công Cơ-ních-xbe, các đoàn tàu quân sự tăng chuyến rất nhiều, số toa xe và đầu máy Tây Âu rõ ràng không đủ dùng. Các nhân viên đường sắt đã gấp rút chuyển toàn bộ đoạn đường đến Cơ-ních-xbe thành đường khổ rộng. Chủ nghĩa anh hùng chân chính của họ trong lao động đã biểu lộ trong quá trình các trận đánh chiếm Cơ-ních-xbe. Mới sang ngày thứ ba sau khi chiếm thành phố, bộ đội ta đã tiếp nhận những đoàn đến đây bằng đường ray theo khổ đường của Liên Xô.

Trong khi thực hiện nhiệm vụ, bộ đội đường sắt đã lao động trực tiếp dưới hỏa lực của địch, và có khi họ còn tham gia đánh lùi các trận phản kích của chúng. Đây là một vài con số. Trong thời gian có chiến sự ở Đông Phổ, trên hướng của Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3, người ta đã đặt mới, phục hồi và làm lại 552 ki-lô-mét đường chính và đường ga, phục hồi và đưa vào sử dụng 64 chiếc cầu, 5 ga đầu mối đường sắt và 6 điểm cấp nước. Những con số này nói lên bao nhiêu công sức lao động cực kỳ khẩn trương và đầy nguy hiểm của bộ đội đường sắt.

Như vậy, thành trì Đông Phổ của chủ nghĩa đế quốc Đức đã sụp đổ. Theo nghị quyết của Hội nghị Pôt-xđam, những người đứng đầu các cường quốc đồng minh chống phát-xít Hít-le, thì Cơ-ních-xbe và các vùng lân cận, được sát nhập vào Liên Xô.

Ngày 25 tháng Hai năm 1947, ủy ban kiểm soát ở Đức do các cường quốc thắng trận lập ra, với tư cách là cơ quan chính quyền cao nhất ở nước này, đã nhân danh Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô nhất trí biểu quyết đạo luật xóa bỏ quốc gia Phổ. Thế là kết thúc cái tiền đồn xâm lược của Đức. Còn thành phố Cơ-ních-xbe - kinh đô cũ của các vua Phổ - giờ đây gọi là thành phố Ca-li-nin-grát để kỷ niệm người chiến sĩ lão thành của đội cận vệ Lê-nin, nhà hoạt động lỗi lạc của Nhà nước xô-viết là M. I. Ca-li-nin.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #224 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 02:15:07 pm »

Ở biên giới Đông Phổ, khi chiến tranh nổ ra ngày 22 tháng Sáu năm 1941, đại tá I. Đ. Tséc-ni-a-khốp-xki, sư trưởng sư đoàn xe tăng 28, đã bắt đầu chiến đấu tại đây. Cũng tại đây sau ba năm rưỡi chiến đấu để giải phóng Tổ quốc khỏi bọn phát-xít xâm lược, đồng chí đã hy sinh. Ngày nay tên của Tséc-ni-a-khốp-xki. người hai lần được tuyên dương Anh hùng Liên Xô, đã đặt cho In-xtéc-bua trước kia, là nơi mà ngày 22 tháng Giêng năm 1945, ngọn cờ đỏ của bộ đội của Tséc-ni-a-khốp-xki đã phấp phới tung bay.

Trong cuộc tấn công Cơ-ních-xbe, quân đoàn bộ binh cận vệ 16 của thiếu tướng X. X. Gu-ri-ép đã chiến đấu rất oanh liệt, và trong trận chiến đấu ở pháo đài cổ này, đồng chí đã trở thành Anh hùng Liên Xô. Tiếp đây, các chiến sĩ cận vệ của quân đoàn đồng chí đã tiến ra Pi-lau - pháo đài bờ biển, và trên đường tiến quân vào pháo đài này, X. X. Gu-ri-ép đã hy sinh. Để tưởng nhớ đồng chí, Nôi-hau-den trước kia, nay được đổi tên thành Gu-ri-ép-xcơ. Sta-lu-pê-nen trước kia, nay mang tên X. K. Nê-xtê-rốp, quân đoàn phó quân đoàn Cờ Đỏ, hy sinh ở Đông Phổ

Tháng Giêng năm 1945, ở gần Gum-bi-nen, bộ binh, pháo binh và xe tăng Đức đã cố gắng đẩy lùi cuộc tiến công của bộ đội Liên Xô về phía Lít-va. Tại đây, một nhóm chiến sĩ do đại úy X. I. Gu-xép dẫn đầu đã chiến đấu rất anh dũng. Trong trận kịch chiến giáp lá cà ở gần Gum-bi-nen, X. I. Gu- xép đã hy sinh. Và ba ngày sau, tiểu đoàn của đồng chí đã vào Gum-bi-nen trước tiên. Ngày nay, thành phố này được gọi là thành phố Gu-xép.

Từ Ca-li-nin-grát, dọc theo vịnh Vi-xla có con đường xe lửa. Con đường này có một đoạn chạy sát bờ biển. Ngày xưa, bọn lính thực dân Đức đã đuổi người Vác-mi-a gốc Xla-vơ khỏi nơi đây, đổi vùng Vác-mi-a thành Éc-men-lan và đã dựng nên làng Lút-vích-xoóc bên cạnh những đụn cát phía Đông của vịnh. Tháng Ba năm 1945, hai ngày trước khi một đại đội xe tăng Liên Xô chiếm được làng đó, đại đội trưởng I. M. La-đu-skin đã hy sinh vì trúng đạn địch. Làng này bây giờ mang tên đồng chí; đầu làng có ngôi mộ của người chiến sĩ vẻ vang La-đu-skin.

Tên của đại úy P. I. Rô-ma-nốp được đặt cho Pô-bét-ten. Tại đây, P. I. Rô-ma-nốp, tiểu đoàn trưởng của sư đoàn bộ binh 182, đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.

Còn thành phố Hai-li-ghen-bai-lơ trước kia thì nay mang tên N. V. Ma-mô-nốp. Trung đoàn bộ binh 331 do đồng chí chỉ huy đã cùng với các đơn vị khác đánh tan một đầu mối đề kháng mạnh của địch gần thành phố này. N. I. Ma-mô-nốp đã hy sinh anh dũng để cứu sống một cán bộ cấp dưới của mình. Thi hài của trung tá Ma-mô-nốp đã được đưa về chôn cất tại thành phố mang tên đồng chí.
Những năm chiến tranh đã đi vào dĩ vãng. Nhưng chiến công của các anh hùng còn sống mãi, sống mãi trong lòng mọi người, sống mãi với tên gọi các đường phố, thành thị và tàu biển...

Vì bận công việc của Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3 nên tôi chỉ có thể từ xa theo dõi chiến dịch Béc-lin phát triển như thế nào. Nhiều công trình nghiên cứu và cuốn sách hồi ký đã viết về chiến dịch ấy. Nhưng cho đến nay, sự kiện rất quan trọng này của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai vẫn còn lôi cuốn sự chú ý của các nhà sử học quân sự cũng như của bạn đọc. Trong chiến dịch Béc-lin, một cánh quân phát-xít Đức đông khoảng 1 triệu binh lính và sĩ quan đã bị đánh tan. Thủ đô của nước Đức Hít-le bị thất thủ. và vài ngay sau, nước Đức đã phải ký văn kiện đầu hàng không điều kiện.

Suy nghĩ về quá trình chiến dịch Béc-lin, tôi thấy chiến dịch đó có một số đặc điểm. Trước tiên là thời gian chuẩn bị ngắn ngủi: tất cả chỉ có hai tuần lễ thôi. Chúng ta hãy nhớ lại là những chiến dịch như chiến dịch Xta-lin-grát, Bê-lô-ru-xi-a, I-át-xư – Ki-si-ni-ốp, Vi-xla - Ô-đe đã được chuẩn bị ít nhất là từ một đến hai tháng. Nhịp độ chuẩn bị và thực hiện các chiến dịch cuối cùng chứng tỏ rằng nền kinh tế quân sự và các Lực lượng vũ trang Liên Xô đến năm 1945 đã đạt tới trình độ cho phép làm những việc mà trước kia tưởng chừng như là chuyện thần kỳ.

Đặc điểm thứ hai của chiến dịch này là tính chất độc đáo của ý đồ chiến lược làm cơ sở cho chiến dịch. Bộ đội của ba phương diện quân - Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 2 (C C Rô-cô-xốp-xki), Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 1 (Gh. C. Giu-cap) và Phương diện quân U-crai-na 1 (I. X. Cô- nép) - đã đồng thời mở sáu mũi đột kích trên chính diện dài 300 ki-lô-mét. Quân đội Hít-le bị tê liệt ngay trên toàn tuyền phòng thủ Ô-đe - Nai-xơ. Lúc bắt đầu chiến dịch, quân Đức chưa bị bao vây tất cả các phía. Tuy nhiên, việc cơ động để vây hãm đã được thực hiện và tiến hành đến cùng. Đó quá là một bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự Liên Xô.

Khi thành lập những cánh quân tiến công có khả năng nhanh chóng bẻ gãy tuyến phòng thủ mạnh và có nhiều thê đội theo chiều sâu. Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đã huy động lực lượng thiết giáp - xe tăng rất lớn tham gia các cánh quân đó. Trong các giai đoạn khác nhau của chiến dịch Béc- lin, về phía Liên Xô, tham gia chiến đấu có 4 tập đoàn quân xe tăng, 10 quân đoàn xe tăng và cơ giới độc lập, 16 lữ đoàn xe tăng và pháo tự hành độc lập, trên 80 trung đoàn xe tăng và pháo tự hành độc lập.

Tôi xin nói vài lời về cách sử dụng các tập đoàn quân xe tăng trong chiến dịch Béc-lin. Hiệp đồng chặt chẽ với các tập đoàn quân bộ đội hợp thành, các tập đoàn quân xe tăng đó đã chọc thủng tất cả ba dải phòng thủ của tuyến Ô-đe - Nai-xơ; đã hoạt động độc lập khi thực hiện cơ động để bao vây cánh quân địch ở Béc-lin từ phía Bắc và Nam; đã tham gia trận tấn công vào Béc-lin mà vẫn giữ địa bàn hoạt động riêng của mình. Kinh nghiệm của chiến dịch đó một lần nữa chứng tỏ rõ ràng rằng việc sử dụng các binh đoàn xe tăng quy mô lớn trong trận đánh chiếm điểm dân cư lớn là điều không hợp lý: ở đây, các binh đoàn ấy mất những ưu thế chủ yếu của mình là sức xung kích và tính cơ động.

Trận đánh chiếm Béc-lin đã đem lại cho nghệ thuật quân sự nhiều điều bổ ích cả về cách sử dụng pháo binh, không quân, các phương tiện ra-đa, cũng như cách tổ chức việc bảo đảm vật tư - kỹ thuật cho bộ đội và công tác hậu cần.

Mặc dù chiến dịch Béc-lin có quy mô thật to lớn, việc chỉ đạo chiến lược và phối hợp hành động của ba phương diện quân (19 tập đoàn quân bộ đội hợp thành, 4 tập đoàn không quân và 4 tập đoàn quân xe tăng) đã được thực hiện ở trình độ cao. Đại bản doanh và Bộ Tổng tham mưu đã khéo léo vạch kế hoạch chiến dịch và chỉ đạo vững vàng các đơn vị trong quá trình chiến đấu. Bộ Tổng tư lệnh tối cao đã hoàn toàn nắm lấy việc chỉ huy các phương diện quân trực tiếp từ Mát-xcơ-va... .

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #225 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 02:16:14 pm »

Ở BỘ TỔNG THAM MƯU

Những năm đẹp nhất của cuộc đời tôi đã gắn bó với Bộ Tổng tham mưu. Như tôi đã nói trên, sở dĩ tôi phải chuyển từ công tác tham mưu sang công tác chỉ huy vào tháng Hai năm 1945 là do I. Đ. Tséc-ni-a-khốp-xki bị hy sinh, nhưng trước đây, chính tôi cũng đề nghị cho tôi thôi giũ chức Tổng tham mưu trưởng.

Tổng tư lệnh tối cao đã dễ dàng chấp nhận điều đó, có lẽ bởi vì lúc đó, Bộ Tổng tham mưu đã có A. I. An-tô-nốp là người chuẩn bị đảm nhiệm chức vụ ấy. Đồng chí là người được đào tạo hoàn hảo, có nhiều kinh nghiệm trong công tác tham mưu và một năm rưỡi trước đó đã giữ chức phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất. Đồng chí đã có uy tín cao không những trong các Lực lượng vũ trang, mà còn cả trong Ban chấp hành trung ương Đảng, trong Hội đồng quốc phòng Nhà nước và Đại bản doanh.

Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là, có lẽ bởi vì cuộc chiến tranh đã sắp tới ngày thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi trong giai đoạn kết thúc của cuộc chiến tranh thì trước hết phụ thuộc vào việc thực hiện các chiến dịch đã được lập kế hoạch và nghiên cứu ở Đại bản doanh và Bộ Tổng tham mưu, đặc biệt là chiến dịch Béc-lin, nhằm mục đích tiêu diệt tại đó lực lượng chủ yếu của quân địch.

Phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a 3 phải giữ một vai trò không kém phần quan trọng trong việc tạo ra những điều kiện thuận lợi để tiến hành thắng lợi chiến dịch Béc-lin. Nó có nhiệm vụ tiêu diệt cánh quân phát-xít Đúc ở Đông Phổ và, do đó, phải rút ra một phần lực lượng để sử dụng về chiến dịch Béc-lin. Khi I. V. Xta-lin đề nghị tôi đảm nhiệm việc chỉ huy bộ đội của phương diện quân này, tôi vui lòng đồng ý.

Cố nhiên, điều chủ yếu trong việc đó là sao cho chiến tranh kết thúc thắng lợi. Đồng thời, tôi cũng nhận thức được rằng tôi có thể kiểm tra mình qua việc trực tiếp chỉ huy bộ đội của một phương diện quân khi giải quyết những nhiệm vụ hết sức quan trọng. Tôi nghĩ rằng hình như I. V. Xta-lin cũng xét đến một cái gì đó tương tự như vậy, bởi vì sắp tới còn phải tiến hành cuộc chiến tranh chống nước Nhật Bản quân phiệt.

Thật đáng tiếc là khi đó tôi lại phải từ giã tập thể tuyệt vời của Bộ Tổng tham mưu sau gần tám năm liên tục công tác ở đó. Cùng với tập thể này tôi đã bắt đầu tham gia chiến tranh, đã trải qua những ngày gian khổ và nguy hiểm nhất của cuộc chiến tranh đối với đất nước. Cùng với tập thể này, tôi đã vui sướng trước những thắng lợi đầu tiên, mà đối với chúng tôi, những người công tác ở Bộ Tổng tham mưu, những thắng lợi đó còn có một ý nghĩa đặc biệt.

Việc tôi thôi công tác ở Bộ Tổng tham mưu buộc tôi phải chuyển về từng mặt công tác của Bộ Tổng tham mưu lúc đó, mà trong các chương trước của cuốn sách, tôi chưa nêu ra một cách đầy đủ.

Một số người ưa thích thống kê lịch sử đã tính toán rằng trong suốt thời gian chiến tranh, tôi đã công tác ở Bộ Tổng tham mưu bao nhiêu lâu và là đại diện của Đại bản doanh ở các phương diện quân bao nhiêu lâu. Bản thân tôi không làm những con tính như vậy. Như thế là trong 34 tháng chiến tranh, khi tôi là tổng tham mưu trưởng, thì có 12 tháng tôi đã trực tiếp công tác ở Bộ Tổng tham mưu và 22 tháng công tác ở các phương diện quân để thực hiện các nhiệm vụ của Đại bản doanh.

Từ đó có thể rút ra hai kết luận. Một số người cho rằng tổng tham mưu trưởng dành nhiều thời gian ở với bộ đội chiến đấu là tốt. Ngược lại, một số khác lại cho rằng tốt thì có tốt thật, nhưng chắc là trách nhiệm của đồng chí ấy đối với công tác của Bộ Tổng tham mưu thì không lớn lắm. Một số khác nữa lại thẳng thắn trách Đại bản doanh, họ khẳng định rằng, nếu như tổng tham mưu trưởng dành nhiều thời gian công tác ở Bộ Tổng tham mưu hơn là ở các phương diện quân thì có lợi nhất, và điều đó cho phép đồng chí ấy đảm bảo tốt hơn năng lực của Bộ Tổng tham mưu, mà một cơ quan công tác tác chiến cơ bản của Đại bản doanh, Tổng tư lệnh tối cao phải có.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #226 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 02:16:54 pm »

Thật vậy trong thời kỳ chiến tranh, tôi thường có mặt ở mặt trận trong một thời gian dài, thực hiện các nhiệm vụ của Đại bản doanh với tư cách là đại diện của nó. Điều đó còn xảy ra khi ở một hướng mặt trận nào đó đột nhiên xuất hiện tình hình rất bất lợi, nguy hiểm về mặt chiến lược, và Đại bản doanh, trước khi ra một quyết định nào đó, để làm rõ tình hình thực tế và đề ra những ý kiến cụ thể và đúng đắn, đã cấp tốc cử ra mặt trận những đại diện có trách nhiệm của mình.

Thường Đại bản doanh còn dùng những đại diện của mình khi tiến hành những chiến dịch tiến công. Khi Đại bản doanh mới có ý định về một chiến dịch tiến công lớn ở đâu đó thì tôi với Gh. C. Giu-cốp, đôi khi có cả những nhà chỉ huy quân sự khác, theo thường lệ lại ra mặt trận, lúc đầu là để tìm hiểu tình hình, nghiên cứu tỉ mỉ về địch trên một hướng nào đó, làm rõ ý đồ, sau đó trở về Đại bản doanh để tham gia vào việc thông qua quyết định cuối cùng về chiến dịch và để thảo ra kế hoạch ở Bộ Tổng tham mưu; tiếp đó, sau khi Đại bản doanh chuẩn y các chỉ thị cho các phương diện quân, thì chúng tôi đáp máy bay ra mặt trận nhằm mục đích giúp các phương diện quân tiến hành chiến dịch.

Trong những điều kiện cụ thể của việc tiến hành đấu tranh vũ trang lúc đó, cách làm như vậy, theo tôi, không những là đúng đắn, mà còn là cần thiết đối với Đại bản doanh và Bộ Tổng tham mưu, bởi vì nó cho phép, khi đề ra quyết định cuối cùng và khi theo ra các kế hoạch tiến hành chiến dịch, không những chỉ xuất phát từ những tài liệu có ở Trung ương, mà trong một chừng mực đáng kể, còn chú ý đến cả những đặc điểm tình hình trực tiếp tại chỗ và trên cơ sở đó tiến hành tính toán một cách có căn cứ hơn.

Tất nhiên, trong đó không nên phủ nhận một điều là thường khi đi ra mặt trận và ở lại đó, với tư cách là Tổng tham mưu trưởng, tôi không thể trực tiếp tham gia giải quyết tất cả các vấn đề mà bộ máy của Bộ Tổng tham mưu có trách nhiệm phải làm, và tôi không thể tiếp xúc hàng ngày với tập thể Bộ Tổng tham mưu, do đó, không thể giúp đỡ thường xuyên và thiết thực trong công tác cho các cục và các phòng của nó, điều đó làm cho tôi lo lắng nhiều, lo lắng còn vì tôi cảm thấy và tiếp thu một cách thấm thía những đòi hỏi khá khắt khe, hoàn toàn không phải dễ đãi, mà Tổng tư lệnh tối cao đã đề ra cho tôi hầu như mỗt khi trong công tác của Bộ Tổng tham mưu có những thiếu sót và khuyết điểm nào đó.

Vì thế, khi ở xa Bộ Tổng tham mưu, tôi đã áp dụng tất cả những biện pháp nhằm đảm bảo cho mình khả năng lãnh đạo công tác của Bộ một cách có hiệu quả hơn. Khi thấy Bộ Tổng tham mưu thiếu cán bộ lãnh đạo, tôi đã nhiều lần buộc phải báo cáo với Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao sự lo lắng của tôi về điều đó. Nhưng I. V. Xta-lin không chú ý lắm đến sự lo lắng của tôi.

Tôi nhớ lại dù chỉ là một cuộc nói chuyện giữa tôi với đồng chí về vấn đề này. Cuộc nói chuyện đó diễn ra vào tháng Chạp năm 1942, khi ấy tình hình cán bộ lãnh đạo trong Bộ Tổng tham mưu rất là khó khăn. Trong năm ấy, theo đề nghị của tôi, N. Ph. Va-tu-tin, sau đó cả P. I. Bô-đin đã được chỉ định làm cấp phó của tôi. Làm việc mới được vài tháng thì có quyết định của Đại bản doanh, đồng chí N. Ph. Va-tu-tin được phái đi chỉ huy bộ đội của Phương diện quân Vô-rô-ne-giơ; còn đồng chí P. I. Bô-đin được phái đi làm tham mưu trưởng Phương diện quân Xta-lin-grát, sau đó làm tham mưu trưởng Phương diện quân Da-cáp-ca-dơ, tức là trong cả hai trường hợp đều được phái tới nơi mà tình hình đang gay go nhất.

Trước khi đi ra mặt trận Xta-lin-grát, một lần nữa, tôi lại đề nghị Xta-lin tăng cường cán bộ lãnh đạo cho Bộ Tổng tham mưu. Lần này, tôi đã đề nghị chỉ định trung tướng A. I. An-tô-nốp, nguyên tham mưu trưởng Phương diện quân Da-cáp-ca-dơ, làm cục trưởng Cục tác chiến và là cấp phó thứ nhất của tôi trong Bộ Tổng tham mưu. Nhưng Xta-lin đã trả lời một cách điển hình và làm tôi nhớ mãi:

- Đồng chí không cần phải lo lắng đến công việc của Bộ Tổng tham mưu như vậy. Hiện nay, nhiệm vụ chủ yếu của Đại bản doanh, của Bộ Tổng tham mưu, cũng như của tất cả mọi người là thực hiện thắng lợi các chiến dịch đang được tiến hành và các chiến dịch mà chúng ta đã vạch ra. Đồng chí cần tập trung chú ý chính vào các chiến dịch đó, và cả Bộ Tổng tham mưu cũng phải chú ý chủ yếu vào đó. Ngoài ra, tất cả những cái quan trọng nhất về các chiến dịch thì Bộ Tổng tham mưu đã làm; những công việc văn phòng còn lại thì bằng cách nào đó, chúng tôi cũng sẽ làm được khi không có đồng chí. Khi nào ở đây cần đồng chí với tư cách là Tổng tham mưu trưởng để giải quyết những nhiệm vụ mới, thì đồng chí đừng lo, chúng tôi sẽ không quên đồng chí và sẽ mời đồng chí đến. Nếu như trong quá trình công tác, Bộ Tổng tham mưu có gặp những khó khăn nghiêm trọng nào đó và cần có sự giúp đỡ, thì tôi nghĩ rằng, ngay khi ở mặt trận, đồng chí cũng có thể làm được việc này. Còn hiện giờ chủ yếu không phải là đồng chí giúp Bộ Tổng tham mưu mà chính Bộ Tổng tham mưu phải giúp đồng chí.

Nhưng dù sao thì lúc đó Xta-lin cũng đã đồng ý với tôi về việc chỉ định A. I. An-tô-nốp công tác ở Bộ Tổng tham mưu, mặc dù bản thân Xta-lin chưa biết đồng chí đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #227 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 02:17:35 pm »

Trong điều kiện cuộc chiến tranh hết sức phức tạp chống lại một kẻ thù mạnh, được trang bị rất tốt và có nhiều kinh nghiệm, khi tình hình chiến lược ở mặt trận thay đổi cực kỳ nhanh chóng, trước hết, Tổng tham mưu trưởng, với sự giúp đỡ của bộ máy của Bộ Tổng tham mưu, có nhiệm vụ:

* thường xuyên báo cho Bộ Tổng tư lệnh tối cao biết không những tất cả những sự kiện cơ bản ngoài mặt trận, mà còn phải có những tài liệu của tất cả các loại trinh sát, kịp thời báo trước cho Đại bản doanh biết những ý đồ có thể có của địch, và nhờ đó, bảo đảm cho mặt trận tránh được tất cả những khó khăn và bất ngờ;

* bằng mọi cách bảo đảm cho Đại bản doanh đề ra được nhưng quyết định chiến lược kịp thời và đúng đắn, đáp ứng nhất những mục tiêu chính trị - quân sự của chiến tranh trong một giai đoạn nhất định, đáp ứng tình hình mặt trận đã hình thành và hoàn toàn có khả năng thực hiện được với lực lượng và phương tiện hiện có;

* tổ chức việc điều khiển của Đại bản doanh đối với bộ đội một cách vững chắc và liên tục, ra sức giúp cho Đại bản doanh tác động một cách có hiệu quả và kịp thời đến tiến trình và sự phát triển của tình hình chiến lược ở các mặt trận, làm thay đổi nhanh chóng tình hình chiến lược có lợi cho mình, bằng cách làm cho địch không ngờ tới việc đưa những lực lượng dự bị chiến lược lớn vào tác chiến, hoặc huy động những phương diện quân bạn tham gia các chiến dịch, và đôi khi còn tổ chức cả những đòn đột kích mới và mạnh của những phương diện quân trên các hướng chiến lược khác, xét cho cùng là nhằm đạt được mục tiêu chính trị - quân sự thống nhất.

