Москва салютует Освобождению Белгорода и Орла.Moskva bắn pháo hoa chào mừng giải phóng Belgorod và Orel
Пехота под прикрытием танка идет в атаку. 1943 г.Bộ binh dưới sự yểm trợ của xe tăng trong tấn công. Năm 1943
Кочующая реактивная установка БМ-13 готовится к бою. Ноябрь 1943 г. БМ-13Н на шасси Studebaker US6 в народе зовется "Катюша". Вообще в начале войны ее часто называли «Раиса Сергеевна», от РС (реактивный снаряд), немцы называли "Сталинский орган" (за сходство с этим музыкальным инструментом), правильное название — Гвардейский реактивный миномёт.
Также применялись "Катюши": БМ-13-16 на шасси ЗИС-6 и БМ-31-12 на шасси ЗИС-12.Thiết bị phản lực cơ động BM-13 đang chuẩn bị cho trận chiến. Tháng 11 năm 1943. BM-13 trên gầm xe Studebaker US6 – ở Liên Xô (trong nhân dân) gọi là “Cachiusa”. Nói chung, thời kỳ đầu chiến tranh, nó thường được gọi là “Raisa Sereevna”. Từ đạn phản lực, người Đức gọi là “Đàn đại phong cầm của Stalin” (vì sự giống với nhạc cụ này), tên gọi chính thức (đúng) – Súng cối phản lực Cận vệ.
“Cachiusa” đồng thời được tiếp nhận trên gầm xe ZIS-6 – BM-13-16 và BM-31-12 trên gầm xe ZIS-12.
Захваченный у немцев на Курской дуге 6-ствольный реактивный миномет «Nebelwerfer», 1943 г.
Крайне неудачный вариант этого нового вида вооружения. немцы свой реактивный миномет именовали тоже ласково — "Ванюша", у советских солдат получил прозвище «ишак», за звуки, издаваемые при пуске ракет.
Súng cối phản lực 6 nòng “Nebelwerfer” của quân Đức bị chiếm ở vòng cung Kursk.
Loại vũ khí này là phiên bản rất tồi về hình thù. Người Đức cũng gọi súng cối phản lực của mình bằng cái tên “âu yếm” “Vaniusha”, còn bộ đội Liên Xô gọi nó bằng tên lóng “con lừa” do âm thanh của nó được tạo ra khi phóng tên lửa.
Немецкие самолеты направляются бомбить Орел.Các máy bay Đức trên đường (đi về phía) oanh tạc Orel.