Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:17:48 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng  (Đọc 53846 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #10 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:38:58 am »

Học sinh Phú Yên biểu tình bạo động đốt Chi cảnh sát Tuy Hòa năm 1972


Ngày 10/3/1972, hơn 5.000 học sinh Tuy Hòa đã rầm rập xuống đường bao vây Chi cảnh sát ngụy để phản đối việc chúng bắn chết một học sinh trường Nguyễn Huệ một ngày trước đó. Học sinh đã đốt cháy Chi cảnh sát, giải thoát 46 người yêu nước bị địch giam giữ tại đây...  


Học sinh Nguyễn Huệ (Tuy Hòa) biểu tình, đốt Chi cảnh sát ngụy.                                                    

21 giờ ngày 9/3/1972, cảnh sát ngụy bắn chết anh Hà Trấp – học sinh lớp 11 trường Trung học tổng hợp Nguyễn Huệ. Cái chết của anh Hà Trấp gây sự xúc động lớn trong dư luận. Nhân dân thị xã Tuy Hòa căm phẫn, nguyền rủa bọn cảnh sát ngụy khát máu, hung hăng bắn giết học sinh giữa trung tâm thị xã. Học sinh các trường trung học Nguyễn Huệ, Đặng Đức Tuấn (nay là trung tâm giáo dục thường xuyên), Bồ Đề (nay là trường trung học cơ sở Nguyễn Văn Trỗi), Tân Dân (trụ sở cũ của Sở Giáo dục – góc đường Trần Hưng Đạo – Ngô Quyền) rầm rập xuống đường biểu tình đòi công lý và yêu cầu nhà cầm quyền trừng trị hung thủ giết người.

Phong trào lúc đầu là tự phát nhưng đội biệt động thị xã do anh Nguyễn Trung Thành (bí danh A5) đã cùng với đồng đội vào cuộc và lãnh đạo cuộc đấu tranh.

Anh Nguyễn Trung Thành gặp thầy giám học trường Nguyễn Huệ (phó hiệu trưởng chuyên môn) Lê Ngọc Giáng xin ý kiến thầy cho phép học sinh xuống đường đấu tranh yêu cầu nhà chức trách giải quyết ngay cái chết oan ức của anh Hà Trấp.

Dù thương học trò, tình thế buộc thầy Giáng phải nói theo giới cầm quyền:

“Các anh không được manh động, đừng để Việt cộng kích động gây loạn”.

Anh Nguyễn Trung Thành nhỏ nhẹ:

“Thưa thầy, tôi là gia đình học sinh, thấy cái chết oan ức thảm khốc của học sinh, nên cần phải đấu tranh đòi công lý để nhà cầm quyền không để xảy ra những trường hợp bắn giết học sinh tương tự”.

Thầy Giáng suy tư và im lặng.

Anh Nguyễn Trung Thành tìm gặp anh Diệp Xang  (nay là họa sĩ) – trưởng lớp trường Bồ Đề bàn bạc và viết hai băng rôn “Đả đảo bọn độc tài giết người vô tội”, “Yêu cầu giải quyết ngay cái chết vô tội của học sinh Hà Trấp”, đồng thời in truyền đơn kêu gọi học sinh các trường đoàn kết đấu tranh.

Băng rôn và truyền đơn được viết và in xong trong đêm 9/3/1972.

Rạng sáng ngày 10/3/1972, các anh trong đội biệt động thành Tuy Hòa (Nguyễn Trung Thanh, Lê Đoàn, Võ Tám, Mã Á, Võ Ân…) phối hợp cùng lực lượng cốt cán ở các trường thống nhất hành động. Học sinh trường Bồ Đề đi theo đường Trần Hưng Đạo, học sinh trường Nguyễn Huệ đi theo đường Lê Lợi và Lê Thánh Tôn, học sinh trường Đặng Đức Tuấn đi theo đường Phạm Phú Quốc (nay là Lê Trung Kiên), học sinh trường Tân Dân đi theo đường Nguyễn Công Trứ, Tản Đà…

Lực lượng 4 cánh với trên 5.000 học sinh rầm rập xuống đường như thác đổ tiến về bao vây chi cảnh sát (nay là vườn hoa Diên Hồng).

Đúng 7 giờ sáng ngày 10/3/1972, học sinh hô vang những khẩu hiệu trên băng rôn, phát truyền đơn kêu gọi đấu tranh cho tất cả những người qua đường.

Lực lượng vũ trang của địch tại thị xã Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên lúc đó rất hùng hậu: Trung đoàn 47 chủ lực (thuộc sư 22 bộ binh), 14 tiểu đoàn địa phương, 2 đại đội cảnh sát dã chiến, một đại đội thiết giáp, một đại đội pháo binh, 16 trung đội nghĩa quân, một toán phượng hoàng và các đơn vị.
Đại Hàn (lính đánh thuê Nam Triều Tiên) và một ít lực lượng quân Mỹ.
Cạnh Chi cảnh sát là Ty Công Chánh (nay là Công ty Thủy nông Đồng Cam) có một bãi đá củ đậu (dùng để rải đường) được học sinh sử dụng ném như mưa vào chi cảnh sát.

Chi cảnh sát cầu cứu quận trưởng, tỉnh trưởng. Đích thân tỉnh trưởng ngụy quyền Nguyễn Văn Tố trực tiếp chỉ huy đàn áp cuộc biểu tình. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tố điều lực lượng mạnh bao vây các ngả đường, ném lựu đạn cay mù mịt để giải tỏa nhưng không có kết quả.

Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tố điều động máy bay trực thăng bay rè rè trên đầu học sinh quay phim, chụp ảnh và ngọt nhạt kêu gọi học sinh quay về trường. Thấy không có kết quả, ông ta hăm dọa: “Sẽ nổ súng bắn chết nếu không giải tán”.
Song, trong biển người biểu tình của học sinh hôm ấy, có cả các “cậu ấm, cô chiêu” quý tử của tỉnh phó nội an, trưởng ty cảnh sát… nên biện pháp mạnh đã không xảy ra.
Đội biệt động và các lớp đàn anh lớp 12, 11 mua một phuy xăng 800 lít đổ vào bịch nhựa mỗi bịch hai lít ném vào bốn chi cảnh sát, nơi có đặt 4 cây đại liên 50.
Các anh cắt dây dép cao su châm lửa ném vào bốn lô cốt. Xăng gặp lửa bốc cháy, khói lửa mịt mù một góc trời.
Cảnh sát ngụy cố thủ trong chi cảnh sát hoảng hốt tháo chạy tán loạn. Học sinh uà vào chi cảnh sát phá nhà lao giải thoát 46 người yêu nước đang bị giam giữ ở đây, đập phá văn phòng mật vụ, văn phòng thẩm vấn, văn phòng căn cước, đốt cháy hai xe Ford hai xe Jeep, 65 xe gắn máy, xe đạp của nhân viên cảnh sát và đốt kho vũ khí gây cháy nổ mấy giờ liền.
Địch dùng lựu đạn cay đàn áp khốc liệt. Đến 15 giờ ngày 10/3/1972, học sinh rút lui sau khi đã đập phá và đốt tan tành chi cảnh sát.
Ngay đêm ngày 10/3/1972, ngụy quyền sử dụng lực lượng mạnh đàn áp khốc liệt, lùng bắt 400 học sinh và các chiến sĩ biệt động thành và kéo dây thép gai rào các nẻo đường ra vào thị xã để thu dọn hiện trường đổ vỡ ngổn ngang.
Bà con thị xã và học sinh tiếp tục đấu tranh đòi trả tự do cho những học sinh bị bắt giữ. Trước sức ép của dư luận, ngụy quyền lần lượt thả học sinh. Riêng các chiến sĩ biệt động bị lưu đày Côn Đảo cho đến ngày giải phóng.


THÀNH NAM
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Bảy, 2010, 04:08:48 pm gửi bởi tuanquoc19 » Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #11 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 04:11:35 pm »

Mẹ Đinh Thị Chuyện sinh ngày 20/10/1910 (Canh Tuất), ở thôn Phước Lương, xã Hòa Xuân (nay là xã Hòa Xuân Tây) cạnh sông Bàn Thạch. Những tháng năm tuổi nhỏ Chuyện gắn bó với bao kỷ niệm ở dòng sông quê hương này. Ngày nào Chuyện cũng cùng với bọn con gái cùng lứa tuổi trong làng ra sông Bàn Thạch tắm giặt, bơi lội thỏa thích. Lớn lên cô ra sông Bàn Thạch vớt bèo, hái rau dại mọc quanh bờ sông về nấu cháo heo và phiên chợ Bàn Thạch nào cũng có mặt cô với gánh hàng tạp hóa nhẹ tênh vắt vẻo trên đôi vai gầy, đi đi, về về ven bờ sông Bàn Thạch. Ở thôn Phước Lương hồi đó Đinh Thị Chuyện là người con cái cao ráo, trắng trẻo thùy mị, hiền dịu, đẹp người, đẹp nết, bà con trong làng ai ai cũng quý mến.

 



Chúc thọ Mẹ VNAH Đinh Thị Chuyện khi mẹ tròn 90 tuổi - Ảnh: MINH KÝ

Một hôm, bà Nguyễn Thị Tồn là mẹ của Đinh Thị Chuyện về thôn Phước Giang thăm người bà con. Bà rất xúc động khi được biết câu chuyện về Đặng Văn Cang, con bà Nguyễn Thị Đích. Trong lúc dọn dẹp nhà cửa, Cang lỡ tay làm vỡ cái gạt tàn thuốc lá, bà Đích bảo Cang nằm xuống giường để bà đánh mấy roi cho nhớ để sau này làm việc gì sẽ cẩn thận hơn. Cang răm rắp làm theo lời mẹ. Mẹ đánh xong ba roi, Cang đứng dậy vòng tay xin lỗi mẹ. Đặng Văn Cang lúc đó đã 18, 19 tuổi, đang học trung học ở thị xã Tuy Hòa. Bà Tồn cảm mến nghĩ rằng thằng nhỏ học trò này cũng đã lớn tuổi mà có hiếu với mẹ, mẹ nói sao nghe lời vậy, biết nhận khuyết điểm của mình. Bà đến nhà thăm bà Nguyễn Thị Đích. Ngoài những chuyện làm ăn của người lớn với nhau, bà Tồn hứa gả con gái của mình là Đinh Thị Chuyện làm vợ Đặng Văn Cang nếu hai đứa nó ưng thuận và bà Đích đồng ý.
Bà Đích nói lại chuyện đó với Cang và hỏi xem ý Cang như thế nào. Cang chỉ cười hè hè và nói: “Nhưng con còn đang đi học mà mẹ!”.
Năm sau bà Đích bàn với bà Tồn tổ chức cho Cang đến nhà dạm mặt (coi mắt). Buổi dạm mặt lại có chuyện trục trặc. Đinh Thị Chuyện lên pha nước trà mời khách xong rồi đi xuống nhà dưới ngay vì mắc cỡ, nên Cang không kịp chú ý. Người đứng ở cửa sổ nhìn Cang không chớp mắt là chị Nguyễn Thị Thìn, con ông bác nhà ở bên cạnh sang chơi, tò mò muốn xem mặt chú em rể tương lai thế nào nên đứng nhìn. Cang tưởng đó là người... Về nhà mẹ hỏi:

- Mày nhìn kỹ con nhỏ đó có được không Cang?

Cang chỉ cười và lắc đầu. Biết con mình không đồng ý nên bà Đích rất buồn. Từ đó bà đi sâu tìm hiểu đầu đuôi bữa dạm mặt mới biết Cang đã nhìn nhầm chị Thìn con ông bác chứ không phải Chuyện. Thế là sau đó gia đình bố trí cho Cang dạm mặt lại và Cang đồng ý ngay. Còn với Chuyện, khi bà Tồn hỏi:

- Con thấy thằng Cang thế nào?

Chuyện vui vẻ trả lời:

- Tưởng ai chớ anh ấy thì con thường xuyên gặp trên các chuyến xe ngựa lúc con đi buôn bán, còn ảnh đi học trung học trên thị xã Tuy Hòa.
Bà Tồn gặng hỏi:
- Thế mày có ưng thằng Cang không để tụi tao còn tính chuyện tiếp theo?
Chuyện tươi cười thưa:
- Mẹ đặt đâu, con ngồi đó!
Hơn một năm sau (1932) Chuyện tròn 22 tuổi, hai bên gia đình tổ chức đám cưới cho Cang và Chuyện. Chuyện theo chồng về quê ở thôn Phước Giang - một vùng đất khô cằn ở xã Hòa Xuân (cũ). Ở quê chồng, Chuyện vẫn cần cù lao động, vừa làm ruộng vừa tiếp tục buôn bán hàng tạp hóa ở chợ Bàn Thạch. Năm 1933, Cang mở lớp dạy học tại nhà không lấy tiền những học sinh nghèo. Lớp học cũng là địa điểm để liên lạc với những người hoạt động cách mạng như các ông Nguyễn Hồng, Phạm Thuận, Trần Đức... Ngày đêm trăn trở với nỗi nhục mất nước, Đặng Văn Cang từ giã làng quê nghèo vào Sài Gòn cùng với những người đồng chí hướng tham gia hoạt động cách mạng từ cuối năm 1934, sau đó trở lại quê nhà tích cực tham gia nhiều hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám, là một trong những người lãnh đạo chủ chốt cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám tại quê hương Hòa Xuân.
Năm 1946, Đặng Văn Cang được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó ông trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của xã Hòa Xuân.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, xã Hòa Xuân bị địch chiếm đóng. Giặc đóng đồn ở núi Hiềm, ngày đêm chúng nó xua quân càn quét, lùng sục khủng bố những người yêu nước. Chuyện tất tả ngược xuôi, lúc bám trụ quê nhà, lúc tản cư ra vùng tự do nuôi các con khôn lớn và thường xuyên tìm cách tiếp tế cho chồng và đóng góp tích cực cho kháng chiến.

 

*

*    *

 

Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chiến ở Việt Nam có hiệu lực. Tháng 9/1954, bọn Đại Việt (tay sai của địch) lùng bắt được Đặng Văn Cang ở khu rừng Đồng Bé. Chúng giam ông ở nhà lao Ngọc Lãng hơn một tháng, nhưng không khai thác được gì nên phải thả về. Cơ sở bảo vệ và đưa ông ra khu vực chuyển quân tập kết 300 ngày ở Quy Nhơn (tỉnh Bình Định). Một nách với năm con nhỏ ở lại quê nhà, mẹ Chuyện dõi theo bóng chồng và ấm lòng lên khi biết rằng vào giờ chót tổ chức đã phân công chồng - đồng chí Đặng Văn Cang - ở lại miền Nam có nhiệm vụ xây dựng chiến khu miền Đông với cương vị là Phó Bí thư Huyện ủy Tuy Hòa.

Ngày ngày ngước nhìn lên núi Đá Bia, dõi nhìn chiến khu miền Đông và màu xanh ngút ngàn của núi rừng trùng điệp, mẹ Chuyện mong được gặp lại chồng trong những năm tháng đen tối nhất của cách mạng miền Nam. Nỗi niềm mong đợi đó cũng được đáp đền. Chồng mẹ ngược dòng sông Bàn Thạch đến từng thôn xóm xây dựng lại cơ sở cách mạng, thắp sáng niềm tin mới cho cả vùng đồng bằng phía đông huyện Tuy Hòa. Gặp lại chồng chưa lâu thì ông bị sa vào tay giặc.

Đêm hôm ấy trong một chuyến công tác về xã Hòa Tâm để củng cố và phổ biến công tác cho các cơ sở cách mạng, trên đường về, khoảng nửa đêm, sao Bánh Lái đã chìm sau dãy núi phía xa, ông gặp một người đàn ông có thân hình cao lớn, vác cuốc đi lấy nước ruộng. Xáp mặt, ông nhận ra đó là Nguyễn Ruộng, người cùng xã. Ông nói ngay: “Thấy sao hay vậy, nghe Ruộng!”. Tên Ruộng “Dạ” một tiếng khá to rồi tiếp tục đi tới rồi rẽ về phía đồi gò có cây lúp xúp. Nó biết ở đó đang có bọn địch phục kích. Tên Ruộng la to lên: “Có Cộng sản về nằm vùng! Có Cộng sản về nằm vùng!”. Chả là lúc đó bọn địch ở huyện Tuy Hòa treo giá hàng chục lượng vàng nếu ai bắt được, hoặc chỉ đúng chỗ Đặng Văn Cang ẩn náu thì được thưởng. Nghe tiếng la to của tên Ruộng, bọn địch đang phục kích gần đó ùa ra bủa vây các ngả. Hết đường đi, Đặng Văn Cang liền nhảy xuống một đám ruộng sình, có nhiều bụi dứa dại để ẩn nấp. Bọn lính bảo an, dân vệ và tên Ruộng  cũng phán đoán rằng Đặng Văn Cang chưa ra khỏi khu vực này và chỉ có thể ẩn mình dưới các đám ruộng sình. Thế là chúng xua quân vào nhà dân kề đó để cướp rơm rạ phủ kín những chỗ chúng nghi ngờ rồi đốt. Lửa bốc cháy ngất trời. Bà con trong làng ra xem rất đông, trong số đó có một số cơ sở cách mạng đang tìm cách lợi dụng đông người để giải vây cho ông, nhưng không được. Sau trò đốt rơm rạ, chúng nó lại cho quân tràn xuống ruộng đào bới. Cuối cùng chúng nó đã bắt  được Đặng Văn Cang. Chúng giam ông ở nhà lao Ngọc Lãng một thời gian rồi chuyển qua nhà lao Khu Chiến. Năm 1957, chúng nó lại chuyển vào giam ở nhà lao Phú Lợi (Bình Dương). Năm 1958, địch đày ông ra Côn Đảo. Nhiều năm Đặng Văn Cang bị biệt giam trong nhà đá, khu chuồng bò, chuồng cọp, kẻ thù dùng đủ mọi cực hình dã man nhất tra tấn ông chết đi sống lại nhiều lần, nhưng với khí tiết của người cộng sản kiên cường, thà chết chứ ông không hề khai báo nửa lời.

Ở quê nhà, mẹ Chuyện bị địch đàn áp, khống chế, o ép đủ điều. Chúng nó treo bản đen trước ngõ ghi 4 chữ thật to: “Gia đình Cộng sản”. Chúng nó theo dõi, ai đến gia đình này là có liên hệ với Cộng sản. Mẹ đã nhiều lần vào tù ra khám, bị địch tra tấn rất dã man, chết đi sống lại nhiều lần. Nhưng chúng nó không thể nào khuất phục được mẹ.

Ngày 1/1/1963, Dương Văn Minh đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Thực hiện chiêu bài mị dân, Dương Văn Minh ra lệnh thả một số tù chính trị ở các nhà lao, nên năm 1964, Đặng Văn Cang được ra tù. Từ Côn Đảo trở về, mặc dù sức khỏe còn rất yếu, ông liền bắt liên lạc với các đồng chí của mình và trở lại chiến khu miền Đông trên núi Đá Bia tiếp tục nhận nhiệm vụ mới của cách mạng.
Năm đó, sau những năm xa cách, lần đầu được gặp lại chồng ở nhà một cơ sở cách mạng, mẹ Chuyện nói:
- Những tháng năm mình bị tù đày ở các nhà lao của địch, ở nhà tui cố gắng buôn bán làm ăn và nuôi dưỡng các con học hành khôn lớn nên người. Bây giờ cả ba đứa: thằng Vĩnh, thằng Chính và thằng Việt đòi được thoát ly để tham gia cách mạng, ý của mình thế nào?
Ông Cang suy nghĩ hồi lâu rồi xúc động nói:
- Tôi rất biết ơn mình. Tôi đi ở tù thì mình ở lại cũng đi ở tù, thế mà một nách lặn lội nuôi dưỡng, dạy bảo 5 đứa con ăn học trưởng thành. Công lao của mình thật là to lớn. Nay thằng Vĩnh 23 tuổi, thằng Chính 21 tuổi và thằng Việt 18 tuổi, đứa nào cũng đã học hành đến nơi đến chốn cả rồi. Nếu chúng nó muốn thoát ly tham gia hoạt động cách mạng thì nên cho nó đi. Cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược còn lâu dài, gian khổ và ác liệt. Các con của mình đã trưởng thành, chúng nó có ý xin được thoát ly để đóng góp sức lực vào sự nghiệp chung là rất tốt. Duy chỉ có điều tôi đang băn khoăn là chúng nó ra đi cùng một lúc, mình ở lại sẽ khổ cực, ai chăm sóc lúc ốm đau cho mình. Theo tôi, mỗi năm sẽ lần lượt thoát ly một đứa có được không?
Mẹ Chuyện nói ngay:

- Mình ạ! Điều này tui đã suy nghĩ rất nhiều. Một là hiện nay cả ba đứa đều muốn thoát ly. Lòng hăng hái của tuổi trẻ thật khó mà ghìm chúng nó được. Hai là, chúng nó ra đi một lúc, tui sẽ gặp một số khó khăn trong cuộc sống, nhưng khó khăn sao bằng lúc còn ở trong tù. Ba là, ở nhà còn có con Bê nữa mà. Con Bê nó cũng nhất trí để cho cả ba anh em cùng lên đường một lúc. Ở lại nhà Bê sẽ làm lụng nuôi dưỡng tôi. Xem ra con nhỏ đảm đang lắm. Mình đừng lo gì cả. Với lại tui cũng còn làm lụng được, chưa đến lúc ngồi một chỗ.
Ông Cang phấn khởi nói:
- Nghe mình nói vậy, tôi yên tâm lắm. Lần này về mình lo thu xếp cho các con nó lên đường. Tôi chẳng có gì để gởi về tặng cho chúng nó cả. Mình nói với chúng nó rằng tôi chúc các con lên đường mạnh giỏi và ra sức làm tròn nhiệm vụ của cách mạng giao phó.

Mẹ Chuyện hồ hởi nói:

- Việc này mình yên tâm đi. Tui đã tính toán trước tất cả rồi. Hiện nay trong chuồng còn hai con heo lớn, tui sẽ bán để góp tiền sắm sửa tăng, võng, bạt, giày dép và may cho mỗi đứa vài bộ áo quần. Tui nghĩ, túng bấn thì túng bấn, nhưng con của chúng mình lên đường cũng phải đầy đủ những thứ cần thiết để chúng nó đỡ khổ, phải không mình?

Hai người bịn rịn chia tay nhau vào nửa đêm cuối tháng. Ông tiễn mẹ Chuyện ra tận mép rừng Bãi Xép. Ánh trăng lưỡi liềm vừa mọc không đủ ánh sáng để soi đường cho mẹ đi giữa vùng đồi núi gập ghềnh. Vài ba lần mẹ bị vấp ngã, nhưng lòng mẹ tràn đầy niềm vui khi nghĩ đến cái ngày ba người con trai của mẹ đang học ở Trường Nguyễn Huệ sẽ xếp bút nghiên nối gót cha anh lên chiến khu để tham gia hoạt động cách mạng.

*

*    *

 
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Bảy, 2010, 04:18:49 pm gửi bởi tuanquoc19 » Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #12 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 04:13:33 pm »

-tiếp theo-

Thế là ba người con trai của mẹ Chuyện là Đặng Văn Vĩnh, Đặng Văn Chính và Đặng Văn Việt phấn khởi mang balô lên đường đi theo cách mạng cùng một ngày. Đặng Văn Vĩnh và Đặng Văn Chính được huyện giao nhiệm vụ làm giáo viên dạy cấp hai. Trường học lúc đó ở xã Hòa Thịnh. Đặng Văn Việt được biên chế về làm chiến sĩ  đại đội 377 của Huyện đội Tuy Hòa. Các anh thường xuyên nhắn tin hoặc gửi thư tay báo về cho mẹ biết tất cả đều khỏe mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

 

Giặc Mỹ ào ạt nhảy vào miền Nam, chiến tranh diễn ra vô cùng khốc liệt, địch cố biến miền Đông huyện Tuy Hòa trở thành vùng trắng để bảo vệ yết hầu của chúng ở phía nam tỉnh. Mẹ Chuyện lại bị chúng bắt bỏ tù và tra tấn rất dã man về cái tội cho các con thoát ly đi hoạt động cách mạng. Ra tù, mẹ Chuyện lại ngày ngày với gánh hàng xén trên vai, lặn lội đi khắp các chợ để vừa buôn bán kiếm sống vừa nhận sự đóng góp ủng hộ lương thực, thuốc men của bà con rồi tìm cách chuyển ra căn cứ cho cách mạng.

Một hôm mẹ Chuyện đi chợ Bàn Thạch về vừa tới nhà thì nhận được hung tin xé lòng do một chiến sĩ giao liên của huyện đến báo: Chồng mẹ - ông Đặng Văn Cang - vừa hy sinh trong một trận chống càn ngày 19/8/1966. Mẹ lăn ra khóc rồi ngất xỉu trong vòng tay con gái của mình là Đặng Thị Bê.

Mẹ Chuyện không ngờ rằng lần gặp ông vừa rồi để bàn việc cho ba đứa con trai thoát ly đi làm cách mạng lại là lần gặp cuối cùng của hai người.

Chưa mãn tang chồng, thì ngày 16/8/1967, mẹ Chuyện lại nhận được tin Đặng Văn Việt hy sinh. Trước đó mấy tuần, đại đội 377 của huyện phối hợp cùng dân quân du kích xã Hòa Xuân tổ chức đánh bọn địch bảo vệ cầu Bàn Thạch, tiêu diệt rất nhiều sinh lực địch nên chúng nó rất cay cú, tìm cách phản kích. Đêm 15/8/1967, đại đội 377 lại diệt gọn bọn lính bảo vệ cầu Bàn Thạch rồi rút về bám trụ ở thôn Thạch Chẩm, cách cầu Bàn Thạch hơn một ki-lô-mét. Sáng ngày 16/8/1967, chúng nó dùng máy bay đến thả bom vào thôn Thạch Chẩm, Đặng Văn Việt đã hy sinh trong trận ném bom đó của địch.

Đặng Văn Việt hy sinh trong lúc đang ngồi lau lại súng đạn để chuẩn bị sẵn sàng cho những trận chiến đấu tiếp theo. Bà Lê Thị Mười, chủ nhà, là cơ sở cách mạng, mặc cho nhà cửa bị bom địch phá nát, đã huy động bà con xung quanh chăm sóc các chiến sĩ bị thương và cùng với đơn vị lo việc mai táng các chiến sĩ đã hy sinh. Sau đó bà chạy về thôn Phước Giang tìm gặp mẹ Chuyện. Bà Mười vừa thở vừa nói một hơi thật dài:

- Ngày hôm qua đại đội 377 đánh to, thắng lớn. Bọn lính bảo vệ cầu Bàn Thạch chết ráo. Chúng nó cay cú nên sáng nay cho máy bay đến thả bom rất sớm. Nhiều nhà trong thôn Thạch Chẩm cháy rụi, nhà tui cũng sập và cháy rồi. Cháu Việt lúc đó đang ở trong nhà tui lau súng đạn thì bị bom vùi, nó hy sinh rồi. Tui đang hái rau heo ngoài ruộng nên thoát chết. Đơn vị và bà con trong thôn làm lễ truy điệu và mai táng chu đáo. Tui biết mặt cháu Việt nên chạy liền đến đây để báo cho bà biết. Tui sẽ dẫn bà lên mộ cháu Việt thắp nhang, rồi rước hồn nó về nhà mà thờ.
Mẹ Chuyện không nói được lời nào. Nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt tái nhợt. Mẹ ngất xỉu trong vòng tay của chị Bê và bà Mười. Tưởng rằng hai cái tang lớn ụp xuống trong vòng có hai năm sẽ làm mẹ đau buồn, sinh ra ốm đau và kiệt sức. Nhưng được sự giúp đỡ của bà con trong làng, kẻ miếng cháo, người thang thuốc, cùng với những lời động viên, an ủi chân thành, mẹ đã nguôi ngoai dần dần.
Mẹ lại gượng dậy gánh hàng xén đi chợ. Chị Bê bảo mẹ ở nhà nghỉ ngơi, mọi việc để chị lo. Mẹ bảo ở nhà buồn lắm, để mẹ đi chợ cho khoây khỏa.

Tròn một năm sau ngày Đặng Văn Việt hy sinh, mẹ lại nhận được tin Đặng Văn Chính hy sinh. Năm 1967, địch thả bom san phẳng trường dạy học ở Hòa Thịnh nên Chính được huyện điều về dạy văn hóa cho đồng bào dân tộc ở Hòn Nhọn. Một lần đi vận động bà con đến lớp, Chính bị bọn phản động ở địa phương dùng dao sát hại. Rất may vết thương phần mềm ở bụng không nguy hiểm đến ruột gan nên chỉ điều trị ở bệnh xá huyện một thời gian là lành hẳn. Ra viện Chính được điều động về nhận công tác ở Ban Tuyên huấn huyện Tuy Hòa. Ngày 20/7/1968, trên đường đi công tác cơ sở, lọt vào ổ phục kích của địch ở thôn Mỹ Điền xã Hòa Thịnh và Đặng Văn Chính đã hy sinh. Tin này làm mẹ Chuyện khóc và ngất lịm nhiều ngày. May nhờ có thầy Tám Bình cắt cho chục thang thuốc nam uống, mẹ mới tỉnh dần. Chưa thật khỏe hẳn, nhưng mẹ Chuyện cứ đòi đi thăm mộ của Chính. Khu vực Chính hy sinh đang còn địch kiểm soát nên các đồng chí lãnh đạo ở huyện chưa thể đưa mẹ đi thăm mộ của Chính ngay được.

Vết thương lòng và nỗi đau xé ruột về chồng và hai con đã hy sinh chỉ trong một thời gian rất ngắn chưa thật lắng dịu, thì mẹ Chuyện lại nhận được giấy báo tử: Đặng Văn Vĩnh đã hy sinh ngày 25/7/1970. Cũng như người em là Đặng Văn Chính, Vĩnh nhận công tác dạy cấp 2 ở xã Hòa Thịnh. Máy bay địch đến ném bom làm 8 học sinh chết và nhiều em bị thương. Vĩnh cũng bị thương ở bụng. Được trạm xá của huyện cứu chữa lành vết thương, ra viện Vĩnh được điều về Ban Tuyên huấn huyện Tuy Hòa. Trên đường đi công tác cơ sở ở xã Hòa Tân thì bị địch phục kích, Vĩnh bị thương rất nặng và sau đó đã hy sinh.

Cũng như các lần trước, lần này khi nhận được tin Vĩnh hy sinh, mẹ lại khóc nức nở và ngất lịm. Năm 1970 mẹ đã 60 tuổi, cộng với sự chịu đựng quá nhiều đau khổ trong tù đày và tang tóc đè nặng, thân thể của mẹ như cành liễu trước cơn gió mạnh. Tưởng rằng với cái tang thứ 4 này mẹ sẽ không gượng dậy được nữa. Nhưng rồi sức khỏe của mẹ dần dần trở lại bình thường nhờ sự chăm sóc hết lòng của người con gái độc nhất - chị Đặng Thị Bê - và của bà con làng xóm.

Ngày 17/12/1994, mẹ Đinh Thị Chuyện được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tòa soạn Báo Phú Yên nhận chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Đinh Thị Chuyện đến cuối đời. Chúng tôi - những người con phụng dưỡng - thường xuyên về với mẹ, ngồi bên mẹ hàng giờ, hàng buổi, nghe mẹ kể chuyện đời xưa, chuyện một thời chiến đấu, hy sinh, máu lửa của quê hương mẹ và đôi lúc mẹ đọc vài câu ca dao, hoặc yêu cầu chúng tôi hát cho mẹ nghe vài điệu bài chòi, vài bài ca thời kháng chiến.

Bây giờ thì mẹ Đinh Thị Chuyện đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng chúng tôi vẫn nhớ mãi những lời tâm sự của mẹ lúc sinh thời. Mẹ nói: “Hơn 90 tuổi đời, từng chịu đựng 4 cái tang vừa chồng vừa con, mẹ đã khóc hết nước mắt rồi các con ạ! Nhưng cái an ủi lớn nhất đối với mẹ là những người thân yêu nhất trong gia đình mẹ đã đóng góp xương máu của mình cho cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc thắng lợi hoàn toàn
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #13 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 04:20:41 pm »

Trong căn nhà đơn sơ nép dưới bóng dừa ở thôn Long Thạnh xã Xuân Lộc (huyện Sông Cầu), bà Phó Phát sống những năm tháng cuối đời bình yên bên con cháu. Cụ bà 93 tuổi này từng là giao liên hợp pháp của Tỉnh ủy Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ, và ngôi nhà mà bà đang ở là trạm giao liên của Sông Cầu cách đây hơn 40 năm.

 



Bà Phó Phát - Ảnh: Tư liệu

Thời gian đã nhuộm trắng tóc bà. Và tuổi tác đã làm cho mắt mờ, chân yếu. Tuổi tác lạnh lùng xóa đi hầu hết chuyện xưa trong ký ức của bà. Vậy mà khi nhắc tới hai từ “liên lạc”, đôi mắt bà Phó Phát sáng lên: “Liên lạc hả? Tui đây. Tui là liên lạc. Tui đi cùng khắp, từ La Hai cho tới Tuy Hòa.”

Tên khai sinh của bà là Trần Thị Mẹo. Song người dân ở xã Xuân Lộc vẫn quen gọi là bà Phó Phát, bởi bà có chồng là Phó Lý trước Cách mạng tháng Tám và có người con đầu tên Phát. Sau khi đình chiến (1954), một người con của bà Phó Phát đi tập kết. Lúc này, quân địch ráo riết lùng sục, bắt bớ giam cầm, thủ tiêu các đảng viên cộng sản, cán bộ cách mạng. Sau vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh, Tỉnh ủy Phú Yên đóng ở Diêu Trì (Bình Định) khẩn trương tổ chức đường dây giao liên để liên lạc với bộ phận Tỉnh ủy được phân công bí mật ở lại nhằm thống nhất sự chỉ đạo trong toàn tỉnh. Đồng chí Hai Tín, tức Đỗ Hòa Thái, Bí thư Huyện ủy Sông Cầu đã móc nối và cử bà Phó Phát ra chợ Cây Đa ở Lộc Lễ (Diêu Trì) để liên lạc với Tỉnh ủy. Vậy là bà trở thành giao liên của tỉnh. Sau đó, theo sự phân công của đồng chí Võ Xuân Vinh, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy phụ trách Chánh văn phòng, bà Phó Phát đóng giả làm người đi buôn bán, vô Phú Lâm gặp một người thợ rèn tên Châu và gặp ông Di ở Đông Tác để nhận thư từ tài liệu của Huyện ủy Tuy Hòa; tới chợ Thủy, chợ Giã ở An Ninh Tây để nhận thư của Huyện ủy Tuy An. Tài liệu thư từ, khi thì bà giấu trong cái yếm bị, khi thì giấu trong những miếng trầu đã têm. Rủi gặp địch soát xét thì bà ung dung bỏ miếng trầu vô miệng.

Bà Phó Phát chuyển thư cho các cán bộ của Tỉnh ủy dựa vào những dấu chấm trên lá thư, số dấu chấm tương ứng với tên gọi gắn theo thứ của người đó, ví dụ như hai chấm là gởi cho anh Hai, ba chấm thì chuyển cho anh Ba… Thư không có chấm nào thì  bà chuyển cho anh Thừa, tức đồng chí Lê Đài, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên.

Những hồi ức rời rạc của một bà cụ đã sống gần một thế kỷ không đủ để chúng tôi chắp nối thành bài viết. May mà tìm được tư liệu về bà trong bài Bà ngoại giao liên của tác giả Phan Thanh, đăng trong tập sách Phú Yên thăm mẹ. Theo tư liệu của tác giả Phan Thanh, trong những ngày đồng chí Hai Tín về Xuân Lộc, bà Phó Phát cùng tổ giao liên (gồm ông Nguyễn Ngàn, bà Hoa và bà Miền) bố trí bảo vệ, lo ăn ở chu đáo. Nhiều cán bộ từ Diêu Trì về Sông Cầu đến tìm bà. Khi đã nhận đúng ám hiệu, bà bố trí cho họ ăn ở hàng chục ngày. Sau khi đồng chí Bảo - một chiến sĩ giao liên bất hợp pháp vừa móc nối liên lạc với các xã, xây dựng cơ sở vừa tự túc kiếm sống giữa rừng sâu để nuôi Huyện ủy - hy sinh anh dũng trong một lần đi công tác, bà Phó Phát lên La Hai theo yêu cầu của cấp trên. Đầu năm 1955, Tỉnh ủy phân công đồng chí Bùi Tân chuẩn bị chỗ ở cho cơ quan Tỉnh ủy bí mật. Tại nhà bà Lý ở chợ Đồng Dài, bà Phó Phát đã nhiều lần gặp ông Bùi Tân để nhận nhiệm vụ.

Về chuyện này, bà Phó Phát vẫn còn nhớ: Cậu Tân đưa tôi gặp anh Ba, anh Thừa, anh Bút tại Xuân Quang để các anh biết mặt. Sau đó, tôi mới biết anh Thừa là đồng chí Lê Đài.

Thế rồi có một người cán bộ chuyển vùng hoạt động và bị bắt, khai ra bà Phó Phát. Bà bị địch bắt giam ở nhà lao Ngọc Lãng. Cho tới bây giờ, những ngày tháng bị giam cầm vẫn hiện lên loáng thoáng trong tâm trí bà. Sau khi rơi vào tay địch, bà lanh trí, tỏ ra “thành thật” và “khai báo” việc mình “tiếp tế cho cộng sản”. Bà nói với chúng: “Ai khổ thì tui cho ăn. Nấu nồi cơm trên bếp, thấy người ta đói thì tôi bới cho người ta. Vậy thôi hà”.

Ông Lê Đài đã bị bắt trước đó. Địch dẫn ông tới để nhận diện, nhưng chúng hoàn toàn thất bại. Đến khi ông Lê Đài chết, địch hỏi móc méo bà: Ông nộïi mày chết, mày có khóc không?


Sau khi ra tù, bà Phó Phát tiếp tục hoạt động cách mạng, lặng lẽ đóng góp sức mình vào công cuộc giải phóng quê hương Phú Yên. Bà được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.

 

LÂM VY
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #14 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 04:56:41 pm »

Khí thế tiến công hừng hực như vũ bão của quân giải phóng miền Nam đã làm nên chiến thắng lịch sử và chấn động vào mùa xuân 1975.

Quân và dân Phú Yên, với sự chuẩn bị kỹ lưỡng và chu đáo, đã chớp thời cơ giải phóng toàn tỉnh vào ngày 1/4/1975. Chiến thắng của Phú Yên đã góp phần quan trọng vào việc giải phóng toàn khu V, tạo hậu phương vững chắc để các cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn một tháng sau đó. Xin giới thiệu một số hình ảnh về những ngày lịch sử trong mùa xuân 1975 trên chiến trường Phú Yên.

 

Cảnh hoảng loạn của đoàn quân ngụy bỏ Tây Nguyên tháo chạy xuống đồng bằng trên đường 7 - Ảnh: TƯ LIỆU

 

 

Lực lượng giải phóng quân tấn công tỉnh đường ngụy Phú Yên Ảnh: TRẦN KHẢ QUANG

Bộ đội Phú Yên trên đường ra chiến dịch xuân 1975 - Ảnh: TRẦN KHẢ QUANG

Quân giải phóng vượt sông Ba truy kích địch tháng 4/1975 - Ảnh: TƯ LIỆU

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #15 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 04:59:57 pm »

(Dựa theo tài liệu Lịch sử Quân khu 5 và Lịch sử 30 năm giải phóng Phú Yên)

Xuân hè năm 1953, quân viễn chinh Pháp thất bại nặng nề và liên tiếp ở chiến trường chính đồng bằng Bắc bộ, Tây Bắc, Bình Trị Thiên, Liên khu 5, đồng bằng Nam bộ. Để ngăn chặn thất bại lớn của thực dân Pháp ở Việt Nam, chính phủ Pháp đề ra chủ trương chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” kết thúc chiến tranh Việt Nam trong vòng 18 tháng. Để thực hiện chủ trương trên, tướng Nava – tân Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã đề ra kế hoạch đánh chiếm các tỉnh đồng bằng, vùng tự do Liên khu 5 mà trước tiên là đánh chiếm Phú Yên để làm bàn đạp. Cụ thể như sau:

Giai đoạn 1: Có tên là “Arêtút” tiến hành vào cuối tháng 1/1954, địch sử dụng 22 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn công binh, 3 đơn vị pháo binh từ Đắk Lắk đánh xuống, Khánh Hòa đánh ra, đổ bộ đường biển vào hai phường 6, 7 (thị xã Tuy Hòa), đổ bộ đường không vào sân bay Tuy Hòa – sân bay Đông Tác. Sau đó tiếp tục phát triển đánh chiếm toàn bộ tỉnh Phú Yên.

Giai đoạn 2: Có tên “Axen” tiến hành vào đầu tháng 3/1954, sẽ tăng thêm lực lượng đánh chiếm thị xã Qui Nhơn và toàn tỉnh Bình Định bằng 3 cánh quân từ Phú Yên đánh ra, từ Gia Lai – An Khê đánh xuống theo đường 19 và từ biển đánh vào.

Giai đoạn 3: Có tên “Attila” bắt đầu vào tháng 5/1954 chúng sử dụng 45 tiểu đoàn bộ binh, 8 đơn vị pháo binh, bao vây từ 4 hướng để đánh chiếm thị xã Quảng Ngãi và toàn tỉnh Quảng Ngãi hoàn thành mục tiêu xóa bỏ vùng tự do Liên khu 5.
Chủ trương của ta
Chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương, Liên khu ủy Khu 5 trước tình hình và nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm của quân dân Phú Yên và quân dân Liên khu 5 được xác định là phải tập trung lực lượng củng cố căn cứ địa bảo vệ vùng tự do chống địch càn quét lấn chiếm.
Ngày 10/1/1954, Tỉnh ủy Phú Yên mở Hội nghị để quán triệt Nghị quyết Liên khu ủy và thông qua  kế hoạch chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương, Tỉnh ủy Phú Yên đề ra phương châm chung là: tích cực chủ động tiêu diệt, tiêu hao địch bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, về tác chiến các lực lượng vũ trang địa phương và du kích phải triệt để vận dụng chiến thuật du kích với phương châm “Tích cực chủ động linh hoạt” cũng trong thời gian đó đại diện Tỉnh ủy Phú Yên, Tỉnh ủy Khánh Hòa, Ban cán sự tỉnh Đắk Lắk đã họp bàn việc phối hợp để bộ đội chủ lực tập trung lên chiến trường chính Tây Nguyên. Lực lượng vũ trang tỉnh Khánh Hòa được phân công đẩy mạnh hoạt động đánh địch trên tuyến quốc lộ 1A phía nam đèo Cả. Lực lượng vũ trang tỉnh Đắk Lắk đẩy mạnh đánh địch trên đường MaĐrắc, Sông Hinh, Cheo Reo xuống Phú Bổn, Củng Sơn (Sơn Hòa). Lực lượng tỉnh Phú Yên ngoài nhiệm vụ đánh địch tại chỗ, còn phải làm tốt nhiệm vụ tiếp viện cho các đơn vị chủ lực tiến công về hướng Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên.

Tương quan lực lượng địch – ta trong chiến dịch Aùtlăng

* Địch: 22 tiểu đoàn, 4 binh đoàn cơ động số 10-100-41-42, 2 tiểu đoàn dù để chi viện cho bộ binh cơ giới tiến công, địch sử dụng hàng chục máy bay ném bom và nhiều trọng pháo từ tàu chiến bắn hàng ngàn quả đạn vào thị xã Tuy Hòa, quốc lộ 1A trước và trong quá trình bộ binh cơ giới tiến công.

* Ta: Lực lượng vũ trang của tỉnh có 3 đại đội được bố trí như sau: Đại đội 377 trực tiếp chiến đấu địa bàn thị xã Tuy Hòa, Đại đội 392 trực tiếp chiến đấu ở đèo Cả và phía Nam Đà Rằng, Đại đội 389 trực tiếp chiến đấu Bắc Phú Yên và Tây Tuy Hòa.
Lực lượng vũ trang huyện có 4 đại đội bộ đội được bố trí như sau: Đại đội 380 Sơn Hòa, Đại đội 371 Đồng Xuân, Đại đội 374 Tuy An, Đại đội 378 Tuy Hòa.

Tháng 2/1954, Quân khu chỉ đạo cho Phú Yên thành lập Tiểu đoàn 375 (d375) trên cơ sở sát nhập 3 đại đội (Đại đội Quyết tử của d40 Quảng Nam, Đại đội Độc lập của Quảng Ngãi và Đại đội 392 Phú Yên). Cuối tháng 3/1954, Quân khu điều d365/ e803 về tăng cường cho Phú Yên. Tỉnh đội Phú Yên điều động du kích các xã, phường bổ sung khôi phục biên chế cho các đại đội độc lập của tỉnh.
Đợt 1: Từ ngày 20/1/1954 đến 30/1/1954.

Sáng ngày 20/1/1954, quân Pháp bắt đầu mở cuộc tiến công ồ ạt, qui mô chưa từng có ra chiến trường Phú Yên.

Trên hướng thị xã Tuy Hoà, địch dùng 2 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ, đổ bộ lên phường 6, 7 (thị xã Tuy Hoà). Sử dụng 2 tiểu đoàn nhảy dù xuống sân bay Chóp Chài, sân bay Đông Tác. Chúng bị Đại đội 377 và du kích các xã, phường kết hợp với thế trận phòng thủ, phục kích bao vây, bắn tỉa và chặn đánh quyết liệt tiêu hao, tiêu diệt kìm chân chúng tại chỗ không cho chúng lấn ra phía Bắc.

Ngày 21/1/1954 từ Khánh Hoà, địch sử dụng binh đoàn số 10 có hàng trăm xe cơ giới và xe bọc thép theo trục quốc lộ 1A đánh ra đèo Cả, Hoà Xuân, Hoà Hiệp (Tuy Hoà). Tuy nhiên, chúng đã bị Đại đội 392 cùng du kích xã Hoà Xuân, Hoà Hiệp bố trí sẵn chông mìn cạm bẫy, át chiến điểm chặn đánh liên tục. Cùng với đó, quân dân ta đã phá hoại cầu cống và đường giao thông, làm chậm bước tiến công của bộ binh và cơ giới địch. Mãi đến 10 ngày sau, Pháp mới liên lạc được với hướng thị xã Tuy Hoà.

Ngày 25/1/1954, hướng Đắk Lắk, địch sử dụng 2 binh đoàn 41-42 từ Cheo Reo đánh xuống thị trấn Củng Sơn (huyện Sơn Hoà), chúng bị Đại đội 389 phối hợp cùng Đại đội 378 cùng du kích các xã phía tây Tuy Hoà, Sơn Hoà ngăn chặn tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, làm chậm bước tiến công của địch.

Với lối đánh mưu trí sáng tạo, linh hoạt của bộ đội và du kích ta, qua 10 ngày đầu chiến dịch Aùt-lăng, lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Yên đã chiến đấu ngoan cường, dũng cảm chống lại cuộc tiến công ồ ạt của thực dân Pháp. Pháp choáng váng khi bị tổn thất nặng nề: ta đã giết và làm bị thương gần 800 tên địch, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh, thu nhiều vũ khí đạn dược.

Ngày 2/2/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện khen quân dân Tuy Hoà và vùng địch hậu Liên khu 5, bức điện có đoạn viết “Dân quân Tuy Hoà và vùng địch hậu Liên khu 5 đã tích cực hoạt động tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Trong lúc chiến thắng các đồng chí cần đề phòng, không chủ quan khinh địch, ra sức củng cố vùng giải phóng, củng cố và khuếch trương thắng lợi, thi đua cùng các đơn vị anh em ở mặt trận khác trên toàn quốc tiêu diệt địch nhiều hơn nữa, giật cho được cờ thưởng của Hồ Chủ tịch”.

* Sau 10 ngày tiến công địch tạm chiếm các vị trí như sau:
Ở huyện Tuy Hoà 1: Địch chốt chặn ở núi Hiềm, Bàn Nham (Hoà Xuân).

Ở thị xã Tuy Hoà: 4 tiểu đoàn, bố trí ở núi Nhạn, sân bay Khu chiến cũ, khu Thị đội, dọc phường 6; 3 đại đội bộ binh bố trí ở chùa Hồ Sơn, dọc đường sắt và Núi Sầm.

Ở huyện Sơn Hoà: địch chốt ở đồi MaPu, Cà Lúi, Ba Bảng (Củng Sơn), Bà Lá, Gò Lớn, Sơn Định, Trụ Bọt (Sơn Hội).

Ở huyện Sông Hinh địch chốt đồn Tuy Bình – Hai Riêng.

Để chuẩn bị đánh chiếm Bắc Phú Yên, Na-va đã tung ra một lực lượng lớn lên đến 34 tiểu đoàn cơ động (hơn 1 vạn rưỡi quân).

Ta: Quá trình chiến đấu, ngoài lực lượng tập trung của tỉnh, huyện; du kích các xã, phường luôn được bổ sung kiện toàn.

Đầu tháng 2/1954, Quân khu quyết định thành lập tiểu đoàn 375. Tháng 3/1954, Liên khu 5 điều động tiểu đoàn 365 thuộc (e803) về tăng cường cho chiến trường Phú Yên, với những thắng lợi giòn giã, lực lượng ta càng đánh càng lớn mạnh, quân và dân Phú Yên đã tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ. Từ đó ra sức thi đua giết giặc lập công.

Đợt 2: Từ ngày 16/2/1954, địch thực hành tiến công ra các huyện phía Bắc Phú Yên.

Binh đoàn 41, 42 tiến theo đường Vân Hoà xuống xã Xuân Phước, Xuân Quang – La Hai (Đồng Xuân). Một cánh quân tiến xuống xã: Sơn Long, An Xuân, An Nghiệp (Tuy An) đã bị đại đội 371 Đồng Xuân và 380 Sơn Hoà phối hợp cùng du kích các xã Sơn Hội, Sơn Long, An Xuân, An Nghiệp tổ chức đánh phục kích ngăn chặn tiêu diệt tiêu hao hơn 100 tên địch và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm chậm bước tiến công của địch.

Binh đoàn số 10 tiến công phía Đông theo quốc lộ 1A từ thị xã Tuy Hoà ra Chí Thạnh, Sông Cầu đã bị đại đội 389 của tỉnh phối hợp với đại đội 374 (Tuy An) cùng du kích xã An Chấn, An Mỹ, An Hiệp, An Cư liên tục chặn đánh tiêu diệt trên 500 tên, phá huỷ hơn 100 xe quân sự và nhiều phương tiện chiến tranh, hành quân mất 4 ngày mới liên lạc được với hướng La Hai.

Đến ngày 21/2/1954 địch đã chiếm giữ được một số vị trí trọng yếu tại thị xã Tuy Hoà, ngả ba Chí Thạnh, Sông Cầu, La Hai. Trên trục đường 1, đường 6 chúng bố trí thêm một số đồn như Núi Hùng, An Chấn, Gò Đều, đèo Quán Cau.

* Ngày 18/2/1954, tướng Nava phải tuyên bố tạm đình chỉ chiến dịch Át - Lăng ở mặt trận Tuy Hoà – Phú Yên. Sau khi thất bại liên tiếp ở chiến trường Điện Biên Phủ và Liên Khu 5, địch thực hiện kế hoạch “Ê ly rút” là thu hẹp phạm vi chiếm đóng để bảo toàn lực lượng. Ở vùng đồng bằng Phú Yên chúng bắt đầu rút dần các đồn, bót nơi bị ta uy hiếp để tập trung đối phó những vị trí then chốt.
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #16 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 05:09:52 pm »

Đợt 3: Đánh địch càn quét, lùng sục đánh phá vùng hậu cứ của ta.

Ngày 7/3/1954, tiểu đoàn 375 tiêu diệt 1 đại đội Âu Phi và 25 xe quân sự tại Bầu Vườn – thôn Phú Hoà và xã Xuân Sơn – huyện Đồng Xuân.

Ngày 8/3/1954, tiểu đoàn 375 cùng du kích xã An Nghiệp chặn đánh tiểu đoàn Ngự Lâm Quân, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm tên.

Ngày 10/3/1954, tiểu đoàn 375 cùng du kích xã An Lĩnh tiêu diệt tiểu đoàn Ngự Lâm Quân số 1 tại Đồng Tròn, xã An Lĩnh. Cũng trong ngày 10/3/1954, đại đội 371 Đồng Xuân và du kích Xuân Thọ, Xuân Lộc, Xuân Cảnh, Xuân Thịnh phục kích trên đèo Cù Mông, diệt và làm bị thương hơn 100 tên.

Ngày 21/3/1954, tiểu đoàn 365 vừa hành quân từ Nam Bình Định vào xã Xuân Quang (Đồng Xuân) phát hiện tiểu đoàn Ngự Lâm Quân số 2 hành quân càn quét lên vùng Suối Cối xã Xuân Phước. Tiểu đoàn tổ chức phục kích và sau 45 phút chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, đã tiêu diệt 100 tên địch, bắt sống 200 tên, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xoá sổ tiểu đoàn Ngự Lâm Quân số 2 của thực dân Phá

Đêm 10/4/1954, tiểu đoàn 375 phối hợp với đại đội 374 (Tuy An) tập kích quân địch ở đèo Quán Cau (An Hiệp) diệt và làm bị thương 85 tên lính Âu Phi.
Ngày 20/4/1954, tiểu đoàn 365 cùng với tiểu đoàn 375 tiến công 1 tiểu đoàn địch tại Bàn Nham (Hoà Xuân), tiêu diệt hơn 100 tên lính Âu Phi.
Ngày 30/4/1954, tiểu đoàn 375 và tiểu đoàn 365 xoá sổ tiểu đoàn Ngự Lâm Quân số 6 tại ga Gò Mầm (Hoà Bình), tiêu diệt 100 tên, bắt sống 200 tên.
Ngày 10/5/1954, tiểu đoàn 375 tiêu diệt đồn Núi Sầm, tiêu diệt hơn 50 tên, tịch thu nhiều vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng.
Ngày 24/5/1954, tiểu đoàn 375 đánh lui 2 tiểu đoàn địch đang trên đường càn lên Hoà Quang, tiêu diệt 50 tên, bắt sống 15 tên.
Ngày 28/5/1954, tại Quang Quang – Minh Đức, tiểu đoàn 375 tiếp tục đánh tan trung đoàn nguỵ quân đi càn quét tại cầu Minh Đức, tiêu diệt hơn 60 tên.
Cuối tháng 5/1954, Bộ tư lệnh Quân khu điều trung đoàn 803 tăng cường cho chiến trường Phú Yên. Ngày 1/6/1954, Trung đoàn 803 tập kích tiêu diệt cụm cứ điểm Truy Bình – Hai Riêng – Củng Sơn, tiêu diệt và bắt sống hơn 500 tên. Ta đã giải phóng hoàn toàn các huyện phía Tây Nam Phú Yên. Sau đó trung đoàn được lệnh truy kích và tiếp tục phát triển tiến công xuống Tuy Hoà.
Trước nguy cơ bị tiêu diệt và để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn của nguỵ quân, Tướng Êly mới sang thay Nava làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã ra chủ trương “Thu hẹp phạm vi chiếm đóng có trọng điểm để bảo toàn và tập trung lực lượng”.
Ngày 16/6/1954, địch rút chạy khỏi Sông Cầu.
Ngày 19/6/1954, địch rút chạy khỏi Chí Thạnh.
Đêm 21/6/1954 trận tấn công lớn nhất, quyết liệt nhất của quân ta vào cứ điểm, đồn, bốt địch ở thị xã Tuy Hoà và vùng ven, tiểu đoàn 365, tiểu đoàn 39 (e 803), đại đội đặc công của tỉnh, đội đặc công e803, các đại đội trợ chiến trung đoàn cùng tiểu đoàn 375, đại đội 377, bộ đội địa phương đồng loạt tấn công địch.
Tại khu vực Màng Màng, Núi Hùng (An Chấn), tiểu đoàn 375 đã đánh và gây thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn địch, phá huỷ 100 xe quân sự.
Tại Trung tâm thị xã Tuy Hoà đội đặc công tỉnh, đội đặc công của e 803 tập kích sở chỉ huy địch tiêu diệt hơn 200 tên, phá huỷ hơn 200 xe quân sự, đốt cháy 1 kho xăng hơn 1 triệu lít.
Ngày 25/6/1954, trung đoàn 803 chặn đánh một đoàn xe quân sự 90 chiếc của địch tại đèo Cả, diệt và bắt sống 300 tên, bắn cháy 79 xe, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề.
Phối hợp chặt chẽ cùng với chiến trường Quân khu 5, quân và dân Phú Yên thừa thắng siết chặt vòng vây quân địch trong thị xã Tuy Hoà và khẩn trương chuẩn bị cho trận tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch giải phóng hoàn toàn Phú Yên. Nhưng đến ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, lệnh ngừng bắn được các đơn vị chấp hành nghiêm túc.
* Ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch Át - Lăng:

Quân và dân Phú Yên dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Liên khu uỷ khu 5, Tỉnh uỷ, Tỉnh đội Phú Yên với truyền thống tự lực, tự cường, chủ động, dũng cảm ngoan cường, mưu trí linh hoạt sáng tạo, phát huy sức mạnh tổng hợp, thế trận chiến tranh nhân rộng khắp, bằng lối đánh du kích kết hợp vũ khí thô sơ tự tạo, chông, mìn, cạm bẫy tập trung phân tán phù hợp đánh cả ban ngày, ban đêm, quần lộn đánh bên sườn, phía sau lưng địch đã độc lập tác chiến tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phương tiện chiến tranh. Vây hãm 3 cánh quân cơ động tinh nhuệ của thực dân Pháp, buộc chúng sa lầy ở Tuy Hoà không cho chúng tự do lùng sục đánh phá, bảo vệ được tính mạng tài sản của nhân dân và cơ quan Nhà nước, bảo vệ kho tàng dự trữ lương thực, thực phẩm, góp phần bảo vệ vùng tự do Liên Khu 5.

Đánh bại chiến dịch Aùtlăng của thực dân Pháp, quân dân Phú Yên nói riêng, quân và dân Liên Khu 5 nói chung đã góp phần đập tan kế hoạch “Đánh nhanh thắng nhanh” của tướng Nava, đập tan âm mưu thủ đoạn của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm giành thế chủ động về quân sự trên chiến trường Việt Nam và xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương.

Sự phối hợp nhịp nhàng cùng các chiến trường trên toàn quốc, những chiến thắng to lớn của quân và dân Phú Yên góp phần làm suy yếu, phân tán lực lượng của địch trên chiến trường Liên khu 5, cùng cả nước kiềm chân địch tạo thế thuận lợi để quân và dân ta chủ động tiến công giành thắng lơi ở mặt trận Tây Bắc, Tây Nguyên và chiến thắng lịch sử ở Điện Biên Phủ chấn động địa cầu buộc địch ký Hiệp định Giơnevơ lập lại hòa bình ở Đông Dương. 


HỘI CỰU CHIẾN BINH PHÚ YÊN

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #17 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 05:12:34 pm »

Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh đứng đầu, đã sáng suốt lãnh đạo nhân dân ta nâng cao tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, quyết tâm giữ vững lời thề của Tuyên ngôn độc lập, nguyện “đem hết cả tinh thần và lực lượng, tính mạng, của cải và tài sản để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

 

Đúc lựu đạn bằng khuôn đất sét – Ảnh: Tư liệu
Bởi vậy từ ngày 23-9-1945 thực dân Pháp gây hấn đánh chiếm nam Bộ, ở Phú Yên đã nổi lên phong trào toàn dân vũ trang bằng vũ khí thô sơ và thành lập các đơn vị vũ trang tập trung; hàng loạt các lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày được mở ra ở Sông Cầu để đào tạo cấp bách số cán bộ quân sự cần thiết. Và ngày 10 tháng 10 năm 1945, xưởng quân giới đầu tiên của Phú Yên chính thức thành lập. Sự kiện này không chỉ là mốc mở đầu cho sự phát triển của một ngành khoa học quân sự ở tỉnh, là khởi điểm quan trọng để từ đó Quân giới Phú Yên khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Dù chưa có đủ những điều kiện vật chất cần thiết, song do những yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của lịch sử, Quân giới Phú Yên ra đời bắt đầu từ những khốn khó, thiếu thốn của một mô hình sản xuất công nghiệp nhỏ bé lạc hậu đang từng bước cố gắng định hình và định hướng đi ban đầu của ngành Quân giới Phú Yên còn non trẻ… Ngay từ những bước đi ban đầu này, Quân giới Phú Yên đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong khả năng có được để phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.
Cuối năm 1945, quân Pháp từ Nam bộ đánh lấn dần ra Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Tình thế chiến sự diễn biến nhanh chóng. Tổ chức quân sự cũng có những thay đổi. Chi đội 4 Phú Yên được thành lập thay cho Ủy ban Quốc phòng, do đồng chí Lê Văn Đức làm đội trưởng. Đồng chí Ngô Hoàng Anh được rút sang lực lượng chiến đấu. Việc tiếp tục xây dựng và phát triển lực lượng Quân giới được giao cho đồng chí Nguyễn Hữu Dũ. Để kịp thời đối phó với tình hình chiến sự ngày một lan rộng, Ủy ban Việt Minh và Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh ra lời kêu gọi toàn dân tham gia làm vũ khí và chủ trương tổ chức các công binh xưởng, đáp ứng nhu cầu vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang đủ sức ngăn cản bước tiến của quân thù.
Hưởng ứng lời kêu gọi này, hầu như toàn bộ các tổ chức thợ thuyền ở thị xã Tuy Hòa đã tập trung về Sông Cầu để chuẩn bị lập công binh xưởng. Mọi tầng lớp nhân dân lao động trong tỉnh, từ những thợ kim hoàn, thợ da, thợ hớt tóc, công nhân Nhà máy đường Đồng Bò v.v… đến những thợ thủ công có tay nghề giỏi như ông Hồ Kiến Mão, ông Xáng, và cả những người có trình độ kỹ thuật cao đã từng tốt nghiệp ở trường kỹ nghệ thực hành của Pháp – tất cả đều tình nguyện tham gia lực lượng những người sản xuất vũ khí. Họ hiến dâng vô tư cho Tổ quốc, cho Cách mạng tài sản, máy móc, nguyên vật liệu và cả chính cuộc đời mình. Những chiếc xe than của ông Đỗ Trực, Nguyễn Tiếm, Nguyễn Thanh ngay đêm chuyên chở những khối máy móc thiết bị từ garage Công Tín Xương, garage Hoàng Văn Cái, xưởng của ông Hồ Kiến Mão, ông Sáng…, từ những lò rèn của ông Sáu Méo, ông Hoàng Mây, ông Mười Do… hối hả đổ về Sông Cầu khẩn trương xây dựng xưởng.
Sau khi cơ bản hoàn thành công việc tập kết trang thiết bị, ngày 10 tháng 10 năm 1945, công binh xưởng Cao Thắng đứa con đầu lòng của ngành Quân giới Phú Yên chính thức ra đời. Đồng chí Đỗ Trực – một trong những người đã tốt nghiệp trường Kỹ nghệ thực hành, có tay nghề cao và có ý chí trong chuyên môn được anh em tín nhiệm cử ra tuyên bố thành lập xưởng. Cùng với đồng chí Nguyễn Hữu Dũ, đồng chí Đỗ Trực đã trực tiếp chỉ đạo sản xuất, hướng dẫn hoạt động của công binh xưởng.
Khi tiếng súng kháng chiến đã lan ra trên toàn quốc cũng là lúc yêu cầu về vũ khí, súng đạn trở nên cấp thiết hơn, một số công binh xưởng khác tiếp tục ra đời. Hơn một năm, sau ngày thành lập công binh xưởng đầu tiên, cuối năm 1946 công binh xưởng 83 thuộc Trung đoàn 83, đại đoàn 27 ra đời. Khi mới thành lập công binh xưởng 83 đóng tại thôn Ngọc Sơn, xã Hòa Mỹ, do đồng chí Nguyễn Hữu Chiêu (còn gọi là Hội Đồng Chiêu) phụ trách. Lực lượng khá mỏng, với gần 20 công nhân, xuất thân từ tổ cơ khí chi đội 4 cũ, đảm nhiệm các nhiệm vụ: đốc công, kế toán, quản lý, đúc, nguội, liên lạc và sưu tầm nguyên vật liệu.

Cùng thời gian này, trước yêu cầu phát triển của lực lượng vũ trang địa phương – các đơn vị dân quân ở các huyện cần phải được trang bị vũ khí phù hợp với chiến trường chiến tranh du kích. Tỉnh ủy Phú Yên quyết định thành lập công binh xưởng dân quân Phú Yên, tên thường gọi là “Cơ xưởng dân quân”. Tỉnh đội Phú Yên chịu trách nhiệm tổ chức công binh xưởng này, đồng chí Nguyễn Tất Dung phụ trách, biên chế ban đầu khoảng 25 người mà nòng cốt là những cán bộ dân quân được đào tạo tại công binh xưởng Cao Thắng. Cơ xưởng dân quân khi mới thành lập đóng tại xóm Vườn, thôn Phú Vang, xã Xuân Sơn, huyện Đồng Xuân.


Như vậy đến cuối năm 1946, ở Phú Yên đã có 3 công binh xưởng được thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động. Đó là công binh xưởng Cao Thắng, công binh xưởng 83 và cơ xưởng dân quân. Nhìn chung, bên cạnh những thuận lợi không nhỏ là lòng yêu nước, tinh thần nhiệt tình cách mạng và ý chí quyết tâm cao của đội ngũ những người thợ quân giới, những khó khăn cơ bản mà ngành quân giới Phú Yên từ buổi ban đầu đã phải trực tiếp đương đầu, đó là con người có kỹ thuật, trang thiết bị và nguyên vật liệu.

Trong số những công binh xưởng đã thành lập, Cao Thắng là công binh xưởng mang tính quy mô hơn cả, và ngay từ đầu nó đã xứng đáng là con chim đầu đàn của ngành quân giới Phú Yên, là nơi hội tụ đông nhất, mạnh nhất về trí và lực của tầng lớp công nhân cách mạng Phú Yên trong thời kỳ lịch sử đầy biến động này.

 

ĐỖ THÍNH
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #18 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 05:15:02 pm »

Ngay sau ngày giải phóng, việc truy quét tàn quân nguỵ được Ban lãnh đạo xã An Hiệp (huyện Tuy An) rất quan tâm. Dưới sự chỉ đạo, giúp đỡ của công an huyện, ông Nguyễn Thành, Trưởng Công an xã An Hiệp cùng với đồng đội đã đi Nha Trang  (Khánh Hòa) truy bắt Trần Hinh - một tên ác ôn khét tiếng có nhiều nợ máu với cán bộ và nhân dân xã trong thời kỳ địch mở chiến dịch tố Cộng 1954 – 1955, ngoan cố không chịu ra trình diện.

 


Ông Nguyễn Thành – Ảnh: T. L
Gặp lại ông Nguyễn Thành trong tư thế của người chiến thắng, giữa thành phố biển rực rỡ sắc cờ hồng, nhân dân náo nức đón chào cách mạng, Trần Hinh mặt cắt không còn giọt máu. Anh xã đội trưởng trẻ măng được cử đi làm nhiệm vụ với ông Thành đã chuẩn bị sẵn một sợi dây dù dài 2 mét. Khi thấy ông Thành làm xong mọi thủ tục với cán bộ phường nơi tên Hinh đang lẩn trốn, anh nói với ông Thành:

- Con trói nó lại nghe bác?
- Khỏi cần, trong không khí bừng bừng thế này, nó có thể trốn vào đâu? Con cứ lên trước ngồi với lái xe, còn  để nó cho bác.
Nghe ông Thành nói thế, tên Hinh líu ríu bước theo lên xe. Những năm tháng làm tay sai, hắn đã tham gia tra tấn, bắn giết biết bao chiến sĩ cách mạng, đồng bào. Bây giờ tất cả đang hiện về trong tâm trí hắn  như một cuốn phim quay  nhanh...

Tháng 10 năm 1954, Trần Hinh với chức danh là ủy viên quân sự của cái gọi là Hội đồng hương chính xã An Hiệp do chính quyền nguỵ nặn lên đã đánh đập, tra khảo dã man, đi nhiều người dân lương thiện. Ngày đó hắn là “ông trời con” ở An Hiệp. Ông Nguyễn Thành đã từng bị hắn sai lính đào hầm, dùng khăn lông bịt mắt đem  đi chôn sống. Ngày đưa ông đi chôn, đích thân hắn  bước theo sau lưng, thúc ông phải nhanh chân tới huyệt trong khi mắt bị bịt kín như bưng. Hắn còn nhớ, ngày đó huyệt để chôn cạn ông Nguyễn Thành, bọn lính chỉ lấp đất ngang tới cổ. Vì vậy, ông không chết. Hắn hậm hực sai lính kéo ông lên, đưa về trụ sở chính quyền nguỵ tiếp tục tra tấn. Chính hắn là kẻ đã lấy dao kề sát cổ, hỏi ông có trăng trối điều gì không? Trước sau như một, hắn chỉ nhận được câu trả lời dứt khoát: -  Không!

Khi gặp lại Trần Hinh, những hồi ức kỷ niệm cũ cứ cuồn cuộn thức dậy trong lòng ông Nguyễn Thành… Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết,  là chính trị viên xã đội, ông Thành đã tổ chức chôn vũ khí, đạn dược, giúp đỡ những gia đình có người đi tập kết để chờ hai năm tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Thế nhưng lũ nguỵ quyền Ngô Đình Diệm đã về gây bao đau thương tang tóc. Đòn tra của kẻ thù cứ xoay đi xoay lại quanh hai câu hỏi: - “Vũ khí đạn dược bọn bây cất ở đâu? Thằng nào còn nằm vùng ở đây?”. Nhưng thà chết chứ ông không chịu khuất phục kẻ thù. Ông nhớ như in cái ngày  bị kẻ thù lôi đi tra tấn với các thủ đoạn man rợ như “đi máy bay”, “lộn mề gà”…, khắp mình mang đầy thương tích, áo quần sũng máu. Tra tấn xong bọn chúng đưa ông gặp gia đình. Sợ vợ con buồn, bác mượn cái áo khô của người bạn tù thay rồi đi ra. Nhìn mặt ông bầm tím xen lẫn vết máu lợn cợn, vợ hỏi:
- Ông có bị chúng nó đánh đau lắm không?
Sợ vợ buồn, ông trả lời tỉnh queo:
- Tụi nó hỏi rồi nhưng tui không sao đâu. Bà cứ yên tâm về đi.
Giật mình, vì mải chìm trong những hồi ức buồn nhiều hơn vui, ông Nguyễn Thành bảo lái xe dừng lại ở đèo Cả. Tên Hinh lo sợ toát mồ hôi, mặt tím ngắt! Ông nói:

- Anh xuống đi vệ sinh đi, không việc gì mà phải sợ. Đừng nghĩ tới những chuyện gì anh đã làm với tôi và với nhân dân xã An Hiệp. Anh cứ nghĩ rằng, chúng ta ở cùng làng, về mùa hè thường rủ nhau đi cày, xong rồi rủ nhau đi ăn đường đen, xuống sông uống ngụm nước mát, rồi vác cày, lùa bò về. Anh cứ nghĩ về những chuyện đó cho lòng thanh thản.

Trấn an tên Trần Hinh xong, ông Nguyễn Thành chợt thấy lòng càng thanh thản, rộn ràng niềm vui. Về đến Tuy An,  ông giao tên Trần Hinh cho công an huyện. Khi về tới An Hiệp, mọi người đang tập trung chờ ông để hỏi chuyện đi bắt tên Trần Hinh. Nghe ông nói là đã giao tên Trần Hinh cho công an, ai nấy đều giãy nảy:
- Tội ác của  tên Trần Hinh là phải đem về đây banh thây, xẻ thịt nó ra thì cũng chưa xứng đáng. Tại sao bác lại giao nó  cho công an huyện? Tại sao bác không đánh nó?
Ông Thành từ tốn trả lời:
- Với những gì nó đã gây ra cho nhân dân thì nó đang phải chịu như vậy. Nhưng ông cha ta có câu “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Cấp trên bảo bàn giao thì mình  nên giao để nó được hưởng lượng khoan hồng của cách mạng mà, bà con à!

Từ cách hành xử nhân hậu,  bao dung đó, ngay sau những ngày giải phóng,  tại xã An Hiệp không có một tên ác ôn nào bị xử bắn hay bị bạc đãi. Tất cả đều được đưa đi cải tạo để sau này trở thành những công dân có ích dưới chế độ mới…


HOA NGUYỄN

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #19 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 05:20:20 pm »

Đúng vào ngày này cách đây 38 năm về trước, ngày 28-8-1968, với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, bộ đội đặc công Phú Yên đã bất ngờ tấn công sân bay Đông Tác gây cho địch nhiều thiệt hại: phá huỷ 6 máy bay phản lực, 1 máy bay vận tải 130 và làm hỏng 4 chiếc khác; bắn cháy 1 xe tăng, làm sập 4 nhà lính, 1 lô cốt, 1 tháp canh;  phá huỷ 1 cối 60, 2 đại liên; diệt 46 tên Mỹ...

 


Sân bay Đông Tác ngày nay do Đoàn C10 quản lý

Sân bay Đông Tác (sân bay Tuy Hoà ngày nay) vốn là sân bay dân dụng cỡ nhỏ, chỉ có một đường băng bê tông nhựa chiều rộng 10 mét, chiều dài 1.500 mét sử dụng cho máy bay vận tải cỡ nhỏ hạ cất cánh. Để phục vụ cho yêu cầu chiến tranh ngày càng mở rộng, vào cuối tháng 12 năm 1965, Mỹ đổ quân, phương tiện kỹ thuật và một lữ đoàn quân Nam Triều Tiên vào xây dựng căn cứ liên hợp: Đông Tác - Hoà Hiệp - Vũng Rô. Ngoài hai đường băng chính dài 3,5 km cho các loại máy bay phản lực chiến đấu, vận tải hàng nặng (C130) cất và hạ cánh dễ dàng, Mỹ còn cho xây dựng hai đường băng phụ để tiện điều chỉnh trong lúc máy bay hạ, cất cánh nhiều lượt trong ngày. Toàn bộ sân bay nằm trên địa hình bằng phẳng, cát trắng, trống trải, dễ quan sát, tiện cơ động xe cơ giới và bộ binh.

Trở thành sân bay quân sự cỡ lớn cấp 1 nằm trong một căn cứ liên hợp có nhiệm vụ hoạt động trong một phạm vi rộng: Phú Yên, Bắc Khánh Hoà, Nam Bình Định và chiến trường Tây Nguyên. Tại sân bay này luôn túc trực từ năm phi đội máy bay phản lực chiến đấu trở lên (15 đến 25 chiếc). Máy bay vận tải có từ 3 đến 5 chiếc (C47–KIARAYBOU–C130), trực thăng các loại thường có từ 20 đến 30 chiếc (vũ trang, quan sát, chỉ huy, cứu thương, vận tải), lúc phục vụ cho càn quét lên tới hàng trăm chiếc. Ở phía nam đường băng, địch xây năm dãy nhà vòm cho máy bay để tránh đạn pháo của ta, xung quanh sân bay có năm đến bảy lớp rào kẽm gai, trong các lớp rào gài nhiều loại mìn nhảy, KCALAYMO tự động, mìn ríp. Ngoài ra, địch còn xây dựng tuyến lô cốt bê tông cốt thép, mỗi lô cốt cách nhau 50 mét, khoảng 150 mét có một lô cốt hai tầng vừa là lô cốt chiến đấu, vừa là tháp canh. Bên trong có một tiểu đoàn lính Mỹ bảo vệ, một đại đội xe tăng, một tiểu đoàn vận tải cơ giới có từ 80 đến 150 xe, một trận địa pháo 155 ly và 105 ly (18 khẩu), hai khu thợ máy, nhân viên kỹ thuật và giặc lái, một khu trung tâm thông tin, hai bãi trực thăng, một kho xăng có 7 bồn lớn khả năng chứa trên một triệu lít, một hệ thống ra đa và trung tâm chỉ huy nằm sát biển, phía đông nam sân bay.

Phát huy tinh thần tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhằm phá tan và đánh bại chiến lược “tìm diệt và bình định” của Mỹ buộc địch phải quay về phòng giữ trong thế bị động, tiêu diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh cao cấp, tạo thế mới cho lực lượng ta tiếp tục làm chủ chiến trường. Đại đội 201 đặc công được giao nhiệm vụ: đánh sân bay Đông Tác, một nhiệm vụ hết sức nặng nề.

Do căn cứ và sân bay có khoảng cách khá xa không thể hành quân tiếp cận trong suốt một đêm được, ta phải đưa lực lượng ta ra trước lót lại hầm bí mật ở cơ sở thôn 3, xã Hoà Vinh từ tối hôm trước. 14 đồng chí tổ chức thành hai bộ phận. Một bộ phận luồn sâu gồm có 9 đồng chí trực tiếp đánh vào mục tiêu (máy bay, nhân viên giặc lái), do đồng chí Nguyễn Hồng Sơn đội trưởng chỉ huy. Bộ phận này được chia thành 2 tổ trang bị 2 B40, mỗi khẩu 4 quả đạn, 4 súng AK, trang bị cá nhân mỗi đồng chí có từ 12 đến 18 quả lựu đạn và thủ pháo. Một bộ phận có 5 đồng chí do đồng chí Nguyễn Văn Lưu chính trị viên đại đội chỉ huy, trang bị 3 AK, có một y tá, một nữ cơ sở dẫn đường chốt ở bìa làng sát hàng rào phía nam để đón lực lượng đánh xong rút ra.

Đến 20 giờ 30 phút ngày 27-8 lực lượng ta đã đến vị trí triển khai chiến đấu. Sau 30 phút tổ chức kiểm tra bổ sung nhiệm vụ xong, bộ phận luồn sâu cắt rào và bí mật đột nhập, áp sát mục tiêu (máy bay, nhà bọn giặc lái). Đúng 0 giờ 55 phút ngày 28-8, hai tổ đồng loạt nổ súng, đánh từ trong đánh ra, dùng thủ pháo lựu đạn  đánh vào máy bay đang nằm ở hai dãy nhà vòm số 1 và số 2, đồng thời dùng B40 bắn vào các nhà nằm kế cận. Gần 10 phút  sau  địch mới có phản ứng. Chúng dùng pháo sáng bắn nhiều ở phía tây nam, hướng cửa mở của ta. Xe tăng từ phía tây bắc cơ động vừa chạy vừa bắn. Bọn địch từ các trại lính ở phía đông nam tiến về hướng cửa mở. Hoả lực đại liên, M79 của địch từ các lô cốt đều tập trung bắn về phía cửa mở. Trực thăng vũ trang cất cánh thả đèn và bắn dọc theo hàng rào đồng ruộng phía tây.


Trong lúc địch tập trung xe tăng bộ binh và trực thăng vũ trang đánh chặn cửa mở, lực lượng ta dùng B40 bắn sập một lô cốt, một tháp canh nhưng cũng không tạo được cửa mở để vượt ra khỏi trận địa. Trong thế bất lợi, với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, toàn bộ cán bộ chiến sĩ bộ phận luồn sâu đã vòng đánh trở lại vào bên trong. Trận đánh kéo dài hơn hai giờ đồng hồ mới im tiếng lựu đạn, thủ pháo của ta. Tuy gây cho địch nhiều thiệt hại, nhưng do lực lượng quá chênh lệch, vũ khí, toàn bộ cán bộ chiến sĩ luồn sâu đã hy sinh anh dũng.


Sau trận đánh này, Đại đội 201 đã được Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba, 9 đồng chí hy sinh được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất. Đồng chí Nguyễn Hồng Sơn được truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 30-10-1978.

 

N.V.L
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM