Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:15:34 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng  (Đọc 53863 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #40 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2010, 10:44:33 pm »

Ngồi đối diện với tôi là một ông già mang nhiều vết sẹo… Sau những tháng năm chiến đấu nơi chiến trường, ông trở thành thương binh hạng 1/4. Đó là Y Thái, 65 tuổi, dân tộc Chăm H’roi ở thôn Hòn Ông, nay là thôn Tân Hòa, xã Sơn Phước, huyện Sơn Hòa.

 

MỘT CHIẾN SĨ QUẢ CẢM

 


Thương binh Y Thái  - Ảnh: T.C.TRÍ

Bởi căm thù bọn cướp nước và bán nước, ngay từ tuổi thiếu niên, cậu bé Y Thái đã ước mơ được cầm súng chiến đấu với quân thù bảo vệ quê hương. Đến năm 1960, khi vừa tròn 18 tuổi, ông tham gia cách mạng. Được các chú các anh chấp nhận cho làm cách mạng là niềm vui khó tả, người thanh niên dân tộc Chăm H’roi này lên đường ngay, không kịp từ giã cha mẹ.

Buổi đầu cầm súng đứng trong hàng ngũ du kích, ông thấy mình chững chạc hơn nhiều, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Ông làm du kích được mấy tháng thì có lệnh cấp trên điều động vào đơn vị 85, vừa chiến đấu vừa huấn luyện. Sau đó, Y Thái được chuyển đến đơn vị 375 thuộc Tỉnh đội Phú Yên.

Suốt thời gian 7 năm (1960-1967), ông xông pha trên chiến trường, tham gia 12 trận đánh ác liệt. Khởi đầu là hai trận đánh lớn tại gò Thì Thùng, một trận tại gò Sân, một trận tại Chí Thán, một trận tại Bắc Lý và hai trận tại Ngân Điền – Thạnh Hội… Trận nào quân ta cũng làm cho quân thù khiếp sợ, tháo chạy, hoang mang.

Ông còn nhớ như in, năm 1967, trong một trận chiến đấu với kẻ thù, mũi xung kích của ông thừa thắng tấn công đến Đá Bàn – Sơn Nguyên mới hay đã lọt vào ổ phục kích của Mỹ. Sau hơn một giờ chiến đấu quyết liệt, bọn Mỹ vừa chạy, vừa kêu tăng cường máy bay và đại bác yểm trợ. Mặc dù trận đánh không cân sức, nhưng mũi xung kích của ông vẫn gan dạ và quyết tâm bám trận địa diệt Mỹ đến cùng. Trận đó, Y Thái bị thương nặng và bị địch bắt. Chúng ném ông lên máy bay. Khi tỉnh lại, ông mới biết mình đã nằm trong xà lim tối om, nóng bức.

Trải qua hàng chục trận đòn tra tấn dã man, nhưng ông không hé răng tiết lộ một lời. Do bị thương quá nặng, mất rất nhiều máu và bị chúng tra tấn liên tục, nhiều lần ông tưởng mình không gượng nổi. Nhưng với ý chí sắt thép, người cộng sản đó đã vượt lên tất cả. Địch đưa ông vào bệnh viện Pleiku chăm sóc, điều trị vết thương. Mặc dù tại đây chúng bố trí canh phòng nghiêm ngặt, nhưng ông đã được bác sĩ của bệnh viện bí mật đưa ra vùng cơ sở cách mạng và tìm cách đưa về lại Phú Yên. Đến năm 1974, ông được tổ chức đưa ra Bắc điều trị.

CHỖ DỰA CỦA NGƯỜI THƯƠNG BINH 1/4

Bà Nguyễn Thị Trang, 53 tuổi, quê ở Hải Dương, vợ của ông Y Thái tâm sự: “Năm 1974, tôi vừa tốt nghiệp phổ thông cơ sở (lớp 7 hệ 10 năm) xin vào Nam tham gia chiến đấu nhưng không được chấp nhận, bởi tuổi còn nhỏ. Thầy u tôi bảo tuổi con còn nhỏ, không tham gia chiến đấu được thì ở nhà chăm sóc thương binh Y Thái, bởi anh ấy cần người giúp đỡ. Con chăm sóc thương binh nơi hậu phương thì ngoài tiền tuyến bộ đội mới an tâm chiến đấu. Anh Y Thái không chỉ bị gãy tay, liệt chân mà còn bị thương ở đầu rất nặng. Khi trái nắng trở trời, vết thương tái phát, ảnh hưởng thần kinh, anh ấy ôm đầu luôn miệng la hét, trông rất thương tâm. Anh ấy là bộ đội, chiến đấu chẳng tiếc máu xương giành độc lập tự do rồi bị thương tật như thế nên tôi tự nguyện chăm sóc anh ấy suốt đời”.
Suốt 33 năm qua bà Nguyễn Thị Trang đã đem lại cho ông Y Thái một gia đình hạnh phúc, đầm ấm. Ngoài việc chăm sóc đỡ đần cho chồng, bà Trang còn tần tảo lao động nuôi 10 con bò, sản xuất 2ha mía, 1ha sắn, 1ha vừa mè vừa lúa, nuôi dạy các con nên người. Các con của ông bà cũng thấu hiểu sự tảo tần vất vả của mẹ và sự mất mát của cha, đều ngoan ngoãn chăm chỉ học hành, đỡ đần giúp mẹ, anh em hòa thuận, bảo ban thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Gia đình là chỗ dựa của người thương binh hạng 1/4 Y Thái.


TRẦN CAO TRÍ

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #41 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:09:14 pm »

Sau tết Mậu Thân (1968), địch chủ trương đưa một số đông anh chị em tù chính trị đi đảo Phú Quốc, Côn Đảo và quân lao Nha Trang. Một số khác đang ở độ tuổi thanh niên, trung niên, chúng cho xe nhà binh đến nhà lao bắt lính chở đi các tiểu khu.

 

Mặt khác, chúng tăng cường càn quét, đàn áp, bắt bớ dân chúng ở các vùng tranh chấp, vùng giải phóng, các gia đình có thân nhân tham gia cách mạng đưa vào trại giam Ty cảnh sát, nhiều nhất là ở xã Hoà Kiến, Bình Kiến. Chúng nêu khẩu hiệu: Nhớ Tết Mậu Thân để phòng Kỷ Dậu!

 


Mô hình tù chính trị trong nhà giam của chế độ cũ – Ảnh: VNN

Trong trại có anh Nguyễn Kiên quê ở  Tuy An cắt giấy màu, làm hoa giấy rất đẹp và đã hướng dẫn anh em làm… Mấy tên cảnh sát trong Ban giám thị trại giam thấy vậy cũng đem giấy màu đến nhờ anh em cắt làm hoa giấy giúp. Nhân tiện, anh em cắt và làm cho chúng mấy bình hoa, còn phần giấy thừa tận dụng làm một bình hoa giấy cho nhà giam để anh em trong tù đón Tết. Phần dưới của bình hoa được làm bằng giấy màu xanh, phần trên được làm bằng giấy đỏ, ở giữa là năm chiếc hoa màu vàng tượng trưng cho cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam…

Gần Tết, tên Bùi Văn E, Giám đốc Trung tâm Thẩm vấn, vào trại giam. Nhìn thấy những bình hoa giấy mà anh em làm giúp cho bọn giám thị và bình hoa của trại giam chuẩn bị đón Tết, hắn nói: Những bình hoa kia (của trại giam) cũng đẹp đấy chứ, sao không có thêm hoa trắng? Anh em trả lời: Tận dụng giấy thừa nên không có giấy trắng ông ạ ! Nghe xong câu trả lời của anh em, hắn không nói gì cả…
 
Vậy là từ việc làm một bình hoa, chúng tôi đã nhất trí phải chuẩn bị ăn Tết sao có ý nghĩa để nâng cao niềm tin vào cách mạng, an ủi, động viên, tương thân tương ái trong lao tù.

Việc theo dõi thực hiện chế độ ăn uống trong nhà tù do tù thường phạm hoặc một vài tù chính trị đảm trách. Do chưa có nhận thức đúng nên trong quá trình đi chợ mua thực phẩm hay đi nhận gạo, họ bị cảnh sát ở trại giam áp đặt, lợi dụng cắt xén tiêu chuẩn của anh em tù. Vì vậy,  khẩu phần của anh em thường bị thiếu, cơm ăn không no, thực phẩm không ra gì. Trước thực tế như vậy, anh em đấu tranh, kiến nghị với Ban giám thị đòi công khai về chế độ, tiêu chuẩn của tù chính trị  và đạt được kết quả. Anh chị em cử  người đi chợ mua thực phẩm, mua củi, nhận gạo… rồi thanh toán từng ngày. Tất nhiên mỗi khi họ đi chợ, chở củi, nhận gạo (theo từng lệnh) đều có cảnh sát đi kèm. Từ đó, khẩu phần ăn của anh em được nâng lên, nhiều khi cơm ăn vẫn còn thừa. Chị em nhà bếp lấy cơm đó đem phơi khô, cứ cuối tuần thì các giám thị đem bao bố chở về nhà làm thức ăn cho heo, gà... Anh em thấy vậy mới đặt vấn đề: Đây là phần ăn trong chế độ của anh em mình, phải tìm cách sử dụng cho hết. Tôi và anh Võ Đình Diệm, người Hòa Đồng (huyện Tuy Hòa cũ), bàn nhau và trao đổi với chị em nhà bếp đi chợ mua một con heo với số tiền là 1.900 đồng về nuôi. Heo được cột qua phần bụng hai chân trước vào cây trứng cá gần nơi rửa chén, cho ăn cơm thừa và giao người canh giữ, nới dây cột theo sự lớn lên của nó. Đến cuối năm, heo nặng cỡ 160 kg. Ngày 22 tháng Chạp, giám thị trại giam gọi vào bảo anh em mổ thịt con heo. Tôi đại diện nói rằng: Mới bữa hôm nay mà cho mổ heo thì quá sớm, thế là chúng chẳng nói gì. Đến ngày 26 tháng Chạp, chúng nhắc lại một lần nữa. Anh em nhận định: Nếu như chúng ta cho mổ heo sớm, bọn chúng cứ  vào xách đi từng miếng thì còn gì cho anh em trong tù… Cứ đợi đến ngày Tết, bọn chúng một số nghỉ phép, một số thì về nhà, số trực còn lại ít. Như vậy,  anh em mình mới được nhiều thịt… Lần này, tôi cũng được cử làm đại diện trả lời: Thưa các ông, trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc, các ông được về nhà thắp nhang cho ông bà tổ tiên, sum họp với vợ con, được đón giao thừa. Còn chúng tôi ở đây, trong hoàn cảnh chiến tranh bị tù đày, không thắp được nén hương cho ông bà tổ tiên, chúng tôi đau lòng lắm. Nếu như hôm nay mà cho mổ heo thì đến ngày mùng một Tết không có gì, trong trại giam anh em chúng tôi buồn lắm… Mong các ông suy nghĩ lại để đến Tết thì chúng tôi sẽ mổ heo… Bọn chúng trầm ngâm, không nói gì rồi cho qua luôn.

Thế là con heo ấy được mổ đúng ngày 29 tháng Chạp (tháng Chạp năm ấy chỉ có 29 ngày). Con heo gần một tuổi, mổ xong cân được 140kg, anh chị em nhà bếp làm nhiều món. Đến sáng mùng một Tết thì bày 20 mâm có cả cháo, bánh tráng, thịt phay, thịt nướng… Để cho buổi nói chuyện của anh chị em trong ngày Tết Nguyên Đán được chủ động, đủ thời gian, chúng tôi chuẩn bị một số món thịt và bia, phân công một anh làm bếp đem đến bàn trực cửa trại giam phía trước cho tên Năm Do, cảnh sát trực hôm ấy, ăn uống và phục bia giữ chân  hắn.


Thế là yên tâm. Ở nhà ăn phía sau, tất cả anh em tù chính trị được ngồi vào mâm… Đặc biệt, có cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam dưới hình thức là một bình hoa được đặt trang trọng trên bàn thờ. Tôi tuyên bố lý do:


- Thưa các anh chị em, hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc. Nếu không có chiến tranh thì chúng ta đã sum họp đón Tết ở gia đình, thắp nén hương cho ông bà tổ tiên. Nhưng do hoàn cảnh, chúng ta bị tù đày thế này… Bây giờ, tất cả chúng ta hãy nhìn vào bình hoa để trên bàn đây để hồi tưởng lại, xem như chúng ta đang có mặt ở gia đình và hướng về dân tộc…

Tôi nói đến đây, một số anh chị em ràn rụa nước mắt. Rồi chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện, theo từng đối tượng mà trao đổi… Cuối bữa ăn, các chị nhà bếp và anh em đem lên mỗi mâm một đĩa bánh ngọt gồm bánh in, cốm, bánh men… Mỗi đĩa đều có 5 bánh thuẫn vàng (số bánh này là của người nhà thăm nuôi tập trung lại) tượng trưng cho ngôi sao vàng năm cánh.


Thoáng nhìn qua chiếc bình hoa và đĩa bánh, một số anh em tù chính trị có ý thức nhận biết thâm ý sâu xa, đưa tư tưởng, lòng người hướng về kháng chiến, về cách mạng. Có ông cụ già tuổi ngoài 70 nói với chúng tôi:

- Các chú khéo quá, hay quá.

Tôi giả vờ hỏi:

- Hay thế nào hả bác?


- Tôi hiểu, tôi biết, tôi chịu các chú đấy! Các chú ở đâu cũng làm được việc cho dân - Cụ trả lời.


(Theo “Những năm tháng trong tù”)

 

XUÂN LỘC

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #42 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:15:08 pm »

Trong kháng chiến chống Mỹ, địa đạo gò Thì Thùng (xã An Xuân, huyện Tuy An) là minh chứng sống động của tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta, cũng là nỗi kinh hoàng của kẻ địch. Ngày nay, vùng đất anh hùng này đang quyết tâm xây dựng cuộc sống mới.

 


Học sinh ở vùng 6 xã An Xuân (Tuy An) vui với nguồn nước sạch được đưa về tận sân trường - Ảnh: DƯƠNG THANH XUÂN

 

CHIẾN TRƯỜNG - CÔNG TRƯỜNG AN XUÂN NGÀY ẤY

 

Tháng 9/1961, xã An Xuân (huyện Tuy An) được giải phóng. Ngay sau khi xóa bỏ chế độ ngụy quyền tại địa phương, chi bộ xã An Xuân được xây dựng lại, Ủy ban Mặt trận giải phóng đã được thành lập, lực lượng vũ trang địa phương và các đoàn thể từ xã đến thôn cũng được hình thành. An Xuân từng bước ổn định về mọi mặt và trở thành vùng căn cứ vững chắc liên hoàn với khu căn cứ kháng chiến của tỉnh nằm trên ba xã Sơn Long - Sơn Định - Sơn Xuân của huyện Sơn Hoà. Những năm đầu sau khi thành lập vùng căn cứ, quân dân xã An Xuân luôn phải liên tục đối phó với những cuộc đổ quân càn quét của địch với sự hỗ trợ của những phương tiện chiến tranh hiện đại nhằm đánh phá, lấn chiếm vùng giải phóng của ta.

 

32 năm sau ngày đất nước thống nhất, trong những buổi sinh hoạt truyền thống, những du kích, bà mẹ đào hầm địa đạo năm xưa nay đã ở tuổi 60, 70 lại ngân nga những điệu bài chòi ca ngợi tinh thần quả cảm và niềm tự hào về truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường của quân dân ta bằng cách mượn lời một lính Mỹ thất thủ tại gò Thì Thùng: “ Em ơi, Cộng sản nó là là thánh là thần. Nó thiện xạ đánh xa nó giỏi đánh gần, nó bí mật tấn công bất thình lình như thần thông vũ bão. Từ các cửa hầm địa đạo, nó táo bạo xông lên súng nổ vang rền, nó đánh giáp mặt, nó đánh xáp la cà làm quân ta hoàn toàn thất thủ...”
Trước tình hình đó, để chuẩn bị cho những trận đánh lớn, bảo vệ vùng giải phóng và sẵn sàng đối phó với âm mưu, hành động mở rộng chiến tranh của địch, ngày 22/4/1966, Tỉnh ủy Phú Yên và Huyện ủy Tuy An thống nhất xây dựng hệ thống công sự địa đạo tại gò Thì Thùng thuộc xã An Xuân. Sau thời gian chuẩn bị, ngày 10/5/1964, công trình địa đạo gò Thì Thùng được khởi công xây dựng, do đồng chí Đỗ Tấn Cảnh, Trưởng ban xây dựng căn cứ địa của tỉnh trực tiếp chỉ huy công trình. Bà Nguyễn Thị Miễn, một trong những cán bộ được phân công về căn cứ Thì Thùng cùng đồng bào địa đạo ngày ấy, nhớ lại: “Ngày ấy, ban ngày bà con An Xuân vừa tránh máy bay địch, vừa tổ chức bảo vệ bí mật cho cán bộ ta và công trình địa đạo. Ban đêm, người tay cấy tay cày, người giã gạo, cả xã An Xuân là một công trường sản xuất. Những ruột nghé gạo, hột mít xắt lát khô, hũ mắm mít nuôi bộ đội đều do bà con làm ra...”.

 

32 năm sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, bà Đào Thị Chì, năm nay tròn 90 tuổi, tai đã nặng nhưng vẫn nhớ như in cuộc sống của những năm 1960 trên đất An Xuân, đó là những năm tháng bà cùng chị em của tổ công tác thâu đêm mang đất đào hầm đi đổ trong rừng, trong vườn chuối; những đêm trắng giã gạo nuôi bộ đội, những đêm đi cấy lúa, trồng khoai, cùng bầy con đi trốn máy bay của địch.

 

Sau 15 tháng liền vừa xây dựng công trình địa đạo, vừa phải đối mặt với những cuộc càn quét của địch, bằng công sức và máu của cán bộ, chiến sĩ,  nhân dân An Xuân và một bộ phận nhân dân ở các xã An Nghiệp, An Lĩnh, An Định, đến tháng 8/1965 công trình địa đào gò Thì Thùng đã được hoàn tất và trở thành trận địa vững chắc. Nhờ công trình quân sự này mà quân dân ta đã đánh bại nhiều cuộc đổ bộ, hành quân của địch với ý đồ tiêu diệt vùng căn cứ cách mạng trong gần 10 năm.

 
NGÀY MỚI TRÊN QUÊ HƯƠNG ANH HÙNG

 

Ngày nay, Đảng bộ và nhân dân An Xuân đang ra sức xây dựng cuộc sống mới. Do điều kiện, địa hình tự nhiên trắc trở, An Xuân vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, Đảng bộ và nhân dân An Xuân đã và đang quyết tâm từng bước khắc phục khó khăn, xây dựng quê hương xứng đáng với truyền thống anh hùng. Ông Nguyễn Đình Thành, Bí thư Đảng uỷ xã An Xuân, cho biết: Để phát triển kinh tế địa phương, hiện nay chủ trương của Đảng bộ An Xuân là tận dụng diện tích tự nhiên lớn để đẩy mạnh trồng rừng và phát triển chăn nuôi đại gia súc, nhất là bò và xem đây là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Hiện An Xuân có đàn bò 4.000-5.000 con.

 


Gò Thì Thùng năm xưa nay trở thành nơi tổ chức một hoạt động văn hóa – thể thao nổi tiếng của Phú Yên: Hội đua ngựa mùa xuân. Nơi đây đang được đề nghị Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia - Ảnh: D.T.XUÂN

 

Chiều xuống, những tốp người từ nương rẫy trở về với trên 550 nóc nhà nằm rải rác trên 7 vùng là những ngọn đồi của khu căn cứ năm xưa. Những đàn bò no cỏ cũng lững thững về chuồng. Những chuyến xe chở đầy sắn mì, đậu đỏ, bắp và những thân cây bạc hà vừa bóc vỏ chạy về xuôi.

 

Tôi rời An Xuân mang theo câu hát bài chòi của ông Phạm Xuân Hồng, một chiến sĩ du kích ở vùng 2, xã An Xuân năm xưa:

 

“Ơi quê mẹ An Xuân nay khác xưa nhiều lắm

Ta đi lên từ cuộc sống nghèo nàn

32 năm là 32 độ xuân sang

Bao kỷ niệm chứa chan lòng nhiệt huyết

Đến hôm nay một tình yêu tha thiết

Lại về đây sưởi ấm trái tim hồng”

 

MỘT NGÀY TIÊU DIỆT HƠN 1.000 ĐỊCH

 

Tư liệu lịch sử về gò Thì Thùng có ghi rõ: “7 giờ ngày 24/6/1966, một tiểu đoàn Mỹ từ gò Sống Trâu chia làm nhiều cánh tiến lên gò Thì Thùng. Tiểu đoàn 11 Trung đoàn Ngô Quyền và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn Trần Hưng Đạo bố trí trận địa tại gò Thì Thùng chặn đánh quyết liệt các cánh quân Mỹ, diệt hàng trăm tên. Trận đánh diễn ra rất ác liệt, kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ, hỏa lực và phi pháo của địch bắn phá dữ dội, bộ đội ta vẫn bám chắc công sự địa đạo để chiến đấu. Cứ mỗi đợt địch tập trung hoả lực đánh vào, ta rút xuống địa đạo chờ địch đến gần rồi bất ngờ xông lên đồng loạt nổ súng. Hàng trăm tên địch đã bỏ mạng trên gò Thì Thùng sau những trận đánh xáp lá cà. Có những lúc trọng liên 12,7 ly của ta hạ ngang nòng súng bắn thẳng để quét lính Mỹ đổ bộ dày đặc. Đến 14 giờ ngày 24/6, địch đổ bộ thêm 34 lượt máy bay trực thăng HU1A xuống gò Dũng, cách gò Thì Thùng 500 mét về phía đông bắc, hình thành một mũi tấn công mới vào trận địa ta. Một đại đội của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn Trần Hưng Đạo bố trí ở gò Dũng liền đánh phủ đầu khi máy bay trực thăng vừa hạ cánh đổ quân, diệt hàng chục tên Mỹ. Như vậy sau một ngày dựa vào công sự địa đạo chiến dấu dũng cảm, kiên cường ta đã đánh thiệt hại nặng sư đoàn không vận số 1 của Mỹ, diệt hơn 1.000 tên, bắn rơi và bắn hỏng 9 máy bay.

 

Đây là trận diệt Mỹ lớn nhất Phú Yên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đây cũng là chiến công lớn nhất của quân đội và nhân dân ta gắn với gò Thì Thùng, góp phần quan trọng đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất năm 1966 của đế quốc Mỹ trên chiến trường Phú Yên”.
 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #43 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:16:28 pm »

Sinh ra và lớn lên ở quê hương Đồng Khởi Hòa Thịnh, năm 1960, mới 14 tuổi, Lê Thị Tạo đã tham gia cách mạng. Gia đình chị là cơ sở bí mật, chị được bố mẹ giao cho nhiệm vụ cảnh giới và nắm thông tin liên lạc với các cơ sở bí mật khác. Chị đã tham gia nhiều cuộc biểu tình chống lại những chính sách đàn áp, áp bức nhân dân của Mỹ-ngụy. Năm 1965, chị vào Đội biệt động của xã Hòa Thịnh và cũng trong thời gian này, cái tên Lê Thị Tạo đã lọt vào sổ đen của bọn mật thám. Vì không thể ở lại địa phương hoạt động nên tháng 2/1966  chị thoát ly lên núi gia nhập vào quân đội. Lúc đầu được đơn vị phân công làm công tác Binh địch vận, đến tháng 1/1967, chị được chuyển về Trung đội Khởi nghĩa, Huyện đội Tuy Hòa. Công tác ở bộ phận nào, chị vẫn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Chị đã vận động và tổ chức quần chúng nhân dân nổi dậy đấu tranh chính trị, kết hợp với các lực lượng vũ trang của huyện tiến công ngăn chặn các cuộc càn quét của Mỹ–ngụy, đấu tranh đòi quyền độc lập tự do, đấu tranh phá ấp chiến lược… Với những thành tích đạt được, tháng 12/1967 chị Lê Thị Tạo được đơn vị tuyên dương và kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 2/1968, Huyện đội Tuy Hòa thành lập Khẩu đội cối 82 nữ và chị Lê Thị Tạo được cử sang làm Khẩu đội trưởng. Từ đây, chị bước sang một lĩnh vực mới, lĩnh vực mà lâu nay cánh đàn ông thường đảm nhận đó là: “Pháo thủ”. Có thể nói, chị Lê Thị Tạo là người phụ nữ đầu tiên chỉ huy pháo của tỉnh Phú Yên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Năm 1969, Đại đội pháo binh 7 thuộc Tiểu đoàn pháo binh 561 về Phú Yên và được tỉnh bổ sung thêm Đại đội vận tải 16 để thành lập Đại đội pháo binh 167. Đại đội 167 gồm có: 1 trung đội súng cối 120ly, 1 trung đội cối 82ly, 1 trung đội súng ĐKZ 75ly. Đến tháng 10/1969, Đại đội 167 được bổ sung thêm Khẩu đội cối 82 nữ. Chị Tạo kể: “Khẩu đội có 9 chị em, tuy đến từ những đơn vị khác nhau nhưng rất đoàn kết và thương yêu nhau như chị em ruột. Khi mới thành lập, chị em nào cũng viết Quyết tâm thư xin được trực tiếp chiến đấu. Khẩu đội cũng viết Quyết tâm thư sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào và hứa sẽ hoàn thành xuất sắc.”

Tháng 11/1969, Đại đội pháo 167 ra quân trận đầu. Với 2 khẩu ĐKZ 75ly, họ có nhiệm vụ pháo kích vào trận địa pháo 175 của Mỹ ở Xuân Phước. Cả khẩu đội nữ đều xung phong đi để phục vụ chiến đấu, học hỏi kinh nghiệm. Theo kế hoạch, sau khi pháo kích xong là rút ngay, mà trận địa chỉ duy nhất một đường rút. Đang rút thì bị địch phản công rất ác liệt. Máy bay địch bắn rốc két, B57 dội bom, pháo tự hành bắn đạn như mưa, cối 106,7 của địch ở trận địa Hòn Cò bắn xuống… Một số anh em bị thương, có đồng chí đã hy sinh. Chị em lao vào trận địa để đưa anh em thương binh và những đồng đội đã hy sinh ra khỏi tầm pháo của địch. Sau trận đánh này, Đại đội 167 nói chung và Khẩu đội cối 82 nữ nói riêng rút ra một bài học xương  máu, nhanh chóng huấn luyện bổ sung về mặt kỹ, chiến thuật và công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Chị nhớ lại: “Đêm 21/12/1969, Khẩu đội cối 82 nữ ra quân trận đầu, có nhiệm vụ pháo kích vào trận địa pháo 175 của Mỹ ở Hòn Ngang, Củng Sơn, Sơn Hòa. Sau khi bắn quả đầu tiên bị lệch mục tiêu, Khẩu đội đã nhanh chóng chỉnh độ hướng… Đến quả thứ hai đã trúng mục tiêu nên ngay sau đó, chị em bắn cấp tập hàng loạt đạn. Ra quân trận đầu mà thành công như vậy nên tất cả chị em trong Khẩu đội rất phấn khởi”. Sau trận đó Khẩu đội được tỉnh tặng bằng khen, cá nhân chị Tạo cũng được tỉnh tặng bằng khen. Cả 9 chị em trong Khẩu đội được tặng Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp I.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chị Lê Thị Tạo đã chỉ huy Khẩu đội cối 82 nữ tham gia trên 100 trận đánh lớn nhỏ. Chị đã được Đảng và Nhà nước tặng: 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng 2 và 3; 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng 1, 2 và 3; Huân chương Kháng chiến hạng 3; Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp I và các loại huy hiệu khác; Bằng khen của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và trên 20 bằng khen, giấy khen các cấp. Chị đang được tỉnh đề nghị lên Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tháng 4/1972, bắt đầu chiến dịch Hè, Đại đội 167 triển khai 6 khẩu đội chia làm 2 hướng Xuân Phước và La Hai. Khẩu đội cối 82 nữ được giao nhiệm vụ pháo kích vào quận lỵ La Hai, Đồng Xuân. Trận đánh đó, Khẩu đội của chị Tạo đã chiếm lĩnh Trảng Bàng, chân Hòn Bứa, suốt một ngày đêm bám trụ chiến đấu với bọn lính Nam Triều Tiên. Địch dùng máy bay L19 trinh sát trận địa ta và bắn dẫn đường cho bộ binh địch nống ra. Vì địch chỉ cách ta khoảng 300-400m nên Khẩu đội đã luồn lách, bằng mọi cách bám sát địch và dùng cối bắn ứng dụng. Trong trận này, Khẩu đội của chị phải thay đổi trận địa đến 12 lần. Địch bắn đạn như mưa, một số chị em bị thương, chị Liễu hy sinh. Chị Tạo đã vác khẩu cối 82 đến một trận địa khác  để triển khai và tiếp tục chỉ huy khẩu đội chiến đấu. Mấy ngày sau, Khẩu đội cối 82 nữ được lệnh vượt sông ở Xuân Sơn, Đồng Xuân, chốt trên mỏm núi, cơ động di chuyển trên trận địa khoảng 10 lần trong 2 ngày đêm và liên tiếp pháo kích vào quận lỵ La Hai nhằm chi viện cho bộ binh ta tiến công địch. Địch phản kích bằng máy bay ném bom và kêu pháo từ các nơi bắn về rất ác liệt. Có lần bom thả cách Khẩu đội không xa, sức ép của bom hất cả Khẩu đội xuống vực. Trong trận này, một số chị em bị thương, trong đó có chị Lê Thị Tạo. Nhưng các chị tiếp tục bám trận địa để kịp thời chi viện cho bộ binh ta chiến đấu.
Trận đánh mà chị Tạo nhớ nhất là trận đánh địch ở cầu Ngân Sơn. Đêm 23/7/1972, phối hợp với Đại đội đặc công 201, Tiểu đoàn 13 và Tiểu đoàn 96 tập kích vào Ban chỉ huy tiểu đoàn lính bảo an của địch đóng ở phía bắc cầu Ngân Sơn, Tuy An. Khẩu đội cối 82 nữ đóng ở đồi Đá, có nhiệm vụ bắn phá mục tiêu của địch. Đến sáng hôm sau, lực lượng của ta đã chốt lại và đánh chặn lực lượng địch phản kích. Hai bên đánh nhau rất ác liệt. Chị em đào hầm rất kiên cố, địch phản pháo đến nhưng không hề hấn gì. Tiếp đó, Khẩu đội được lệnh chuyển đến đóng tại Hòn Bà và tập kích hỏa lực vào cứ điểm Núi Một, An Chấn. Trong đợt đánh này, Khẩu đội có hai đồng chí hy sinh và một đồng chí bị thương nặng nhưng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Khẩu đội được tặng Huân chương Chiến công hạng 3, cá nhân chị Tạo và hai đồng đội khác được tặng bằng khen.
Đến cuối năm 1972, chị Tạo được điều về làm Trợ lý Tiểu ban pháo Tỉnh đội Phú Yên, nhưng vẫn thường xuyên xuống bám trận địa và chỉ đạo Trung đội cối 82 nữ trong các trận đánh sau này cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Hòa bình, vợ chồng chị mới gặp lại nhau. Chưa hết mừng vui thì tai họa lại ập xuống. Cũng trong năm 1975, chồng chị là anh Phạm Ngọc Anh, Chính trị viên phó Đại đội 4, thuộc Tiểu đoàn 96 Tỉnh đội Phú Yên, trên đường đi công tác thì gặp tai nạn và từ trần. Khi đó chị mang thai được 3 tháng. Từ đây, cuộc sống của người nữ thương binh hạng ¾ gặp nhiều khó khăn, lận đận…


NGỌC CHUNG

Đội nữ pháo binh  Ảnh: TƯ LIỆU
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #44 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:22:03 pm »

Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, song nhiều người dân  Phú Lương (Hòa Tân Đông, Đông Hòa) vẫn không thể nào quên trận phục lót đánh địch của tiểu đoàn đặc công và đại đội 377 bộ đội địa phương (huyện Tuy Hoà) diễn ra vào ngày 4- 9 -1972.

 

Hồi ấy, sau chiến dịch hè 1972 của ta, địch bị dồn vào thế bị động, lúng túng. Trên chiến trường Phú Yên, quân viễn chinh Mỹ đã rút hết, chỉ còn lại hai trung đoàn Nam Triều Tiên đang hoạt động ráo riết để mở rộng địa bàn trước khi bàn giao cho quân nguỵ. Đến tháng 7, việc bàn giao cơ bản đã xong, quân Nam Triều Tiên chỉ chờ ngày về nước. Thực hiện âm mưu khống chế kẹp dân, lấn chiếm vùng giải phóng và phong tỏa giao thông quốc lộ 1A, ngăn chặn không cho lực lượng  của ta tiếp cận xã Hoà Vinh, địch sử dụng đại đội bảo an 219 (quân số hơn 70 tên) cứ khoảng 3 đến 4 giờ sáng hành quân từ Phú Lâm hoặc thôn Nhất (xã Hoà Vinh) bí mật kéo đến lầu Ông Lợi (tổ 19) nằm im. Mờ sáng chúng toả ra các xóm lân cận để kiểm tra dấu vết “Việt cộng” về làng, khống chế,  bức hiếp người dân. Đến 16  hoặc có lúc 18 giờ, chúng lại rút về Phú Lâm hoặc các vùng do chúng kiểm soát.

 



Lầu Ông Lợi hiện nay, nơi diễn ra trận đánh vào tháng 9-1972 – Ảnh: X.H
 

Chấp hành mệnh lệnh của Tỉnh đội, sau khi nắm được quy luật hoạt động của địch,  tiểu đoàn 14  đặc công chuẩn bị vị trí lót quân và  lập phương án tác chiến.

Đêm 1-9, tiểu đoàn cơ động về đứng chân ở Xuân Thạnh, Hội Cư (nay thuộc Hoà Tân Tây-Tây Hoà). Tiểu đoàn có 3 đại đội (1, 3 và 7). Mỗi đại đội có từ 35 đến 40 tay súng và được trang bị một đại liên, một cối 82 và 3 đến 4 khẩu B40, B41. Ngay trong đêm 2-9, tiểu đoàn đi nghiên cứu và chuẩn bị chiến trường.

Địa hình thôn Phú Lương bằng phẳng, dân cư quần tụ thành từng xóm nhỏ, chủ yếu ở phía nam mương dẫn thuỷ, xung quanh có luỹ tre bao bọc, xen kẽ với ruộng lúa, có chướng ngại vật, dễ cơ động trú quân, phục lót, tầm quan sát khống chế xa và rộng. Đây là vùng tranh chấp giữa ta và địch. Một phương án “đánh nhanh diệt gọn” đã được xác định. Cùng phối hợp với tiểu đoàn có đại đội 377, bộ đội địa phương huyện. Đại đội có 35 tay súng, trong đó có 3 trung liên. Đội hình được bố trí: đại đội 1 lót trong ruộng lúa phía đông-bắc mương có nhiệm vụ đánh đối diện và khoá đuôi, đại đội 3 lót ở khu vực phía tây – nam mương sát với đại đội 7 đảm nhận hướng chính diện còn đại đội 377 lót ở ruộng lúa phía đông-nam, có nhiệm vụ đón lỏng địch (nếu có) để chặn đánh một cách chủ động. Chỉ huy tiểu đoàn đóng ở nhà cơ sở sát với lực lượng khoá đuôi giữa đại đội 1 và đại đội 377, ngăn chặn địch có thể hành quân từ Đông Mỹ (Hoà Vinh) lên.

Ngày 3-9, khi màn đêm vừa buông xuống, ta đưa lực lượng đến khu vực tác chiến và đến 1 giờ sáng 4-9, toàn bộ đã bí mật ém vào các vị trí đã định.

 

Đồng Phú Lương – nơi bộ đội đặc công ém quân – Ảnh: X.H
Thời gian trôi qua chậm chạp, mặc cho gió rét và muỗi cắn, bộ đội vẫn nằm im chờ đợi. Khoảng 4 giờ 30 phút, từ phía quốc lộ 1A theo con mương nước những bóng đen (lính đại đội bảo an 219 của địch)  lần lượt kéo lên. Chúng chia làm hai cánh, một cánh tiến dọc theo con mương nhỏ phía đông, một cánh từ cánh đồng phía đông-bắc mương cùng tập kết về lầu Ông Lợi (phía bắc mương). Sau đó, một trung đội triển khai đội hình sang phía nam mương  ở ngôi nhà năm gian của bà Sáu Lục đối diện. Toàn bộ đội hình của địch đều nằm trong tầm hoả lực của ta. Từ những địa điểm mai phục, ta có thể nhìn thấy và kiểm tra được quân số địch.

Thời điểm quyết định đã đến, đại đội 3, đại đội 7 đồng loạt dùng B40, B41 tấn công. Bị hoả lực tập trung đánh bất ngờ, địch tháo chạy tán loạn, lớp chạy về hướng đông, lớp chạy ra đồng, men theo con mương nước, nhiều tên không kịp mang giày. Một số tên chưa kịp chạy và định thần  đã bị đại đội 1 nổ súng bao vây, chia cắt tiêu diệt gọn. Đại đội 377 đảm nhận nhiệm vụ đón lỏng địch chạy về  hướng đông - nam, nhưng khi không có địch xuất hiện ở hướng này, chỉ huy đã chủ động cho một bộ phận vượt qua phía bắc mương phối hợp cùng đại đội 1 truy kích tiêu diệt địch. Ta dùng cối 82 đánh chặn địch tháo chạy và chặn cánh quân từ Phú Lâm vào, bắn cháy một xe Jeep làm 3 tên, trong đó có một tên đại úy thiệt mạng.

Do trở tay không kịp và hoàn toàn bị tê liệt nên địch không kịp chống trả. Vì vậy, trận đánh này gần như chỉ có tiếng súng của ta. Sau hơn 10 phút tấn công chớp nhoáng, ta diệt 41 tên, làm bị thương 8 tên, bắt sống 7 tên,  phá huỷ 1 xe Jeep, thu 11 súng, 2 máy PRC25. Đại đội bảo an 219 của địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Phía ta chỉ bị thương một chiến sĩ.

 

LƯƠNG PHÚ
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #45 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:26:03 pm »

Cuộc đời chiến sĩ thanh niên xung phong(TNXP) trải qua nhiều khó khăn gian khổ, từng đói cơm lạt muối, trèo đèo lội suối thế nhưng anh em không nản lòng. Nhiều lúc đi trong mưa bom bão đạn vẫn vững lòng, đưa hàng về an toàn để giúp cho bộ đội ta đánh thắng hết trận này đến trận khác.

Gia nhập đơn vị TNXP từ  năm 1969, sau đó đơn vị cử tôi, đồng chí Phan Ngọc Dũng cùng với một số người đi xuống cửa khẩu An Định( huyện Tuy An) mua thực phẩm. Trên đường về đến đoạn đường qua trảng sim Gò Rộng bị máy bay địch phát hiện, chúng tôi buộc phải chạy sâu vào rừng. Lúc này mọi người đều mang vác rất nặng, nên không thể chạy kịp, đành bỏ hàng lại để thoát thân. Địch phát hiện thấy người nên thả bom dữ dộị Cả cánh rừng, quần áo, hàng hoá, tư trang của cả đoàn đều bị cháy trụi, mỗi người chỉ còn duy nhất một bộ quần áo đang mặc. Sau đó, đoàn cũng về đến đơn vị an toàn. Đến tháng 3-1970, tôi và một số đồng chí khác bám cửa khẩu mua thực phẩm cho đơn vị, khi về thì bị phục kích ở Quốc lộ1. Chúng bắn liên tục làm đội hình tán loạn, pháo sáng thấy rõ người nhưng chúng tôi vẫn giữ gùi hàng trên vai không thể để mất được và thoát chết trở về cứ.

Nhớ nhất là có một lần, chỉ một mình tôi xuống cửa khẩu nhận hàng, khi đi đến giữa đường thì gặp bọn địch đổ bộ tại Hòn Lúp rồi bao vâỵ Tôi bị kẹt giữa rừng sim nên không dám đi xa vì máy bay oanh tạc suốt ngày đêm. Một mình, vừa sợ, vừa đói, 3 ngày đêm liền tôi sống trong cảnh không thức ăn, nước uống. Đến khi địch rút đi khỏi thì tôi cũng không còn đủ sức để đi nữa, phải bò ra ngoài đường chờ người ngang qua nhờ giúp đỡ và may mắn thay có anh Trần Văn Bảy tìm thấy nấu cho một chút cháo để ăn. Đợt sau, tôi được phân công xuống Tuy Hoà 2 nhận lương thực, khi đi đến dốc Gò Rộng, xã Hoà Trị thì gặp biệt kích. Bọn chúng cho máy bay oanh tạc bốn phía, phải chạy vào rừng núp dưới giao thông hào gần đường. Lúc này, tôi và đồng chí Long bàn cho anh em tản vào rừng, nếu ở đây sẽ bị máy bay thả bom chết. Vừa vào được khu rừng nhỏ thì bị biệt kích thả bom xăng, anh em chạy đến đâu lửa bom “chạy” theo đến đó. Mọi người ra khỏi thì đã cháy hết tư trang, chỉ còn một số hàng hoá anh em góp lại mang lên. Khi đến suối thì gặp đồng chí Hồng Quang và đồng chí đưa chúng tôi về căn cứ an toàn.

Đến tháng 6-1971, tiểu đội tôi mang đạn xuống Tuy Hoà 2. Đoàn đi có các đồng chí Lê Thị Tuyết Nga, Nguyễn Thị Hoa, Trương Thị Diệu, Nguyễn Thị Chín, Lê Nguyên Đức Thị, Trần Văn Bảy, Nguyễn Văn Lộc  và Lê Trần Thị Giọng. Chúng tôi đang trên đường xuống suối Cái thì máy bay địch đổ quân ở Gò Sân, Gò Chợ, tiểu đội bị kẹt chính giữa cùng với tổ thu mua lương thực tỉnh. Trong lúc này, pháo bắn tung vào giữa đội hình làm cho một số chị em bị thương nặng, nhưng lại không có dụng cụ để rửa, phải vót cây làm kẹp để thay băng và rửa bằng nước muốị Đến khi địch rút khỏi, chúng tôi mới chuyển về đơn vị, số còn lại tiếp tục xuống làng mang gạo, muối lên để nuôi cán bộ.

Năm 1972, địch càn Suối Ché, tôi cùng đơn vị di chuyển qua Tân Lương vào buôn Ma Lức tránh địch. Sáng hôm sau, địch đổ bộ vào buôn, tất cả các đồng chí đều tránh và dời bà con dân làng đi hết, còn lại một mình tôi vừa mang hàng, vừa dắt đồng chí Phạm Kỳ Châu (lúc đó đang bị bệnh) chạy theo anh em, đến một góc rừng mới gặp nhau, rồi nghỉ lại chờ đến tốị Sau đó mọi người đưa đồng chí Châu vượt  qua Tân Lương về lại Suối Ché.

Đến tháng 11-1972, tôi được cử đi công tác tại xã An Chấn (huyện Tuy An), cùng đi với đồng chí Ánh Hồng, Trương Văn Khanh. Xuống đến xã An Thọ phát hiện có địch, tôi liền kéo hai người chạy trở lại thì gặp các anh đi xuống, chúng tôi cản lại không cho đị Vừa dứt tiếng, chúng tôi chạy lên phía trước thì bọn địch cũng vừa giáp đường, chúng bắn làm anh Khanh bị thương.

Năm 1973, đơn vị phân công tôi cùng đồng đội xuống mua hàng về cung cấp cho toàn ngành giao thông vận tải, đi lên đến cầu Bảy Bổ thì gặp lính Đại Hàn phục kích. Trời lúc đó sáng trăng, chúng thấy người đồng thanh hô “Vi-xi” (VC – Việt cộng). Chúng tôi phải nhào xuống ruộng. Lúc này đồng chí Nguyễn Thị Phận không chạy nổi phải kéo chạy, còn đồng chí Phụng thì bám đường vượt qua, chúng tôi về đến nơi yên ổn cả người lẫn hàng. Tháng 2-1974, tôi được phân công đi nhận hàng chi viện tiền phương, làm trung đội phó trung đội 2 thuộc đoàn 20 Ban chi viện tỉnh Phú Yên, đóng quân bên địa phận tỉnh Đắc Lắc. Trung đội chúng tôi toàn là nữ làm nhiệm vụ chuyển hàng vượt qua đường 14 để giao cho đơn vị bên kia đường. Khi vượt qua bên kia đường 14 thì bị địch bắn nhưng chúng tôi thoát nạn, vẫn bảo toàn lực lượng hàng hoá đưa đến nơi tập kết đầy đủ.


Không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu của TNXP đã đổ xuống trên chiến trường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Song, ý chí và tinh thần chiến đấu anh dũng của những người TNXP đã chiến thắng được kẻ thù.               

HỒ THỊ HỒNG CỬU (Cựu TNXP thời chống Mỹ)

 

KIM CHI (ghi
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #46 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:27:49 pm »

Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, nhưng những bài học thực tế của nó vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay. Một ngày đầu năm, Đại tá Trần Văn Mười, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh - năm 1968 là trợ lý tác chiến Tỉnh đội Phú Yên - nhớ lại…

 

BÀI HỌC THỨ NHẤT: DỄ TRĂM LẦN KHÔNG DÂN CŨNG CHỊU, KHÓ VẠN LẦN DÂN LIỆU CŨNG XONG

 

Đoàn văn công Phú Yên đến phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần 1
Cuối năm 1967, sau khi phân tích tình hình ta, địch Bộ Chính trị quyết định đã đến lúc đưa cuộc chiến tranh cách mạng phát triển cao nhất bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định. Chiến trường Phú Yên bấy giờ chỉ vỏn vẹn 2 tiểu đoàn cùng với lực lượng vũ trang huyện từ 1-2 trung đội. Trong khi binh lực địch có đến 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc lữ dù 173, 1 tiểu đoàn pháo, 2 trung đoàn lính Nam Triều Tiên thuộc sư đoàn Bạch Mã và Mãnh Hổ; 1 trung đoàn quân ngụy, 25 đại đội bảo an, 8 đại đội biệt kích, 24 trung đội biệt kích, 54 tổng đoàn dân vệ, 4 đại đội công an và cảnh sát dã chiến. Cả về binh lực và hỏa lực, địch hơn ta gấp nhiều lần. Nhưng với tinh thần chiến đấu ngoan cường của chiến sĩ và dựa vào sức dân tiếp tế, che chở, trong chiến dịch đầu tiên T25 trong cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1968 quân ta đã giành thắng lợi đáng kể. Chỉ trong vòng 1 tuần lễ từ 30-1 đến 5-2, ta đã có lúc làm chủ được nhiều mặt trận, đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.114 tên địch; đã phá hủy một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của Mỹ – ngụy. Nhưng vì tương quan lực lượng, quân ta đành rút lui tiếp tục chuẩn bị cho chiến dịch đợt 2 mang bí số T26.

 

Đó là một chiến dịch khó khăn hơn bao giờ hết. Quân địch đã tăng cường phòng bị chặt chẽ, ta không thể hành quân đánh thẳng vào thị xã Tuy Hòa mà phải cử 1 tổ công tác đặc biệt trinh sát trước gồm: Tôi, tổ trưởng, trợ lý tác chiến, Thị đội trưởng Mười Hoan, Chính trị viên Nguyễn Út, Đại đội trưởng đặc công 202 Lê Trung Kiên và 2 chiến sĩ đặc công. Lợi dụng sự sơ hở của địch, tổ công tác đã đến được thôn Long Thủy (thuộc xã An Phú, TP Tuy Hòa bây giờ) thì trời sáng, chúng tôi đành phải vào nhà dân trú nhờ qua mắt kẻ địch, tiếp tục nắm tình hình địch trước khi mở màn chiến dịch đợt hai.

 

Nhà chị Nguyễn Thị Nga, bán hàng tạp hóa trong thôn là điểm trú chân. Biết quân giải phóng, chị Nga nhanh chóng đưa lên rầm nhà (ngày trước thường làm la phông nhà bằng đất trét, gọi là rầm nhà – PV) nhằm ngụy trang lính bảo an tuần tra. 8 giờ sáng bọn lính kéo đến. Cuộc đấu trí giữa cô bán hàng và bọn lính diễn ra nhưng chỉ đúng 1 câu hỏi và trả lời.

 

- Có Cộng sản trong nhà không? – bọn chúng hất hàm hỏi.

 

Chị Nga không chút ngần ngại lớn tiếng trả lời:

 

- Có! Mấy ổng ở trên rầm nhà ấy, mấy ông lên mà bắt.

 

Thấy thái độ tự tin, dứt khoát của chị Nga, bọn lính bảo an không còn nghi ngờ, sau đó tán tỉnh vài câu rồi đi luôn, trong khi chúng tôi lo đến thót tim và đã sẵn sàng phương án chiến đấu! Nhưng chúng cũng chưa tin hẳn. 3 giờ chiều chúng quay lại và hạch hỏi. Chị Nga vẫn bình tĩnh, trả lời như đùa:

 

- Hồi sáng nói có, mấy ông không bắt, bây giờ mấy ổng (tổ công tác của chúng tôi – PV) đi rồi!.

Nhờ vậy, tổ công tác đã vào được vòng trong, hoàn thành công tác chuẩn bị cho trận chiến.

 

Một bài học mà chúng tôi luôn tâm niệm: Phải biết dựa vào dân, được dân giúp sức thì việc gì cũng dễ. Đúng là “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

 

BÀI HỌC THỨ HAI: GIÁO DỤC PHẢI BẮT ĐẦU TỪ THỰC TẾ

 

Đánh! Tiếp tục đánh! Đó không còn là sự lựa chọn mà là mệnh lệnh.

 

Vì thế sau “Hội nghị Diên Hồng” dưới sự chủ trì kiên quyết của Tư lệnh mặt trận Lư Giang, mọi người vẫn quyết đánh. Dù biết rằng lực lượng ta yếu hơn nhiều so với sự phòng thủ dày đặc của địch. Hơn nữa, yếu tố bất ngờ, táo bạo cũng không còn, vậy mà đánh. Tất cả đều nhất tề, mỗi người đều xung phong nhận những phần việc cam go, nguy hiểm nhất.

 

Đêm ngày 3 rạng sáng 4-3 đợt tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mở màn. Quân ta triển khai 3 mũi tiến công. Phía xóm Chùa tiểu đoàn 12 tiến công vào Ty cảnh sát, mũi thứ hai gồm tiểu đoàn 85 và đại đội đặc công 202 tiến đánh Chi khu 47, phát triển lên Trung tâm Tỉnh đường. Trung đoàn 10 đánh thọc xuống và chặn đường tháo chạy của địch từ hướng xóm Lẫm (Hòa Trị). Trong chiến dịch lần này, ta bị tổn thất nặng nề. Nhiều đồng chí hy sinh, trong đó có đại đội trưởng Lê Trung Kiên đã ngã xuống khi băng lên dẫn đầu đại đội vượt rào.

 

Đại tá Trần Văn Mười dừng lại trong xúc động, rồi mới tiếp tục câu chuyện chiến đấu oai hùng với hình ảnh một chiến sĩ tân binh người Hải Phòng mà ông cũng không kịp biết tên.

 

12 giờ ngày 4-3 thì hầm Chỉ huy mặt trận tiền phương bị công phá dữ dội. Trước tình hình nguy cấp một chiến sĩ mới đã liều chết bám trụ lại. Cùng với thủ pháo và lựu đạn, anh đã chiến đấu tiêu diệt được xe tăng địch. Đồng chí Trần Tất Lưu, Tỉnh đội trưởng, Nguyễn Khánh chính trị viên và rất nhiều đồng chí hy sinh, trong đó có người chiến sĩ trẻ kia không hề tiếc nuối cuộc sống của riêng mình!

 

Không ai lý giải nổi vì sao lúc ấy chúng tôi đã chiến đấu ngoan cường mà không một chút phân vân, toan tính. Thời ấy những người lính chúng tôi cũng có được học hành nhiều gì đâu, sự giáo dục lý tưởng có chi bài bản như bây giờ? Nhưng khi đứng trước kẻ thù, trước quyền lợi chung của đất nước, dân tộc, không ai mảy may toan tính, nghĩ đến lợi lộc cho riêng mình. Và tất cả đều trưởng thành qua sự tôi rèn của chiến tranh khắc nghiệt ấy.

 

Còn hôm nay thì sao? Tôi nghĩ giáo dục lý tưởng, nhân cách cho thế hệ trẻ hôm nay cũng phải bắt đầu từ thực tế của truyền thống và hiện tại thôi!

 

THẾ NHƠN

(ghi chép theo lời kể của Đại tá Trần Văn Mười)

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #47 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:31:14 pm »

Nơi ấy có những rặng núi màu lam nhạt xa mờ. Mỗi tinh mơ sương chập chùng trắng xóa, mỗi hoàng hôn gọi về tổ những đàn chim. Dân xóm tôi kể rằng: Mấy chục năm trước, người ta đã đào một địa đạo dài gần 2 cây số và đã diễn ra trận chiến khiến kẻ thù rúng động: Trận chiến Gò Thì Thùng. Suốt những năm tháng tuổi thơ, tôi dõi mắt về phía trùng điệp núi non, cố hình dung sự kỳ vĩ của con đường ngầm, của một vùng đất thép…

 

Trong những ngày cả nước ngược dòng thời gian về với trận mở màn chiến dịch Tây Nguyên, trên Gò Thì Thùng, những cây bạch đàn reo vui trong gió và dàn bò thong dong gặm cỏ. Cuộc sống bình yên - sự bình yên như đã hiêïn hữu từ bao đời, như trên những ngọn đồi, bãi cỏ này, bom đạn kẻ thù chưa bao giờ dội xuống. Ba mươi sáu năm đi qua, con đường ngầm vẫn còn đó minh chứng cho tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của người An Xuân cùng nhân dân các xã phía Tây Tuy An.

 

Địa đạo Gò Thì Thùng, xã An Xuân, huyện Tuy An - Ảnh: Dương Thanh Xuân

 

Ngày 10/5/1964, đồng chí Trần Suyền, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên bổ nhát cuốc đầu tiên khởi công đào địa đạo. Dưới sự chỉ huy, hướng dẫn của cán bộ Tỉnh đội, Huyện đội và Ban chỉ huy đại đội 220, nhân dân các xã An Xuân, An Nghiệp, An Định, An Lĩnh với cuốc xẻng, rổ đất, đèn lồng… nô nức đi khai thông lòng đất. Dân đào buổi chiều, du kích cảnh giới, lực lượng du kích đào vào ban đêm; mỗi ngày huy động 500 nhân công. Biết bao công sức đổ ra trên từng tấc đất để đến tháng 8/1965, công trình hoàn thành. Địa đạo sâu 4,5m, rộng  0,8m, dài 1.948m xuyên qua Gò Thì Thùng. Toàn bộ địa đạo có 486 giếng, trên miệng giếng cách mặt đất 3m lấy gỗ đặt rầm, cách nhau 20m chừa một cửa hông có ngụy trang. Chung quanh địa đạo là hệ thống giao thông hào chằng chịt sâu 1,5m rộng 1m, bên trên đặt đài quan sát.


Huy động trên 100 nghìn công đào đường ngầm chống giặc, địa đạo Gò Thì Thùng là thắng lợi to lớn trong cuộc chiến không tiếng súng của nhân dân các xã phía Tây huyện Tuy An. Sau khi công trình hoàn thành, Khu ủy khu 5 đã tặng cờ luân lưu về thành tích đào địa đạo.

Bao năm nghe kể về con đường ngầm kỳ tích, hôm nay tôi mới được chạm tay vào cửa địa đạo. Thành giếng rêu phủ xanh mờ. Tôi hình dung dưới ánh chiều vàng rực, những đoàn người từ các nơi hăm hở đến đây. Tiếng cuốc xẻng rộn ràng trong lòng đất, gọi mời đất tham gia chiến đấu chống kẻ thù. Tôi thấy mồ hôi đầm đìa trên lưng áo bạc và những nụ cười thắm đỏ như màu đất An Xuân. Khao khát, chờ mong chiến thắng. Ba mươi sáu năm. Hàng ngàn con người đã lập nên chiến công thầm lặng ấy, ai mất ai còn?

Chủ tịch xã Đặng Ngọc Ninh bảo: “Dân An Xuân hồi ấy không ai mà không tham gia đào địa đạo, từ những cô cậu thanh niên mười sáu mười bảy cho tới những người xấp xỉ năm mươi”.


Tôi gặp ông Phạm Xuân Hồng, du kích xã năm xưa nay tóc đã hoa râm. Những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời, ông dành cho cách mạng. Cũng như bao người dân An Xuân, mồ hôi của ông hòa trộn trên từng tấc đất đường ngầm. Ông Hồng nhớ lại: “ Bắt đầu đào địa đạo từ phía Tây vùng 2 An Xuân. Trước hết đào thành giếng sâu chừng 4-5m, giếng này cách giếng kia 10m. Cứ ba người một nhóm, thay nhau làm việc. Đào xong thì dùng cần giọt kéo đất lên. Gặp đá to phải lấy xà beng nạy, đập bể rồi chuyền lên từng miếng một. Hai bàn tay chai ngắùt. Mệt mà vui lắm. Nhóm này thi đua với nhóm kia. Nhiều lúc đang đào, máy bay địch phát hiện. Nó bắn, nó thả bom. Mọi người chạy trốn dưới giao thông hào…”

Khi đó ông Hồng 16 tuổi. Hai năm sau, ông tham gia vào Tiểu đoàn 85 rồi bị địch bắt trong chiến dịch Mậu Thân tại thị xã Tuy Hòa. Giặc giam ông ở nhà giam Pleiku rồi đưa ra Phú Quốc. Trong tù, ông làm thơ tố cáo tội ác Mỹ-Ngụy, ca ngợi quê hương An Xuân anh hùng. Người lính già cất giọng sang sảng:

       
“… An Xuân là chiếc nôi cách mạng

An Xuân là niềm tin của Đảng

Một niền tin trong sáng

Một thành lũy kiên cường

Gò Thì Thùng đất thép hiên ngang

Chính nơi đây giặc Mỹ hung tàn

Đã bỏ xác hàng ngàn tên đền tội”

Bài thơ mộc mạc của ông làm tôi xúc động. Tôi hiểu rằng trong trái tim người An Xuân, chiến thắng Gò Thì Thùng mãi mãi là bản anh hùng ca được viết bằng mồ hôi và máu. Các bậc lão làng kể lại: Gần một năm sau khi địa đạo hoàn thành, Trung đoàn Trần Hưng Đạo và Trung đoàn Ngô Quyền về, chuẩn bị đánh lớn. Sáng ngày 24/6/1966, Mỹ đổ bộ xuống Bãi Chính - An Nghiệp, lập tức bị quân chủ lực của ta chặn đánh. Hôm sau, chúng đổ quân xuống vùng 2, vùng 4, vùng 5 An Xuân. Tại Gò Thì Thùng, cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Ban đầu, ta dựa vào công sự chiến đấu. Khi quân địch gọi máy bay đến thả bom, ta rút vào địa đạo, chờ chúng đến gần mới đồng loạt nổ súng. Giặc chết như ngã rạ, hoang mang kinh sợ trên chiến địa vô hình. Sau 2 ngày đêm oanh liệt, bộ đội chủ lực cùng du kích và nhân dân An Xuân, An Nghiệp tiêu diệt 1030 lính Mỹ, bắn rơi và bắn bị thương 9 chiếc trực thăng. Lữ đoàn dù 101 của Mỹ bị ta đánh tan tành.

Trước đó, sáng 24/4/1964, du kích xã An Xuân và Đại đội 220 đã nổ súng tấn công Đại đội biệt kích Đồng Tre do Khằng – biệt kích khét tiếng ở khu vực Xuân Phước cầm đầu cùng 2 cố vấn Mỹ. Khằng và 12 biệt kích khác chết tại chỗ. Quân ta thu được 1 đại liên, 1 cối 60 ly, 10 khẩu súng cùng nhiều quân trang quân dụng. Với chiến công đánh tan Đại đội biệt kích Đồng Tre, quân và dân An Xuân được trao tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng nhì.

Về An Xuân, tôi được nghe nhiều vè những chiến công đánh địch bằng vũ khí tự tạo và ong vò vẽ của  lực lượng du kích. Họ tìm tổ ong vò vẽ, lấy phân bò tươi “hàn” kín các cửa ong bay ra vào, sau đó cưa cành cây rồi đem tổ ong đi. Giữa đường bố trí một hầm chông, ngụy trang và buộc sợi dây nhỏ nối liền với tổ ong đặt gần đường. Khi giặc bị sập hầm chông thì làm động cả tổ ong. Lũ vò vẽ bay ra tứ phía, tha hồ mà đốt. Trận chống càn vào tháng 5/1962, du kích An Xuân cũng áp dụng cách đánh này. Quân giặc chạy tán loạn, vướng phải chông mìn bỏ mạng… Ngoài ra họ còn sáng tạo và khéo léo gài mìn trên cành cây, thả giữa những nơi máy bay địch thường hay đổ bộ. Máy bay tan xác…

Tôi tìm đến nhà ông Lê Văn Hết ở vùng 2 An Xuân. Người du kích năm xưa đang mê mải bên những nọc tiêu, mồ hôi thấm đẫm chiếc áo lính đã bạc màu. Ông không nhớ mình đã “cải tạo” và gài bao nhiêu quả M79, cối 81, bom bi… trong suốt thời kỳ kháng chiến. “Cả mấy ngàn trái. Lính Mỹ chết, lính Nam Triều Tiên chết, nhiều lắm…” Vui vẻ và rất nhiệt tình, ông kể cho tôi nghe từng “công đoạn”: Một ống bom bi nó thả có 24 ống dài, mỗi ống dài có 24 quả. Trước tiên mình tháo nắp ống dài, tháo chốt điện, lấy ra từng quả. Quả vừa ló ra thì phải nắm thật chặt, nếu không nó sẽ bung kim hỏa và phát nổ ngay. Sau đó lấy dao găm cạy nắp bom bi, đem kim hỏa ra, gài kim hỏa vào hạt nổ rồi gài bom bi lại. M79 thì cắt đầu, chuyển hạt nổ chính kim hỏa, gài chờ địch…”


Tôi hỏi:


- Có ai chết vì cắt bom mìn chưa?

- Đã có một người chết vì quả bom bi rơi ra, phát nổ.

- Vậy ông không sợ sao?

Ông Hết cười hỏi lại:

- Ai ai cũng coi trọng mạng sống thì lấy ai cắt mìn, gài mìn? Điều quan trọng là phải hết sức cẩn thận.

Trong trận đánh với quân Nam Triều Tiên, “chuyên gia gài mìn” bị thương. Bảy mảnh đạn nằm lại trong thân thể ông, đau buốt mỗi khi trái gió trở trời. Nhưng với người cựu du kích 56 tuổi này, điều đó dường như không quan trọng. Ông tự hào vì đã góp sức góp công vào cuộc chiến chống ngoại xâm trên mảnh đất quê hương. Ông hãnh diện vì thời trai trẻ đã sẵn sàng chấp nhận cái chết chẳng toàn thây vì đại cuộc. Niềm kiêu hãnh ấy, mặc cho thời gian, vẫn lấp lánh trong đôi mắt tuổi xế chiều. Ông Lê Văn Hết xứng đáng với Huân chương khán chiến hạng nhì mà nhà nước trao tặng.

Chiến tranh đi qua, 158 người con ưu tú của An Xuân vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ. 20 người lính trở về cùng những vết thương. Nỗi đau lặn sâu vào trong đôi mắt những Bà mẹ Việt nam anh hùng. Máu đỏ thấm vào đất đỏ, thấm vào những mạch rễ cội nguồn tạc nên một An Xuân bất khuất, kiên cường.


Trên Gò Thì Thùng, những cây bạch đàn reo vui trong gió, cỏ xanh non tơ và thời gian đã xoa lành lặn những hố bom. Rêu phong lối vào địa đạo. Nhưng con đường ngầm vẫn còn đó – như một bức thông điệp về chặng đường giữ làng giữ nước của cha ông gởi cho thế hệ sau.                   

                                                           

Và tôi nghe bản anh hùng ca chiến thắng Gò Thì Thùng âm vang…

 

PHƯƠNG TRÀ
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #48 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:33:11 pm »

Làng Tân Thạnh nằm bên quốc lộ 1A, cách TP Tuy Hòa khoảng 40km về phía bắc, nay thuộc phường Xuân Đài, TX Sông Cầu. Đây là một làng cổ được hình thành vào loại sớm nhất ở Phú Yên. Địa bạ triều Nguyễn lập dưới thời vua Gia Long vào những năm 1814-1815 đã chép: “Tân Thạnh thôn: Đông giáp núi, Tây giáp địa phận thôn Triều Sơn, Nam  giáp xã Xuân Đài, Bắc giáp địa phận thôn An Vĩnh”. Đây cũng là một trong 176 làng cổ ở Phú Yên được lập địa bạ thời bấy giờ. Vì thế, tại làng Tân Thạnh hiện nay còn dấu tích của một hệ thống các công trình kiến trúc cổ như đình, chùa, đền, miếu tương đối phong phú.

 


Biển Vũng Lắm - Ảnh: L.BIẾT

Sự hình thành và phát triển của làng Tân Thạnh gắn liền với thương cảng cổ Vũng Lắm mà biểu hiện rõ nhất là về mặt thành phần dân cư. Ở Tân Thạnh ngoài cộng đồng người Việt thì còn có cả cộng đồng người Hoa. Người Hoa đến sinh sống tại làng Tân Thạnh trong nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Những nhóm người Hoa đến sinh sống ở Tân Thạnh sớm nhất hầu như không còn mối liên hệ nào với quê hương bản quán – đó chính là người Minh Hương. Trong khi đó, cộng đồng người Hoa hiện nay ở Tân Thạnh đến đây vào khoảng nửa cuối thế kỷ XIX do điều kiện làm ăn thuận lợi. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, người Hoa chiếm khoảng một nửa dân số ở làng Tân Thạnh, bao gồm các dòng họ Diệp, Dương, Ngô… Trong đó tổ tiên họ Diệp, họ Dương vốn gốc người Hải Nam đến Phú Yên vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Phần lớn người Hoa đến làm ăn, buôn bán ở Tân Thạnh đều trở nên giàu có, nhiều người giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng người Hoa như ông Diệp Năng Xi từng làm Ban trưởng người Hoa ở Phú Yên vào những năm đầu thế kỷ XX. Cho đến giữa thế kỷ XX, do những biến động nhiều mặt về kinh tế, chính trị, xã hội, cộng đồng người Hoa ở Tân Thạnh bắt đầu di chuyển đến những nơi khác để làm ăn, sinh sống, vì thế số lượng người Hoa ở Tân Thạnh bắt đầu giảm dần. Hiện nay, người Hoa ở làng Tân Thạnh chỉ còn lại một số lượng nhỏ.

Làng Tân Thạnh nằm ở một vị trí thuận lợi, đây là đầu mối giao thông cả về đường bộ và đường thủy. Từ làng Tân Thạnh có thể đi đến nhiều địa phương trong phạm vi toàn tỉnh cũng như trên phạm vi cả nước một cách dễ dàng. Về đường thủy, cảng Vũng Lắm nằm ngay phía trước làng Tân Thạnh là đầu mối giao thông quan trọng nhất của vùng đất Phú Yên dưới thời kỳ phong kiến. Từ hải cảng này tàu thuyền đi ra biển qua cửa Xuân Đài để đến các hải cảng khác khắp cả nước. Ngoài ra, tàu thuyền từ Vũng Lắm ra cửa Tiên Châu rồi có thể theo sông Cái đi ngược lên các vùng phía tây của Phú Yên.
Nằm ở một vị trí giao thông thuận lợi nên sự hình thành và phát triển của làng Tân Thạnh gắn liền với nhiều sự kiện kiện liên quan đến lịch sử của vùng đất Phú Yên cũng như của cả nước.

Cuối thế kỷ XVIII, khu vực làng Tân Thạnh là nơi xảy ra nhiều trận đánh trong cuộc chiến tranh giữa quân nhà Tây Sơn với quân chúa Nguyễn. Vào khoảng tháng 6/1775, tướng Tống Phước Hiệp của chúa Nguyễn Phước Thuần đánh chiếm Phú Yên, quân bộ và quân thủy đều đóng tại khu vực Xuân Đài. Nhưng tháng 8 năm đó, đội quân này bị quân Tây Sơn đánh bại, phải lui vào Hòn Khói (Khánh Hòa). 18 năm sau, tháng 6/1793, Nguyễn Ánh đích thân chỉ huy đại quân đánh chiếm Phú Yên. Đến tháng 4/1794, Phú Yên bị quân Tây Sơn giành lại. Tháng 6/1800, quân của Nguyễn Ánh tiếp tục đánh chiếm  Phú Yên, thủy quân đóng tại Vũng Lắm. Nhưng đến tháng 4/1801, quân Tây Sơn bí mật đột kích Vũng Lắm, tướng của của Nguyễn Ánh là Lưu Tiến Hòa bị tử trận, quân Nguyễn Ánh thua to. Nhưng không lâu sau đó quân của Nguyễn Ánh đánh bại quân Tây Sơn, đồng thời tiêu diệt cả vương triều Tây Sơn để lập ra vương triều Nguyễn.

Đầu thế kỷ XIX, tại Vũng Lắm đã diễn ra hoạt động ngoại giao đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Năm 1832, phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ do Edmund Robert và George Thompson mang theo thư của Tổng thống Andrew Jackson đến Vũng Lắm. Vua Minh Mạng cử Ngoại lang Nguyễn Tri Phương và Tư vụ Lý Văn Phức đến cùng quan tỉnh Phú Yên tiếp đón. Phái đoàn Hoa Kỳ cho biết họ đến đây để xin giao hảo thông thương. Khi dịch quốc thư ra Hán Việt thì có chỗ không hợp thức nên vua Minh Mạng giao quyền Lãnh thương bạc (cơ quan ngoại giao) trả lời không có gì trở ngại trong việc thông thương, nhưng phải tuân theo pháp luật của nước ta và lần sau nếu có đến thì vào vụng Sơn Trà cho tiện.

Vào năm 1885, cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương do Lê Thành Phương lãnh đạo nổ ra ở Phú Yên, Vũng Lắm được nghĩa quân chọn đặt căn cứ thủy quân. Từ Vũng Lắm, lực lượng nghĩa quân tiến theo đường thủy vào các tỉnh Nam Trung Bộ như Khánh Hòa, Bình Thuận. Vũng Lắm đồng thời cũng là đầu mối tiếp nhận lương thực, vũ khí từ bên ngoài. Lo sợ sự lớn mạnh của nghĩa quân Cần Vương, tháng 6/1887, quân viễn chinh dưới sự chỉ huy của Chevreux, Tirant và Trần Bá Lộc đã đổ bộ vào vịnh Xuân Đài để đàn áp cuộc khởi nghĩa. Căn cứ của nghĩa quân đóng ở vịnh Xuân Đài do Bùi Giảng chỉ huy nhanh chóng bị thất thủ, hai tuần sau đó cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. Các thủ lĩnh chỉ huy của cuộc khởi nghĩa bị bắt và bị hành hình, trong đó có Ngô Kiêm Ký, một Hoa kiều tại Vũng Lắm chuyên cung cấp vũ khí cho quân khởi nghĩa.

Đến cuối thế kỷ XIX, Vũng Lắm lại trở thành một thương cảng nhộn nhịp, thực dân Pháp lập Sở Thương Chánh ngay tại Vũng Lắm để tăng cường hoạt động thương mại thông qua đường thủy. Do vậy, vào năm 1888, thủ phủ của Phú Yên lúc bấy giờ đang đóng tại thành An Thổ đã được chuyển về làng Tân Thạnh. Nhưng chỉ một năm sau đó, bộ máy quan lại phong kiến lại chuyển về thành An Thổ vì lúc này toàn bộ hoạt động của người Pháp đã chuyển ra khu vực trung tâm TX Sông Cầu hiện nay.

Mặc dầu là địa bàn xảy ra nhiều sự kiện lịch sử nhưng những dấu tích về các sự kiện trên không còn nhiều. Chỉ còn lại dấu tích một con đường cổ còn khá rõ. Con đường này bắt đầu từ khu vực làng Triều Sơn, chạy men theo sườn núi phía sau làng Tân Thạnh để lên đỉnh Xuân Đài, sau đó đổ dốc xuống khu vực Đồng Đèo ở xã An Dân thuộc huyện Tuy An. Đây là con đường đá được xây đắp công phu, tương truyền là con đường quân sự được hình thành trong cuộc chiến tranh giữa nhà Tây Sơn với nhà Nguyễn. Sau đó đoạn đường này đã trở thành một phần trong tuyến đường thiên lý Bắc – Nam. Do vị thế địa lý nên đoạn đường đi qua đỉnh núi Xuân Đài có một vị thế hiểm yếu, vì thế ngay tại đỉnh Xuân Đài có một pháo đài cổ có đặt hai khẩu súng thần công để canh giữ đoạn đường này.

Đến nay hai khẩu súng không còn và pháo đài thì cũng đã trở thành phế tích, nhưng hình ảnh về một pháo đài cổ thì vẫn còn lưu truyền trong dân gian: “Ngó ra ngoài đảnh Xuân Đài/ Thấy hai ông súng nằm dài giữa truông”. Trước đây dốc Xuân Đài là đèo dốc hiểm trở, vượt qua được dốc Xuân Đài được xem như vượt qua được thử thách khó khăn: “Đèo nào cao bằng đèo Phú Cốc/ Dốc nào ngược bằng dốc Xuân Đài/ Đèo cao, dốc ngược đường dài/ Anh còn qua đặng huống chi vài lạch sông”. Đến đầu thế kỷ XX, đoạn đường đi qua dốc Xuân Đài không còn đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhiều phương tiện vận tải lớn vì thế người Pháp đã nắn lại đoạn đường này chạy dọc ven biển qua trước làng Tân Thạnh, qua Gành Đỏ, vào dốc Vườn Xoài rồi nhập vào con đường cũ tại khu vực Đồng Đèo. Hiện nay, con đường này còn dấu tích một vài đoạn có chiều rộng khoảng 3-4m, mặt đường lát đá, hai bên đường có các bờ thành đá rộng khoảng 2m và cao khoảng 1,5m.

Hiện nay, làng Tân Thạnh đang chuyển mình đổi mới, những dấu tích về một thời kỳ lịch sử sôi động ở đây không chỉ là nguồn tư liệu để tìm hiểu về làng Tân Thạnh, về thương cảng cổ Vũng Lắm mà còn là những nguồn tư liệu để góp phần tìm hiểu về lịch sử và văn hóa của vùng đất Phú Yên.

___________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Hiền Ân, Phú Yên miền đất ước vọng, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2004

2. Ban công tác người Hoa TX Tuy Hòa, Người Hoa ở Phú Yên, 2003.

3. Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - tỉnh Phú Yên, NXB TP Hồ Chí Minh, 1997.

4. Châu Hải, Các cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1992

5. Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam thực lục, tập XXXI, NXB Khoa học Xã hội,  Hà Nội 1974.

6. Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện, Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế 1993.

 

NGUYỄN DANH HẠNH
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #49 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:35:30 pm »

Đường 7 tên gọi một con đường đi qua địa phận hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên có chiều dài 181km, được người Pháp xây dựng từ những năm đầu thế kỷ XX với mục đích làm tuyến giao thông để khai thác vùng Tây Nguyên. Sau năm 1975 được đổi tên thành quốc lộ 25. Quốc lộ 25 có điểm đầu của đường nối với quốc lộ 1A tại km1332 thuộc địa phận TP. Tuy Hoà (tỉnh Phú Yên) và điểm cuối giao với quốc lộ 14 tại km 567+ 800, thuộc địa phận huyện Chư Sê (tỉnh Gia Lai). Đây là một trong hai tuyến đường ngắn nhất nối Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ với các nước Campuchia, Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan; đồng thời là trục đường thứ hai trong vùng Bắc Tây Nguyên nối liền hai trục xuyên quốc gia là quốc lộ 1A và quốc lộ 14 đi Đăk Lăk tại ngã 3 Chư Sê.

 
Khu vực Sơn Hà, tháng 3-1975. Không ảnh chụp quân đoàn 2 Việt Nam cộng hoà rút chạy trên đường số 7 – Ảnh: TƯ LIỆU


ĐƯỜNG 7 NĂM XƯA…


35 năm trước đường 7 đã đi vào lịch sử dân tộc với những chiến công chói lọi. Những tên đất, tên làng… dọc tuyến đường 7 đã trở thành những địa danh huyền thoại của thế kỷ 20. Chính nó đã làm cho quân thù khiếp sợ… và đó cũng là niềm tự hào của quân và dân hai tỉnh Phú Yên – Gia Lai. Trong trang sử vàng của dân tộc đã ghi rõ, 35 năm trước vào những ngày tháng ba lịch sử năm 1975, cả Tây Nguyên rạo rực trong không khí giải phóng sau khi bộ đội ta giải phóng Buôn Ma Thuột (ngày 10/3/1975). Bị thua tan tác, bọn tàn quân Mỹ ngụy buộc phải rút xuống đồng bằng thông qua con đường duy nhất là đường 7 với mục đích co cụm lực lượng ở duyên hải miền Trung để đối phó với các mũi tiến công của ta và tìm cơ hội phản công chiếm lại Tây Nguyên.

Đoán trước sự di chuyển của địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã lệnh cho Sư đoàn 320 phải thần tốc truy kích, tiêu diệt địch tại Cheo Reo - Phú Bổn, không cho địch tháo chạy về Duyên hải miền Trung. Trước đó, từ đầu tháng 3/1975, lực lượng Trung đoàn 95 của Bộ Tư lệnh B3 và lực lượng địa phương của H11 Gia Lai và H37 Đăk Lăk đã được lệnh chủ động đánh bật các chốt phòng vệ của địch dọc theo đường 7, giải phóng ấp chiến lược và giải phóng dân, chia cắt thường dân ra khỏi đội hình tháo chạy của địch, tạo điều kiện cho Sư đoàn 320 cắt rừng từ Đăk Lăk qua chiếm lĩnh các núi cao bao vây khu vực Cheo Reo - Phú Bổn, tiêu diệt địch...

Từ sáng ngày 18/3, lực lượng của ta đã bao vây khu vực Cheo Reo - Phú Bổn. Trong 2 ngày 18 - 19/3, nhiều trận đánh ác liệt, dữ dội giữa Sư đoàn 320 của ta và quân địch đã diễn ra ở trại Ngô Quyền, sân bay Phú Bổn, cầu sông Bờ, cầu Cây Sung, đèo Tô Na... Đến 12 giờ ngày 19/3/1975, Sư đoàn bộ binh 320 của ta đã làm chủ chiến trường, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phú Bổn (nay là huyện Phú Thiện, Ia Pa, Krông Pa và thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai).

Sau khi thất thủ, quân địch kéo nhau chạy về Củng Sơn (Sơn Hòa), tiến hành bắt cầu phao dã chiến vượt Sông Ba qua đường 5 để chạy về Tuy Hòa. Cầu phao dã chiến Sông Ba bị sập khiến cho đội hình di tản của địch bị dồn ứ, xe pháo, xác lính chết chồng chất, hàng chục nghìn lính ngụy bỏ xe chạy tắt vào rừng kiếm đường xuống Củng Sơn khiến tình hình càng thêm náo loạn. Tiểu đoàn 96, Trung đoàn 9 và các lực lượng vũ trang Sơn Hòa, Tuy Hòa 2 được phân công triển khai chốt chặn đường rút lui của địch theo Tỉnh lộ 7. Tiểu đoàn 13, Đại đội 7, 377, 203 và các lực lượng vũ trang huyện Tuy Hòa 1 được phân công chốt chặn đường 5. Trên đường 5, tuy tương quan lực lượng địch đông hơn ta nhiều lần cả về quân số và trang bị vũ khí, nhưng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, lực lượng vũ trang Phú Yên đã nhanh chóng làm chủ trận địa, kiên quyết tiến công địch, làm tan rã và tiêu diệt hoàn toàn lực lượng địch rút chạy từ Tây Nguyên xuống. Cùng với cánh quân chủ lực thuộc Sư đoàn 320 truy đuổi địch, ngày 24/3/1975 quân và dân Phú Yên đã giải phóng thị trấn Củng Sơn và toàn huyện Sơn Hòa, tạo điều kiện để giải phóng thị xã Tuy Hòa.

Chiến thắng đường 7, đã từng được Đại tướng Văn Tiến Dũng đánh giá là cuộc truy kích mang tầm nghệ thuật quân sự lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh Đông Dương tính đến thời điểm đó.

VÀ QUỐC LỘ 25 NGÀY NAY

Sau ngày giải phóng thống nhất đất nước, đường 7 được đổi tên thành quốc lộ 25, trở thành tuyến giao thông huyết mạch nối liền các tỉnh Tây Nguyên và Trung Trung Bộ. Nhưng với nhiều lý do khác nhau, một thời gian dài, quốc lộ 25 gần như rơi vào cảnh bị lãng quên và hầu như không được đầu tư lớn để nâng cấp, cải tạo. Theo đánh giá của Cục Đường bộ Việt Nam, hiện trạng quốc lộ 25 chỉ đạt tiêu chuẩn đường cấp V miền núi- cấp đường thấp nhất hiện nay, trên tuyến có nhiều đoạn đường đèo chỉ rộng 3,5 mét- 4,5 mét, lớp láng nhựa mặt đường bị bong tróc khá nhiều; đó là chưa kể đến việc có tới 34 cầu cũ tải trọng thấp đã bị hư hỏng nặng. Vì thế từ lâu quốc lộ 25 đã mất sức “cạnh tranh” về chuyên chở hàng hóa, hành khách so với quốc lộ 19 (từ Pleiku xuống thành phố biển Quy Nhơn và ngược lại). Nhu cầu cấp thiết về mở rộng, nâng cấp để “đánh thức” quốc lộ 25 đã trở thành niềm khát khao của hàng triệu người dân Tây Nguyên và Phú Yên từ nhiều năm nay. Dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 25 được Bộ Giao thông vận tải giao cho Cục Đường bộ làm chủ đầu tư, tổng vốn hơn 1.389 tỷ đồng từ nguồn trái phiếu Chính phủ. Dự án triển khai trên địa bàn hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai, với tổng chiều dài toàn tuyến 88,12 km, phạm vi dự án chia làm hai đoạn, đoạn 1 từ Km 21+ 600 đến Km 99 + 432; đoạn 2 từ Km 113 đến Km 123. Sau khi cải tạo nâng cấp quốc lộ 25 đạt tiêu chuẩn kỹ thuật đường cấp III, nền đường rộng 9 m, mặt đường rộng 7 m, tốc độ thiết kế 60 km/giờ; toàn tuyến có 13 cây cầu xây mới và các công trình cống, rãnh thoát nước, nút giao thông. Hiện nay, Ban quản lý dự án 6 thuộc Cục Đường bộ Việt Nam đang phối hợp hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai tổ chức bàn giao hồ sơ, tài liệu liên quan để các địa phương này triển khai công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thi công dự án đúng tiến độ và dự kiến dự án sẽ hoàn thành trong quý IV-2012.

 


Đường Hải Dương TP Tuy Hòa nối với QL 25

Theo ông Phạm Ngọc Biên, Phó Tổng giám đốc Ban QLDA 6 - đơn vị được giao làm đại diện chủ đầu tư, việc sớm “đánh thức” QL25 thông qua đầu tư, nâng cấp, mở rộng tuyến đường đang là một yêu cầu cấp thiết. Ngoài việc rút ngắn quãng đường từ khu vực Tây Nguyên ra biển, đặc biệt là cảng biển khu vực tỉnh Phú Yên, khi cảng Vũng Rô được đầu tư nâng cấp có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 10.000 tấn, giúp chi phí vận chuyển hàng hóa lên Tây Nguyên và ngược lại giảm đi rất nhiều, QL25 còn có ý nghĩa lớn hơn rất nhiều là đánh thức tiềm năng kinh tế của nhiều địa phương 3 nước Đông Dương. Mục tiêu đầu tư xây dựng QL25 nối QL1A với đường Hồ Chí Minh tạo ra tuyến giao thông quan trọng nối liền các tỉnh Đông Bắc Campuchia, Nam Lào và các tỉnh Tây Nguyên xuống Nam Trung Bộ và các cảng biển lớn. Đây sẽ là tuyến đường đi qua nhiều vùng đất đai rộng lớn có tiềm năng kinh tế nằm trong tam giác phát triển kinh tế 3 nước Đông Dương. Hơn nữa, đầu tư xây dựng QL25 còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên và các tỉnh lân cận. Dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 25 đang được triển khai và dự kiến dự án sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng trong quý IV-2012õ.

Việc đánh thức quốc lộ 25 thông qua đầu tư, nâng cấp mở rộng tuyến đường đang là một yêu cầu cấp thiết. Nó không chỉ đem lại động lực cho cả vùng kinh tế mà còn là tuyến đường nối liền Phú Yên với các tỉnh Tây Nguyên và các nước tiểu vùng sông Mê Kông trong việc trung chuyển hàng hóa ra biển đông và ngược lại. Quốc lộ 25 từ Gia Lai về Phú Yên sẽ tạo ra một lối ra biển gần nhất cho Tây Nguyên .

35 năm sau ngày giải phóng, trong những ngày tháng Tư lịch sử này, đi trên con đường 7 năm xưa – quốc lộ 25 hôm nay, chúng ta không khỏi ngạc nghiên trước sự đổi thay của vùng đất. Đi qua biết bao sự tích hào hùng của quân và dân hai tỉnh Gia Lai – Phú Yên, những tên làng, tên đất ghi bao dấu tích hào hùng một thời giờ cũng đang trở thành những đô thị đông vui Chư Sê, Phú Thiện, AyunPa, Phú Túc, Củng Sơn, Phú Hòa, Tuy Hòa… Những làng mạc, những công trình mới, những trang trại, hồ tiêu, những cánh đồng lúa, mía ngút ngàn đã và đang hình thành dọc theo tuyến đường báo hiệu một sự hồi sinh mạnh mẽ, một sức sống mới ấm no, thanh bình, hạnh phúc trên chiến trường xưa.

Theo ông Phạm Ngọc Biên, Phó Tổng giám đốc Ban QLDA 6 - đơn vị được giao làm đại diện chủ đầu tư, việc sớm “đánh thức” QL25 thông qua đầu tư, nâng cấp, mở rộng tuyến đường đang là một yêu cầu cấp thiết. Ngoài việc rút ngắn quãng đường từ khu vực Tây Nguyên ra biển, đặc biệt là cảng biển khu vực tỉnh Phú Yên, khi cảng Vũng Rô được đầu tư nâng cấp có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 10.000 tấn, khiến chi phí vận chuyển hàng hóa lên Tây Nguyên và ngược lại giảm đi rất nhiều, QL25 còn có ý nghĩa lớn hơn rất nhiều là đánh thức tiềm năng kinh tế của nhiều địa phương 3 nước Đông Dương. Mục tiêu đầu tư xây dựng QL25 nối QL1A với đường Hồ Chí Minh tạo ra tuyến giao thông quan trọng nối liền các tỉnh Đông Bắc Campuchia, Nam Lào và các tỉnh Tây Nguyên xuống Nam Trung Bộ và các cảng biển lớn. Đây sẽ là tuyến đường đi qua nhiều vùng đất đai rộng lớn có tiềm năng kinh tế nằm trong tam giác phát triển kinh tế 3 nước Đông Dương. Hơn nữa, đầu tư xây dựng QL25 còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên và các tỉnh lân cận.
 
ANH KIỆT
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM