Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:35:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn - Khuất Quang Thụy  (Đọc 20038 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« vào lúc: 19 Tháng Năm, 2008, 10:05:05 am »

Ngày nghỉ cuối tuần
Nguồn "VnThuquan"
     

Tới tận hai giờ chiều hôm đó công việc tìm kiếm người đàn ông bị nạn khi nhảy xuống cứu mấy cô cậu học sinh Hà Nội bị lật thuyền trên hồ Thuỷ Văn vào lúc chín giờ sáng vẫn chưa có kết quả gì. Hai cánh thợ lặn do nhà khách Thuỷ Văn mời tận ngoài Trung Hà vào làm việc cật lực từ mười giờ sáng tới giờ. Công an huyện đã lập biên bản, nhưng chưa có tử thi để khám nghiệm nên ăn trưa xong họ lại lên xe về. Chỉ nói rằng khi nào thấy xác người bị nạn thì gọi điện thoại ra, họ sẽ lập tức đánh xít-đờ-ca vào khám nghiệm rồi làm thủ tục cho mà chôn cất. Đám học trò Hà Nội được lệnh không được phép rời nhà nghỉ cho đến khi mọi việc xong xuôi. Ba cô con gái từ lúc thoát chết đến giờ chỉ ngồi dúm vào nhau trên góc giường mà khóc ròng, ba thằng con trai cũng có bớt nghênh ngang hơn so với chiều hôm trước khi chúng rầm rập lao ba cái xe phân khối lớn, đen trùi trũi, bóp còi inh ỏi trước khu nhà nghỉ. Bây giờ ba chàng đang rón rén xuống phòng lễ tân gọi điện thoại về Hà Nội. Chúng nói chuyện huyên thuyên hàng giờ liền, hết số máy này sang số máy khác. Sau khi đã móc túi trả cho cô trực điện thoại gần trăm ngàn đồng, còn nói: “Mang tiếng là khu du lịch mà vẫn chưa phủ sóng. Quá buồn! Thời đại thông tin toàn cầu mà thế này thì lạc hậu hết chỗ lói!”.
Không thấy đứa nào mở miệng hỏi xem người ta đã tìm thấy xác cái người đàn ông đã cứu mạng chúng nó hay chưa?

    Ông Thời, giám đốc nhà khách, như ngồi trên đống lửa. Khu nhà nghỉ đi kèm với dịch vụ du lịch sinh thái của ông mới được nhen nhóm lại, nay có nguy cơ phá sản chứ chẳng chơi. Chết người, chứ đâu phải chuyện đùa. Mà cái lão khỉ gió này chui xuống âm ti luôn chắc? Chết rồi thì cũng phải nổi lên cho người ta còn nói chuyện với người sống nhà ông chứ. Tôi biết nói với vợ con ông thế nào đây?

     Tuy chưa tìm được xác, nhưng nhờ chiếc xe đạp và mấy thứ đồ đi rừng người ấy vứt lại trên con đường nhỏ ven hồ trước khi nhảy xuống cứu người nên những người làm việc ở khu nhà nghỉ Thuỷ Văn đã xác định được nạn nhân chính là ông Lương Đình Nghệ, người ở ngoài xóm Bóng, cách khu hồ chừng ba cây số. Ông là người nhận khoán chăm sóc và bảo vệ gần hai chục héc ta rừng kéo liền một dải từ mé Tây khu hồ cho tới chân Núi Chúa. Ngày nào ông chủ rừng ấy cũng lóc cóc chiếc xe cổ lỗ hiệu Phượng Hoàng hai dóng sắt của Trung Quốc đi qua khu nhà nghỉ Thuỷ Văn để vào thăm rừng. Mấy cô nấu ăn khu nhà nghỉ nói rằng sáng nay, các cô ấy còn dặn ông ta chiều về kiếm cho một yến măng tươi vì hôm nay là ngày cuối tuần, nhà nghỉ có thể đông khách. Có lẽ khi ông đạp xe tới con đường mòn bên kia hồ thì nghe trên hồ có tiếng kêu cứu nên quẳng chiếc xe ở đó mà nhảy xuống hồ cứu người bị nạn. Anh Cảnh, làm kế toán trong nhà nghỉ nghe mọi người nói vậy liền cười, bảo:
- Lão Nghệ bị điếc lòi ra, nghe làm sao được?
Một cô nhả bếp béo ục ịch liền bĩu môi:
- Có nhà anh điếc thì có. Ông ấy có đeo máy, cái gì chả nghe thấy. Hôm nọ con Lài nói vụng ông ấy rằng người gì mà tai điếc nhưng mắt thì cứ như mắt chim ưng ấy. Chả đứa trẻ con nào vào rừng của ông ấy đào trộm măng luồng mà thoát cả. Ai ngờ ông ấy nghe được hết, liền bảo, riêng cô Lài nếu thích thì tôi sẽ đưa vào rừng chơi hẳn một ngày, rồi ưng củ nào, tôi đào cho củ nấy!
Ông giám đốc nhà nghỉ bực mình gắt:
- Thôi đi... Giờ là lúc nào rồi mà còn đùa được? Nếu không nhanh chóng mà tìm thấy người ta thì tôi và các cô đến vào rừng đào củ nâu mà ăn ấy chứ chẳng chơi đâu? Tôi đã nói bao nhiêu lần rồi, không được cho khách tự tiện lấy thuyền bơi ra hồ. Thế mà...
Anh kế toán thở dài:
- Thì ai có ngờ bọn lỏi con ấy lại liều đến thế. Mới sáng sớm chúng nó đã đòi đi thuyền thăm cảnh hồ, tôi đã nói rõ ràng rằng phải đợi đến mười giờ, sương tan thì mới đi được. Nhà nghỉ sẽ có người chèo thuyền đưa các cô các cậu đi. Thế mà vừa xểnh mắt một cái, chúng nó đã lấy trộm thuyền bơi đi rồi.
- Anh nhìn thấy, sao không kéo cổ chúng nó lại?
- Kéo làm sao được. Khi phát hiện ra thì chúng nó đã bơi được vài sải nước rồi. Tôi hét lên bảo: “Này lũ ôn con kia, đưa thuyền vào bờ ngay kẻo thuồng luồng ba ba nó lôi cổ chúng mày xuống hồ bây giờ!”. Chúng nó ré lên cười, vẫy tay kêu: “Bai, bai... anh dề nhé!”. Rồi còn nói: “Ông bác cứ vô tư đi. Bọn này có họ hàng với thuỷ quái ở Hồ Tây đấy!”. Bác bảo, tôi còn biết làm thế nào?
Ông giám đốc không biết nói gì, liền khoát tay ra lệnh:
- Chiều nay, anh ra thị trấn mua cho tôi chục sợi dây xích. Phải khoá mấy cái thuyền lại!
Mọi việc đang rối như canh hẹ thì lại thấy cậu Khanh chánh văn phòng uỷ ban phóng xe máy tới. Vừa dừng xe trước sân, mồm miệng anh ta đã như tép nhảy:
- Xin kính chào bác giám đốc. Kính chào các cô em xinh đẹp. Hôm nay nhà nghỉ vắng khách quá hay sao mà từ xếp đến nhân viên đều ra xếp hàng hóng gió ở bờ hồ thế này?
- Không dám... Chào ông chánh văn phòng! – Ông Thời khẽ cúi mình, nhưng mặt vẫn khó đăm đăm.
- Sao mà ông anh khách khí thế. Thằng em mang tiền mang bạc tới cho ông anh đây mà sao ông anh lại có vẻ không nhiệt mấy thế nhỉ?
- Tiền bạc cũng chả giải quyết được việc gì!
Ông Thời vừa ngóng ra mặt hồ vừa thủng thẳng đáp.
- Sao lại thế? Đồng tiền là tiên là phật cơ mà. Khu nhà nghỉ này tuy vẫn do ngành quản lí, nhưng đã khoán đứt cho ông anh rồi. Phải có tiền thì ông anh mới son phấn nâng cấp nó lên được chứ. Thằng em nói thật, khu nhà nghỉ của ông anh mới chỉ có được một thứ, đó chính là cái hồ này. Thiên nhiên thì quá đẹp rồi. Nhưng thử nhìn lại xem, nhà cửa phòng ốc chưa đâu vào đâu, các loại dịch vụ của ông anh vẫn còn nhà quê lắm. Cần phải mô-đi-phê nó lên. Nhất là khâu phục vụ. – Anh ta ghé vào tận tai ông giám đốc nói nhỏ. – Mấy cô nhà bếp, nhà bàn, nhà buồng này ông anh phải cho thanh lí bằng hết. Nếu cần, thằng em sẽ giúp ông anh tuyển chọn một ê-kíp thật ngoạn mục. Chịu chơi. Như thế mới thu hút được khách chứ.
Ông Thời khẽ nhếch mép cười:
- Chú muốn tôi thu nạp đám ca-ve trong mấy cái nhà hàng ka-ra-ô-kê ở bên cạnh nhà khách uỷ ban của chú ấy chứ gì?
- Thì bét ra cũng phải được như cái đám ấy. Nhưng tôi có nguồn tuyển cho bác những em chất hơn nhiều.
Ông Thời bỗng bật cười thành tiếng:
- Thì ra chú Khanh hồi này kiêm cả nghề tiếp thị nữa kia đấy. Cảm ơn, tôi chưa đổi mới đến cái mức ấy
Anh chánh văn phòng ngớ người ra chẳng hiểu vì sao hôm nay ông Thời lại khó tính đến thế? Thấy ông vừa chủng chẳng nói chuyện với mình vừa nhớn nhác nhìn ra mặt hồ, anh ta vội phóng mắt nhìn theo và thấy mấy chiếc thuyền đang bồng bềnh trôi, rồi dăm bảy người hết trồi lên lại ngụp xuống. Tò mò, anh ta sán lại hỏi:
- Có trò gì ở ngoài đó mà ông anh như bị hút hồn thế?
- Trò khỉ! – Ông Thời bực mình gắt. – Nếu không có việc gì thì xin anh biến đi cho tôi nhờ. Đang lộn cả ruột lên đây.
Anh chánh văn phòng tái mặt. Chưa có ai dám chơi sỗ với anh ta như thế. Đã vậy thì cho cha con ông ta đói nhăn răng ra. Nghĩ vậy, anh ta vùng vằng nhảy lên xe định phóng đi. Nhưng chợt nhớ ra nhiệm vụ xếp lớn đã giao, anh ta đành chịu lún, nuốt ực cục tức vào bụng rồi tiến lại, nói với ông giám đốc:
- Này, hôm nay tôi nể mặt ông đấy nhé. Có việc cho ông đây. Chiều nay uỷ ban có một cuộc tiếp khách tại đây. Khách sộp từ trung ương lên làm dự án đầu tư phát triển hẳn hoi đấy. Ăn như mọi khi là được rồi. Có thêm món đặc sản nào nữa thì tốt. Phòng ốc, tôi cần mười hai phòng loại xịn nhất mà ông có. Từ bếp trở xuống thì quân của ông đảm nhiệm. Từ bàn đến buồng tôi sẽ mang người vào. An ninh ông khỏi lo, tôi đã canh hết các cửa rồi. Thanh toán thế nào, tôi với ông sẽ bàn sau. Được chưa? Một món hời trông thấy đấy bố già ạ!
Ông Thời thản nhiên lắc đầu:
- Tối nay thì không được!
- Sao lại không? - Anh chánh văn phòng ngạc nhiên hỏi.
- Hôm nay... tôi có khách.
- Khách nào? Khách nào cũng không quan trọng bằng đám khách này. Bằng tiền cả đấy, bố ạ!
- Tiền cũng chẳng giải quyết được gì.
- Sao lại không giải quyết được? Nếu đã có đám nào đặt phòng rồi thì ông cứ đuổi đi. Tôi sẽ đền bù. Coi như tôi mua lại hết, có được không?
Ông giám đốc đột ngột quay lại nhìn chằm chằm vào mặt anh ta và hét lên:
- Mạng người đấy. Ông có mua được không? – Rồi ông chỉ ra mặt hồ – Có người chết ở dưới hồ kia kìa. Tôi đang thuê người vớt. Khách của tôi đêm nay đấy. Các ông có muốn ăn chơi nhậu nhẹt bên cạnh người chết thì xin mời vào. Tôi xin hết lòng phục vụ các quý ông.
*
* *
Tuy đã từ chối quyết liệt một đám khách sộp, nhưng rốt cuộc, đến chiều tối thì nhà khách Thuỷ Văn vẫn đông nghẹt những người. Mà lại toàn là những vị khách mà ông Thời không thể từ chối được: Không biết mấy cậu công tử Hà Nội điện thoại về kể lể những gì mà chỉ hai tiếng sau lần lượt hơn chục chiếc xe du lịch sang trọng lao tới khu nhà nghỉ ven hồ. Những ông bố, bà mẹ, ông chú, bà bác, ông cậu bà cô, những chú văn phòng, những cô thư kí... ăn mặc sang trọng, hớt hơ hớt hải mở cửa xe rồi lao thẳng vào tiền sảnh ngôi nhà ba tầng của khu nhà nghỉ Thuỷ Văn. Câu đầu tiên của họ đều rất hách dịch:
- Ai là giám đốc nhà nghỉ này?
Tuy đang rất sốt ruột và bực mình nhưng ông Thời quả không hổ danh là một vị giám đốc nhà nghỉ của hai thời đại (thời đại bao cấp và thời đại cơ chế thị trường) như anh chị em trong nhà nghỉ Thuỷ Văn thường nói đùa một cách thân ái. Ông đứng ở trước quầy lễ tân khiêm nhường cúi chào tất cả mọi người và nhã nhặn trả lời:
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Năm, 2008, 07:29:00 pm gửi bởi hoacuc » Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #1 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2008, 10:05:39 am »

-Dạ... thưa quý ông (hoặc quý bà, quý cô, quý anh)... Tôi chính là giám đốc nhà nghỉ Thuỷ Văn này ạ!
Rồi sau đó ông lần lượt kiên nhẫn trả lời những câu hỏi của các vị khách để “làm sáng tỏ vụ việc”... vốn chẳng có gì phức tạp cho lắm. Các vị phụ huynh hoặc á phụ huynh, chỉ thực sự thở phào khi biết con trai, hoặc con gái của họ bình yên vô sự và các vị có thể đón các quí cô, quý cậu về bất cứ lúc nào nếu như nhà chức trách địa phương cho phép!
Một ông to béo, bệ vệ sừng sộ hỏi:
- Vậy họ còn giữ con cái chúng tôi để làm gì?
Ông Thời nhỏ nhẹ trả lời:
- Dạ... là vì họ muốn biết vì sao mà có một người phải chết để bảo toàn tính mạng cho các quý cô, quý cậu nhà ta ạ.
-Thế thì... tại sao?
Sau hàng loạt câu chất vấn như vậy thì bao giờ cũng đến cái đoạn ông giám đốc phải chân thành nhận lỗi là vì vô trách nhiệm trong việc quản lí mấy chiếc thuyền khiến các quý cô, quý cậu trẻ người non dạ mới tự tiện lôi ra hồ chơi và gây ra tai họa.
Trong khi các bậc phụ huynh đang tiến hành những cuộc phỏng vấn nghiêm khắc ấy thì từ trên lầu các cô các cậu rầm rầm chạy xuống để gặp người nhà.
Các bậc phụ huynh hoặc á phụ huynh vui mừng reo lên gọi tên con cháu mình bằng cái giọng vô cùng âu yếm thiết tha. Chẳng gì thì chúng cũng vừa từ cõi chết trở về. Dĩ nhiên có cả những giọt nước mắt mừng vui đi kèm với vài câu trách mắng nhẹ nhàng chiếu lệ như kiểu cần phải có thêm một tí ớt vào bát nước chấm vậy.
Trong số những cặp trùng phùng chỉ có một cặp mẹ con là tỏ ra từ tốn, khác thường hơn cả. Đó là một người đàn bà trạc ngoài bốn mươi tuổi nhưng trông vẫn còn rất xinh đẹp, mặc bộ đầm màu đen, nước da trắng, đôi mắt ướt rượt với đôi hàng mi rậm, cong vút như hàng lông mi giả của một cô đào cải lương. Chị nói năng nhỏ nhẹ, trầm tĩnh chứ không xô bồ chao chát như những người khác. Cuộc “phỏng vấn” của chị chỉ vẻn vẹn có một câu rất từ tốn “Dạ thưa ông, các cháu an toàn cả chứ ạ?”. Khi được trả lời rằng không cô cậu nào hề hấn gì thì chị nghẹn ngào nói: “Cảm ơn” rồi lùi ra, len lén lau nước mắt. Con gái chị là cô bé xinh đẹp nhất trong số ba cô, đặc biệt hơn cả là cô có một mái tóc rất dài và mượt. Khi cô gục vào vai mẹ mà khóc thì bà mẹ nhẹ nhàng kéo cô lại vừa lặng lẽ tết lại mái tóc cho cô thành hai cái đuôi sam dày và mượt vừa an ủi cô:
- Nín đi con. Không sao rồi mà. Bận sau nếu con đi chơi xa thì phải bảo với mẹ một tiếng nhé!
- Nhưng... con đã xin phép bố rồi.
- Bố con thì…
Chị chỉ nói vậy rồi lại cúi xuống vuốt ve hai cái bím tóc của con gái.
- Thương à... Nếu con thấy để tóc dài bất tiện thì lần này về nhà, mẹ sẽ cho con cắt đi rồi làm tóc theo kiểu nào mà còn thích.
- Không – Cô bé bỗng ngẩng lên nhìn mẹ – Con sẽ mãi mãi để tóc dài, mẹ ạ. Hôm nay, nếu không có mái tóc dài này thì có lẽ... con đã chết rồi!
Cô bỗng rùng mình nhớ lại cái giây phút khủng khiếp ấy, khi cô đã uống khá nhiều nước và dường như đang chìm dần xuống đáy hồ đầy rong đuôi chó. Bỗng một bóng người đàn ông lao theo cô, một tay người ấy cắp cô bạn gái của cô đã bất tỉnh, một tay ông vươn tới túm lấy mái tóc cô và cứ thế kéo cô lên khỏi mặt hồ rồi đẩy cô vào bờ. Không ai biết vì sao ông ta lại có thể chết đuối sau khi đã đưa được ba cô gái hoàn toàn không biết bơi và hai thằng bạn trai mới chỉ biết bì bạch vùng vẫy được đôi chút trong những cái bể bơi ở Hà Nội, lên bờ. Trong số ba đứa con trai thì chỉ có đúng thằng bạn trai đang theo đuổi cô là bơi giỏi, nhưng trong tình huống bất ngờ như thế, hắn cũng chỉ lo tự cứu lấy bản thân mình mà thôi. Từ sáng đến giờ hắn vẫn luôn miệng nói rằng chính hắn đã bơi được vào bờ chứ không phải chịu ơn ai hết. Thương đã bực mình nói thẳng vào mặt hắn rằng cô không ngờ, hôm nay cô còn được sống để hiểu ra rằng cậu là một kẻ ích kỉ, hèn nhát! Nghe Thương nói vậy, hắn nhệch mồm ra cười “Lúc ấy ai còn kịp nghĩ đến ích kỉ hay không ích kỉ, người ta chỉ còn biết hành động theo bản năng ham sống của con người thôi” Rồi hắn còn đai thêm: “Này đằng ấy đừng có trách tớ nhé. Cả hội kéo nhau lên cái xó rừng này là do sáng kiến của đằng ấy đây chứ. Quê hương là chùm khế ngọt! Tí nữa làm mồi cho cá mà lại còn tinh tướng!”.
Thì ra thế. Cô gái trẻ đã hiểu ra đưực nhiều điều nhờ có phen chết hụt này. Người mẹ có lẽ cũng vậy. Chị vẫn ngồi trên chiếc ghế đá ở tiền sảnh vòng tay ôm lấy đôi vai nhỏ của cô con gái, đôi mắt chị đăm đăm nhìn ra mặt hồ. Lúc này mặt trời đang khuất dần xuống dãy núi phía Tây, ánh hồi quang của nó chiếu xuống khiến mặt hồ thoáng chốc như chuyển thành màu đỏ hồng. Một con thuyền hối hả bơi ngược từ phía luồng ánh sáng ấy vào bờ rồi một người thợ lặn ướt rượt, bước lên. Ông Giám đốc hối hả chạy tới hỏi:
- Vẫn chưa thấy hả?
Người thợ lặn lắc đầu:
- Dưới lòng hồ tối lắm rồi. Anh em thợ lặn cũng đã mệt và lạnh nữa. Có lẽ phải để đến mai thôi.
Vẻ thất vọng hiện rõ trên gương mặt hốc hác của ông giám đốc. Người thợ lặn như chợt nhớ ra điều gì, vội chạy lại thuyền lấy ra một vật nhỏ đưa cho ông giám đốc.
- Nhưng chúng tôi đã tìm thấy cái này!
Đó chính là cái máy trợ thính của anh Nghệ. Ông giám đốc nhìn đăm đăm vào cái máy điếc rồi nói:
- Chính xác là anh ấy rồi. Có lẽ, tôi phải vào báo tin cho vợ con anh ấy thôi.
Quay vào phòng chờ, ông giám đốc nói to lên với các vị khách:
- Thưa các ông các bà. Theo yêu cầu của công an địa phương, các cháu chưa được phép rời nhà khách khi chưa tìm thấy xác nạn nhân để hoàn tất biên bản hiện trường vụ tai nạn. Nếu vị nào muốn lưu lại đây với các cháu thì chúng tôi xin vui lòng phục vụ. Xin đảm bảo rằng các ông các bà sẽ có ngày nghỉ cuối tuần vui vẻ, thoải mái.
Câu sau cùng có lẽ ông giám đốc nói theo thói quen nghề nghiệp nên đã khiến các vị khách ồ lên cười. Họ bất đắc dĩ phải lên đây, chứ đâu có ý định đi nghỉ cuối tuần. Nhưng xem ra phải nghỉ lại đây thật rồi. Trong khi các vị khách ồn ào kéo tới quầy lễ tân đăng kí phòng thì ông giám đốc vẫy tay, gọi anh kế toán trưởng tới bảo:
-Cậu lấy xe máy đưa tớ vào xóm Bóng. Đành phải báo tin cho gia đình anh ấy thôi.
Ngườỉ đàn bà vội buông mái tóc dài của cô con gái ra rồi đứng dậy nói với ông giám đốc:
- Tôi có ô tô ở ngoài kia, nếu ông cần đi đâu tôi sẽ bảo lái xe đưa ông đi.
Ông giám đốc quay lại nhìn chị thoáng vẻ ngạc nhiên rồi khẽ cúi đầu từ tốn đáp:
- Cảm ơn bà. Có lẽ chúng tôi đi xe máy thì tiện hơn. Đường vào nhà ông ấy cũng không thuận tiện lắm.
Cô con gái cũng đứng dậy nói với mẹ:
- Nếu mẹ bận thì cứ về Hà Nội đi. Con không sao đâu. Mai con sẽ về thôi mà.
- Không, mẹ sẽ ở lại đây với con. – Chị lại ôm lấy vai con rồi nói tiếp – Mẹ cũng muốn được nhìn thấy người đã cứu con gái cưng của mẹ chứ. Vả lại, thật là không phải khi chưa nói được câu nào để cảm ơn và an ủi thân nhân của người đàn ông dũng cảm ấy.
Cô lễ tân nhà khách tiến lại khẽ cúi đầu rồi lễ phép nói với chị:
-Dạ thưa bà... Chúng tôi chỉ còn một phòng nhỏ trên tầng ba nhưng không được tiện nghi lắm, trong trường hợp bà muốn ngủ riêng thì…
Chị mỉm cười xua tay:
- Không sao đâu. Tôi sẽ ngủ chung với con gái tôi. Vả lại, đêm nay chắc gì mẹ con tôi đã ngủ được.
*
* *
Dùng bữa tối xong, đa số các vị khách dắt nhau đi dạo trên con đường nhỏ ven hồ. Hôm nay lại đúng vào ngày trăng tròn, mặt hồ mù sương mờ ảo trong ánh trăng. Dãy Núi Chúa hiện lên đen thẫm ở phía xa như một hòn đảo trôi bồng bềnh giữa biển sương mù nối liền từ mặt hồ qua những cánh rừng. Những đàn chim kêu thảng thốt khi bay qua cái vùng sương khói ấy. Không gian thật tĩnh mịch, thê lương.
Mẹ con người đàn bà không đi dạo mà kéo ghế ra ban công nhà khách ngồi ngắm mặt hồ và tỉ tê trò chuyện.
- Sao bố không đi cùng với mẹ? Bố không lo cho con sao?
- Bố bận, con ạ. Nhưng bố đã bảo chú Vân đánh xe tới đưa mẹ đi ngay khi nhận được điện thoại của cậu Dũng. Vì trong điện thoại bố con nói chẳng rõ ràng gì cả nên mẹ lo muốn chết. Nếu con có mệnh hệ nào thì mẹ biết sống làm sao?
- Nhưng... con có sao đâu. – Rồi cô bỗng bật cười khanh khách – Cũng may là con đỗ đại học rồi đấy nhé. Nếu không, có chết thì khéo có người lại bảo nhảy xuống hồ tự tử vì thi trượt.
- Bố cô chứ, ăn với chả nói. – Người mẹ mắng yêu cô con gái – Năm nay mà cô còn trượt nữa thì tôi sẽ cho cô đi lấy chồng ngay cho rảnh nợ.
Im lặng một lúc lâu rồi cô gái lại lên tiếng nói:
- Mẹ ơi, hồi trẻ mẹ đã vào cái hồ này chơi lần nào chưa?
- Mới chỉ có một lần thôi. Từ thị xã vào đây cũng xa lắm. Hồi đó còn chưa có đường nhựa. Mẹ với các bạn trong lớp phải đạp xe mất cả buổi mới vào tới đây. Ngày ấy khu nhà nghỉ công đoàn này còn chưa xây xong. Xung quanh chỉ toàn rừng là rừng. Bọn mẹ cắm trại ở trên cái đồi thông trước lối vào nhà nghỉ bây giờ ấy. Vui lắm. Bạn bè hẹn nhau khi nào họ xây dựng xong khu nghỉ mát này thì nhất định phải kéo nhau vào đây ngủ một đêm xem sao. Thế mà thoắt cái đã hơn hai mươi năm rồi, không biết trong số bạn bè cùng lớp của mẹ đã có ai thực hiện được ước mơ ngày ấy hay chưa? Riêng mẹ thì... thật không ngờ lại được trở lại đây trong hoàn cảnh oái oăm như thế này.
- Thì... mẹ coi như một kì đi nghỉ cuối tuần đi. Chỉ có điều là đi riêng với con thôi chứ không phải đi với bố.
- Bố con thì... sẽ chẳng bao giờ chọn một nơi như thế này.
Hai mẹ con đang rúc rích trò chuyện bỗng im bặt khi nghe thấy từ dưới mặt hồ bỗng dội lên những tiếng gào khóc thảm thiết. Từ trên ban công hai mẹ con nhìn thấy một dòng đèn đuốc sáng trưng đi vào sân trước của khu nhà nghỉ. Có lẽ họ là thân nhân của người đàn ông gặp nạn. Tiếng gào khóc của đàn bà, trẻ con đã xé toang không gian tĩnh mịch huyền bí, khiến cho cả khói sương cứng vật vã vần vụ trên mặt hồ. Động lòng trắc ẩn, người đàn bà đứng dậy, nghẹn ngào nói với con:
- Ta xuống đó với họ đi!
Hai mẹ con vào phòng khoác thêm áo rồi xuống nhà. Tại phòng chờ đám đàn ông kia đã kịp quây một chiếu bạc và đang say sưa trong cơn đen đỏ. Mấy cô phục vụ đứng tựa cửa nhìn ra khóc thút thít.
Thấy hai mẹ con xuống, Dũng - anh bạn trai ham sống của Thương vội ngăn lại:
- Đừng ra đó. Người nhà của họ nổi điên lên thì phiền đấy!
Thương còn đang do dự thì mẹ cô đã cầm tay cô kéo đi. Chỉ một lát sau họ đã hoà vào đám đông dân làng và thân nhân của người bị nạn đang tụ tập ở khoảng sân trước nhà nghỉ. Ông giám đốc nhà khách đang giúp họ lập một bàn thờ hướng ra mặt hồ. Một ông già đang ra sức khuyên giải vợ con của người vừa thiệt mạng:
- Thôi đi nào, cô và các cháu hãy nén tâm lại để còn làm lễ gọi chú ấy về. Lại còn phải cầu xin thuỷ thần, thổ địa thì may ra sáng ngày mai các ngài mới cho tìm thấy chú ấy chứ.
Người đàn bà, đang nằm gào khóc trên mặt đất dường như đã cố hết sức để gượng dậy nhưng rồi chị lại rũ xuống hộc lên những tiếng kêu xé ruột.
- Ơi anh Nghệ ơi là anh Nghệ ơi...! Anh bỏ vợ bỏ con đi đâu thế này anh Nghệ ơi...!
Chị bỗng rùng mình ớn lạnh, tưởng như tiếng kêu gào ấy như một mũi kim nhọn vừa xuyên thẳng vào tim mình. Cái tên của người chết vừa được xướng lên như vừa đánh thức một vùng kí ức xa xăm nào đó trong lòng chị. Anh Nghệ... một cái tên không hề xa lạ. Cái máy điếc ròng ròng nước chảy. Hồi đó, anh cũng bảo rằng nếu như anh có tiền, sắm được một cái máy điếc thì anh sẽ nghe được hết thảy, kể cả những nhịp tim đập trong trái tim em. Nhưng, vào những năm tháng ấy, cả nước đang chìm trong khủng hoảng, đói kém, làm sao mà anh có tiền để mua được một chiếc máy như thế. Chính vì vậy mà anh đã không nghe được gì, kể cả những lời dèm pha dè bỉu của bạn bè và cả lời từ biệt của em. Em đã không chịu đựng được cái cảnh cứ phải gào lên những câu đơn giản nhất, lại phải mở to miệng ra để anh nhìn khẩu hình mà đoán xem em nói những gì. Những lời yêu thương mà lại phải nói như thế sao? Rồi bạn bè chế giễu, rồi cha mẹ cản ngăn. Rồi chân trời mới mở ra trước ngưỡng cửa của trường đại học. Em đã ra đi như vậy mà chẳng vương vấn gì nhiều mối tình đầu của tuổi học trò.
Nhưng, có phải là anh không? Làm sao mà anh lại trôi dạt vào tận vùng hồ này? Mà em nhớ ra rồi, ngày ấy khi đón bọn em vào cắm trại bên khu hồ này, anh đã nói với em rằng nếu như được lựa chọn thì anh thích sống ở một nơi có thiên nhiên tươi đẹp như thế này.
Người ta đặt lên bàn thờ anh một tấm ảnh lớn. Trong ánh đèn nến, người lính trong ảnh đang cười rất hồn nhiên. Anh vẫn còn trẻ như hồi nào, vừa từ chiến trường Campuchia trở về đứng trước ngõ nhà em cười ngô nghê rồi chỉ vào tai mình nói rất to “Anh không nghe được gì nữa rồi! Bị thủng màng nhĩ. Nhưng em yên tâm. Rồi anh sẽ góp tiền mua cái máy trợ thính”.
Đúng là anh rồi.
- Ôi anh Nghệ ơi... anh Nghệ!./.
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #2 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2008, 02:38:28 pm »