Tôi nghĩ rằng, trong thời kỳ chiến tranh, việc Đại bản doanh nhiều lần cứ Tổng tham mưu trưởng tới những hướng mặt trận chủ yếu, là nơi mà các nhiệm vụ chiến dịch - chiến lược cơ bản của chiến tranh được giải quyết, không những không gây trở ngại cho Tổng tham mưu trưởng thực hiện những nhiệm vụ cơ bản đó mà còn, - như kinh nghiệm đã chỉ rõ và bản thân tôi cũng thấy như vậy, nếu tổ chức công việc của mình ở ngoài mặt trận một cách thích hợp, - giúp cho Tổng tham mưu trưởng thực hiện nhiệm vụ của mình và tạo điều kiện lãnh đạo Bộ Tổng tham mưu một cách cụ thể hơn.

Một vài người lại có thái độ phê phán cách làm đó và dựa vào B. M. Sa-pô-sni-cốp, một người rất có uy tín trong công tác tham mưu. Thật thế, trong khi gọi Bộ Tổng tham mưu một cách hình ảnh là “bộ óc của quân đội”, Sa-pô-sni-cốp đã nói một cách hoàn toàn có lý và có căn cứ khoa học rằng Tổng tham mưu trưởng phái có mặt thường xuyên ở trung tâm những sự kiện quân sự, chỉ đạo các công việc và các vấn đề của Bộ Tổng tham mưu, bắt nhịp được cuộc đấu tranh chống quân thù trên tất cả các mặt trận và tác động đến cuộc đấu tranh đó.

Tuy nhiên, những lời khuyên rất có giá trị này của B. M. Sa-pô-sni-cốp chưa hẳn đã được coi là những lời khuyến nghị rằng chỉ có Bộ Tổng tham mưu và Đại bản doanh mới có thể là nơi thuận lợi, hợp lý và thường xuyên nhất đối với hoạt động của tổng tham mưu trưởng, để Tổng tham mưu trưởng và Bộ Tổng tham mưu nói chung hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong thời kỳ chiến tranh.

Tôi cho là B. M. Sa-pô-sni-cốp đã hoàn toàn tán thành cách làm của Đại bản doanh trong vấn đề này. Khi làm việc dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí đó trong những tháng cuối năm 1941 và nửa đầu năm 1942, và về sau này cho đến năm 1945, khi tôi thường xuyên có liên hệ với đồng chí đó bằng điện thoại, qua đây tôi nhiều lần nói chuyện với đồng chí đó và nhận được những lời khuyên cần thiết, thì tôi không thể không tin vào điều này.

Có lẽ điều hợp lý là xem xét thực chất của vấn đề không nên dựa vào quan điểm là tổng tham mưu trưởng có thể vừa ở ngoài mặt trận để thực hiện trọng trách là đại diện của Đại bản doanh nhằm chuẩn bị và tiến hành một chiến dịch, chiến lược lớn nào đó, đồng thời vừa hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản của mình là có lãnh đạo được Bộ Tổng tham mưu hay không. Tiến trình những sự kiện chiến tranh mà trong đó Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao buộc phải áp dụng cách làm này, đã trả lời vấn đề đó một cách đầy đủ và quả quyết

Theo tôi, đúng hơn cả là phải xem xét vấn đề đó như thế này: bằng cách nào tổng tham mưu trưởng vừa thực hiện nhiệm vụ của Đại bản doanh ở ngoài mặt trận, thường ở cách xa Bộ Tổng tham mưu, mà lại không làm cho Bộ Tổng tham mưu thiếu sự lãnh đạo và giúp đỡ của mình.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #228 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 02:18:13 pm »

Chính về vấn đề này tôi xin đề cập một cách tỉ mỉ hơn, và trước hết, tôi xin lưu ý là một phần rất lớn và rất quan trọng những nhiệm vụ mà tổng tham mưu trưởng phải thực hiện với tư cách là đại diện của Đại bản doanh, đồng thời cũng là nhiệm vụ trực tiếp của tổng tham mưu trưởng, không kể đồng chí đó làm việc ở đâu.

Đồng thời cần nói rằng trong mọi trường hợp, những vấn đề quan trọng nhất, liên quan tới một chiến dịch lớn trước mắt như: việc nghiên cứu và chuẩn bị quyết định chiến lược, việc Đại bản doanh xem xét lần cuối và phê chuẩn quyết định đó, và tiếp đó là việc thảo ra kế hoạch cơ bản để tiến hành chiến dịch, kể cả soạn thảo những chỉ thị cần thiết về chiến dịch cho các phương diện quân, thì bao giờ cũng nhất thiết phải được tiến hành với sự tham gia trực tiếp của tổng tham mưu trưởng.

Đồng thời, tôi muốn nhấn mạnh rằng, khi ra mặt trận, Tổng tham mưu trưởng tuy tạm thời cách xa Bộ Tổng tham mưu, nhưng nhờ áp dụng một số biện pháp, nên sự cách xa ấy không làm cho đồng chí mất khả năng lãnh đạo hàng ngày, và theo sự đánh giá của Đại bản doanh thì đồng chí ấy còn lãnh đạo khá tốt hoạt động của Bộ Tổng tham mưu, nhất là khi nghiên cứu những vấn đề rất quan trọng. Tôi sẽ nêu ra một số những biện pháp đó.

Mỗi lần khi theo quyết định của Đại bản doanh, Tổng tham mưu trưởng được cử ra mặt trận để tham gia chuẩn bị chiến dịch và sau đó là tiến hành chiến dịch, thì ở một trong những phương diện quân mà đồng chí đó phải tiến hành phối hợp hoạt động, người ta đã thành lập sở chỉ huy của Tổng tham mưu trưởng. Sở chỉ huy bao giờ cũng có trạm thông tin mạnh nhằm bảo đảm sự liên lạc hữu tuyến và vô tuyến một cách thường xuyên và vững chắc với Mát-xcơ-va, tức là với Đại bản doanh, với Bộ Tổng tham mưu, với các cơ quan của Bộ dân ủy quốc phòng. với Chính phú và với các bộ dân ủy khác.

Đồng thời thông qua trạm thông tin của Bộ Tổng tham mưu, có thể liên lạc cả với các phương diện quân, các tập đoàn quân khác và với bộ tham mưu của các quân khu trong nước. Trong thời kỳ diễn ra trận đánh Xta-lin-grát, trong các trận chiến đấu ở miền thượng lưu sông Đôn, ở vòng cung Cuốc-xcơ, khi giải phóng Đôn-bát, trong thời gian hoạt động của bộ đội Liên Xô để giải phóng Tả ngạn và Hữu ngạn U-crai-na, Crưm, Bê-lô-ru-xi-a và Pri-ban-tích cũng như trong các chiến dịch khác, trạm thông tin này thông thường do các đơn vị thông tin liên lạc được trang bị đầy đủ và được huấn luyện tốt, phục vụ.

Ngoài những phương tiện thông tin hữu tuyến rất đầy đủ để hoàn thành những nhiệm vụ nói trên, các đơn vị này còn được trang bị đủ các phương tiện thông tin vô tuyến; trong những trường hợp cần thiết. Bộ Tổng tham mưu và Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao cũng sử dụng các phương tiện đó.

Tôi lấy một sự việc đã nêu ở trên làm ví dụ. Đêm 23 rạng ngày 24 tháng Tám năm 1942, tôi nói chuyện với Tổng tư lệnh tối cao bằng vô tuyến điện và báo cáo với đồng chí về tình hình hết sức nghiêm trọng ở vùng Xta-lin-grát, về những biện pháp mà chúng tôi và phương diện quân đã tiến hành tại chỗ để cứu vãn thành phố, và về những thứ cần thiết mà Đại bản doanh cần tăng cường để làm việc này. Và việc đó đã xảy ra trong thời kỳ ấy của chiến tranh, khi Bộ Tổng tham mưu và Đại bản doanh buộc phải đấu tranh với cái gọi là “bệnh sợ hãi vô tuyến điện” mà nhiều cán bộ chỉ huy binh đội binh đoàn và thậm chỉ cả tập đoàn quân đã mắc phải.

Quyết định của Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao vào khoảng thời kỳ đó ra lệnh trang bị máy vô tuyến điện riêng cho các quân đoàn trưởng, sư đoàn trưởng và cho các tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân. Theo quyết định đó cán bộ tư lệnh hoặc cán bộ chỉ huy dù làm việc ở đâu thì máy vô tuyến điện riêng đó bao giờ cũng phải ở bên cạnh, và cùng với các điện báo viên, ở máy vô tuyến điện nhất thiết phải có một sĩ quan của phòng tác chiến và một nhân viên mật mã.

Mối liên lạc vững chắc bằng kỹ thuật với Bộ Tổng tham mưu đã đảm bảo cho tôi, với tư cách là Tổng tham mưu trưởng, trong suốt ngày đêm có thể thường xuyên nghe báo cáo của các cán bộ lãnh đạo của Bộ Tổng tham mưu về tất cả những sự kiện quan trọng nhất đang diễn ra ở các mặt trận, về hoạt động thường xuyên của Đại bản doanh, về những báo cáo và những đề nghị quan trọng nhất gửi từ mặt trận về cho Đại bản doanh và Bộ Tổng tham mưu, về quá trình thực hiện những nhiệm vụ nào đó của Đại bản doanh, về tiến trình xây dựng các đơn vị, về tình hình lực lượng dự bị chiến lược và về tất cả những khó khăn chủ yếu mà Bộ Tổng tham mưu đã gặp phải trong quá trình công tác. Tôi đã ra ngay tất cả những chỉ thị cần thiết cho Bộ Tổng tham mưu về những vấn đề đang thảo luận.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #229 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 02:18:50 pm »

Việc các cán bộ có trách nhiệm của Bộ Tổng tham mưu thường xuyên tới chỗ tôi ở ngoài mặt trận đã giúp tôi rất nhiều trong việc lãnh đạo hoạt động của Bộ Tổng tham mưu. Những chuyến đi đó của họ ra mặt trận, áp dụng cho đến tháng Hai năm 1945, đã được thực hiện theo sáng kiến của họ có sự đồng ý của tôi hoặc là theo yêu cầu của tôi, đôi khi còn theo chỉ thị của Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao.

Thông thường, lý do chính của những chuyến đi đó là báo cáo về những bản dự án hoặc chỉ thị do Bộ Tổng tham mưu thảo ra cốt được Đại bản doanh phê chuẩn, hay là dự thảo về những chỉ thị hoặc chỉ dẫn của bộ Tổng tham mưu gửi cho các đơn vị cũng như việc xem xét những vấn đề công tác khác của Bộ Tổng tham mưu, kể cả việc biên chế và thuyên chuyển cán bộ ở Bộ Tổng tham mưu.

Đồng thời, khi ra mặt trận, Bộ Tổng tham mưu đã phái một nhóm sĩ quan được đào tạo chu đáo để giúp tôi. Thành phần của nhóm này được chọn lựa căn cứ vào tính chất và nhiệm vụ phiên dịch được tiến hành, và nhất là căn cứ vào tầm quan trọng của hướng mà chiến dịch này đã lập kế hoạch. Nhóm này đã giúp cho tôi rất nhiều.

Những người đại diện thường trực của Bộ Tổng tham mưu công tác ở các bộ tham mưu của phương diện quân, tập đoàn quân, quân đoàn độc lập, và đôi khi cả của các sư đoàn, đã giúp nhiều cho tôi và cho các đại diện khác của Đại bản doanh. Những người đại diện này của cái gọi là “đoàn sĩ quan của Bộ Tổng tham mưu” đã thông báo cho chúng tôi, đồng thời cho cả Bộ Tổng tham mưu nhiều tin tức bổ sung rất có giá trị và rất khách quan về tiến trình của tình huống chiến đấu, về địch, về tình hình và tình trạng của bộ đội Liên Xô về việc đảm bảo cho bộ đội tất cả những thứ cần thiết để hoàn thành những nhiệm vụ được giao.

Những người đại diện của các binh chủng mà mỗi lần Đại bản doanh chỉ định đã giúp đỡ nhiều cho chúng tôi là những đại diện có trách nhiệm của Đại bản doanh. Trong phần lớn trường hợp, cùng làm việc với tôi có đại diện của không quân Ph. I-a. Pha-la-lê-ép, tham mưu tnrởng và phó Tổng tư lệnh không quân, M. N. Tsi-xơ-ti-a-cốp, phó tư lệnh pháo binh của Hồng quân, I-a. N. Phê-đô-ren-cô, tư lệnh bộ đội thiết giáp và cơ giới, hoặc là phó tư lệnh.

Xem xét vai trò của các đại diện của Đại bản doanh trong quá trình một chiến dịch nào đó, tôi phải nhấn mạnh sự giúp đỡ to lớn mà Bộ Tổng tư lệnh tối cao đã dành cho chúng tôi khi công tác ở ngoài mặt trận. Chỉ riêng việc Đại bản doanh đòi hỏi chúng tôi hàng ngày vào lúc 24 giờ phải báo cáo bằng điện báo về hoạt động của chúng tôi ở mặt trận, đã buộc chúng tôi phải có liên lạc thường xuyên và vững chắc nhất với Đại bản doanh.

Nhưng việc liên lạc của chúng tôi, đặc biệt là của Gh. C. Giu-cốp và của tôi, với Bộ Tổng tư lệnh tối cao bằng những bản báo cáo ấy chưa phải là hết. Bản thân tôi thường phải nói chuyện với Xta-lin bằng điện thoại vài lần trong một ngày đêm. Nội dung của các buổi nói chuyện đó là thảo luận tiến trình thực hiện các nhiệm vụ của Đại bản doanh ở các phương diện quân mà lúc đó chúng tôi đang là đại diện của Đại bản doanh, xem xét những hoạt động quân sự ở những phương diện quân khác, xem xét tính chất hợp lý của việc huy động những phương diện quân bạn tham gia chiến dịch đang tiến hành hoặc tổ chức những đòn đột kích mới và mạnh vào quân địch trên những hướng chiến lược khác, đồng thời thảo luận những vấn đề về tình hình và sử dụng lực lượng dự bị hiện có của Bộ Tổng tư lệnh tối cao, xây dựng những lực lượng dự bị mới và lớn, bảo đảm chiến đấu và bảo đảm về vật chất cho bộ đội, chỉ định hoặc thuyên chuyển cán bộ lãnh đạo của các Lực lượng vũ trang và những vấn đề khác.

Còn về việc liên lạc với Xta-lin, sẽ không quá cường điệu nếu tôi nói rằng: kể từ mùa xuân năm 1942 và suốt trong những thời gian tiếp sau của cuộc chiến tranh, tôi chỉ không nói chuyện bằng điện thoại với đồng chí đó trong những ngày đầu tháng Tám năm 1943 khi đồng chí đi gặp các tư lệnh Phương diện quân Tây và Phương diện quân Ca-li-nin và trong những ngày đồng chí tham dự Hội nghị những người đứng đầu chính phủ ba nước tại Tê-hê-ran (từ những ngày cuối tháng Mười một đến ngày 2 tháng Chạp năm 1943).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM