SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #250 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2010, 07:05:31 pm » |
|
Tập đoàn quân 53 và tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 tiến công từ Ma-mát vào Thẩm Dương, nơi đặt bộ tham mưu phương diện quân 3 của Nhật, và giáng đòn đột kích vào cánh phải của tập đoàn quân 44. Tập đoàn quân 39 tiến công từ phần nhô ra ở Tam-txác Bu-lác, vừa tiêu diệt tập đoàn quân 30 và cánh trái của tập đoàn quân độc lập 4 của Nhật, tiến dọc theo đường sắt tới Trường Xuân (Tân Giang), nơi đặt bộ tham mưu của đạo quân Quan Đông, còn tập đoàn quân 5 của Phương diện quân Viễn Đông 1 thì từ phía Đông đánh lại. Tập đoàn quân 36 từ Đa-u-ri-a vượt qua Hải Lạp Nhĩ mở mũi đột kích theo hưởng Tề Tề Cáp Nhĩ vào giữa tập đoàn quân độc lập 4 của địch. Quân đoàn không quân 12 đã yểm trợ cho Phương diện quân Da-bai-can.
Bộ đội Phương diện quân Da-bai-can đã tiến trên địa hình rất hiểm trở. Thậm chí bản thân người Trung Quốc và người Nhật Bản cũng không có bản đồ tương đối tốt. Vì vậy, ngành bản đồ Liên Xô đã làm được nhiều việc để bảo đảm cho các cán bộ chỉ huy có những tài liệu cần thiết.
Kẻ địch không dự kiến được rằng bộ đội Liên Xô trong một tuần lễ có thể vượt hàng trăm ki-lô-mét trong những điều kiện rất khó khăn. Yếu tố bất ngờ rất lớn, và cả đòn đột kích vào đạo quân Quan Đông từ phía Tây-bằc rất mạnh, đến nỗi sau đó nó không thể gượng dậy được nữa.
Phương diện quân Viễn Đông 2 có 6 cánh quân không lớn lắm bảo vệ đường sắt ở vùng Da-bai-can từ cửa sông Sin-ca đến cửa sông Dê-i-a; tập đoàn quân Cờ đỏ 2 từ cao nguyên Bu-rê-i-a vượt qua Tiểu Hưng An và từ phía Bắc tiến theo hướng Tề Tề Cáp Nhĩ; tập đoàn quân 15 từ Bi-rô-bít-gian dọc theo sông Tùng Hoa tiến công vào Cáp Nhĩ Tân, quân đoàn bộ binh độc lập 5 từ Bỉ Kim song song với bộ đội của tập đoàn quân 15 vừa chiến đấu vừa tiến vào Bá Lực; tập đoàn quân 16 mở mũi đột kích từ Bắc Xa-kha-lin vào Nam Xa-kha-lin; các đơn vị bộ đội ở khu phòng ngự Cam-tsát-ca (theo lệnh của tôi ngày 15 tháng Tám) đánh chiếm quần đảo Cu-rin. Từ trên không, tập đoàn quân không quân 10 yểm trợ cho bộ đội phương diện quân Viễn Đông 2.
Phương diện quân này hiệp đồng rất chặt chẽ với Hạm đội Thái Bình Dương, với Giang đội A-mua và với Phân hạm đội Bắc Thái Bình Dương. Thủy quân của các đơn vị này đã tham gia vào việc đổ bộ lên quần đảo Cu-rin và Nam Xa-kha-lin, vào việc vượt sông A-mua và Út-xi-ri, vào các trận chiến đấu trên sông Tùng Hoa. Một điều đáng chú ý của những trận chiến đấu ở Xa-kha-lin là việc nhảy dù của bộ đội Liên Xô xuống Tai-ô-kha-ra (Nam Xa-kha-lin), mà kẻ địch không thể ngờ tới. Cuộc đổ bộ bằng đường biển lên các đảo I-tu-rúp, Cu-na-sia và Si-cô-tan diễn ra một cách nhanh chóng, khôn khéo và dũng cảm cũng là một điều không kém phần kỳ diệu.
Ở Phương diện quân Viễn Đông 1, tập đoàn quân 35 từ Gu-bê-rốp và Lê-xô-da-vốt-xcơ mở mũi đột kích vào Lâm Khẩu; tập đoàn quân Cờ đỏ 1 từ hồ Khan-ca qua Mộc Lâm và Mẫu Đơn Giang (bộ tham mưu của phương diện quân 1) tiến công vào Cáp Nhĩ Tân, hợp điểm với tập đoàn quân 15 tại đó; tập đoàn quân 5 từ Gơ-rô-đê-cốp tiến đến Cát Lâm.
Tập đoàn quân 25 qua Uông Thanh (bộ tham mưu của tập đoàn quân 3 của địch) rẽ sang hướng Diên Cát, tiến đến Triều Tiên và, sau đó, đọc bờ biển Nhật Bản tiến đến vĩ tuyến 38 nổi tiếng, sau này trở thành biên giới giữa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Nam Triều Tiên, để mở mũi đột kích vào Phương diện quân 17. Từ trên không, tập đoàn quân không quân 9 yểm trợ cho bộ đội của phương diện quân. Quân đoàn cơ giới 10 chiến đấu trên địa bàn của tập đoàn quân 5.
Bộ phận lực lượng chủ yếu của Hạm đội Thái Bình Dương đóng ở Vla-đi-vô-xtôc đã hiệp đồng với phương diện quân này. Những chiến dịch phối hợp giữa các đơn vị bộ đội cơ động từ đất liền và quân đổ bộ đường biển để chiếm các cảng của Triều Tiên là I-u-ki, La Tân, Thanh Tân và Nguyên Sơn đã tiến hành nhanh chóng và thắng lợi. Các đơn vị nhảy dù đổ bộ xuống Cáp Nhĩ Tân, Cát Lâm và Hàm Hưng nằm sâu trong hậu phương của địch, đã tỏ ra rất xuất sắc: sự thất bại của đạo quân Quan Đông đã làm cho quân Nhật rất hoang mang và giúp quân nhảy dù của Liên Xô có thể dễ dàng hoàn thành những nhiệm vụ quan trọng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #251 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2010, 07:06:08 pm » |
|
Cuộc tiến công chung của chúng ta với Quân đội nhân dân cách mạng Mông Cổ đã phát triển thắng lợi ngay từ đầu. Những mũi đột kích đầu tiên, bất ngờ và mạnh mẽ đã cho phép bộ đội Liên Xô giành ngay được thế chủ động.
Khi Liên Xô bắt đầu những hoạt động quân sự thì chính phủ Nhật Bản rất hoảng sợ. Ngày 9 tháng Tám, thủ tướng Xu-du-ki tuyên bố: “Việc sáng hôm nay Liên Xô tham chiến đã hoàn toàn đưa chúng ta vào một tình thế không có lối thoát và làm cho chúng ta không thể tiếp tục chiến tranh được nữa”.
Như vậy, theo như giới lãnh đạo nước Nhật đã thừa nhận thì điều quyết định số phận của Nhật Bản và làm cho chiến tranh thế giới lần thứ hai chóng kết thúc chính là hoạt động của các Lực lượng vũ trang Liên Xô, chứ không phải là việc máy bay Mỹ ném bom nguyên tử xuống các thành phố của Nhật vào ngày 6 và 9 tháng Tám.
Việc hủy diệt hàng loạt dân thường ở các thành phố Nhật Bản hoàn toàn không phải là do một sự cần thiết về quân sự nào cả. Đối với giới cầm quyền Hoa Kỳ, bom nguyên tử không hẳn là một hành vi để kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, mà đúng hơn là bước đầu tiên trong “cuộc chiến tranh lạnh” chống Liên Xô.
Cuộc tiến công của bộ đội Liên Xô diễn ra trong điều kiện quân địch kháng cự điên cuồng. Tuy thế, trên tất cả các hướng chủ yếu, bộ đội Liên Xô đã thực hiện xuất sắc những nhiệm vụ được giao. Ngay ngày 11 tháng Tám, những đơn vị tiền tiêu của Phương diện quân Da-bai-can đã tiến đến sườn phía Tây dãy núi Đại Hưng An, còn các đơn vị bộ đội cơ động của cánh quân chủ yếu đã vượt qua dãy núi này và tiến vào đồng bằng Trung Mãn Châu.
Cuộc vượt qua dãy núi Hưng An là chiến công có một không hai trong chiến tranh hiện đại. Đến cuối ngày 14 tháng Tám, bộ đội Phương diện quân Da-bai-can, sau khi trải qua chặng đường dài từ 250 đến 400 km, đã tiến vào các vùng trung tâm của Mãn Châu và tiếp tục tiến đến thủ phủ của nó là Trường Xuân và trung tâm công nghiệp lớn Thẩm Dương.
Cũng trong thời gian đó, trong điều kiện địa hình núi rừng tai-ga hiểm trở, bộ đội Phương diện quân Viễn Đông 1 đã chọc thủng tuyến phòng thủ mạnh giống như “tuyến Man-néc-hem” ở eo đất Ca-rê-li-a, nhưng có quy mô lớn hơn, và sau khi đánh chiếm bảy khu vực phòng thủ vững chắc, đã tiến sâu vào Mãn Châu từ 120 đến 150 km và mở đầu trận đánh để chiếm thành phố Mẫu Đơn Giang. Bộ đội Phương diện quân Viễn Đông 2 chiến đấu ở các cửa ngõ tiên đến Tề Tề Cáp Nhĩ và Gia Mộc Tư. Như vậy, ngay cuối ngày tiến công thứ sáu của bộ đội Liên Xô, đạo quân Quan Đông đã bị chia cắt ra thành nhiều bộ phận.
Sỏ dĩ bộ đội Liên Xô hoạt động trên những hướng chiến dịch riêng biệt và tách rời nhau mà vẫn có thể tiến công với nhịp độ nhanh chóng như vậy chỉ là do biết bố trí lực lượng một cách có suy tính kỹ, do nắm vững những đặc điểm thiên nhiên của địa hình và tính chất hệ thống phòng thủ của địch ở mỗi hướng chiến dịch, do sử dụng rộng rãi và táo bạo các binh đoàn xe tăng, cơ giới và kỵ binh, do hành động bất ngờ, khí thế tiến công cao, ý chí kiên quyết, mạnh dạn và khôn khéo, lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng tập thể của cán bộ, chiến sĩ Hồng quân và Hải quân.
Trong suốt chiến cục, bộ đội Viễn Đông đã được bộ đội biên phòng giúp đỡ rất nhiều. Ngay trong những ngày đầu của chiến cục Mãn Châu, họ đã cùng với bộ đội dã chiến tấn công và tiêu diệt nhiều cứ điểm biên phòng và các khu vực phòng thủ vững chắc của địch. Trong quá trình những trận đánh tiếp theo, bộ đội biên phòng đã tham gia tích cực vào việc truy kích địch, bảo vệ đường giao thông, bộ tham mưu, các mục tiêu quan trọng và các khu vực hậu phương của bộ đội dã chiến.
Đồng thời, những đội đặc biệt, được thành lập từ các đơn vị bộ đội biên phòng trong những ngày đầu chiến tranh ở Viễn Đông, đã yểm trợ, hay nói đúng hơn, đã tiến hành phòng thủ nhiều khu vực mặt trận theo nhiệm vụ mà bộ tư lệnh phương diện quân giao cho. Chính điều đó đã cho phép bộ đội dã chiến rảnh tay và tham gia chiến đấu ở những hướng chiến dịch chủ yếu. Bộ đội biên phòng cũng đã góp phần to lớn vào việc đấu tranh chống những nhóm phá hoại và gián điệp của địch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #252 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2010, 07:07:00 pm » |
|
Tôi xin nêu một thí dụ để chỉ rõ các chiến sĩ biên phòng đã hoạt động kiên quyết, quên mình và dũng cảm biết nhường nào trong suốt toàn bộ chiến cục của các Lực lượng vũ trang Liên Xô ở Viễn Đông. Chỉ riêng đội biên phòng Gia-lin ngay trong trận chiến đấu đấu tiên đã tiêu diệt 50 tên Nhật, trong đó có 13 sĩ quan, và bắt làm tù binh 150 tên. Sau đó, các chiến si đội biên phòng Gia-lin đã tiêu diệt một đội cảnh sát biên phòng, 2 đội biên phòng huyện và 11 đội biên phòng nhỏ, 3 đồn biên phòng, 9 phân đội độc lập và 2 tàu thủy.
Trước chính diện tiến công, đội này đã quét sạch bọn địch khỏi một khu vực có chiều dài là 427 km và chiều sâu 80-90 km, chiếm 24 điểm dân cư, trong đó có một thị trấn. Đồng thời, đội biên phòng này còn thu được nhiều chiến lợi phẩm: vũ khí, đạn dược, 8 kho lương thực, thực phẩm và đồ dùng, 4 xà lan chở đầy hàng và một tàu thủy. Các đội biên phòng khác ở vùng Da-bai-can và Viễn Đông đã chiến đấu chống bọn quân phiệt Nhật Bản cũng tốt như vậy.
Trước thất bại quân sự không thể tránh khỏi, ngày 14 tháng Tám, chính phủ Nhật đã quyết định đầu hàng. Ngày hôm sau, nội các của thủ tướng Xu-du-ki đổ. Tuy nhiên, quân lính của đạo quân Quan Đông vẫn tiếp tục chống lại một cách ngoan cố. Do đó, sau cuộc nói chuyện giữa Xta-lin và tôi về vấn đề này, ngày 16 tháng Tám, báo chí Liên Xô đã đăng bản công bố của Bộ Tổng tham mưu Hồng quân. Trong đó nêu rõ:
"1. Thông báo của Nhật hoàng ngày 14 tháng Tám về sự đầu hàng của Nhật chỉ là sự tuyên bố chung chung về sự đầu hàng vô điều kiện.
Các lực lượng vũ trang Nhật Bản chưa có lệnh ngừng các hoạt động quân sự, và chúng vẫn tiếp tục chống cự như trước. Như vậy là các lực lượng vũ trang Nhật Bản chưa thật sự đầu hàng.
2. Chỉ có thể coi các lực lượng vũ lrang Nhật Bản đã đầu hàng khi nào Nhật hoàng ra lệnh cho các lực lượng vũ trang của mình chấm dứt các hoạt động quân sự, hạ vũ khí và khi mệnh lệnh này được thật sự thi hành.
3. Do những điều đã trình bày ở trên, các Lực lượng vũ trang Liên Xô ở Viễn Đông sẽ tiếp tục tiến công quân Nhật”.
Trong những ngày tiếp sau, bộ đội Liên Xô đã tăng nhanh nhịp độ tiến công. Trên khu vực dài một nghìn ki-lô-mét của Phương diện quân Da-bai-can: cụm quân kỵ binh-cơ giới của Pli-ép đã tiến tới Can-gan (Trương Gia Khẩu) và Thừa Đức (Nhiệt Hà); tập đoàn quân 17 qua Xích Phong tiến tới bờ vịnh Liêu Đông; tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6, mặc dù gặp nhiều khó khăn do việc tiếp tế không đều đặn, song đã kiên trì thực hiện nhiệm vụ cơ bản của phương diện quân là đánh chiếm Thẩm Dương; tập đoàn quân 39 vừa khôi phục lại những chiếc cầu và những đoạn đường sắt do địch phá hoại khi rút chạy, vừa tiến qua Đào An tới Trường Xuân.
Chính trong những ngày này, tư lệnh phương diện quân đã quyết định đưa tập đoàn quân 53 từ thê đội hai vào chỗ đứt quãng giữa hai tập đoàn quân 17 và 39 để tiến công qua Khai Lỗ vào Phụ Tân. Kết quả là bộ đội Phương diện quân Da-bai-can đến cuối ngày 19 tháng Tám đã tiến đến các vùng Xích Phong, Trường Xuân, Thẩm Dương, Khai Thông và Tề Tề Cáp Nhĩ. Điều đó có nghĩa là từ phía Tây, các Lực lượng vũ trang Liên Xô đã đánh vào tung thâm đạo quân Quan Đông trên một diện tích rất lớn, khoảng 0,6 triệu km2 .
Bộ đội Phương diện quân Viễn Đông 1 cũng tiếp tục phát triển tiến công. Ngày 16 tháng Tám, tập đoàn quân 35 đã tiến tới đường sắt Gia Mộc Tư - Đô Môn ở vùng Bốt Lợi và, do đó, đảm bảo vững chắc sườn phải cánh quân chủ yếu của phương diện quân, bằng cách tách tập đoàn quân độc lập 4 của Nhật khỏi cánh quân Mẫu Đơn Giang, khi tập đoàn quân này đang rút xuống phía Nam trước sức ép của bộ đội Phương diện quân Viễn Đông 2.
Trong lúc đó, tập đoàn quân Cờ đỏ 1 và tập đoàn quân 5 đã chiến đấu quyết liệt để chiếm Mẫu Đơn Giang, là một đấu mối lớn đường sắt và đường bộ, trung tâm chính trị - hành chính quan trọng. Quân địch ngoan cố chống cự và nhiều lần phản kích, nhưng ngày 16 tháng Tám, thành phố bị thất thủ. Trong những trận chiến đấu đó, đạo quân Quan Đông đã tổn thất hơn 4 vạn binh lính và sĩ quan.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #253 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2010, 07:07:32 pm » |
|
Cũng vào ngày đó. tập đoàn quân 25 cùng với quân đoàn cơ giới 10 đã đánh chiếm thành phố Uông Thanh, thành phố bảo vệ các con đường dẫn tới Cát Lâm và các vùng phía Bắc Triều Tiên. Đồng thời, bộ đội của tập đoàn quân này đã phối hợp với quân đổ bộ đường biển đánh chiếm căn cứ hải quân lớn Thanh Tân và tiến tới các đường giao thông của tập đoàn quân 3 của Nhật, cắt đứt các đơn vị của phương diện quân 17 khỏi phương diện quân 1 và khỏi bờ biển Nhật Bản.
Ngay cuối tuần đầu của cuộc chiến tranh, tập đoàn quân 5 của Nhật đã bị tiêu diệt hoàn toàn, còn tập đoàn quân 3 và các đơn vị khác của phương diện quân 1 đều bị tổn thất nặng nề. Mưu toan của địch là bằng mọi giá ngăn cản không cho bộ đội Liên Xô tiến vào đồng bằng Trung Mãn Châu và tiến đến Bắc Triều Tiên, đã bị phá sản.
Những hoạt động quân sự nhằm giải phóng Triều Tiên phát triển thắng lợi, đó là một bộ phận của chiến cục của bộ đội Liên Xô ở Viễn Đông. Tập đoàn quân 25 đã thực hiện nhiệm vụ cơ bản với sự hiệp đồng của Hạm đội Thái Bình Dương. Ngày 12 tháng Tám, các đơn vị này đã chiếm được các thành phố phía Bắc Triều Tiên I-u-ki và La Tân. Việc bộ đội Liên Xô tiến đến Thanh Tân đã hoàn toàn phá vỡ tuyến phòng thủ của đạo quân Quan Đông ở hướng ven biển. Đồng thời, những cuộc đổ bộ đường biển và đường không xuống một số cảng và thành phố ở Bắc Triều Tiên cũng được tiến hành. Đầu tháng Chín, bộ đội Liên Xô tiến đến vĩ tuyến 38 mà hiệp định giữa các cường quốc đồng minh đã quy định.
Hồng quân đến Triều Tiên với tư cách là người giải phóng, người bạn và đồng minh của nhân dân Triều Tiên. Nhân dân Triều Tiên đã đánh giá xứng đáng những sự hy sinh của nhân dân Liên Xô vì tự do và độc lập của họ. Điều đó được chứng minh bởi những cuộc tuần hành rộng lớn, thể hiện tình hữu nghị và lòng cảm ơn chân thành của nhân dân ở các thành phố và làng mạc, nơi mà các đơn vị Hồng quân tiến đến. Những đài kỷ niệm các chiến sĩ Liên Xô ở Bình Nhưỡng và ở các thành phố khác của Triều Tiên là tượng trưng cho lòng biết ơn muôn đời của nhân dân Triều Tiên đối với những người giải phóng mình.
Việc Hồng quân giáng đòn thất bại hết sức nặng nề vào quân Nhật ở Triều Tiên đã tạo ra những khả năng thuận lợi cho hoạt động của các lực lượng cách mạng đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tóc và tiến bộ xã hội. Ở Bắc Triều Tiên, dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản, nhân dân lao động đã bắt tay vào xây dựng một nhà nước dân chủ nhân dân, thật sự độc lập đầu tiên trong lịch sử Triều Tiên.
Nhưng ở phía Nam vĩ tuyến 38, nơi mà theo hiệp định giữa các nước đồng minh, quân đội Mỹ đã đổ bộ vào (đầu tháng Chín năm 1945), thì bọn tư bản và địa chủ vẫn nắm giữ chính quyền. Chúng đã biến Nam Triều Tiên thành dinh lũy của chủ nghĩa chống cộng và của thế lực phản động.
Việc Hồng quân giải phóng Triều Tiên và sự giúp đỡ của Liên Xô đối với Triều Tiên trong công cuộc xây dựng nhà nước mới, trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân và phát triển văn hóa, khi mà bản thân Liên Xô chưa khắc phục được những hậu quả của cuộc chiến tranh gian khổ - đó là sự thể hiện trên thực tế những nguyên tắc lê-nin-nít của chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Trong những ngày đó, bộ đội Phương diện quân Viễn Đông 2 đã đánh chiếm thành phố Gia Mộc Tư và hiệp đồng với Giang đội Cờ đỏ A-mua tiến công dọc theo sông Tùng Hoa tới Cáp Nhĩ Tân. Trên vùng trời, không quân Liên Xô đã khống chế toàn bộ chiến trường. Hạm đội Thái Bình Dương đã hoàn toàn làm chủ bờ biển Bắc Triều Tiên. Đạo quân Quan Đông đã bị thất bại hết sức nặng nề.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #254 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2010, 07:08:08 pm » |
|
Ngày 17 tháng Tám, sau khi hoàn toàn mất khả năng điều khiển quân lính đã bị đánh tan tác và thấy rằng việc tiếp tục kháng cự là vô ích, tư lệnh đạo quân Quan Đông tướng Ô-tô-dô I-a-ma-đa đã ra lệnh bắt đầu các cuộc hội đàm với Bộ Tổng tư lệnh Liên Xô tại Viễn Đông. Vào 15 giờ ngày hôm đó, đài phát thanh đã truyền đi bản tuyên bố sau đây của bộ tham mưu đạo quân Quan Đông:
“Nhằm thực hiện thật nhanh chóng mệnh lệnh chấm dứt các hoạt động quân sự, sáng nay, chúng tôi, bộ chỉ huy đạo quân Quan Đông, đã ra lệnh trong khoảng thời gian từ 10 đến 14 giờ (theo giờ Tô-ki-ô) ngày 17 tháng Tám. các đại diện của chúng tôi đến các thành phố sau đây: Mẫu Đơn Giang, Mật Sơn, Mục Lăng để tiếp xúc với bộ chỉ huy của Hồng quân. Bộ tham mưu đạo quân Quan đông mong rằng biện pháp này không gây ra một sự hiểu lầm nào”.
17 giờ ngày 17 tháng Tám, chúng tôi đã nhận được bức điện vô tuyến của tổng tư lệnh đạo quân Quan Đông nói rằng y đã ra lệnh cho quân đội Nhật chấm dứt ngay các hoạt động quân sự và nộp vũ khí cho bộ đội Liên Xô. Và vào lúc 19 giờ, một máy bay của Nhật đã thả xuống khu vực của Phương diện quân Viễn Đông 1 hai lá cờ hiệu kèm theo đề nghị của bộ tham mưu phương diện quân 1 của đạo quân Quan Đông về việc chấm dứt các hoạt động quân sự. Nhưng ở phần lớn các khu vực, quân Nhật không những vẫn tiếp tục chống cự, mà có những nơi còn chuyển sang phản kích. Do đó, ngay khi ấy, tôi đã buộc phải gửi cho tướng I-a-ma-đa một bức điện vô tuyến như sau:
“Bộ tham mưu đạo quân Quan Đông của Nhật qua đài phát thanh đã đề nghị bộ tham mưu bộ đội Liên Xô ở Viễn Đông chấm dứt các hoạt động quân sự, nhưng lại không nói một lời nào về sự đầu hàng của các lực lượng vũ trang Nhật Bản ở Mãn Châu. Trong lúc đó, quân Nhật chuyển sang phản công ở một số nơi trên mặt trận Xô - Nhật.
Tôi yêu cầu tư lệnh đạo quân Quan Đông từ 12 giờ ngày 20 tháng Tám phải chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống lại bộ đội Liên Xô trên toàn bộ mặt trận, hạ vũ khí và đầu hàng. Thời hạn nêu trên là cốt để bộ tham mưu đạo quân Quan Đông có thể truyền lệnh chấm dứt chống cự và đầu hàng tới tất cả các đơn vị của mình. Chỉ khi nào quân đội Nhật bắt đầu hạ vũ khí thì bộ đội Liên Xô mới chấm dứt các hoạt động quân sự”.
Đồng thời, tôi đã ra lệnh cho tư lệnh Phương diện quân Viễn Đông 1 cử các sĩ quan tham mưu tới các sân bay Mẫu Đơn Giang và Mục Lăng, ủy nhiệm họ thông bảo cho các đại diện của bộ tham mưu đạo quân Quan Đông rằng bộ đội Liên Xô sẽ chỉ chấm dứt các hoạt động quân sự khi nào quân Nhật bắt đầu đầu hàng. Biện pháp này được nêu ra là do nhiều đơn vị của Nhật hoặc là vì bị mất liên lạc nên không nhận được lệnh của I-a-ma-đa, hoặc là không chịu thi hành mệnh lệnh đó.
3 giờ 30 phút ngày 18 tháng Tám, qua đài phát thanh, I-a-ma-đa đã trả lời Bộ Tổng tư lệnh Liên Xô là sẵn sàng chấp nhận tất cảt những điều kiện đầu hàng. Ngày 18 tháng Tám, ở nhiều khu vực của mặt trận, những đơn vị Nhật Bản đã bắt đầu đầu hàng.
Để nhanh chóng tước vũ khí của quân Nhật đã đầu hàng và giải phóng những vùng đất chúng đã chiếm đóng, ngày 18 tháng Tám, tôi đã ra lệnh sau đây cho các Phương diện quân Da-bai-can, Viễn Đông 1 và Viễn Đông 2:
“Do sự chống cự của quân Nhật đã bị đè bẹp, nhưng tình trạng đường sá khó khăn gây trở ngại nhiều cho lực lượng chủ yếu của bộ đội ta chuyển quân nhanh chóng để thực hiện những nhiệm vụ được giao, vì vậy để cấp tốc chiếm các thành phố Trường Xuân, Thẩm Dương, Cát Lâm và Cáp Nhĩ Tân, cần phải chuyển sang sử dụng các đội được thành lập đặc biệt, cơ động nhanh và được trang bị tốt. Các đội này hay những đội tương tự cần được sử dụng để giải quyết cả những nhiệm vụ tiếp sau, không sợ các đội đó bị tách quá xa lực lượng chủ yếu của mình”.
Những đội như thế được thành lập ở tất cả các tập đoàn quân của các Phương diện quân Da-bai-can và Viễn Đông 1, gồm các binh đội xe tăng, phân đội bộ binh được chở bằng ô tô các phân đội pháo tự hành và pháo chống tăng. Để chiếm các cơ sỏ công nghiệp và mục tiêu quân sự quan trọng và để tiếp nhận sự đầu hàng của các đơn vị đồn trú, quân đổ bộ đường không đã được thả xuống Thẩm Dương, Trường Xuân, Lữ Thuận, Đại Liên, Cáp Nhĩ Tân và Cát Lâm. Tiếp sau quân đổ bộ đường không là các đội tiền tiêu, sau nữa là các binh đội và binh đoàn của tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 đã tiến vào Thẩm Dương, Trường Xuân, Lữ Thuận và Đại Liên.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #255 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2010, 07:08:41 pm » |
|
Binh lính Nhật bất chợt gặp bộ đội Liên Xô đành phải đầu hàng. Trong số tù binh có cả vua Mãn Châu Hăng-ri Phổ Nghi. Năm 1933, lúc 27 tuổi, người đại diện này của triều Thanh đã được bọn chủ Nhật Bản đưa lên làm vua Mãn Châu, thật ra là bù nhìn của chúng. Người bạn đồng hành và cố vấn thường xuyên của tên vua này là viên tướng Nhật I-ô-xi-ô-ca. Bên cạnh vua có đại sứ quán Nhật Bản do tư lệnh đạo quân Quan Đông đứng đầu.
Ngày 19 tháng Tám năm 1945, khi phân đội đổ bộ đường không của Liên Xô xuống sân bay Thẩm Dương thì Phổ Nghi cùng với đoàn tùy tùng, gồm cả những cố vấn Nhật của hắn, đã chuẩn bị sẵn sàng lên máy bay chuẩn sang Nhật, nhưng hắn đã bị bộ đội Liên Xô bắt làm tù binh.
Ngày 18 tháng Tám, tại Cáp Nhĩ Tân, bộ đội đổ bộ đường không, dưới sự chỉ huy của thiếu tướng G. A. Se-la-khốp, phó tham mưu trưởng Phương diện quân Viễn Đông 1, bất ngờ gặp trung tướng X. Kha-ta, tham mưu trưởng đạo quân Quan Đông tại sân bay. Khi hội đàm với hắn, Se-la-khốp yêu cầu hắn cùng một số quan chức do bộ chỉ huy Nhật Bản lựa chọn, lên máy bay của ta đến sở chỉ huy Phương diện quân Viễn Đông 1 để bàn những vấn đề về sự đầu hàng của toàn bộ đạo quân Quan Đông. X. Kha-ta đã chấp nhận yêu cầu đó và 15 giờ 30 phút, theo giờ Viễn Đông ngày 19 tháng Tám, tại đây đã diễn ra cuộc gặp giữa chúng tôi với hắn và lãnh sự Nhật Bản ở Cáp Nhĩ Tân là Mi-a-ca-va.
Chúng tôi đã nêu ra những yêu sách về cách thức đầu hàng, xác định các địa điểm tập trung để tiếp nhận tù binh, tuyến đường đi và thời gian. X. Kha-ta đã chấp nhận tất cả mọi điều kiện. Còn một số binh đội và phân đội Nhật Bản không chịu thi hành lệnh hạ vũ khí thì hắn đã giải thích là do bộ tư lệnh đạo quân Quan Đông đã không thể kịp thời truyền lệnh đầu hàng, bởi vì ngay từ khi cuộc tiến công của Hồng quân bước sang ngày thứ hai, bộ tham mưu đạo quân Quan Đông đã không còn điều khiển được quân của chúng nữa.
Tiếp đó, chúng tôi đã báo cho X. Kha-ta biết rằng quân Nhật phải đầu hàng có tổ chức, cùng với các sĩ quan của mình, và trong những ngày đầu hàng đầu tiên, bộ chỉ huy Nhật Bản phải quan tâm đến việc ăn uống của tù binh. Quân lính sang hàng phải đem theo bếp và lương thực, thực phẩm dự trữ; các tướng Nhật sang hàng thì phải có cần vụ của mình và những đồ dùng cá nhân cần thiết. Đồng thời, chúng tôi cũng tuyên bố là sẽ bảo đảm đối xử nhân đạo không những đối với sĩ quan cao cấp, mà còn đối với tất cả các tù binh.
Điều đáng chú ý là X. Kha-ta đã đề nghị cho phép binh lính Nhật ở một số vùng của Mãn Châu và Triều Tiên được giữ lại vũ khí cho tới khi các đơn vị Hồng quân tiến vào đó. Bởi vì, như hắn giải thích, “dân chúng ở đây không thể tin được”. Chúng tôi đã trả lời rằng bộ tư lệnh Liên Xô sẽ bảo đảm hoàn toàn trật tự trên đất đai mà Hồng quân đóng giữ và sẽ không để xảy ra bất cứ một hành động bất hợp pháp nào.
Sau đó, chúng tôi ra chỉ thị về những cuộc gặp sắp tới của các sĩ quan Liên Xô với bộ chỉ huy Nhật Bản, quy định những máy bay nào được sử dụng vào việc đó và người nào trong bộ tham mưu của đạo quân Quan Đông được tới đâu. X Kha-ta đã đề nghị để lại cho bộ chỉ huy Nhật Bản sử dụng một số phương tiện vận tải và thông tin liên lạc cần thiết để nhanh chóng thông báo cho binh lính những mệnh lệnh của bộ tư lệnh Liên Xô. Đề nghị đó đã được chấp nhận. Sau khi xác định rõ những chi tiết về sự đầu hàng của đạo quân Quan Đông, hắn ta và những người tùy tùng được phép đáp máy bay của ta về bộ tham mưu của hắn, có những sĩ quan Liên Xô cùng đi.
Trong suốt các cuộc hội đàm, X. Kha-ta và phần lớn những người cùng đi với hắn đều rất buồn rầu, không còn một dấu vết gì của tinh thần tự tin “võ sĩ đạo” nữa. Những viên quan chức mới hôm qua đây còn ngạo mạn cai trị ở Mãn Châu thì bây giờ đang ngoan ngoãn, thậm chí quụ lụy, vội vã gật đầu mỗi khi nghe ta nói. Rõ ràng, chúng đã bị đánh tan tành cả về mặt tâm lý.
Ngày 19 tháng Tám, hầu như ở khắp nơi, quân Nhật đã bắt đầu đầu hàng. 148 tướng Nhật, 594 nghìn sĩ quan và binh lính đã bị bắt làm tù binh. Đến cuối tháng Tám thì hoàn toàn kết thúc việc tước vũ khí đạo quân Quan Đông và những lực lượng khác của địch đóng ở Mãn Châu và Bắc Triều Tiên. Chiến dịch giải phóng miền Nam Xa-kha-lin và quần đảo Cu-rin đã thành công.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #256 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2010, 07:10:04 pm » |
|
Chiến cục của các Lực lượng vũ trang Liên Xô ở Viễn Đông đã thắng lợi rực rỡ. Khó mà đánh giá được hết kết quả của nó. Chính thức thì chiến cục kéo dài trong 24 ngày. Những lực lượng xung kích của địch đã bị đánh tan. Bọn quân phiệt Nhận Bản bị mất những bàn đạp xâm lược và những căn cứ chủ yếu cung cấp nguyên liệu và vũ khí ở Trung Quốc, Triều Tiên và ở Nam Xa-kha-lin. Sự tan rã của đạo quân Quan Đông đã làm cho Nhật Bản nói chung sớm đầu hàng.
Việc kết thúc chiến tranh ở Viễn Đông đã cứu sống hàng trăm nghìn lính Mỹ và Anh, đã tránh cho hàng triệu dân Nhật Bản khỏi những sự chết chóc và đau khổ không sao kể xiết, đã ngăn chặn không cho bọn xâm lược Nhật Bản tiếp tục giết hại và cướp bóc các dân tộc ở Đông Á và Đông Nam Á.
Việc đánh bại Nhật Bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành công của các cuộc cách mạng của nhân dân Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và của Việt Nam. Tháng Tám năm 1945, khi còn đếm xỉa đến sự thật lịch sử, Mao Trạch Đông đã viết: “Hồng quân đã đến giúp đỡ nhân dân Trung Quốc đuổi bọn xâm lược. Trong lịch sử Trung Quốc chưa bao giờ có một tấm gương như thế. Ảnh hưởng của sự kiện này thật là vô giá”.
Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã thu được rất nhiều vũ khí chiến lợi phẩm. Chỉ riêng hai phương diện quân Liên Xô đã chiếm của đạo quân Quan Đông và chuyển giao cho đại diện của Quân giải phóng nhân dân 3,7 nghìn khẩu pháo, súng cối, súng phóng lựu đạn, 600 xe tăng, 861 máy bay, gần 1,2 nghìn súng máy, gần 680 các kho quân sự các loại cũng như các tàu của giang đội Tùng Hoa. Sau này, một phần đáng kể vũ khí của Liên Xô cũng được giao cho họ. Bộ tư lệnh Liên Xô đã quan tâm tới việc bảo quản tốt tất cả các vũ khí để có thể sử dụng ngay được trong chiến đấu.
Tôi còn nhớ, tôi đã được báo cáo là những đại diện của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã bày tỏ lòng biết ơn Liên Xô và các Lực lượng vũ trang Liên Xô đã tạo tiền đề quan trọng cho thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, vũ khí và những phương tiện kỹ thuật chiến đấu này và cả của Liên Xô đã giúp trang bị lại cho Quân giải phóng nhân dân và trang bị kỹ thuật cho những binh đội và binh đoàn mới, và sau này, các đơn vị ấy đã trở thành lực lượng nòng cốt và xung kích của nước Trung Quốc cách mạng.
Rõ ràng là nếu không có sự giúp đỡ có tính chất quyết định của Liên Xô thì nhân dân Trung Quốc đã không thể nhanh chóng đập tan được cái ách quân phiệt Nhật Bản và giải phóng được đất nước mình.
Được phép của Đại bản doanh, tôi tới Mãn Châu đã được giải phóng. A. I. Mi-côi-an từ Mát-xcơ-va đến cùng đi với tôi và chúng tôi đã đến nhiều thành phố, đã tìm hiểu tình hình vũ khí và kho tàng của đạo quân Quan Đông. Qua việc xem xét phương tiện kỹ thuật chiến đấu, đạn dược, quân trang và lương thực, thực phẩm được bảo quản với quy mô lớn và ở tình trạng tốt thì thấy rõ ràng là Nhật Bản có ý định ở lại lâu dài trên đất Trung Quốc.
Tôi đã đến cả Lữ Thuận và Đại Liên. Tôi đã xúc động tới thăm những nơi kỷ niệm ghi nhớ tinh thần dũng cảm và quang vinh của các chiến sĩ Nga.
Điều kiện thiên nhiên rất khác nhau ở Xa-kha-lin đã làm tôi ngạc nhiên. Phía Tây của Xa-kha-lin toàn là màu xanh, tươi đẹp hấp dẫn, còn phía Đông ven biển thì nghèo nàn, buồn tẻ và hoang vắng.
Việc đánh bại chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản đã tạo điều kiện cho phong trào giải phóng dân tộc ở toàn bộ châu Á phát triển mạnh mẽ. Ngày 17 tháng Tám, nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a độc lập đã được tuyên bố. Ngày 2 tháng Chín, khi bộ trưởng ngoại giao Nhật Bản Xi-ghê-mi-xu và Tổng tham mưu trưởng U-me-du ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 12 tháng Mười, những người yêu nước Lào tuyên bố thành lập Pa-thét Lào.
Chiến thắng mà các Lực lượng vũ trang Liên Xô giành được ở Viễn Đông là một bằng chứng sáng ngời về sự hùng mạnh của chế độ xã hội và chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa, về vai trò tổ chức vĩ đại của Đảng cộng sản, là một thắng lợi mới của nghệ thuật quân sự xô-viết.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #257 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2010, 07:10:12 pm » |
|
Thế là chiến tranh thế giới lần thứ hai đã kết thúc. Hơn bốn năm trời rực lửa, nhân dân Liên Xô đã đi đến thời điểm này, không những thế họ đã chịu đựng gánh nặng nhất của cuộc chiến tranh. Đối với bộ đội, là người trực tiếp tham gia đấu tranh vũ trang, việc hòa bình trở lại là một điều đặc biệt thích thú. Thật vậy, các chiến sĩ Liên Xô đã làm một việc vô cùng to lớn, mà khối lượng và nội dung của nó có lẽ chẳng có gì có thể so sánh được.
Nhưng việc kết thúc chiến tranh ngay lập tức đã đề ra cho Đảng và chính phủ những nhiệm vụ mới, trong đó, những nhiệm vụ chủ yếu là khôi phục đất nước, chuyển đất nước và các Lực lượng vũ trang sang điều kiện thời bình. Đảng và Chính phủ đã bắt tay ngay vào việc thực hiện các nhiệm vụ đó. Còn các Lực lượng vũ trang thì ngay sau khi chiến tranh ở Viễn Đông kết thúc - ngày 4 tháng Chín năm 1945, - theo lệnh của Đoàn chủ tịch Xô-viết tối cao Liên Xô, Hội đồng quốc phòng Nhà nước đã được bãi bỏ. Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao cũng đã chấm dứt hoạt động. Việc trực tiếp lãnh đạo các Lực lượng vũ trang được giao cho Bộ dân ủy các Lực lượng vũ trang; Hải quân cũng trực thuộc bộ đó.
Sau khi chiến tranh kết thúc, cần phải gấp rút tiến hành việc phục viên đợt một và tiếp ngay sau đó là đợt hai, phải lập kế hoạch tất cả những vấn đề có liên quan tới việc phân bổ, đóng quân và bố trí nhà của cho bộ đội đang ở nước ngoài cũng như đang trở về quê hương, đảm bảo cho việc di chuyển của bộ đội và các chiến sĩ được phục viên. Vấn đề chủ yếu nhất là xác định số quân của các Lực lượng vũ trang cần thiết cho đất nước trong điều kiện thời bình, đề ra và xây dựng cơ cấu tổ chức của các Lực lượng vũ trang phù hợp nhất với những điều kiện đó và duy trì được khả năng chiến đấu của họ, cũng như sắp xếp họ.
Sau khi tiêu diệt đạo quân Quan Đông, tôi cùng với bộ tham mưu ở Kha-ba-rốp-xcơ. Cuối tháng Chín năm 1945, tôi nhận được chỉ thị của Xta-lin là chậm nhất vào ngày 29 tháng Chín, tôi phải có mặt ở Mát-xcơ-va. Còn việc tiếp tục chỉ huy bộ đội ở Viễn Đông và việc rút một bộ phận bộ đội Liên Xô ra khỏi Mãn Châu đã được bắt đầu từ mấy ngày trước đó, và sau đó, việc rút những lực lượng chủ yếu phải tiến hành vào nửa cuối tháng Mười, thì tôi được lệnh bàn giao lại cho nguyên soái Ma-li-nốp-xki.
Ngày 29 tháng Chín, tôi về tới Mát-xcơ-va, và buổi chiều, I. V. Xta-lin đã tiếp tôi tại phòng làm việc của đồng chí ở Crem-li với sự có mặt phần lớn các ủy viên Bộ chính trị. Trong số những cán bộ quân sự cùng dự với tôi tại điện Crem-li có A. I. An-tô-nốp. V. I. Xta-lin và các ủy viên Bộ chính trị đã nêu ra cho tôi nhiều câu hỏi về chiến cục Viễn Đông của chúng ta, về khả năng chiến đấu của quân Nhật và về bộ chỉ huy Nhật Bản, cũng như về thái độ của nhân dân Trung Quốc đối với chúng ta và về tình hình ở Trung Quốc nói chung.
Sau đó, khi nói về việc chuyển đất nước và các Lực lượng vũ trang sang điều kiện thời bình, V. I. Xta-lin đã nhấn mạnh rằng việc đề ra những phương hướng đúng đắn và hợp lý hơn để tiếp tục xây dựng, tổ chức và phát triển các Lực lượng vũ trang, sắp xếp cán bộ lãnh đạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Ban chấp hành trung ương Đảng và Chính phủ.
Đồng thời, I. V. Xta-lin cũng hỏi đến tâm trạng và những công việc sau này của tôi. Tôi trả lời rằng tôi sẵn sàng làm việc ở nơi nào mà Đảng cần. Xta-lin khuyên tôi trước hết là phải nghỉ ngơi với gia đình tại nhà an dưỡng nào đấy và sau khi tôi trở về, vấn đề công tác của tôi sẽ được giải quyết. Sau đó, đồng chí đã chúc mừng nhân dịp tôi sắp tròn 50 tuổi và nồng nhiệt tạm biệt tôi. Sau một vài ngày, tôi đi Cáp-ca-dơ.
Tháng Ba năm 1946, hội nghị Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản (b) toàn Liên bang đã xem xét vấn đề sắp xếp cán bộ lãnh đạo trong các Lực lượng vũ trang. Tôi lại được chỉ định làm Tổng tham mưu trưởng, còn A. I. An-tô-nốp, với sự đồng ý của đồng chí ấy, là phó thứ nhất của tôi. Từ giờ phút ấy, tôi đã bắt đầu một giai đoạn phục vụ mới trong các Lực lượng vũ trang thân yêu của tôi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #258 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2010, 12:48:19 pm » |
|
LỜI BẠT Để kết thúc cuốn sách này, tôi muốn phát biểu ý kiến về các cán bộ lãnh đạo quân đội Liên Xô, về đặc điểm và phong cách cầm quân của họ. Tôi nghĩ rằng toàn bộ nội dung cuốn sách đã đáp ứng được điều đó. Ở các chương trước, tôi đã nói khá nhiều về các nhà chỉ huy quân sự ở cấp phương diện quân và tập đoàn quân; về việc lãnh đạo bộ đội của họ, nhưng phần nhiều tôi viết về họ khi họ có liên quan đến những chiến dịch nào đó mà tôi đã cùng họ tham gia; về hoạt động của Đại bản doanh và của Bộ Tổng tham mưu. Song, một số vấn đề chung có liên quan đến những nhà cầm quân Liên Xô chưa được làm sáng rõ, mà những vấn đề đó, theo tôi cũng có ý nghĩa nhất định. Trước hết, xin nói một vài lời về khái niệm “nhà cầm quân”. Tôi cho rằng quan điểm của các tài liệu lịch sử Liên Xô về khái niệm “nhà cầm quân", tức là những người chỉ huy quân sự ở cấp chiến dịch - chiến lược, là rất đúng. Ý kiến là nên xếp vào hàng ngũ những nhà cầm quân các cán bộ chỉ huy quân sự biểu hiện rõ nhất trên chiến trường tài nghệ quân sự của mình, lòng dũng cảm và ý chí quyết thắng của mình, cũng là rất đúng Có quan điểm cho rằng nhà cầm quân không phải là chức vụ cũng không phải là quân hàm. Tôi không tán thành lối phân chia quá tách bạch những khái niệm ấy, mặc dù chắc chắn là một người chỉ huy quân sự xứng đáng được có danh hiệu nhà cầm quân thì không phải là do một mệnh lệnh hay là do một quyết định nào cả. Danh hiệu nhà cầm quân có đặc điểm riêng, nhưng nếu tách rời nó khỏi chức vụ của người chỉ huy quân sự thì sẽ không đúng. Nếu người chỉ huy quân sự không điều khiển những đơn vị tác chiến lớn thì người đó không thể hy vọng được công nhận là nhà cầm quân Liên Xô. Danh hiệu nhà cầm quân, trong mức độ nào đấy, đó là sự công nhận của toàn dân đối với những công lao quân sự của người chỉ huy quân sự, tài cầm quân trong các trận đánh lớn và những thắng lợi xuất sắc của người ấy trong chiến tranh. Người nào không thực hiện được chức vụ chỉ huy trên quy mô lớn thì người đó không có triển vọng gì được vinh dự gọi là nhà cầm quân. Trong những năm chiến tranh, các tư lệnh như Gh. C. Giu-cốp, I. X. Cô-nép, C. C. Rô-cô-xốp-xki đã được coi là những nhà cầm quân khi họ giữ những chức vụ nhất định. Đối với họ, cả chức vụ lẫn danh hiệu nhà cầm quân đều là một sự công nhận công lao cao cả của họ đối với Tổ quốc và đối với các Lực lượng vũ trang. Nhưng mọi sự vật đều phát triển một cách lô-gích. Người chỉ huy quân sự xứng đáng được công nhận là nhà cầm quân, ví dụ như ở chức vụ tư lệnh phương diện quân hay tập đoàn quân, sẽ được dư luận công nhận là nhà cầm quân cả khi chiến tranh chấm dứt lẫn khi người đó đã về hưu. Một khi người chỉ huy quân sự được công nhận danh hiệu nhà cầm quân vì nghệ thuật quân sự, vì chiến công trong việc chỉ đạo bộ đội trên quy mô lớn, thì danh hiệu ấy sẽ gắn bó suốt đời với người chỉ huy ấy. Nhưng danh hiệu ấy có được là do hoạt động công tác trong quá khứ, do uy tín cao của người chỉ huy ấy với tư cách là một tư lệnh rất giàu kinh nghiệm của bộ đội phương diện quân, tập đoàn quân trong những năm chiến tranh. Nhưng cả trong trường hợp ấy, khi danh hiệu nhà cầm quân, trong mức độ nào đấy, có tính chất tương đối độc lập thì nó chỉ phản ánh những thành tích trước đây, khi còn ở chức vụ của người chỉ huy quân sự. Rõ ràng là trước tiên phải liệt những tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân vào số những nhà cầm quân Liên Xô. Họ chịu trách nhiệm lớn nhất về kết quả hoạt động của bộ đội. Chỉ có họ, dựa vào các hội đồng quân sự và các bộ tham mưu, sử dụng khéo léo bộ đội được vũ trang và trang bị tốt, mới có thể giải quyết thành công những nhiệm vụ mà Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao giao cho trong khi tiến hành những chiến dịch có tính chất chiến lược. Ý kiến ngần ngại không dám xếp các tư lệnh tập đoàn quân, thậm chí cả cán bộ chỉ huy có tài nhất, vào hàng ngũ nhà cầm quân, theo ý tôi là thiếu cơ sở. Tập đoàn quân ngày nay là một liên đoàn lớn và cơ bản của bộ đội hợp thành hay của bộ đội khác thuộc phương diện quân để thực hiện những kế hoạch chiến dịch có tính chất chiến lược. Vai trò của các tư lệnh tập đoàn quân, dù là tập đoàn quân bộ đội hợp thành, xe tăng hay không quân, đều rất lớn, và các tư lệnh tập đoàn quân tài giỏi, dĩ nhiên, đều là những nhà cầm quân hết sức dày dạn kinh nghiệm, và trong các Lực lượng vũ trang của ta, nhất là vào cuối cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, hầu hết các tư lệnh tập đoàn quân đều như thế. Có thể chỉ cần nhấn mạnh rằng những tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân nào đã chỉ huy bộ đội phương diện quân, tập đoàn quân trong thời gian tương đối dài và tỏ ra xuất sắc trong quá trình chiến tranh thì mới có thể được công nhận là những nhà cầm quân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #259 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2010, 12:48:57 pm » |
|
Trong cuốn sách này, tôi có dẫn câu của I. V. Xta-lin nói rằng “chúng ta không dự trù sẵn những Hin-đen-bua", tức là không có những nhà cầm quân. Câu này được nêu trong một cuộc tranh luận hồi mùa xuân năm 1942, khi bộ đội chúng ta thất bại ở miền Nam. Thật ra, I. V. Xta-lin vẫn cho rằng chúng ta có những nhà cầm quân xuất sắc, và đồng chí lấy làm tự hào về họ. Cũng rõ ràng là các tư lệnh của chúng ta đã giải quyết được những nhiệm vụ phức tạp, khó khăn hơn nhiều và đạt kết quả rực rỡ hơn nhiều so với viên tướng Đức nói trên trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất.
Tất nhiên, chúng ta không thể có ngay một lúc và ở mọi nơi đủ số cán bộ chỉ huy quân sự tài giỏi và giàu kinh nghiệm. Trong năm đầu tiên của cuộc chiến tranh, chúng ta thường xuyên thiếu các tướng lĩnh để đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, nhất là chức vụ tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân. Họ bị thay đổi luôn, ngay cả khi họ còn chưa kịp bộc lộ những khả năng của họ. Nhưng ngay từ hồi ấy, chúng ta đã có khá nhiều nhà cầm quân được đào tạo chu đáo như Gh. C. Giu-cốp, I. X. Cô-nép, C. C. Rô-cô-xốp-xki, N. Ph. Va-tu-tin, R. I-a. Ma-li-nốp-xki, L. A. Gô-vô-rốp, X. C. Ti-mô-sen-cô, Ph. I. Tôn-bu-khin, M. V. Da-kha-rốp và nhiều người khác.
Cố nhiên, thước đo có tính chất quyết định về sự hoạt động có kết quả của nhà cầm quân trong những năm chiến tranh là nghệ thuật hoàn thành các nhiệm vụ chiến dịch có ý nghĩa chiến lược của phương diện quân và tập đoàn quân, giáng cho địch những đòn thất bại nặng nề. Các tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân Liên Xô nói chung đã làm tốt việc ấy. Tất cả các chiến dịch tiến công của Hồng quân, nhất là bắt đầu từ trận đánh Xta-lin-grát trở đi, đã nói lên điều này.
Có thể coi mỗi chiến dịch đó không những là bằng chứng về lòng dũng cảm và ý chí kiên cường của cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị, mà còn là mẫu mực sáng ngời về tổ chức và đảm bảo các chiến dịch đó, về việc kết hợp có lợi nhất tất cả các binh chung tham gia chiến dịch, về việc điều khiển tài tình các đơn vị trong tiến trình các chiến dịch, về phản ứng mau lẹ và đúng đắn trước tất cả mọi diễn biến phức tạp nhất trong tình huống chiến đấu và chiến dịch. Kết quả của các chiến dịch đó là chúng ta đã đánh thắng địch và thường là đánh theo kiểu Xu-vô-rốp: không phải bằng số lượng, mà bằng tài nghệ.
Các tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân Liên Xô giàu hiểu biết và kinh nghiệm, họ là những cán bộ chỉ huy quân sự tài giỏi, biết đánh giá đúng tình hình chiến dịch - chiến lược, biết đề ra quyết định một cách có kết quả nhất và bất ngờ nhất đối với địch trong tình hình này, biết cùng với bộ tham mưu của mình lập kế hoạch tiến hành chiến dịch một cách đơn giản nhất, nhưng không rập khuôn mà lại có lợi cho bộ đội, chuẩn bị nhanh chóng và thận trọng cho bộ đội thực hiện quyết định đã được đề ra. Đồng thời, họ còn có tính cách vững vàng và kiên quyết.
Tôi còn giữ những kỷ niệm rất tốt về công tác của các tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân. Tất nhiên, họ không giống nhau; phong cách cầm quân của mỗi người có một cái gì riêng biệt do kinh nghiệm vốn có và do tính cách của mình. Cách quan hệ của các tư lệnh với cơ quan tham mưu, mà nó có vai trò rất lớn trong việc lãnh đạo bộ đội, cũng khác nhau.
Phong cách cám quân của K. A. Mê-rét-xcốp mà Xta-lin gọi đùa là “người I-a-rô-xláp khôn ngoan”, theo tôi nổi bật vì tính chu đáo và tính lo xa theo nghĩa tốt của các từ đó K. A. Mê-rét-xcốp thích bàn trước với Bộ Tổng tham mưu về các phương án hành động của phương diện quân mình, đồng chí nhất thiết phải hiểu rõ ý kiến của “cấp trên" về vấn đề này hay vấn đề nọ đang được đặt ra.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|