Kiều Tam cưới vợ   
                                                                       

Khuất Quang Thụy

   Không ai trong chúng tôi tin được rằng chuyện cậu Tam cưới vợ vào đúng những ngày cuối năm này lại là một chuyện nghiêm túc. Chí ít cũng đã một lần chúng tôi bị hố với hắn rồi. ấy là vào cuối năm ngoái, khi đơn vị vừa rã rời sau một đợt diễn tập trở về, trung đội của Tam đạt loại giỏi, có tới năm chiến sĩ trong trung đội được thưởng phép, trong đó có cả trung đội trưởng Tam. Ðó cũng là chuyện bình thường. Nhưng điều đáng kể là chiều hôm đó trước khi ra tàu về quê Tam tới chia tay tôi với vẻ mặt rầu rĩ: "Ðại đội trưởng ạ, tôi về phép đợt này kể như là hết một đời trai!" "Sao thế?" "Cưới vợ, chứ còn sao nữa." Tôi bật cười: "Cưới vợ là chuyện vui mừng sao mà cậu lại trình cái bộ mặt thiểu não ra thế?" "Em bị ép duyên - Tam nhăn nhó kể - Chả là ông cụ nhà em với sư đoàn trưởng của mình vốn là đồng đội cũ của nhau từ những năm đánh Mỹ, chẳng hiểu vì ân oán gì mà hai cụ lại hứa hẹn gả con cho nhau. Bố em viết thư lên nói rằng chỉ chờ em được nghỉ phép là sẽ sang thưa chuyện với nhà gái, tức là với sư trưởng của mình ấy, để xin tổ chức. "Thế thì càng tốt chứ sao. Cậu trở thành con rể của sư trưởng anh em đại đội ta cũng được nhờ". Vẻ mặt của Tam càng trở nên khổ hơn. "Vấn đề là ở chỗ... em đâu có yêu cô ấy". "Sao lại không yêu? Nàng có xinh không?". Tam nhăn mặt: "Xấu ma chê quỷ hờn. Ðã thế tính nết lại chẳng ra sao, lúc nào cũng lên mặt con ông lớn, khinh người như rác". "Thế thì vứt - Tôi cũng bắt đầu bất bình - cậu không việc gì phải biến thành vật hy sinh cho tinh thần đồng đội của mấy ông cựu chiến binh. Nếu cần, tớ sẽ kéo mấy anh em trong đại đội đi cùng với cậu lên tận sư đoàn gặp ông ấy để nói cho ra nhẽ". "Thôi thôi...- Tam vội gạt đi - Làm thế sao tiện, tôi không muốn kéo anh em vào chuyện này, để tôi tự giải quyết lấy".

   Tôi tiễn Kiều Tam ra về mà lòng vẫn không yên, thời buổi này mà còn bị ép duyên theo kiểu đó thì chịu sao nổi? Mà là ai chứ, một thằng sĩ quan trẻ giỏi giang ngang dọc hẳn hoi kia mà! Là cán bộ cấp phân đội, chẳng mấy khi tôi có dịp được gặp sư đoàn trưởng của mình nhưng trong tâm trí tôi từ trước tới nay vẫn lưu giữ được những ấn tượng tốt đẹp về ông. Ðó là một người chỉ huy dày dạn, giỏi giang, vừa có kinh nghiệm trong thực tế chiến đấu, lại vừa được học hành đào tạo đến nơi đến chốn và đã kinh qua hầu như tất cả các cấp chỉ huy từ tiểu đội đến sư đoàn, nên cán bộ cấp dưới khó mà qua mặt ông được điều gì. Nghe đồn ông sắp được điều lên làm phó tư lệnh tham mưu trưởng quân đoàn và cái lon cấp tướng cũng không phải là điều gì quá xa vời đối với một vị chỉ huy giàu năng lực như ông. Vậy mà không hiểu sao ông ta lại có thể có một hành động lạ lùng đến như vậy? Cũng không loại trừ khả năng ông quá lo lắng cho tương lai của con gái hơi bị... khiêm tốn về nhan sắc, nên đã cố bám vào những lời hứa hẹn trời ơi đất hỡi của cánh lính trận những lúc vui mồm để hy vọng kiếm cho con gái một tấm chồng "ở chốn ba quân": Và cái cậu Tam lớ quớ thế nào lại trở thành nạn nhân. Chuyện ông bố Kiều Tam là bạn chiến đấu của sư trưởng thì cả tiểu đoàn chúng tôi đều biết. Hồi Kiều Tam mới ra trường, chính ông bố đã đích thân đưa Tam lên sư đoàn nhận công tác và đã gây ra một vụ to tiếng với cánh lính cảnh vệ vì ông cứ một mực đòi xộc thẳng vào Sở chỉ huy để gặp bằng được "thằng Tâm mốc" (biệt danh của ông sư trưởng thời đánh Mỹ), cho đến khi trực ban phải điện thoại báo cáo Sở chỉ huy và sư đoàn trưởng Tâm phải đích thân ra đón khách thì ông mới chịu thôi. Gặp mặt nhau, ông cười đẩy chàng thiếu úy Kiều Tam ra trước mặt sư trưởng rồi nói: "Không phải là tao xin xỏ cho nó được về đây đâu nhé? Nhưng nó đã được điều động về đây thì tao giao nó cho mày. Hãy rèn nó cho cẩn thận. Không có ưu tiên ưu tót gì đấy nhé. Nó mà hư hỏng thì mày liệu mà ăn nói với bà Vân". Bà Vân là vợ ông, dĩ nhiên là mẹ của Kiều Tam rồi, nhưng có trời mới hiểu vì sao mà ông lại đem vợ mình ra để dọa thủ trưởng mới của con. Chỉ biết rằng từ đó Kiều Tam quả là có được sư trưởng để mắt tới theo đúng yêu cầu của ông bố, nghĩa là rèn tới nơi tới chốn chứ không một chút nương nhẹ nào, thậm chí còn bị "phân biệt đối xử" nữa là đằng khác, nghĩa là trong những lần tập huấn cán bộ phân đội trước mùa huấn luyện, khi đích thân sư trưởng kiểm tra thì bao giờ Kiều Tam cũng được một suất ưu tiên và sẽ bị hành đến nơi đến chốn nếu có sơ suất. Về phía Kiều Tam cũng vậy chưa một lần cậu ta có ý định lợi dụng mối quan hệ này để tạo thuận lợi cho mình trong công tác, thậm chí cũng chưa một lần cậu ta bén mảng tới sư đoàn bộ thăm "chú Tâm" như lời dặn của ông bố. Cũng có lẽ vì những điều ấy mà cán bộ, chiến sĩ trong đại đội càng thêm nể trọng Kiều Tam, thời buổi này mà còn có những người không coi ô dù là cái đinh gì thì kể cũng đáng nể thật. Nay bỗng dưng lại nghe Tam tâm sự về cái chuyện khó xử này tôi bỗng nổi máu anh hùng, muốn thử xả thân giúp bạn một phen.

   Chiều hôm đó, sau khi Tam đã lên đường về quê, tôi và Hải chính trị viên đại đội hội ý chớp nhoáng và đi đến nhất trí phải hành động ngay để vừa tránh cho một cán bộ cấp dưới của mình một cuộc đối đầu nan giải với việc ép duyên? vừa tránh cho thủ trưởng cấp trên của mình rơi vào một lầm lỗi có khi là "chết người" chứ chẳng chơi. Thế là ngay sau khi hết giờ buổi chiều tôi và Hải lập tức phóng xe lên thẳng sư đoàn bộ xin gặp sư đoàn trưởng. Ðang hăng hái với vị trí hậu vệ trên sân trong một trận thư hùng giữa đội sư đoàn bộ và đội tiểu đoàn thông tin, sư đoàn trưởng Tâm bị gọi ra khỏi sân vì "có một việc rất hệ trọng". Vẫn trong bộ đồ thi đấu của cầu thủ số 5, ông tiếp hai sĩ quan cấp dưới ngay tại bộ bàn ghế kê để ngồi hóng gió dưới bóng một cây si xanh tốt rễ rủ lòng thòng trước sân của ngôi nhà nghỉ dành cho các vị chỉ huy sư đoàn.

   - Hai cậu uống nước đi, xin lỗi vì ngoài giờ nên mình không được chỉnh tề lắm - Dường như để cho hai vị sĩ quan trẻ yên tâm rằng ông nhận ra họ, sư đoàn trưởng tiếp luôn - Hai cậu ở đại đội hai, tiểu đoàn một phải không? Cậu này là Sinh, đại đội trưởng, một trong năm tay thiện xạ của sư đoàn, còn cậu này là Hải, chính trị viên đại đội... Tớ không lầm đấy chứ?

   - Dạ... Thủ trưởng có trí nhớ tốt thật đấy - Tôi khen một câu lấy lệ.

   - Sư đoàn trưởng mà không nhớ mặt, nhớ tên các cán bộ chỉ huy phân đội của mình thì chỉ huy sao được. Mình biết đến tận cán bộ trung đội kia, không tin các cậu cứ thử kiểm tra xem.

   Tôi làm như tình cờ hỏi:

   - Thế thủ trưởng biết cậu Tam chứ ạ?

   - Sao lại không? Nó là một trong những cán bộ trung đội giỏi nhất của sư đoàn ta đấy. Ðại đội các cậu có được một trung đội trưởng giỏi như nó là may mắn lắm đấy. Hồi đánh Mỹ mình và bố cậu ấy cùng chiến đấu trong một tiểu đội, thân nhau lắm. Nói cho đúng ra ông Thành, bố thằng Tam là người chỉ huy của mình. Là tiểu đội trưởng thôi, nhưng ông ấy hách lắm nhé, mình đã từng bị ông ấy phạt mấy lần cơ đấy. Nhưng đánh đấm thì hăng. Ðến năm bảy mươi lăm, mình đã là tiểu đoàn trưởng, còn ông ấy thì vẫn chỉ là trung đội trưởng, nhưng mình vẫn ngại ông nhất. Trong chiến dịch Tây Nguyên, ông ấy bị thương rồi sau đó về phục viên luôn. Hôm đưa thằng Tam lên đơn vị gặp mình, ông ấy vẫn còn cay cú bảo: "Mẹ kiếp! Thằng oắt con này mới nứt mắt ra, chỉ đi học có ba năm đã được phong thiếu úy rồi. Mình thì đánh nhau bạc mặt mười năm trời mà lúc ra quân cũng chỉ là thằng thiếu úy quèn!"

   Trong lúc sư trưởng say sưa "hồi ký", tôi và Hải nhấp nháy đùn đẩy nhau chưa biết nên vào chuyện thế nào, cũng may sư trưởng hiểu ý liền ngừng lời hỏi:

   - Thế có việc gì mà cả hai cậu kéo nhau lên đây gặp chỉ huy sư đoàn?

   - Dạ... chẳng là... chẳng là - Tôi ấp úng.

   - Cứ mạnh dạn trình bày đi - Sư trưởng khích lệ.

   Tôi hít một hơi thật sâu lấy can đảm xông thẳng vào vấn đề.

   - Dạ... thưa thủ trưởng, chúng tôi rất hiểu mối tình đồng chí đồng đội rất sâu đậm của những người đã từng sống chết với nhau trên chiến hào như thủ trưởng và bác Thành bố của cậu Tam. Nhưng không nên vì thế mà để ảnh hưởng tới tương lai hạnh phúc của thế hệ sau...

   Sư đoàn trưởng ngạc nhiên nhìn chúng tôi.

   - Các cậu đang nói gì thế nhỉ?

   Tôi cười thầm trong bụng "Cha này còn giả ngây giả ngô đây. Ðã thế thì ta phải xông thẳng vào trận thôi".

   - Là chúng tôi đang nói về chuyện hôn nhân của cậu Tam với... con gái của thủ trưởng ấy mà.

   Sư trưởng trợn tròn mắt nhìn chúng tôi:

   - ... Chuyện hôn nhân... giữa... con gái tôi với... cậu Tam... nhưng...

   - Vâng... - Vì nghĩ rằng thủ trưởng sắp nổi điên đến nơi nên tôi nắm chặt lấy tay cậu Hải như để lấy thêm lòng can đảm rồi xả tiếp một hơi - Chúng tôi vừa được đồng chí Tam cho biết rằng trong đợt nghỉ phép này đồng chí ấy sẽ... phải kết hôn theo ý nguyện của hai gia đình chứ không phải vì tình yêu. Ðồng chí ấy nói rằng chỉ vì ngày trước thủ trưởng và bác Thành đã hứa hẹn với nhau rằng sau này sẽ gả con cho nhau. Ðồng chí Tam đang rất đau khổ và khó xử vì từ chối thì vừa trái ý bố vừa trái ý thủ trưởng, mà... bố và thủ trưởng thì đều là giời cả, nên...

   Mải nói, tôi không để ý thấy nét mặt thủ trưởng hết đỏ bừng lên lại tái dại đi rồi ông bỗng ôm bụng mà cười, cười ngả nghiêng xiêu vẹo cả người. Tiếng cười vốn dĩ hay lây nên chỉ một lúc sau cả Hải và tôi cũng ngặt nghẽo cười theo... mặc dù chúng tôi chưa hiểu mình cười vì cái gì?

   - ối trời đất ơi... - Thủ trưởng vừa lau nước mắt nước mũi vừa kêu trời - ông Thành ơi là ông Thành ơi! Cái thằng quỷ con nhà ông nó nghĩ ra chuyện gì thế này?

   Ðến lượt tôi và Hải nhìn nhau ngơ ngác "Như vậy là... như vậy là..." Miệng tôi lắp bắp, tôi đã lờ mờ cảm thấy hình như mình vừa làm một việc dại dột. Sau khi cười thỏa thuê, sư đoàn trưởng nhìn chúng tôi như hai thằng ngố.

   - Các cậu bị thằng quỷ ấy nó lỡm rồi. Làm quái gì có cái chuyện hứa hôn nhảm nhí đó cơ chứ? Trí khôn của các cậu để ở đâu thế? Mãi tận cuối năm bảy mươi nhăm, khi ông bố nó ở chiến trường ra thì mới đúc ra nó cơ mà. Còn tớ, vào thời điểm đó đã vợ con gì đâu mà dám hứa trở thành thông gia của ông   Thành? Tớ cũng có một cô con gái kém thằng Tam ba tuổi vừa tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm mẫu giáo thật, nhưng cái thằng quỷ ấy đã nhìn thấy nó bao giờ đâu? Các cậu sống với nhau mà chẳng hiểu nhau gì cả. Một thằng cứng đầu như thằng Tam mà lại có thể bị ép duyên à? Nó mà không thích thì dù có dí súng vào đầu nó, nó cũng chẳng chịu huống nữa là...

   Tôi và Hải chỉ muốn chui ngay xuống đất cho rồi. Thì ra tôi đã bị thằng khốn ấy cho ăn quả lừa. Còn may là tôi chưa kể ra những lời mà thằng Tam chê con gái sếp là vừa xấu người lại vừa xấu nết đấy. Thông cảm với cảnh ngộ bẽ bàng của chúng tôi sư đoàn trưởng vừa tiễn chúng tôi về vừa an ủi.

   - Dù sao thì cũng phải khen ngợi tinh thần vì đồng đội của hai cậu. Còn cái thằng trời đánh ấy thì cứ để đấy cuối tuần này tớ sẽ về tận nhà bảo với bố nó để bố nó cho nó một trận.

   Mặc dù chúng tôi sẵn sàng trả "nhuận mồm" với giá cao để được nghe Kiều Tam kể lại tấn hoạt kịch trứ danh xảy ra vào cái hôm sư trưởng của chúng tôi đến tận nhà để "bảo bố nó cho một trận", nhưng Kiều Tam vẫn im lặng. Sau khi lặng lẽ chịu phạt nửa tháng lương vì can tội dựng chuyện khiến tôi và Hải bị hố trước mặt sư trưởng, Kiều Tam tuyên bố một cách hào phóng: "Tớ vẫn có thể xét chiếu cố về nhiều mặt để lấy con gái ông ấy". Nghe hắn nói phách lối như vậy chúng tôi chỉ phì cười, không thèm chấp. ở đại đội này ai còn lạ gì miệng lưỡi của Kiều Tam nữa. Chỉ có một điều lạ là kể từ sau cái lần đi phép ấy Kiều Tam rất hay viết thư, một việc mà từ trước tới nay hắn rất ngại. Nhưng hắn viết thư cho ai và thi thoảng cũng nhận được thư của ai thì chịu, không ai đoán ra được. Theo cậu liên lạc đại đội thì chắc chắn thư gửi cho hắn là thư của con gái. Ðiều đó thì chẳng khó khăn gì, chỉ cần ngửi và nhìn nét chữ là biết ngay. Nhưng người con gái đó là ai, có quan hệ như thế nào với đương sự? Ðoán mãi không ra, "hội đồng sĩ quan đại đội" bèn đi đến một biện pháp cứng rắn. Nhằm đúng vào buổi chiều hôm hắn vừa nhận được thư, sau giờ hành chính tôi cho liên lạc gọi hắn lên hội ý gấp. Lên tới nhà đại đội, thấy có mặt đông đủ các cán bộ trung đội Kiều Tam không nghi ngờ gì, chỉ thấy hắn tủm tỉm cười rồi thỉnh thoảng lại đưa tay lên nắn túi áo ngực. Tôi liếc nhìn mọi người ra hiệu rồi hô lớn: "Bắt đầu!. Lập tức hai cán bộ trung đội ngồi hai bên chồm tới ghì cứng cu cậu vào ghế, tôi ung dung bước tới mở túi áo ngực của hắn, lôi ra một bức thư. Ðúng như lời cậu liên lạc bức thư sực nức mùi con gái. Kiều Tam la lên: "Không được, đó là thư riêng của tôi." Nhưng tôi cứ phớt lờ, mở lá thư ra đọc.

Anh thân yêu của em!

Nhận được thư của anh em mừng quá. Vậy là anh không giận em vì em đã chậm biên thư lên cho anh. Thực tình hồi này em bận quá, vừa phải dạy lại vừa phải học thêm. Em muốn lấy được tấm bằng đại học trước khi trở thành vợ anh, là vì em muốn xứng đáng với anh, một sĩ quan trẻ giỏi giang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng...

   Vỗ tay rào rào. Thế là rõ rồi, Kiều Tam đã có người yêu. Tôi lật trang cuối cung cấp thêm cho "hội đồng sĩ quan" một thông tin quan trọng nữa, tên của người yêu cậu Tam là... Em yêu của anh Nguyễn Thùy Linh. Gửi anh nhiều cái hôn nồng cháy. Lại vỗ tay rào rào. Kiều Tam giận điên lên, mặt mũi đỏ phừng phừng. Tôi trịnh trọng tuyên bố kết thúc điều tra. Từ đó Tam được xóa tên khỏi danh sách trắng, vì dù sao cũng đã có một mối tình vắt vai.

  
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Năm, 2008, 07:11:48 pm gửi bởi hoacuc » Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2008, 02:40:57 pm »

   Nhưng có người yêu là một chuyện, cưới vợ lại là một chuyện hoàn toàn khác, đó là một việc nghiêm túc hệ trọng. Ðến như tôi đây, xét về thâm niên yêu đương thì ăn đứt Kiều Tam rồi, nhưng đã bao giờ dám mơ tưởng đến chuyện cưới xin đâu. Dù rằng hắn vừa được phong quân hàm trung úy, nhưng tôi còn là đại úy mà vẫn chưa nghĩ rằng mình có thể đủ sức để xây đắp một cái tổ uyên ương đâu nhé. Chẳng lẽ thằng này cưới vợ về rồi thả cỏ?

   Với bản tính của một người thích cầm đèn chạy trước ô-tô tôi liền lấy tình đồng chí đồng đội ra thử khuyên bảo xem có thể chữa được cái máu thích lấy vợ của Kiều Tam hay không. Hắn lắng nghe một cách rất chăm chú, rồi cũng gật đầu đồng tình: "Anh nói cũng có lý nhưng kẹt một nỗi cô vợ tương lai của tôi lại hơi bị xinh gái, những điều khác lại quá lý tưởng. Tóm lại là phải theo lời dạy của các cụ thôi: "Cưới vợ phải cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha".

   Nghe hắn nói cứ tức anh ách, nhưng biết làm thế nào được, hắn cưới vợ chứ có phải tôi đâu mà tôi lo. Nhưng cái điều hắn nói rằng cô vợ tương lai của hắn... hơi bị xinh thì còn phải xem lại, xinh mà sao hắn giấu biệt như mèo giấu cứt ấy thế". Chưa một lần hắn dám đưa người yêu lên trình diện "hội đồng sĩ quan đại đội hai", đến một tấm ảnh hắn cũng không dám trình ra. Không khéo lại ma chê quỷ hờn chị em với Thị Nở. Gì chứ khiếu thẩm mỹ của Kiều Tam thì cũng rất đáng nghi ngờ.

   Nhưng rồi điều gì phải đến cũng đã đến. Có điều, lại một lần nữa Kiều Tam khiến chúng tôi ngã bổ chửng vì bất ngờ. ấy là vào một buổi chiều, tôi vừa từ bãi tập chiến thuật trở về thì chính trị viên Hải nhảy bổ vào phòng tôi với một gương mặt thất sắc, khiến tôi lập tức nghĩ tới một tai họa, chí ít cũng phải là một cú kỷ luật cấp sư đoàn.

   - Thằng Tam... nó... nó... - Hải líu cả lưỡi khiến tôi cũng phát hoảng.

   - Nó làm sao? Nói nhanh lên?

   - Nó... nó cứ.. ớ.. i...con... ô.. ông.. Tâ.. m..

   - Con nhà ai thì mặc cha nó, việc gì mà ông cuống lên thế?

   - Nhưng... đó là... là ... con...ga..ái...sư ...sư trưởng.

   - Hải? Ông nói sao?- Ðến lượt tôi ngớ ra vì ngạc nhiên - Con gái thủ trưởng Tâm à? Sao nó bảo... con gái ông ấy vừa xấu người lại vừa xấu nết? Hay nó vẫn bị ... ép...?

   - ép cái con khỉ? - Hải bỗng nổi khùng lên - Mặt nó cứ tươi hơn hớn như bắt được vàng ấy. Nó lỡm bọn ta thì có. Ðây này, nó đưa lý lịch nhà vợ để báo cáo chính thức xin cưới vợ. Ðúng một trăm phần trăm cô Nguyễn Thùy Linh là con gái của ông Nguyễn Thanh Tâm, đại tá sư đoàn trưởng.

   - Thế này thì... láo thật? - Tôi quay sang quát cậu liên lạc đại đội - xuống trung đội một gọi đồng chí Kiều Tam lên gặp chỉ huy đại đội ngay?

   Cậu liên lạc lao ra khỏi nhà ban chỉ huy đại đội như một mũi tên nhưng phải nửa tiếng sau Kiều Tam mới đủng đỉnh tới, lại còn véo von thổi sáo mồm nữa chứ! Tôi sửa soạn một bộ mặt thật nghiêm trang đứng đợi trước cửa. Khi hắn vừa vào tới hiên là tôi lên giọng chỉ huy hạ mệnh lệnh ngay:

   - Trung úy Kiều Tam... Ðứng nghiêm? Chỉnh đốn trang phục?

   Tuy hơi bị bất ngờ nhưng Kiều Tam cũng hiểu rằng lúc này không phải là lúc có thể đùa giỡn nên lập tức trở lại tư thế nghiêm chỉnh, chỉnh đốn trang phục rồi đập gót đứng nghiêm:

   - Báo cáo... Tôi, trung úy Kiều Tam, trung đội trưởng trung đội một, đã có mặt theo lệnh triệu tập của đồng chí đại úy đại đội trưởng. Báo cáo hết!

   Tôi giả vờ nhìn đồng hồ:

   - Ðồng chí đã tới muộn hai mươi phút?

   - Báo cáo... Ðồng chí liên lạc truyền đạt mệnh lệnh cho tôi không nói rõ thời gian tôi phải có mặt trình diện đại đội trưởng. Tuy vậy, tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm nếu tôi đã không chấp hành đúng mệnh lệnh của chỉ huy cấp trên.

   - Ðược rồi... - Tôi bỗng trở nên lúng túng - Ðồng chí nghe tôi hỏi đây. Tại sao... đồng chí không báo cáo chỉ huy cấp trên rằng đồng chí... yêu con gái của sư đoàn trưởng?

   - Báo cáo... Tôi nghĩ rằng đó hoàn toàn là chuyện riêng tư. Tôi chỉ có trách nhiệm phải báo cáo với tổ chức khi nào tôi có ý định xây dựng gia đình và tôi đã làm điều đó .

   - Nhưng đây lại là chuyện khác, người mà đồng chí định cưới làm vợ lại là con gái...

   - Báo cáo... Là con cái nhà ai thì có gì là quan trọng ạ?

   - Thằng quỷ, vào đây - Tôi điên tiết bỏ hết cả lễ nghĩa quân phong quân kỷ túm lấy ngực hắn lôi tuột vào trong nhà - Nào, mày nói đi, không phải với tư cách cấp dưới cấp trên gì cả mà với tư cách bạn bè xem mày đối xử với chúng tao như thế có   được không?

   Bây giờ thì Tam mới thật sự hiểu rằng chúng tôi rất giận hắn, hắn có thể không sợ cấp trên, vì hắn chẳng làm gì sai cả, nhưng hắn cũng biết sợ sự tự ái của bạn bè.

   - Xin lỗi các anh... nhưng tôi... không thể nói sớm hơn được... Vì năm ngoái tôi đã một lần đẩy hai anh vào thế khó xử. Thực tình lúc đó tôi cũng chỉ vui miệng nói đùa cho vui thôi, chứ chưa hề biết con gái ông Tâm mặt ngang mũi dọc thế nào. Ðến khi hai anh lên gặp ông ấy để... can thiệp về cái chuyện ép duyên mà tôi đã bịa ra, ông ấy giận tôi lắm. Ngay trong ngày chủ nhật tuần ấy, ông ta liền phóng xe xuống nhà tôi gặp bố tôi. Hai cụ định liên thủ để cho tôi một trận, nhưng ông Tâm lại dại dột mang con gái theo, có ý khoe, lại có ý dằn mặt tôi rằng con gái ông ấy đẹp như tiên thế này, một thằng thiếu úy ba trợn ba trạo như tôi thì đừng có mà mơ mộng hão huyền. Nhưng ông ta đã đánh giá thấp Kiều Tam này rồi. Tôi mà đã phát hiện ra mục tiêu thì... các anh biết rồi đấy, chỉ có tiến tới chứ không bao giờ chịu lùi bước...

   - Thế cậu làm cách nào để câu được con gái ông ấy? - Tôi tò mò hỏi.

   Tam nháy mắt cười:

   - Dễ ợt, bài một - dương đông kích tây - Trước hết phải làm cho ông cụ nhà mình tin rằng mình đã mê tít con gái ông Tâm nên đã dùng kế bịa ra chuyện hai cụ hứa hôn để dụ ông ấy tới đây. Ðiều này không khó khăn gì, chỉ cần nháy ông già ra rỉ tai vài ba câu là ông ấy hiểu liền, sau đó mình yêu cầu ông ấy phải làm mọi cách giam chân "địch" lại. Về khoản này thì ông già nhà mình nhiều mưu lắm. Muốn giữ ông Tâm lại thì chỉ cần dùng ba kế, thượng sách là "Hồi ký cách mạng"; trung sách là dùng lệnh bài của bà Vân, tức là mẹ mình, ông Tâm rất nể mẹ mình vì chính bà ấy đã làm mối xe duyên cho ông ấy lấy được bà vợ này; còn hạ sách là rượu. Nhưng rồi trên thực tế là đã có sự phối hợp nhịp nhàng cả ba kế trên. Hai cụ ngồi một lúc thì bắt đầu lên cơn hồi ký, cái mặt bàn uống nước lập tức thành sa bàn chiến lệ để hai vị bày hết trận này đến trận khác; bà Vân chạy qua chạy lại vừa phục vụ làm cổ động viên kiêm trọng tài cho cả hai người; và cuối cùng thì vẫn phải có một bữa cơm thân mật để chén chú chén bác...

   - Thế còn cậu thì làm gì?

  - Hỏi một câu rất thừa... Dĩ nhiên là tôi phải đơn thương độc mã tiến hành một lúc hai bài chiến thuật còn lại rồi: Bài hát - chia cắt đội hình "địch" ra mà đánh. Chỉ cần nháy mẹ mình một cái là bà liền ngọt nhạt nói với cô con dâu tương lai: "Cháu đi với thằng Tam giúp bác một chút chứ để cho thằng gà tồ ấy đi một mình thì bác chẳng yên tâm một chút nào". Khi chỉ còn một mình với nàng thì bài chiến thuật thứ ba - bao vây tiến công liên tục bắt đầu, tất cả các mũi các hướng, tất cả các ngón chiến thuật đều được huy động, kể cả việc nhắc tới tình đồng chí đồng đội thiêng liêng giữa các bậc phụ huynh và nói xa xôi về việc rất có thể các cụ hình như đã có một quyết định trọng đại nào đó liên quan tới tương lai của hai chúng mình... Tóm lại, chỉ trong một hai tiếng đồng hồ phải biết được những thông tin chính xác nhất về nàng và phải gây được cảm tình và sự tin cậy, đặc biệt là sự tin cậy ở nàng. Hai mũi vu hồi của chiến dịch do ông già bà già mình đảm nhiệm cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ðến nỗi ông Tâm quên béng cả mục đích chính của chuyến hành quân trừng phạt. Cho đến tận xẩm tối, khi sắp sửa ra về hình như ngài mới sực nhớ ra nên chỉ vào mặt mình và nói với ông già mình bằng cái giọng nửa tỉnh nửa say: "Ông Thành này, cái thằng quỷ nhà anh nó dám nói với đám bạn bè của nó trên đơn vị rằng tôi và anh đã từng hứa với nhau rằng rồi chúng ta sẽ gả con cho nhau. Anh bảo... thế nó có láo không cơ chứ?. Láo! Thằng Tam chưa được phép nói như thế khi bố mẹ hai bên chưa cho phép, phải không?". Ông già nhà mình cũng ngất ngưởng phụ họa- "Nhưng mà tôi nói thế này khí không phải... Bây giờ anh làm quan to rồi, anh có chê thằng Thành này nghèo nàn, kém cỏi không đấy?". Ông bố vợ tương lai ôm lấy ông thông gia tương lai để tỏ tình thân ái: "Ai dám chê anh nào. Anh từng là thủ trưởng của tôi, anh đã từng một lần cứu tôi thoát chết, chị Vân lại là người giúp tôi có được một người vợ hiền, đảm đang... Làm sao mà tôi dám coi thường anh chị". "Thế... còn thằng Tam nhà tôi... anh thấy nó thế nào?". "Nó... thằng Tam nhà anh ấy là... một thằng khá đấy. Có bản lĩnh, có ý chí, thông minh lanh lợi... Nhưng cũng láu cá, bướng bỉnh lắm. Nó chưa một lần tới thăm tôi đâu nhé... Cu cậu ra cái vẻ không thèm nhờ vả gì ai đấy mà... ấy thế mà cu cậu dám bịa ra cái chuyện tôi với anh đã hứa...". "Ðây là tại tôi! Chính tôi đã nói với cháu rằng... Mày cứ liệu hồn, ông Tâm không những chỉ là thủ trưởng của mày mà có thể sẽ là bố vợ tương lai của mày nữa đấy. Mẹ mày đã rỉ tai với bác Tâm gái rồi đấy...". Ông sư trưởng ngớ ra nhìn mẹ tôi: "Thì ra chị đã nói với nhà tôi rồi hả?" Mẹ tôi khéo léo đánh trống lảng: "Thì... chị em chúng tôi gặp nhau chả nói về chuyện con cái thì còn biết nói chuyện gì?". Các ông thấy cha mẹ tôi có thần tình không chứ? Thế là mọi chuyện không những được hóa giải một cách tuyệt vời mà còn tạo cho tôi những điều kiện vô cùng thuận lợi để tiếp tục cuộc chinh phục của mình. Với một điều kiện thuận lợi như thế mà tôi không đánh thắng thì còn mặt mũi nào mà nhìn các ông nữa?

  Tam kể chuyện rất hấp dẫn khiến chúng tôi quên cả sự tự ái vì đã bị qua mặt. Nhưng còn một điều nữa tôi nhất định phải hỏi.

   - Thế cô Thùy Linh có thực sự xấu như cậu đã ca cẩm với chúng tớ hồi cuối năm ngoái không?

   - Nếu vậy thì tớ thà ngậm miệng ăn vài cái roi mây của bố còn hơn. Trái lại nàng rất đẹp, rất dịu dàng nết na nên tớ mới choáng ngay từ cái nhìn đầu tiên chứ. Chính từ giây phút ấy tớ đã quyết định phải chinh phục nàng bằng mọi giá, cho dù bố nàng có là đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì mình cũng chẳng ngán.

   - Ðến đây thì chúng tôi chẳng còn cách nào khác hơn là nói câu chúc mừng đồng đội!

   Ðám cưới của trung úy Kiều Tam được tiến hành vào dịp giáp Tết, khi đơn vị đang thảnh thơi sau một mùa huấn luyện. Ðó thực sự là một đám cưới điển hình của con nhà lính. Hội trường của sư đoàn bộ đã được trang trí thành một phòng cưới lộng lẫy. Khách mời đa phần là lính trong đó có cả trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng, vốn là bạn chiến đấu với cả hai bậc phụ huynh của cô dâu chú rể. Tôi, đại đội trưởng đại đội hai, được "hội đồng sĩ quan" của đại đội nhất trí bầu là một sĩ quan chưa vợ đẹp trai nhất đại đội nên phải phù rể. Nhờ trời, phù dâu là một cô gái trẻ rất xinh gái nên tôi cũng đỡ bị thiệt thòi. Học tập Kiều Tam, tôi cũng nhanh chóng triển khai các bài chiến thuật nên chỉ trong khoảng thời gian vàng ngọc của ngày hôn lễ tôi cũng đã kịp làm quen và có những thông tin quan trọng nhất, đủ để tiến hành chiến dịch biến cô dâu phụ thành cô dâu chính vào mùa cưới năm sau.

   Có Kiều Tam làm cố vấn, tôi tin rằng mình nhất định sẽ thành công.

(Văn nghệ quân đội số 2-2000)

     
Logged
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2008, 07:31:21 pm »

Chim Bit-ta vẫn hót


Khuất Quang Thụy


Hoàng hôn xuống đúng vào lúc chiếc xe du lịch của chúng tôi tới chân đèo An Khê. Nhìn thấy núi non trùng điệp như thành quách trước mặt, lòng tôi bỗng dưng xao xuyến lạ thường. Mười năm nay tôi mới lại có dịp trở lại Tây Nguyên, vùng đất đã chứng kiến biết bao vui buồn của một thời trẻ trai, trận mạc. Tôi hạ cửa kính xe và thành kính ngước nhìn lên đỉnh núi, mặt trời đỏ rực như vừa nhẹ nhàng đậu xuống nơi ấy, khiến những đám mây bay ngang sườn núi cũng thoắt hồng rực lên. Phía xa, những tảng mây lớn, hình thù kỳ dị cũng đang trôi vùn vụt về phía mặt trời. Riêng tôi, tôi thấy chúng giống như một đàn voi đang vừa gào rống, vừa lao vun vút về phía mặt trời như muốn tới cho kịp để giữ lấy vầng mặt trời đỏ rực kia, không để nó tụt xuống phía bên kia núi rồi tắt lịm đi, để cho mặt đất bị bao phủ bởi một màn đêm tăm tối, đầy bất trắc. Có lẽ, ngày nào trên đỉnh núi kia cũng diễn ra cuộc đuổi bắt hùng tráng ấy. Nhưng, đáng buồn thay, đàn voi mây đã đến chậm. Vừng mặt trời rực rỡ phút chốc lao xuống bên kia dãy núi. Đàn voi mây đến chậm như bỗng cháy rực lên rồi tản ra, ngơ ngẩn trên sườn núi cho đến khi chìm vào bóng đêm, phải chăng, đó là hư ảnh của đoàn voi chiến năm xưa của vua Quang Trung. Chúng tôi đã chẳng có mặt trên vùng đất Tây Sơn thượng đạo, căn cứ kháng chiến năm xưa của nghĩa quân Tây Sơn đó sao?

- Một cảnh hoàng hôn thật ngoạn mục!

Ông khách người Hà Lan của chúng tôi bỗng thốt lên như vậy rồi quay sang phía bà vợ của ông, hào hứng nhắc lại những kỷ niệm của họ trong những chuyến thám hiểm. Nhắc lại những buổi hoàng hôn trên dãy Himalaya. Rồi, ông quay sang tôi:

- Theo như tôi biết, thì chúng ta đang ở sườn phía đông của Trường Sơn, phải không ông?

- Đúng vậy, thưa ông bà. Chúng ta cũng sắp tới vùng đất mà ông bà dự định sẽ tới.

Im lặng một lúc lâu. Khi dường như chiếc xe của chúng tôi đã lên đến đỉnh đèo, ông khách của chúng tôi lại lên tiếng hỏi:

- Ông có hy vọng rằng chúng ta sẽ tìm được Bitta trong chuyến đi này không?

Để ông bà yên lòng tôi đáp khẽ:

- Tôi hy vọng chúng ta sẽ thành công.

Đáp vậy, nhưng lòng tôi không mấy tin tưởng. Vả lại, tôi cũng không thấy có gì thật quan trọng trong cái việc liệu có tìm thấy hay không tìm thấy ở nơi núi rừng trùng trùng điệp điệp này, một loài chim được coi như là đã tuyệt chủng. Chỉ tình cờ mà tôi trở thành người trợ thủ cho ông bà Vây-mơ, nhà điểu học người Hà Lan, trong chuyến thám hiểm này của họ. ở viện, tôi được coi là một người có nhiều hiểu biết về núi rừng Tây Nguyên, tôi đã từng chiến đấu nhiều năm ở đó, đã làm luận án về rừng Tây Nguyên, đã nhiều lần đi khảo sát và có nhiều bạn bè ở vùng này. Nghề của tôi là nghề lâm sinh, tôi biết khá rõ về cây, rừng nhưng lại ít chú ý tới chim thú. Tuy vậy, khi cần phải có một người đi với nhà điểu học Hà Lan thì ông viện trưởng lại nhớ đến tôi. Ông gọi tôi đến văn phòng và bảo "Có một nhà điểu học Hà Lan cần đi Tây Nguyên để tìm một loại chim. Các nhà sinh vật của chúng ta cũng không biết nó có hay không có ở nước ta. Ông già Hà Lan này thì lại tin chắc rằng chúng vẫn tồn tại ở đâu đó trong rừng Tây Nguyên. Bọn mình muốn cậu đi với ông ta một chuyến, học được gì thì học. Cậu biết về Tây Nguyên, lại nói được cả tiếng Anh, tiếng Đức... à, mà cậu lưu ý, ông Vây-mơ có đem theo cả phu nhân nữa. Bà ta cũng rất... dễ chịu...".

Thế là tôi trở thành thành viên của "nhóm Bitta" như ông bà Vây-mơ vẫn gọi. Ngoài tôi và ông bà ra, nhóm còn có thêm hai thành viên nữa. Đó là một cô phiên dịch xinh đẹp tên là Thủy mà điểm yếu duy nhất là "không dịch được những cụm từ chuyên môn". Cô ta rất phấn khởi khi biết tôi hiểu và nói được tiếng Anh, tiếng Đức ở cả "phần đời" lẫn "phần đạo". Một thành viên nữa của nhóm còn kỳ lạ hơn, đó là Nỗ, được giới thiệu là một "người hướng dẫn du lịch", với một khuyết điểm nho nhỏ, là "không biết tý gì về nghiệp vụ hướng dẫn du lịch" và chẳng mấy khi thấy anh ta xúc động trước những danh lam thắng cảnh, nước biếc non xanh. Dần dần tôi cũng hiểu, thực ra anh ta là người được phái đi để bảo vệ an toàn cho hai vị khách quý.

Trước khi rời Hà Nội ra đi, ông bà Vây-mơ xúc động trao cho mỗi chúng tôi một đôi áo phông có in hình con chim mà ông gọi là chim Bit-ta và yêu cầu chúng tôi mặc vào để lên đường lấy may. Chiếc xe chở chúng tôi đi là một chiếc Toyota 12 chỗ ngồi, cũng được gắn lên thành xe hình những con chim Bit-ta. Tôi tự nhủ, chúng tôi trông cứ như một đội bóng sắp sửa ra sân vậy. Nỗ nhún vai bảo tôi: "Họ lắm tiền mà! Lên rừng tìm chim thì thật là điên rồ". Còn cô phiên dịch xinh đẹp thì ghé vào tai tôi, nói nhỏ "Nếu tìm được Bit-ta là có ối ngoại tệ đấy, anh Dũng ạ".

II

Tiến sĩ Vây-mơ là một nhà nghiên cứu môi sinh nổi tiếng trên thế giới. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài chim, thú quý hiếm còn tồn tại ở những vùng khí hậu khác nhau trên thế giới. Trong những năm gần đây ông chú ý tới vùng á nhiệt đới. Trong đống tài liệu lưu trữ mà ông đọc được khi nghiên cứu ở Paris, có tập tài liệu do một nhà du lịch người Pháp ghi chép trong những chuyến thám hiểm mà ông ta thực hiện ở xứ Đông Dương từ những năm đầu thế kỷ này. Tập ghi chép đã nhắc tới nhiều loại chim thú quý và những loại kỳ hoa dị thảo ít được biết đến trên thế giới. Là một nhà điểu học, tiến sĩ Vây-mơ bỗng giật mình khi thấy trong tập tài liệu có nhắc tới một loài chim đã từ lâu được coi là tuyệt chủng trên thế giới. Đó là một loài chim được các nhà điểu học gọi tên là chim Bit-ta. Trong cuốn ghi chép của nhà du lịch người Pháp này, loài chim ấy được miêu tả rất chính xác, kèm theo cả hình vẽ và ảnh chụp tiêu bản. Mặc dù trong tài liệu này loài chim ấy được gọi bằng một cái tên rất khó đọc, do nhà du lịch phiên âm theo thổ ngữ địa phương, nhưng tiến sĩ Vây-mơ vẫn khẳng định nó chính là loài chim Bit-ta mà ông đang tìm kiếm. Vì nó mà ông và En-sa, vợ ông, đã lặn lội khắp xứ ấn Độ, xứ Trung Quốc, xứ Miến Điện... Bởi vì, bằng nhiều luận cứ khoa học, ông không tin rằng loài chim quý ấy đã bị tuyệt chủng. Vì thế, ông quyết tâm chuẩn bị một chuyến thám hiểm ở Việt Nam, lần theo hành trình của nhà thám hiểm người Pháp năm xưa để tìm chim Bit-ta. Ông tin rằng, một loài chim còn được một đồng nghiệp mô tả tràn đầy sức sống như vậy không dễ gì bị tuyệt chủng trong vòng chưa đầy một thế kỷ. Nhưng, vẫn còn một yếu tố phải tính đến, đó là chiến tranh. Gần một thế kỷ qua trên đất nước này không mấy khi im tiếng bom đạn. Vùng đất mà ông sắp đặt chân tới đã trở thành một chiến trường nổi tiếng khắp thế giới. Chiến tranh, hai tiếng khủng khiếp đó đối với ông cũng không xa lạ gì. Ký ức thời trai trẻ của ông gắn liền với những diễn biến của thế chiến thứ hai. Hơn thế nữa, ông còn được nếm mùi trại tập trung, được chứng kiến các dân tộc châu Âu quằn quại trong cơn cuồng của bọn phát-xít. Những năm tháng ấy, họa diệt chủng treo lơ lửng trên đầu nhiều dân tộc chứ đâu chỉ với những loài chim muông cầm thú. Nhưng rồi, lương tri con người đã thức tỉnh, các dân tộc đã vùng lên kề vai sát cánh chiến đấu tiêu diệt bọn phát-xít. Nhờ ơn Chúa, châu Âu đã vượt qua được cơn tai biến khủng khiếp ấy. Và rồi cuộc sống lại xanh tươi. Nhưng rồi, ngọn lửa chiến tranh lại bùng lên ở nơi này hay nơi kia trên trái đất. Xứ sở xanh tươi này cũng không thoát khỏi tai họa khủng khiếp ấy. Theo dõi những tin tức về cuộc chiến tranh này trong suốt hai chục năm trời, ông không hiểu vì sao một đất nước nhỏ bé, một dân tộc nghèo nàn lạc hậu đến như vậy lại có thể chiến thắng trước một đội quân khổng lồ có những kho vũ khí, súng đạn vào loại khủng khiếp nhất thế giới như quân đội Mỹ. Người Việt Nam đã tự bảo vệ được đất nước mình, dĩ nhiên bằng một cái giá khá đắt mà cho đến hôm nay, họ vẫn đang còn phải trả. Trong mấy chục năm bão lửa ấy, đến núi non, sông suối còn phải biến dạng, nói chi đến một loài chim nhỏ bé và yếu đuối như chim Bit-ta?

Ông không hề ngạc nhiên khi ở Hà Nội, không mấy ai biết đến loài chim này, đến cái tên của nó cũng còn khiến nhiều nhà chuyên môn về sinh vật và môi trường Việt Nam ngỡ ngàng. Ngay cả ngài viện trưởng cũng chỉ biết cười hồn nhiên mà nói rằng: "Xin lỗi ngài tiến sĩ, trong mấy chục năm qua chúng tôi còn chưa đủ thời gian để quan tâm đến mỗi con người, kể chi đến một loài chim? Tuy vậy, một khi ông bà đến đây thì chúng tôi sẽ cùng với ông bà thử kiếm tìm. Biết đâu đất nước chúng tôi chẳng giữ được cho nhân loại một loài chim quý?

Và, ông đã nhận được mọi sự giúp đỡ cần thiết, kể cả một người trợ thủ đắc lực như kỹ sư Dũng. Anh ta đã giúp ông nhanh chóng có được mọi tài liệu cần thiết về khí hậu, môi trường, về rừng Việt Nam và các nhóm sinh vật trong mỗi khu vực, mỗi vùng tiểu khí hậu. Tóm lại, đó là một kỹ sư có năng lực, đã từng chiến đấu nhiều năm ở vùng cao nguyên mà ông sẽ tới và đã từng là nghiên cứu sinh ở Đức, có kiến thức vững vàng, nói thông thạo tiếng Anh và tiếng Đức. Như thế là quá đủ để bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm.

Bên cạnh ông là En-sa. Phải, bao giờ cũng là En-sa. Mặc dù đã ngoài năm mươi tuổi, nhưng chưa bao giờ En-sa chịu thừa nhận rằng mình không còn phù hợp với những chuyến đi vất vả gian nan kiểu như thế này. Khi ông vừa hé ra ý đồ đi thám hiểm ở Việt Nam là nàng lập tức quyết định: "Em cần phải luôn ở bên anh. Khí hậu ở vùng này thật khủng khiếp, em biết rõ là như vậy mà. Vả lại... chim Bit-ta cũng là tình yêu của em. Ta cần phải tìm ra chúng, dẫu có phải lộn trái cả vỏ trái đất này lên. Nhưng em tin rằng những con chim bé nhỏ ấy vẫn chờ đợi chúng ta ở đâu đó!".

Niềm tin của En-sa thật mãnh liệt và cần thiết cho ông xiết bao?

 
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #5 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2008, 10:41:57 am »

Vườn cũ

Năm nào cũng vậy, cứ vào dịp giữa tháng Chạp là con phố trước cửa cơ quan tôi biến thành một cái chợ hoa. Cái chợ hoa lúc đầu có lẽ được hình thành tự phát, do thói quen của cả kẻ mua người bán, nhưng rồi nhà chức trách cũng phải vào cuộc. Hàng năm cứ tới thời điểm này là chính quyền phường sở tại phải hình thành một bộ phận quản lí chợ hoa, rồi cũng chăng dây vạch giới, treo đèn kết hoa để tạo ra cảm giác yên tâm cho cả người mua lẫn người bán, rằng dù là chợ tạm, nhưng vẫn cứ có bàn tay của nhà quản lí. Có lẽ ít có những chủ trương chính sách nào của chính quyền lại “đi vào cuộc sống” một cách nhanh chóng và vui vẻ đến như vậy. Người mua kẻ bán tới chợ hoa đều chấp nhận những luật lệ của Ban quản lí, dù rằng những luật lệ ấy hầu như không có gì nhiều, thậm chí bất thành văn, lại có tính dân chủ rất cao. Ví dụ như những ngày đầu, Ban quản lí chỉ cho phép chợ họp từ điểm A đến điểm B, nhưng ngày hôm sau khách vào chợ đông hơn, hàng hoa bày tràn ra cả ngoài khu vực qui định, mấy ông trật tự viên đi thổi còi xua dồn mãi chả được thì cũng thôi, nhưng để duy trì kỉ cương, thì đành phải chơi trò “đất chẳng chịu giời thì giời chịu đất”, mấy ông quản lí liền lẳng lặng đi chuyển cái ba-ri-e ra ngoài khu vực vừa phát sinh, hợp pháp hoá sự quản lí cho đoạn đường phố vừa bị cái chợ nứt nở ra nuốt mất. Trong những ngày chợ hoa họp, dĩ nhiên những chỉ thị, nghị quyết của chính quyền thành phố về quản lí vỉa hè, lòng đường, bảo vệ môi trường, văn minh thương mại... cũng phải tạm quên đi. Sự nhượng bộ ấy của nhà chức trách hình như là những đặc ân, chỉ dành riêng cho cái chợ vui vẻ này suốt từ sáng sớm tới tận đêm khuya, muôn hồng ngàn tía từ năm cửa ô ùn ùn đổ về khu chợ hoa, người mua kẻ bán đi lại tấp nập, cười nói ồn ào, có lúc lòng đường không còn chỗ mà len chân.

Vào những ngày đó, công việc ở cơ quan tuy vẫn còn, nhưng xem ra mọi người không mấy ai đủ kiên nhẫn ngồi trước bàn làm việc khi không khí chợ hoa đang ồn ào náo nhiệt ngoài kia, khi hương thơm của các loại hoa tràn cả vào phòng và nhất là khi mấy đồng tiền thưởng cuối năm vừa được nhận cứ cựa quậy trong túi. Thế là đứng dậy và xuống đường.

Năm nào tôi cũng gặp vợ chồng anh giáo Thân ở chợ hoa. Những năm đầu tiên hai vợ chồng mỗi người một xe thồ, đưa cây đưa hoa tới chợ rồi chị đứng bán, anh tiếp hàng. Đêm có khi hai vợ chồng cũng không về nhà mà trải áo mưa ngủ vạ ngủ vật ngay trên vỉa hè chờ sáng.Vài năm sau, làm ăn khấm khá hơn thì nhà ấy thuê hẳn một xe tải nhỏ chở đào quất lên chợ, thuê thêm người đứng bán. Chị vợ quán xuyến việc bán hàng, anh chồng nhẩn nha đi quanh chợ tán gẫu với những anh bạn hàng, học lỏm bí quyết hãm cành, ra tán, tạo thế cho cây. Đào quất là hai mặt hàng chủ lực của nhà ấy, mấy năm gần đây anh Thân còn có thêm mặt hàng bon sai, những loại cây cảnh của anh, tuy chưa thoát khỏi tính dễ dãi của loại hàng chợ, hàng làm xô bán mớ, nhưng cũng đã có những nét tinh tế rất riêng biệt. Bạn chợ khen anh có khiếu về cây cảnh, chỉ vài năm nữa, khi đủ độ chín thì nhất định anh sẽ trở thành một nghệ nhân có tiếng trong làng Bon sai ở đất Hà thành. Nhiều người không biết kĩ về anh còn cam đoan rằng anh đích thị là dân Nghi Tàm - Quảng An chính gốc, chí ít cũng phải thừa hưởng truyền thống của một gia đình có nhiều đời làm nghề trồng hoa. Thậm chí có người còn nói, Thân sinh ra là để làm nghề trồng hoa.

Nhưng tôi thì biết rất rõ về anh. Anh không phải là người được sinh ra và lớn lên ở vùng đất hào hoa trữ tình này của thủ đô. Câu chuyện về cuộc đời anh cũng rất lạ lùng, mang dáng dấp của một câu chuyện truyền kì, rất đáng được chép lại.

*

Tôi gặp Thân lần đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên vào năm 1973, khi Hiệp định Pari về lập lại hoà bình ở Việt Nam vừa có hiệu lực. Cả nước đang nô nức mừng vui nhưng chiến trường Tây Nguyên có lẽ là một trong số những nơi không biết đến một ngày im tiếng súng. Ngay trong ngày đầu tiên Hiệp định Pari có hiệu lực, một liên đoàn biệt động ngụy Sài Gòn cùng một thiết đoàn xe tăng M48 đã tràn ra lấn chiếm vùng giải phóng của ta ở khu vực Bàu Cạn - Thanh An. Cuộc chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng đã diễn ra vô cùng quyết liệt. Hồi đó, tôi đang làm phóng viên cho tờ tin Chiến Thắng của sư đoàn, nghe tin lần đầu tiên xe tăng M48 của địch xuất trận trên Tây Nguyên đã bị bộ đội ta đánh cho tơi tả, trong đó có một xạ thủ B41 tên là Nguyễn Văn Thân đã bắn cháy ba chiếc trong một trận đánh chặn trên đường 19 kéo dài. Vì thế tôi vội vã lên đường tới chiến trường để gặp người dũng sĩ ấy. Tuy vậy, vì chiến dịch đang diễn biến phức tạp nên phải một tuần sau tôi mới tìm được anh. Nơi chúng tôi gặp nhau là một đồi chè bát ngát thuộc khu dinh điền Bàu Cạn. Tiểu đoàn của Thân, người dũng sỹ diệt xe tăng mà tôi đang tìm gặp vừa được lệnh hành quân tới đây xây dựng một trận địa phòng ngự để ngăn chặn những cuộc tiến công mới của địch ra vùng giải phóng. Vừa gặp nhau, mới nghe anh mở miệng nói vài câu chào hỏi xã giao tôi đã vui mừng reo lên:

- Bỏ mẹ rồi... Hình như ông cũng là dân Sơn Tây?

-Vâng... Quê em ở Ba Vì... Anh cũng là người xứ Đoài phải không? Lúc nãy, nghe anh nói chuyện với chính trị viên em đã nhận ra ngay cái giọng của người quê mình... nhưng chưa tiện hỏi?

Rồi Thân chỉ ra đồi chè trước mặt:

- Nhìn những đồi chè này mà nhớ nhà quá thôi, anh ơi. Quê em ở Ba Trại mà... Chè Ba Trại chắc anh cũng biết tiếng rồi. Nhưng có điều, những đồi chè ở ngoài quê còn lâu mới đẹp được như thế này. Hương vị thứ chè này cũng lạ lắm. Để em đi hãm một bi đông chè tươi, anh em mình vừa uống chè và trò chuyện thì hay hơn!

Đêm đó, tôi ngủ lại trong căn hầm ở trên trận địa phòng ngự của đơn vị Thân trên đồi chè Bầu Cạn. Không biết vì lâu ngày mới lại được uống nước chè, hay vì nhớ nhà mà đêm ấy hai chúng tôi đều trằn trọc không sao ngủ được. Hai thằng nằm ôm nhau rì rầm trò chuyện suốt đêm. Thì ra Thân cũng thuộc lứa “tân binh sinh viên” vừa bổ sung vào chiến trường đợt cuối năm bảy mốt. Trước khi nhập ngũ, Thân đã là sinh viên năm thứ nhất của trường đại học Sư phạm Hà Nội.

Thân kể: “Bố mẹ em đều là công nhân Nông trường Ba Vì. Bố làm việc ở trại bò của Anh hùng Hồ Giáo. Mẹ thì ở đội trồng chè. Những năm chiến tranh, nông trường làm ăn rất vất vả. Trại bò của bố mai một dần, đội chè của mẹ thì phải quay ra trồng sắn để tự túc lương thực cho công nhân và gia đình. Nhà có mấy mẫu vườn khai hoang được, trước đây trồng chè, trồng cây ăn quả nay bố mẹ em cũng cho phá hết đi để trồng sắn. Những ngày tháng ấy nước mình thiếu thốn đủ thứ, nhưng cái thiếu nhất là lương thực, thực phẩm. Cả nước ăn ngô ăn sắn, có hạt gạo nào đều phải dành gửi ra chiến trường cả. Em cứ nghĩ, mình mà đi bộ đội thì chắc phải được ăn cơm cho no mới đánh được giặc chứ. Vậy mà khi vào đến chiến trường này, không ngờ... cũng lại ăn toàn sắn. Thậm chí còn có khẩu hiệu “cây sắn tiến công”, “sắn đi trước, chiến dịch đi sau”... -Thân lắc đầu cười rồi nhận xét một cách hóm hỉnh - Có lẽ, cái số em đi đâu cũng chỉ được ăn sắn mà thôi. Mai này thống nhất, nếu còn sống, nhất định em sẽ xuống dưới miền đồng kiếm một cô vợ để chỉ trồng lúa, và ăn toàn cơm trắng cho đã đời...

Rồi Thân kể tiếp:

- Tuy khó khăn là vậy nhưng bố mẹ em vẫn động viên em phải cố mà học. Khi lên cấp 3 em phải ra học trọ ngoài thị xã. Mỗi tuần một lần về Ba Vì gùi sắn khô ra để ăn. Ăn sắn nhiều đến mức đêm nằm mơ cũng chỉ thấy toàn sắn là sắn. Đến khi vào đại học, ăn cơm sinh viên không có sắn nhưng lại toàn hạt bo bo với mì cục. Đã thế lại không bao giờ được lửng dạ nữa. Sinh viên anh nào anh ấy đều đói mờ mắt, suốt ngày chỉ nghĩ tới chuyện ăn, còn học hành vào đâu được? Nhất là những thằng con trai miền núi như bọn em, ăn sắn nhiều ruột rỗng, dạ dày to ra thì lại càng đói tợn. Các cụ bảo, đói đầu gối phải bò...Và rồi cuối cùng, em cũng tìm ra cách để kiếm thêm cái ăn...

Tôi cười, hỏi:

- Cách gì? Chẳng lẽ lại đi buôn à?

- Hồi đó, phải là dân có sừng có mỏ mới dám nghĩ đến chuyện ra chợ đen. Bọn sinh viên nhát như cáy chúng em thì hễ cứ nhìn thấy ông công an, ông thuế vụ đã run cầm cập rồi, buôn với bán gì được? Anh có biết bọn em cải thiện bằng cách gì không?

Tôi lắc đầu. Thân cười khinh khích trong bóng đêm:

-Anh không thể nghĩ ra được đâu. Độc đáo lắm! Là bọn em đi bắt cóc bán cho mấy ông chuyên làm thịt cóc để làm thuốc chống suy dinh dưỡng cho trẻ con ở Hà Nội. Hồi đó do chiến tranh, đói kém nên trẻ con bị suy dinh dưỡng rất nhiều. Tình cờ mà em quen được với một ông chuyên chế biến thịt cóc ở gần chợ Cầu Diễn, có thể nói ông ấy làm giàu được vì nghề này đấy. Ông ta bảo em: “Nếu các cậu bắt được cóc thì đem về đây tôi cân cho. Bao nhiêu cũng được”. Có được mối này, em mừng lắm. Nhưng lại nghĩ, Hà Nội thì làm gì có cóc. Phải chờ hôm nào được nghỉ về quê bắt mang xuống mà bán thôi. Tình cờ, có một buổi chiều, em cùng mấy đứa bạn vào nghĩa trang Mai Dịch học để ôn thi. Một cô bạn gái đang mải mê ngồi học bỗng nhiên thét lên một tiếng kinh hoàng rồi ngất xỉu. Thì ra nàng bị một con cóc cụ nhảy ngay vào lòng. Không lẽ, nơi này mà lại có cóc? Trong khi các bạn bỏ chạy tứ tán thì em ở lại lần mò đi khắp nghĩa trang và phát hiện ra nơi này quả nhiên là một mỏ cóc! Thế là em bắt đầu khai thác cóc từ cái mỏ này, rồi dần dần lần vào trong các xóm ngoại ô. Thì ra, dù ở đô thành hay chốn làng quê, cóc nhái, ễnh ương vẫn có cách để tồn tại... Có thể nói, đây là một phát kiến rất vĩ đại đối với bản thân em. Nhờ nó mà em kiếm được ối tiền, chống được cái đói kinh niên của thời sinh viên. Lại có tiền mua được cả dép nhựa Tiền phong với bút máy Hồng Hà tặng cô em gái nữa kia.Tiếc rằng, em chưa khai thác nguồn tài nguyên này được bao nhiêu thì đã được lệnh gọi nhập ngũ!

Tôi cười an ủi Thân:

- Biết đâu, sau này cậu lại chẳng có thời cơ để tiếp tục khai thác nguồn tài nguyên đó?

- Em không dám hi vọng còn sống tới ngày đó - Thân ngồi dậy, mở bi đông nước chè tu thêm một hớp rồi nói tiếp - Nhưng, nếu hoà bình thống nhất rồi thì đất nước mình mấy mà giàu lên, làm gì còn có cảnh túng đói nữa mà còn phải đi bắt cóc bán kiếm gạo ăn, hả anh?

Rồi giọng anh bỗng trở nên mơ màng, xa vắng:

- Khi ấy, dù không còn trẻ nữa, em cũng quyết trở lại trường đại học để học tiếp. Học xong, em sẽ về Ba Vì, vừa dạy học vừa làm vườn. Nhà em có khu vườn tuyệt lắm. Có cả một cái hồ nhỏ và một con suối chạy quanh. Nhưng lúc đó, chắc chắn sẽ không còn ai trồng sắn nữa mà người ta sẽ chỉ trồng hoa, trồng cây ăn quả và các loại chè ngon thôi, phải không anh?

Ngày ấy, tôi cũng dễ dàng tin vào những ước mơ giản dị đó.

Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #6 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2008, 10:42:32 am »

*

Mãi tới năm 1978 tôi mới gặp lại Thân lần thứ hai khi anh đang học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Thực tình tôi cũng đã quên bẵng mất cuộc gặp gỡ lần trước, quên cả gương mặt người dũng sĩ diệt xe cơ giới, quên câu chuyện của anh về những nương sắn đồi chè dưới chân núi Ba Vì và quên luôn cả những chú cóc trong nghĩa trang Mai Dịch. Hôm ấy, trường Đại học Văn hóa, nơi tôi đang theo học và trường Đại học sư phạm tổ chức một buổi giao lưu văn nghệ. Không ngờ, tôi nhìn thấy Thân bước ra sân khấu, đầu đội chiếc nón mê, ngang lưng thắt một chiếc giỏ tre... Khán giả ồ lên cười và hò reo khích lệ. Tôi nghe thấy trong đám sinh viên sư phạm có người hét lên: “Tổng Cóc đấy! Vỗ tay to lên chúng mày ơi !” ... Tiếng vỗ tay ran lên cùng với tiếng hô đồng thanh của đám sinh viên sư phạm “Tổng cóc... Cố lên!” “Đừng run đấy... Lớp trưởng! Có chúng tôi đây”. Thân cúi đầu chào khán giả rồi bắt đầu biểu diễn một tiết mục độc tấu hài. Không ngờ, đó lại là câu chuyện về một nhóm sinh viên trường sư phạm vì đời sống quá khó khăn đã nghĩ ra cách tập hợp nhau lại đi bắt cóc, thu gom cóc và chế biến ra những mặt hàng dinh dưỡng cho trẻ em từ thịt cóc? Từ cóc mà lên!... Nhóm sinh viên đó đã giúp đỡ nhau vượt qua những năm đất nước đang chìm trong khủng khoảng kinh tế để tiếp tục học tập. Nhờ cóc mà có một sinh viên quê ở tận Nghệ An đã không phải bỏ học vì nhà quá nghèo... Người kể chuyện tự xưng mình là “Giám đốc xí nghiệp cóc”, đã để lại một ấn tượng thật khó quên, khán giả được một phen cười ngả nghiêng, cười ra nước mắt trước những tình huống éo le, những cảnh ngộ trớ trêu của những chàng sinh viên khi len lỏi vào các làng xóm ngoại thành đi thu gom cóc. Tôi cũng cười và nóng lòng muốn gặp lại chàng dũng sĩ diệt xe tăng năm xưa nên vội tìm cách len về phía sau sân khấu. “Tổng Cóc” đã biểu diễn xong nhưng còn đang bị các chàng trai cô gái của trường sư phạm vây chặt, vừa tặng hoa, vừa nhao nhao nói những lời chúc mừng. Trong khi chờ đến lượt mình được “diện kiến”, tôi hỏi một cậu sinh viên đứng bên cạnh:

- Này... bài tấu vừa rồi là chuyện thật hay chuyện bịa đấy!

Cậu sinh viên hăng hái khẳng định:

- Toàn chuyện thật cả đấy. Thậm chí, anh Thân lớp trưởng của bọn tôi, là cái anh vừa độc tấu ấy, còn lấy được cả vợ vì đi bắt cóc đấy. Vừa cưới tháng trước hẳn hoi nhé. Bọn tôi đã đề nghị anh ấy bổ sung cả chuyện này vào bài tấu nhưng anh ấy nhất định không chịu.

Tôi ngạc nhiên kêu lên:

- Cậu ta đã lấy vợ rồi kia à?

- Chứ sao? Anh ấy là bộ đội phục viên về đi học. Vì thế nên mới có đủ gan để làm cái dịch vụ cóc nhái này chứ. Nhiều tuổi ra phết rồi đấy. Từng là dũng sỹ diệt xe tăng chứ không phải đùa đâu nhé!

Tôi định nói với cậu sinh viên trẻ rằng điều này thì tôi biết kĩ hơn anh, nhưng nghĩ sao lại thôi. Tôi quyết định sẽ phải gặp “tổng cóc” cho bằng được, nhưng sẽ không phải là hôm nay, tôi biết có gặp nhau vào lúc này chúng tôi cũng chẳng nói chuyện với nhau được nhiều vì đêm liên hoan vẫn còn đang tiếp tục và hình như Thân lại là đầu trò của đám sinh viên sư phạm.

Tôi quyết định ngày một ngày hai sẽ sang tận trường tìm anh.

*

- Này Thân... Cái chuyện cóc nhái mà cậu viết trong bài tấu ấy... là chuyện thật, chuyện mới cả chứ?

Thân ngước nhìn tôi rồi hỏi lại:

-Anh là nhà văn mà còn chả bịa ra được những chuyện như vậy, nữa là tôi?

- Hồi ở Bàu Cạn, nghe cậu kể chuyện này còn tin được. Vì dù sao, hồi đó cậu cũng đang còn trẻ... Chả lẽ, đến khi từ chiến trường trở về, cậu lại tiếp tục khai thác cái “nguồn tài nguyên” thiên nhiên đó sao?

Thân cười buồn:

- Thực ra... Sau chiến tranh trở lại trường đại học, em cũng muốn quên đi chuyện đó để chuyên tâm vào chuyện học hành. Nhưng anh cũng biết rồi đấy, sau chiến tranh đời sống còn khó khăn hơn rất nhiều. Đất nước dường như đã vắt kiệt sức cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, chưa thể gượng dậy ngay được. Cánh sinh viên vẫn đói dài, thậm chí còn đói hơn cả hồi em mới vào trường. Điều này thì anh cũng biết quá rồi còn gì? Hay sinh viên trường văn hoá các anh khấm khá hơn? Bố mẹ em thì đã già, các em lại còn nhỏ, hầu như gia đình chẳng giúp thêm được gì? Mấy đồng phụ cấp thì làm sao mà đủ sống để mà học hành cho tử tế. Vì thế, mà em lại phải nghĩ cách xoay xở. Nhưng lần này em không làm một mình mà rủ thêm mấy người bạn trong phòng cùng làm. Qui mô hoạt động của bọn em cũng lớn hơn nhiều, lại khép kín từ khâu thu gom, chế biến đến tiêu thụ. Vì thế mà có người gọi đùa là”Xí nghiệp cóc!”. Khi chuyện bọn em thu gom, kinh doanh cóc lan ra, cũng nhiều chuyện lôi thôi lắm. Thậm chí nhà trường đã gọi em lên chất vấn một buổi và có ý định cấm bọn em không được làm thêm bằng cách này nữa. Em cũng tranh luận ra trò... Và cuối cùng thì nhà trường cũng chỉ khoanh lại mấy điều - Một là không để ảnh hưởng đến học tập, đến sự đoàn kết trong trường trong lớp - Hai là không được làm ô nhiễm môi trường, cụ thể là không được mang cóc nhái gì về khu tập thể - Ba là không được gây ra chuyện gì ở bên ngoài, nhất là không lôi thôi với cơ quan thuế vụ làm ảnh hưởng tới nhà trường. Ban giám hiệu nhà trường không nói đến chữ cấm! Thế là từ đó, coi như bọn em được bật đèn xanh. Thực ra, cái gọi là “làm kinh tế phụ”của bọn em cũng có gì phức tạp lắm đâu? Chỉ chịu khó một tý, và đừng có mắc cái bệnh sỹ dởm là được thôi mà...

Nhớ lại những điều mà cậu sinh viên cùng lớp với anh nói trong đêm giao lưu văn nghệ, tôi liền hỏi:

-Này... Nhưng tớ nghe nói... Trong khi đi bắt cóc... Cậu còn bắt được cả vợ nữa kia mà!

Thân cười bẽn lẽn:

- Chuyện đó... mà anh cũng biết sao?

- Biết chứ.... Mình là nhà báo mà. Nhưng yên trí đi, nếu cậu chưa nhất trí thì câu chuyện này sẽ không được đăng lên báo đâu mà lo.

Thân kể:

- Cô ấy là một cô gái làm nghề trồng hoa ở làng Quảng An . Tình cờ, một hôm vào đó thu gom cóc, em đã cứu được một đứa bé gái bị ngã xuống hồ. Không ngờ đứa bé lại là em gái của cô ấy. Lúc đầu chỉ vì ơn nghĩa mà cô ấy đi lại thăm hỏi. Khi biết bọn em đang làm cái dịch vụ “thu gom cóc” cô ấy buồn cười lắm. Rồi một hôm cô ấy vào trường bảo bọn em ra mà lấy cóc! Thì ra từ hôm đó cô ấy đã bí mật thuê bọn trẻ con trong làng đi bắt cóc về gom lại có tới mấy trăm con! Món tặng phẩm đầu tiên cô ấy tặng người yêu đấy! Anh bảo, có buồn cười không? Rồi tới giáp tết, cô ấy nhờ bọn sinh viên chúng em vào đánh đào, quất chở đi các chợ bán, có trả hoa hồng hẳn hoi. Vừa có việc làm thêm, lại vừa vui, đám bạn bè trong nhóm “Xí nghiệp cóc” đều đi cả. Cứ thế, rồi tình yêu nó đến lúc nào cũng chẳng rõ...

- Nhưng tại sao cậu không đợi được tới ngày ra trường rồi mới cưới?

Anh chàng Dũng sĩ diệt xe tăng bỗng trở nên lúng túng, mặt đỏ bừng... Tôi vụt hiểu ra, cười phá lên:

- Hiểu rồi! Hiểu rồi... Cũng tại thịt cóc là loại thực phẩm giàu dưỡng chất đây mà. Hay là tại không khí làng hoa mát mẻ, trữ tình?

Không biết tại vì sao? Chỉ biết anh bạn dũng sĩ của tôi thành một người hạnh phúc. Năm ấy, tốt nghiệp xong anh về dạy học tại một trường ngoại thành gần quê vợ, bỏ nghề thu gom cóc, học thêm nghề trồng hoa đào, làm cây cảnh.

*

Bỗng dưng năm nay không thấy vợ chồng anh tới chợ hoa. Tôi cảm thấy ngạc nhiên, chống chếnh lạ thường nên quyết định lên Quảng An tìm họ. Tới nơi, tôi ngơ ngác trước một vùng hương sắc năm xưa nay đã biến đâu mất. Thay vào đó là những con đường mới mở, một khu vui chơi giải trí và san sát những ngôi nhà cao tầng mọc lên. Làng đã biến thành phố tự bao giờ chẳng rõ. Một cuộc đổi dời “bãi bể nương dâu” diễn ra ngay xung quanh mình mà tôi không kip nhận biết.

Tôi mới chỉ tới nhà anh có một lần nên loay hoay mãi mới tìm ra ngõ cũ, lại hỏi thăm mãi mới tìm ra nhà giáo Thân. Ngày trước ngôi nhà của vợ chồng anh nằm giữa vườn hoa nhưng nay tìm đến nơi thì khu vườn cũ đã bị một con đường mới nuốt mất, hai bên đường mọc lên san sát những ngôi biệt thự, nhưng toàn nhà bê tông đủ kiểu. Hỏi nhà giáo Thân, hàng xóm liền chỉ sang một ngôi nhà năm tầng rất hiện đại, trước cửa có tấm biển đề “Nhà nghỉ Hương Nhài”. Hỏi thăm người thì ông chủ nhà nghỉ cho biết nhà này vợ chồng giáo Thân dùng tiền đền bù giải phóng mặt bằng xây lên ngôi nhà này rồi cho ông ta thuê lại để kinh doanh. Còn vợ chồng con cái nhà ấy thì đã lên Ba Vì làm trang trại!

Trước cửa ngôi nhà nghỉ còn duy nhất một gốc đào cổ thụ. Vào những ngày cuối năm này, cây đào nở hoa rất đẹp. Hương sắc cứ rưng rưng nhưng sao mà lạc lõng tội nghiệp như một người già bị bỏ rơi?

Tôi cất lời khen hoa thì ông chủ nhà nghỉ Hương Nhài nhăn mặt nói: “Cái cây đó làm tôi tức phát điên. Anh trông, nó choán mất một nửa mặt tiền của ngôi nhà. Muốn bài trí thêm cái gì cho hiện đại một tý, bắt mắt một tý cũng khó. Vậy mà giáo Thân nhất định không cho chặt. Còn nói, nếu tôi làm chết cây đào đó thì ông ta sẽ cúp hợp đồng luôn”.

Lại hỏi, liệu tôi có thể tìm được nhà giáo Thân nếu có dịp lên Ba Vì hay không thì ông chủ nhà nghỉ nhếch mép cười:

- Khó gì? Ông cứ đi qua chợ Ba Trại rồi hỏi thăm Trại Hoa Đào của ông Thân thì ai cũng biết. Hồi giải tỏa, ông ấy đánh mấy trăm gốc đào đem lên trên ấy trồng. Nghe nói đào cũng đẹp, nhưng ở cái xó rừng ấy thì bán cho ai được? Cái lão ấy, đúng là lẩm cẩm mất rồi!

Tôi ngẩn ngơ đứng ngắm cây đào còn sót lại trong khu vườn mộng mơ của người bạn cũ và bỗng hiểu vì sao vợ chồng Thân đã quyết định đưa vườn đào của mình lên vùng sơn cước... Có thể, đó là một quyết định phiêu lưu, nhưng biết đâu đó cũng là cách duy nhất để họ lưu giữ lại kỉ niệm về một thời vàng son đã mất của một loài hoa quí

Hà Nội - Cuối năm Qúi Mùi
 
Logged
Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM