I- Lịch sử hình thành+ Những ngày cuối tháng 9/1949, khi Chủ tịch Mao Trạch Đông chuẩn bị tuyên bố thành lập nước CHND Trung Hoa thì tàn quân Quốc dân đảng tại Lan Châu (thủ phủ Tây Tạng) phát động khởi nghĩa và đòi tách Tây Tạng khỏi Trung Quốc. Điều này khiến cho ban lãnh đạo nước Trung Hoa mới hết sức lo lắng, bởi nếu không dập tắt nhanh chóng cuộc bạo loạn này thì có thể sẽ dẫn tới sự ly khai của Tây Tạng, phá vỡ sự thống nhất lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng Lan Châu cách Urumsi, thành phố cực tây còn nằm trong quyền kiểm soát của Giải phóng quân Trung Quốc (GPQTQ) khi đó hơn 2.000km. Hơn nữa, lúc bấy giờ, Dã chiến quân miền Tây của GPQTQ được trang bị hết sức thô sơ, đặc biệt là các phương tiện cơ động, thêm vào đó là mùa đông rét mướt đã làm cho tình cảnh của GPQ ở miền Tây rất khó khăn. Để điều quân nhanh chóng tăng viện cho Dã chiến quân miền Tây, cách giải quyết duy nhất chỉ có thể là nhờ sự giúp đỡ của Hồng quân Liên Xô. Sau khi nhận được lời hứa giúp đỡ từ phía Stalin, GPQTQ hành quân tới Cửu Tuyền, nơi mà phía Liên Xô sẽ cho 45 máy bay tập kết ở sân bay thành phố này để thực hiện việc không vận. Loại máy bay mà Liên Xô phái tới là loại LA-2 có tốc độ tối đa 325km/giờ, độ cao 6.400m, tầm hoạt động 2.650km, tải trọng 7,65 tấn, có thể chở được từ 20 đến 30 người. Nếu tính từ ngày 4/11/1949 là ngày bắt đầu tiến hành không vận thì tổng cộng, các máy bay của Liên Xô đã tiến hành 1.033 chuyến bay, vận chuyển 12.446 cán bộ và chiến sĩ GPQ cùng 125.734 tấn vũ khí, khí tài.
Cho tới tháng 3/1950, các binh đoàn chủ lực của GPQTQ đã có mặt tại hầu hết các thành phố và các địa điểm chủ chốt của Tây Tạng, đập tan các cuộc bạo loạn. Đây là cuộc không vận chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc.
+Nước CHND Trung Hoa được thành lập, Tưởng Giới Thạch đã bị đánh bật ra Đài Loan. Tuy nhiên, vào thời điểm này, không quân và hải quân Quốc dân đảng vẫn còn rất mạnh. Vì vậy, Quốc dân đảng vẫn thường xuyên dùng hải quân đánh phá các thành phố miền duyên hải phía đông như Quảng Châu, Phúc Châu, Hàng Châu, Nam Kinh
nhất là Thượng Hải, một trung tâm quân sự và chính trị của nước Trung Hoa mới. Chỉ tính riêng từ tháng 10/1949 đến tháng 2/1950, Thượng Hải đã bị không kích 26 lần, trong đó cuộc không kích ngày 2/6/1950 đã gây hậu quả nặng nề. Trong ngày này, không quân Quốc dân đảng đã sử dụng 17 máy bay bao gồm các máy bay ném bom và máy bay tiêm kích như B-25, P-51, P-38 đánh huỷ diệt Thượng Hải, làm cho hơn 400 người chết, hơn 2.000 ngôi nhà bị sập. Nhà máy điện Dương Thụ Bồ, công suất 17 vạn kW bị đánh tan nát. Lần oanh tạc này đã khiến sản xuất của Thượng Hải bị đình đốn, dẫn tới giá cả các mặt hàng thiết yếu trên toàn Trung Quốc tăng đột biến.
Nhận được báo cáo khẩn cấp của tướng quân Trần Nghị, chỉ huy trưởng mặt trận miền Đông, Phó chủ tịch nước CHND Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ đã lập tức gọi điện cho Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai khi đó đang tiến hành các cuộc hội đàm ở Moskva, đề nghị Liên Xô giúp đỡ.
Đáp ứng lời đề nghị đó, ngày 13/3/1950, Tập đoàn không quân hỗn hợp của Hồng quân Liên Xô do Trung tướng Bakisov chỉ huy đã triển khai tại các sân bay của một số thành phố như Thượng Hải, Từ Châu
một binh đoàn không quân hỗn hợp, trung đoàn đèn chiếu phòng không và trung đoàn rađa, tổng cộng 120 máy bay tiêm kích, 12 giàn rađa, 72 bộ đèn chiếu. Tính từ ngày 20/3 đến ngày 1/5/1950, chỉ riêng tại sân bay Từ Châu, máy bay MiG-15 của Liên Xô đã xuất kích 4 lần, bắn hạ 6 máy bay của Quốc dân đảng nên đã làm giảm đáng kể các cuộc oanh tạc.
Ngày 19/6/1950, Binh đoàn không quân hỗn hợp số 4 GPQTQ chính thức được thành lập tại Nam Kinh, sau đó đã triển khai lực lượng tới Thượng Hải, Từ Châu
được sự giúp đỡ tích cực và sự huấn luyện nhiệt tình của lực lượng không quân Liên Xô đóng tại đây, các chiến sĩ không quân GPQTQ đã nhanh chóng nắm vững kỹ thuật cần thiết để có thể tự đảm trách nhiệm vụ bảo vệ bầu trời. Vì vậy, tháng 10/1950, sau khi đã chuyển giao cho phía Trung Quốc toàn bộ các khí tài và vũ khí, từ ngày 19/10/1950, các lực lượng không quân Trung Quốc tự đảm trách việc phòng vệ Thượng Hải và toàn bộ miền duyên hải của đất nước.
Cũng trong thời gian này, (tháng 8/1950), Sư đoàn Không quân số 2 của Hồng quân Liên Xô do tướng Piluatov chỉ huy đã được triển khai tại vùng Đông Bắc Trung Quốc để bảo vệ không phận vùng này. Trong khoảng từ tháng 10 đến tháng 12/1950 còn có 13 sư đoàn không quân Liên Xô triển khai lực lượng tại các vùng Đông Bắc, Hoa Bắc, Hoa Đông, Hoa Nam
vừa làm nhiệm vụ bảo vệ không phận, vừa tiến hành công tác đào tạo và huấn luyện cho lực lượng phòng không GPQTQ. Cho mãi tới tháng 7/1951, những lực lượng này mới rút khỏi Trung Quốc sau khi đã để lại tất cả những khí tài chiến đấu và máy bay cho Trung Quốc.
+ Như vậy có thể thấy rằng sự hình thành của không quân Trung Quốc chính từ sự giúp đỡ cả trang bị, huấn luyện của Liên Xô mà thành. Sau này đến lượt không quân ta cũng từ sự giúp đỡ cả trang bị lẫn đào tạo từ Trung Quốc, Liên Xô mà thành.Từ đó cho đến bây giờ ảnh hưởng của không quân Liên Xô, Nga bây giờ đối với không quân Trung Quốc cũng như không quân nhà ta là rất lớn. Từ cơ cấu trang bị, phương châm tác chiến, cho dù có sự nồng ấm, lạnh nhạt trong quan hệ nhưng dầu ấn để lại vẫn không nhỏ chút nào.
(Nguồn tài liệu www.vietbao.vn