Xian JH-7
Xian JH-7 (Jian Hong-7/Jian - máy bay tiêm kích, hong - máy bay ném bom); Tên ký hiệu của NATO Flounder), cũng còn được biết đến với tên gọi FBC-1 (Fighter/Bomber China-1) Flying Leopard, là một loại máy bay tiêm kích-ném bom hai chỗ, hai động cơ đang phục vụ trong Không lực Hải quân Quân giải phóng Nhân dân (PLANAF), và có thể cũng hoạt động trong biên chế của Không quân Quân giải phóng Nhân dân (PLAAF). Những công ty đấu thầu chính sản xuất loại máy bay này là Tập đoàn công nghiệp máy bay Tây An (XAC) và Viện thiết kế máy bay 602. Đợt máy bay JH-7 đầu tiên được cung cấp cho PLANAF trong giữa thập niên 1990 để thử nghiệm đánh giá, và phiên bản cải tiến JH-7A bắt đầu hoạt động trong năm 2004.
Thiết kế và phát triển
Vào đầu thập niên 1970, PLA (Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa) đưa ra một yêu cầu tới Bộ Hàng không (MoA) để phát triển một máy bay tiêm kích ném bom mới, có thể thay thế cho Harbin H-5 và Nanchang Q-5. Vào năm 1979, dự án bắt đầu với một liên doanh có thể có sự tham gia của các quốc gia khác. Tuy nhiên, Trung Quốc đã đưa ra giá thầu lên đến 2.1 tỷ USD cho toàn bộ dự án và không bao gồm cả việc chuyển giao công nghệ nòng cốt cho phía đối tác nước ngoài. Do các quyết định đo, ý định hình thành liên doanh đã bị phá sản. Vào ngày 19 tháng 4, 1983, Đặng Tiểu Bình đã ủy quyền cho các công ty trong nước phát triển JH-7, và việc phát triển đã bắt đầu. Chen Yijian (陈一坚, 1930 - ), trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc đã ra nước ngoài và đàm phán với các quốc gia có nền công nghiệp máy bay phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển trong nước cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn lớn. Thoạt tiên, vì những yêu cầu khác nhau từ PLAAF và PLANAF, đã có tới hai phương án phát triển JH-7. Phiên bản của PLAAF là một máy bay tấn công ném bom xâm nhập sâu trong mọi thời tiết, với chỗ ngồi trong buồng lái kiểu side-bay-side (hai phi công ngồi cạnh nhau), trang bị hệ thống đối phó điện từ (ECM), và khả năng quét địa hình tương tự như General Dynamics F-111. Các nhà phân tích phương Tây phân tích thiết kế JH-7 có thể bị ảnh hưởng bởi F-111. Tuy nhiên, phương án này đã bị lãng quên vào đầu thập niên 1980.

JH-7
Phiên bản của PLANAF là một máy bay tấn công/trinh sát, hai chỗ (ngồi trước và sau) bay trong mọi thời tiết. 6 nguyên mẫu đã được chế tạo vào tháng 12 năm 1988, và một đợt gồm 12 đến 18 chiếc JH-7 đã được chuyển giao cho PLANAF vào đầu thập niên 1990 để thử nghiệm đánh giá. Những chiếc JH-7 đầu tiên sử dụng động cơ nhập khẩu Rolls-Royce Spey Mk.202. Sau đó, chúng được thay thế bởi động cơ sản xuất nội địa theo giấy phép chế tạo của Spey Mk.202 có tên gọi ở Trung Quốc là WoShan-9 (WS-9). Lô đầu tiên của JH-7 sử dụng radar đa chức năng Type 243H, với phạm vi cực đại là 175 km-chống tàu và 75 km-chống lại những mục tiêu có kích thước như MiG-21.
Khả năng:JH-7 là mẫu máy bay tiêm kích-ném bom mới nhất và có tỷ lệ nội địa hóa cao của Trung Quốc. Những nhà phê bình đã nhanh chóng chỉ ra những điểm yếu của loại máy bay này, nó chỉ có tốc độ trung bình với động cơ Mk.202/WS-9, và khả năng mang vũ khí chỉ có 6.5 tấn, thấp hơn so với Sukhoi Su-24 và Su-30 (8 tấn), và General Dynamics F-111 (14 tấn). Tuy nhiên, JH-7 là máy bay đơn giải và nhẹ hơn so với máy bay Su-24 hay F-111 cánh cụp cánh xòe, và rẻ hơn rất nhiều so với máy bay tiêm kích đa chức năng Su-30 hiệu năng cao. JH-7 đại biểu cho một khả năng tấn công quan trọng cho PLANAF, và khả năng mang vũ khí cho phép nó có thể mang được từ 2 (JH-7) hay 4 (JH-7A) tên lửa sản xuất ở Trung Quốc YJ-82 trong nhiệm vụ tấn công trên biển.
Động cơ cũng là một vấn đề của dòng máy bay này, ngay cả phiên bản hiện đại nhất TQ là J-11 cũng gặp phải vấn đề tương tự khi loại động cơ WS-11 không mang lại độ tin cậy cao trong sử dụng. Đã có một ghi nhận về trường hợp máy bay bị nỗ tung do động cơ chết máy, đó là trường hợp của loại máy bay huấn luyện K-8 bán cho Venezuela vào 10h ngày 21/7/2010 sử dụng động cơ WS-11. Theo điều tra sơ bộ ban đầu thì trục trặc ở hệ thống điện của động cơ khiến máy bay chết máy và kích nổ khối nhiên liệu mang theo, hai phi công trên chuyến bay đã nhảy dù thoát ra ngoài chỉ vài giây trước khi máy bay bi nổ tung.
Như vậy khả năng thực sự của JH-7 cũng chỉ tương đương với Su-22M3 là cùng, đối với Su-22M4 đã được nâng cấp khả năng chống hạm lên rất nhiều và được trang bị tên lửa chống hạm hiện đại. Theo thông tin mới nhất thì Su-22M4 của VN đã được nâng cấp hệ thống điện tử dẫn đường để trang bị tên lửa chống tàu Kh-59ME. Trong khi khả năng chống hạm của JH-7 vẫn còn nhiều hạn chế.
Lịch sử hoạt độngVào năm 2004, JH-7A cải tiên bắt đầu hoạt động trong PLANAF. JH-7A là một phiên bản nâng cấp với radar JL-10A PD, hệ thống fly-by-wire mới, kính chắn một mảnh, thêm các giá treo vũ khí, và khả năng mang được tên lửa chống bức xạ của Nga Kh-31 và bom điều khiển bằng laser. Máy bay hiện nay được sử dụng trong sư đoàn PLANAF số 6, số 9 và số 28. Mặc dù có một phiên bản cải tiến quan trọng từ bản chính là JH-7, nhưng tương lai của loại máy bay này vẫn ảm đạm trong quân đội Trung Quốc, khi mà những mẫu máy bay tiêm kích/ném bom hiện đại hơn như Shenyang J-11 và Chengdu J-10 đang được sử dụng cho vai trò tấn công trên biển. Một trung đoàn JH-7 điển hình của PLANAF có từ 18 đến 20 máy bay, ít hơn so với các trung đoàn không quân khác của PLAAF (từ 24 đến 28 máy bay).
Năm 2009 JH-7 được điều đến đồn trú trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam cùng với J-11. Động thái này vi phạm nghiêm trọng đến chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Bên sử dụng JH-7 duy nhất hiện nay là Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
• Không lực Hải quân Quân giải phóng Nhân dân có 3 trung đoàn (tính đến tháng 11 năm 2005) trang bị JH-7
Hạm đội Đông Hải, sư đoàn số 6 PLANAF
Trung đoàn số 16 đặt căn cứ tại Shanghai Dachang Naval Air Station (JH-7)
Trung đoàn số 17 đặt căn cứ tại Yiwu (Yiwi) Airbase, Zhejiang (JH-7)
o Hạm đội Nam Hải, sư đoàn số 9 PLANAF
Trung đoàn số 27 đặt căn cứ tại Căn cứ không lực hải quân Ledong, Đảo Hải Nam (JH-7A)
• Không quân Quân giải phóng Nhân dân có 1 trung đoàn (tính đến tháng 5 năm 2006) sử dụng JH-7A. Chúng được sử dụng trong vai trò tấn công mặt đất (gồm 19 chiếc) hơn là được dùng để chống tàu.
o Quân khu Nam Kinh, sư đoàn 28 PLAAF
Một trung đoàn chưa biết phiên hiệu đặt căn cứ tại Hangzhou Jianquiao Airbase, Chiết Giang (JH-7A)
Thông số kỹ thuật (JH-7)
Đặc điểm riêng
• Phi đoàn: 2
• Chiều dài: 22.32 m (73 ft 2 in)
• Sải cánh: 12.7 m (41 ft 7 in)
• Chiều cao: 6.57 m (21 ft 6 in)
• Diện tích cánh: m² (ft²)
• Trọng lượng rỗng: 14.500 kg (31.900 lb)
• Trọng lượng cất cánh: kg (lb)
• Trọng lượng cất cánh tối đa: 28.475 kg (62.720 lb)
• Động cơ: 2× Xian WS9, lực đẩy 54 kN (12.140 lbf), đốt nhiên liệu lần hai là 91.2 kN (20.500 lbf) mỗi chiếc
Hiệu suất bay
• Vận tốc cực đại: Mach 1.69 (1.808 km/h, 1.122 mph) trên độ cao 11.000 m (36.000 ft)
• Tốc độ tuần tra: 903 km/h (488 knots, 561 mph)
• Tầm bay: 3.650 km (1.970 nm, 2.270 mi)
• Bán kính chiến đấu: 1.650 km (890 nm, 1.025 mi)