Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:51:54 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa Trung Quốc  (Đọc 24915 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
f22raptor
Thành viên
*
Bài viết: 90


« vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 02:04:28 pm »

Sau đây em xin mở topic giới thiệu về các tổ hợp tên lửa đối không do Trung Quốc sản xuất. Các hệ thống như S-300PMU1,2 của Nga có trong biên chế thì em không giới thiệu nữa. Em chỉ đi sâu vào các hệ thống do Trung Quốc copy lại, các bài viết trên topic này do em dịch và biên tập lại từ các trang web bằng tiếng Anh như:www.sinodefence.com, www.ausairpower.net. Trong quá trình dịch thuật chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các Bác trên diễn đàn đóng góp thêm để bản dịch sau được hay hơn, hoàn thiện hơn.

TỔ HỢP TÊN LỬA ĐỐI KHÔNG HONGQI 9 (HQ-9)

HQ-9 là tổ hợp tên lửa đối không tầm cao có định hướng, hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết. Tên lửa được phát triển bởi Học Viện Công nghệ Quốc Phòng Trung Quốc, thuộc Tổng công ty khoa học& công nghệ hàng không vũ trụ Trung Quốc. Tên lửa được thiết kế để tham chiến với nhiều mục tiêu như, máy bay có cánh cố định, trực thăng ở cả tầm thấp lẫn tầm cao, nó có khả năng hạn chế trong việc chống lại tên lửa đạn đạo. HQ-9 đang phục vụ cả trong lực lượng phòng không mặt đất củng như trong lực lượng hải quân.

-   Lịch sử phát triển

Tổ hợp tên lửa đối không HQ-9 bắt đầu được nghiên cứu chế tạo vào những năm 1980. Ban đầu nó phát triển dựa theo hệ thống tên lửa đối không Patriot của Mỹ thông qua một bên thứ ba nào đó không rỏ lắm, có lẽ là Israel. Giống như Patriot HQ-9 sử dụng hệ dẫn đường cho tên lửa thông qua một kênh “Track-Via-Missile’(chẳng biết dịch như thế nào) ở giai đoạn cuối ở giai đoạn đầu tên lửa được dẫn đường thông qua hệ dẫn đường quán tính. Ban đầu tên lửa được thiết kế để phóng trong các ống phóng container hình hộp như Paitriot của Mỹ. Tên lửa sử dụng một động cơ  nhiên liệu rắn hai tầng. Tuy nhiên tại thời điểm đó công nghệ động cơ tên lửa của Trung Quốc còn nhiều hạn chế nên đường kính tên lửa ban đầu lên đến 700mm, lần cải tiến tiếp theo giảm xuống còn 560mm. Do đó mỗi xe phóng chỉ mang được tối đa hai tên lửa, và nó gặp nhiều hạn chế trong khả năng cơ động trên chiến trường.

Năm 1990 vận may đã đến với Trung Quốc khi Nga đồng ý bán cho họ tổ hợp tên lửa đối không S-300PMU. Ngay lập tức các kỷ sư của họ tiến hành mổ xẽ S-300 để nghiên cứu và không lâu sau đó một phiên bản HQ-9 khác ra đời sao chép gần như toàn bộ các công nghệ của S-300 mà không cần đến giấy phép từ phía Nga. Xe phóng và ống phóng được bố trí giống hệt S-300 của Nga.

 Tổ hợp S-300 của Nga

 Còn đây là tổ hợp HQ-9 của Trung Quốc

Tổ hợp Hq-9 đang được phát triển để thay thế dần các hệ thống Hq-2 phiên bản Sa-2 do Trung Quốc sản xuất. Tuy nhiên tiến độ sản xuất Hq-9 diễn ra khá chậm do đó Trung Quốc quyết định mua thêm  một số tiểu đoàn S-300PMU2 của Nga để tằng cường khả năng phòng không cho họ, Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất là họ muốn moi thêm công nghệ từ hệ thống S-300PMU2 để hoàn thiện các phiên bản tiếp theo của mình.
Hq-9 đã sẳn sàng cho việc triển khai hoạt động vào cuối những năm 1990, tuy nhiên chỉ có một số lượng nhỏ Hq-9 được chuyển cho PLA để thử nghiệm và đánh giá khả năng hoạt động trên chiến trường.
Phiên bản hải quân của Hq-9 được gọi là HHq-9 cũng được triển khai lắp đặt trên các tàu khu trục lớp Type-052C hạ thủy vào năm 2004. Nó được bố trí trên bong  tàu trong các ống phóng thẳng đứng kiểu S-300F trên các tàu hạm của Nga. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc đánh giá khả năng của Hq-9 chỉ đứng sau S-300PMU2 của Nga và Patriot PAC3 của Mỹ về hiệu năng chiến đấu.
Tên lửa sử dụng ngòi nổ cận đích với bán kính tiêu diệt mục tiêu 35m , nó bắt đầu hoạt động khi tên lửa cách mục tiêu 5km (The missile has a proximity fuse with an effective range of 35m, which goes active when the missile is 5km away from its target). Tên lửa được đặt trên xe tải hạng nặng 8 bánh hiệu  Taian TAS5380 8X8, với cách bố trí các ống phóng như kiểu S-300PMU 1của Nga.

-   Hệ thống dẫn đường và kiểm soát bắn

Hq-9 có hệ thống dẫn đường tương tự như hệ thống Patriot của Mỹ bao gồm dẫn đường quán tính cho giai đoạn đầu, giai đoạn cuối được dẫn đường thông qua một kênh (TVM). Lệnh sửa chửa đường đi được truyền đến tên lửa thông qua một (Midcourse) trung gian với sự tham gia của các trạm điều khiển từ mặt đất.
Hệ thống nhận dạng mục tiêu của tên lửa nhận dạng các mục tiêu của nó trong giai đoạn cuối của hành trình. Dữ liệu của mục tiêu được truyền thông qua một kênh TVM với sự tham gia của các trạm radar mặt đất đến hệ thống kiểm soát bắn tham gia tính toán, sửa chữa cuối cùng cho việc khóa mục tiêu. Dữ liệu sau đó được truyền ngược lại cho tên lửa thông qua kênh TVM.
 Việc sử dụng hệ khóa mục tiêu kiểu này có ưu điểm là độ chính xác cao, tuy nhiên nó có nhược điểm là trong điều kiện tác chiến điện tử mạnh thì việc truyền dữ liệu về tọa độ của mục tiêu theo kiểu này rất dễ bị gây nhiễu, khiến tên lửa có thể bị mờ mục tiêu. Điều này đòi hỏi hệ thống của nó phải có khả năng kháng nhiễu rất cao. Điều này thì hiện tại chỉ có các hệ thống của Mỹ, Nga mới làm được.
Hệ thống HQ-9 sử dụng một radar theo dõi mục tiêu cở lớn loại HT-233. Đây là một loại radar mảng pha xung phẳng 3D hoạt động ở dải băng tần C, hoạt động trong dãi tần 300Mhz.

(radar HT-233 của tổ hợp HQ-9) (nguồn ảnh http://www.ausairpower.net)

Radar có khả năng phát hiện mục tiêu ở cự ly 150km và theo dõi mục tiêu ở cự ky 100km, tuy nhiên diện tích phản hồi radar RCS mà radar có khả năng phát hiện không được công bố.
Radar có khả năng quét góc phương vị 360 độ với góc tà từ 0-65độ, hệ thống có khả năng theo dõi đồng thời 100 mục tiêu và tham chiến với 50 mục tiêu cùng lúc. Radar được đặt trên khung xe tải hạng nặng 10x10 bánh Taian TAS5380, tổng tải trọng lên đến 30t  nặng hơn nhiều so với 30N6E của Nga.
HT-233 luôn được xem là bản sao của radar 30N6E Tomb Stones của tổ hợp S-300, nó chia sẽ hầu hết công nghệ cơ bản trong thiết kế.
Trong khi khung xe nặng hơn có thể phản ánh các vấn đề thể tích và trọng lượng sớm hơn trong việc thiết kế các radar, nó cũng cung cấp cho sự tăng trưởng dài hạn trong chế biến và đánh giá khả năng phục vụ, các công nghệ mới gần đây cho phép thu nhỏ kích thước của radar và ít tiêu thụ điện năng hơn.
HT-233 không nên đánh giá thấp, vì nó giữ nguyên kiểu thiết kế angten độc đáo của 30N6E ngoài ra nó còn có khả năng tiến hóa dạng sóng độc đáo trong bám bắt và xữ lý tín hiệu. PLA liên tục trau chuốt và cải tiến tính năng này, tương tự như sự tiến hóa của J-11B từ SU-27SK.

(phía sau của HT-233 hiển thị hình bát giác và nguồn cấp dữ liệu xung, tương tự như 30N6E của Nga)

Bên trong phòng điều khiển rất hiện đại, hệ thống ứng dụng kiểu thiết kế màn hình AMCLD COTS và phần mềm kiểm soát bắn hiện đại dựa trên việc tổng hợp và lựa chọn chế độ hiển thị mục tiêu, điều này cho phép hệ thống tham chiến cùng lúc với nhiều mục tiêu hơn. Đây là cải tiến quan trọng so với việc sử dụng công nghệ CTR của tổ hợp S-300PMU của Nga.


(Buồng điều khiển của radar HT-233)

-Tính năng

Khẩu đội của HQ-9 được biên chế bốn xe phóng liên kết với một radar kiểm soát bắn HT-233 thông qua một xe đài chỉ huy  TWS-312. Thông thường thì khẩu đội được dẫn bắn bởi một radar kiểm soát bắn duy nhất.
Hệ thống có tấm tác chiến chống máy bay là 150km, phiên bản cải tiến gần đây nâng tầm bắn  tối đa lên 200km với độ cao tối đa là 30km. Các báo cáo của Trung Quốc cho rằng hệ thống có khả năng chống tên lửa đạn đạo tương tự như S-300PMU của Nga, tuy nhiên tính năng này chưa được kiểm chứng.
Tổ hợp HQ-9 có khả năng sử dụng tương thích cả với các radar theo dõi của Nga, cũng như việc dùng chung các loại đạn tên lửa do Nga sản xuất. Điều này khiến nó có thể kiển khai xen kẽ với hệ thống S-300 tạo nên hệ thống phòng không hoàn hảo hơn.
HQ-9 được thiết kế ngay từ đầu cho nhiệm vụ kiểu “ẩn, bắn, chuồn”. Đây là một yêu cầu quan trọng trong nhiệm vụ chống SEAD/DEAD, vấn đề mà trong một thời gian dài không được cải tiến khi mà hệ thống phòng không của Trung Quốc chủ yếu dựa vào các hệ thống tĩnh như HQ-2 phiên bản SA-2 do TQ sản xuất.
Một nguồn Châu Á nói rằng các hệ thống HQ-9 có khả năng nối mạng với nhau thông qua cáp quang cố định, hướng dòng vi sóng các liên kết thị giác, hoặc sử dụng kênh dữ liệu datalink. Tuy nhiên radar HT-233 chỉ có tầm phát hiện mục tiêu 150km, nên hệ thống buộc phải dựa vào radar theo dõi của Nga để phát huy tầm bắn tối đa 200km. Việc sử dụng xen kẽ các hệ thống dựa trên cơ sở phần cứng của Nga khiến cho khả năng này chắc chắn chưa thể triển khai. Việc đảo ngược kỷ thuật trong việc phát triển radar là một vấn đề cực kỳ phức tạp, trong khi công nghệ radar của Trung Quốc còn nhiều hạn chế.

- Xuất khẩu:

Hiện chưa có hợp đồng nào được kí kết, nhưng Trung Quốc đang chào hàng biến thể xuất khẩu của HQ-9 có tên gọi là FD-2000 cho Thổ Nhĩ Kỳ cũng như nhiều quốc gia châu Á khác. Đây là một thách thức với hệ thống S-300 của Nga trên thị trường xuất khẩu, bởi suy cho cùng đây là đứa con lai của S-300 và Patriot. Trong khi giá cả của nó cũng rất phải chăng đúng kiểu Trung Quốc, tuy nhiên các chuyên gia của Nga khẳng định còn lâu hệ thống này mới có thể so sánh được với S-300 đời đầu chứ chưa nói đến S-300PMU1,2.

Thông số kỷ thuật:

-Trọng lượng: 1300kg
- Kích thước: Dài 6.8m
- Trọng lượng đầu đạn: 180kg
-Tầm tác chiến: Tối thiểu 500m, tối đa 200km, 30km chống tên lửa đạn đạo.
- Động cơ: Động cơ nhiên liệu rắn hai tầng.
- Dẫn đường: Dẫn đường quán tính trong giai đoạn đầu kết hợp TVM với radar bán chủ động giai đoạn cuối.
- Tốc độ: Theo các tài liệu của Trung Quốc thì tên lửa đạt tốc độ Mach 4.2, với khả năng chịu tải lên đến 14g
(tài liệu tham khảo: www.sinodefence.com,www.ausairpower.net)

« Sửa lần cuối: 28 Tháng Chín, 2010, 01:26:47 pm gửi bởi daibangden » Logged
longtrec
Trung tá
*
Bài viết: 1941



« Trả lời #1 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 02:46:14 pm »

Bổ sung giúp bạn F22 thông số kỹ thuật của HQ-9 để người đọc tiện so sánh với S-300 của Nga .
-Trần cao phá hủy mục tiêu : 500-30000m.
-Tốc độ : 2M
-Tầm bắn 6-200km.

nguồn :
 http://rbase.new-factoria.ru/missile/wobb/hq-9/hq-9.shtml
Logged
f22raptor
Thành viên
*
Bài viết: 90


« Trả lời #2 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 05:18:51 pm »

Hệ thống tên lửa đất đối không chống bức xạ FT-2000

Năm 1998 Trung Quốc đã giới thiệu một phiên bản đất đối không chuyên dùng cho nhiệm vụ chống bức xạ, hay tiêu diệt các máy bay AWAC và các máy bay tác chiến điện tử có tên gọi FT-2000 .
 FT-2000 được phát triển và sản xuất bởi   Tổng công ty Xuất nhập khẩu Máy móc chính xác(CPMIEC) trong thời gian cuối những năm 1990, FT-2000 cũng được cho là có khả năng phá hủy các tên lửa đạn đạo chiến thuật, tương tự như Patriot của Mỹ và hệ thống S-300P của Nga mà nó dựa theo.

Các FT-2000 được thiết kế để trung hòa và các thiết bị gây nhiễu  trên không. Nó chứa một  radar tìm kiếm mục tiêu thụ động được lập trình để phát hiện các tín hiệu điện từ phát ra từ mục tiêu cụ thể của nó. Về cơ bản,  FT-2000 sử dụng tần số gây nhiễu mục tiêu riêng của mình chống lại nó. Ngoài ra, FT-2000 có một hệ thống dẫn đường bằng thụ động mà không truyền sóng điện từ, giảm thiểu cơ hội mà kẻ thù của nó sẽ phát hiện nó trong thời gian bay đến mục tiêu.

 Đây là hệ thống đất đối không chống bức xạ duy nhất trên thế giới hiện nay, điều này phản ánh quan điểm đề cao nhiệm vụ tiêu diệt các máy bay AWAC, và các máy bay tác chiến điện tử, ở khía cạnh này thì Mỹ đang là quốc gia sở hữu nhiều phương tiện kiểu này nhất.
FT-2000 được phát triển dựa trên cơ sở của tổ hợp HQ-9, đây được xem là bản thu nhỏ của HQ-9. FT-2000 sử dụng một radar tìm kiếm mục tiêu thụ động H-200 được đặt trên khung gầm xe tải hạng nặng 8*8 bánh.

(radar và xe phóng của HQ-12)
H-200 được xem là bản sao của loại radar quét mảng pha điện tử AN/MPQ-53 của hệ thống Patriot, nó được cho là hoạt động ở dải băng tần G.
Thông số kỷ thuật của radar

+ Tầm phát hiện mục tiêu: 120km, theo dõi mục tiêu ở cự ky 90km
+ Độ cao: Tối thiểu 500m, tối đa 30km
+Diện tích phản hồi radar: RCS 2m2
+Tốc độ của mục tiêu: 750m/s
+ Chịu tải: 5.5g
+ Theo dõi: Theo dõi mục tiêu ba tọa độ, bám sát 3 mục tiêu, dẫn hướng cho 6 tên lửa tấn công mục tiêu cùng lúc, lỗi dẫn hướng <50m.
+ Góc tà: 90 độ, góc phương vị <160 độ
+ Thời gian triển khai thu hồi: Từ 20-30 phút.
Hệ thống hoạt động trên cơ sở thu nhận tính hiệu phát ra từ các máy bay AWACS, hay máy bay tác chiến điện tử. Một khi tọa độ mục tiêu được xác định, hệ thống kiểm soát bắn sẽ kích hoạt tên lửa tấn công mục tiêu với tốc độ lên đến 1200m/s và khả năng chịu tải lên đến 14g.
Hệ thống FT-2000 có thể kết hợp sử dụng nhận dạng mục tiêu từ máy bay cảnh báo sớm của họ để chỉ thị mục tiêu cho tên lửa.
Tên lửa được tích hợp sẳn hệ dẫn đường quán tính, do đó bất cứ khi nào có mục tiêu bị khóa tên lửa sẽ tiếp tục hướng về mục tiêu ngay cả khi nguồn phát bức xạ đã được ngắt. Tuy nhiên độ chính xác trong trường hợp này bị suy giảm nghiêm trọng. Tên lửa  cũng có thể sử dụng kết hợp với các radar theo dõi mục tiêu khác.
FT-2000 có thời gian triển khai khá chậm, nó mất từ 20-30 phút cho việc sẳn sàng chiến đấu, và cũng phải cần ngần ấy thời gian để thu hồi hệ thống. Tuy nhiên khi so sánh với các hệ thống như HQ-2 thì tốt hơn nhiều rồi.
Mỗi xe phóng của FT-2000 mang hai quả tên lửa được treo phía dưới rãnh phóng. Tên lửa có kích thước và trọng lượng tương đương với đạn tên lửa của HQ-9, việc treo tên lửa kiểu này rất khó khăn cho việc tái nạp tên lửa sau khi phóng.
Hệ thống chống bức xạ này có hai phiên bản, phiên bản di động FT-2000, phiên bản  cố định FT-2000a
Một số hệ thống này đã được triển khai đến  tỉnh Phúc Kiến gần eo biển Đài Loan cùng với một số tiểu  đoàn S-300PMU2. Đây có thể là một mối nguy hiểm cho các máy bay của Đài Loan, vì khoảng cách tới các sân bay của Đài Loan chỉ có 130km.
Mặc dù là hệ thống đầu tiên trên thế giới, nhưng năng lực của hệ thống này còn nhiều nghi vấn. Các tên lửa xuất hiện lần đầu vào năm 1998, ban đầu nó gây sự chú ý rất nhiều từ trong nước cũng như quốc tế. Nhưng càng về sau sự quan tâm đến hệ thống kiểu này ngày càng giảm, nó đã không được sản xuất đại trà do thiếu sự quan tâm từ trong nước cũng như quốc tế. Có lẽ một phần là do hiệu năng của hệ thống chưa đủ sức thuyết phục, hơn nữa công nghệ của Trung Quốc còn nhiều hạn chế. Đây là hệ thống do họ tự phát triển, chưa có công nghệ cho họ nhái theo nên hiệu năng con thấp. Một phần nữa là các cường quốc quân sự khác như Mỹ, Nga không phát triển các hệ thống chống bức xạ từ mặt đất. Suy cho cùng thì nó chỉ có tầm tác chiến khá khiêm tốn, việc chống máy bay AWACS và EW từ khoảng cách dưới 200km trở nên vô nghĩa. Nga, Mỹ phát triển các hệ thống tiêu diệt các máy bay AWACS,EW cho các tiêm kích đánh chặn của mình để tiêu diệt các máy bay này ngay trên không phận đối phương, như vậy hiệu quả tác chiến mới cao.
-Thông số kỷ thuật.

 Kích thước: khoảng 6.8m tương đương với tên lửa của Hq-9
Đường kính tên lửa :470mm
Trọng lượng:khoảng  1300kg
Động cơ: Động cơ nhiên liệu rắn hai tầng
Tầm tác chiến: tối thiểu 500m; tối đa 200 km; hoặc 30km chống  tên lửa đạn đạo
Tốc độ tối đa: Mach 2
Hướng dẫn: TVM radar bán chủ động
Đầu đạn: 180kg
Thời gian phản ứng: 10 giây (sau khi hệ thống đã được triển khai)
Xác suất: 70 ~ 90%

(tài liệu tham khảo www.ausairpower.net)
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tám, 2010, 07:26:30 pm gửi bởi f22raptor » Logged
OldBuff
Moderator
*
Bài viết: 3053


Vì nhân dân quên mình


« Trả lời #3 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 05:36:40 pm »

Đ/c f22raptor cần chuẩn bị thuật ngữ trong bài kỹ hơn một chút!

- HQ-9 (HQ là viết tắt của Hồng Kỳ) được xếp loại là Hệ thống tên lửa phòng không tầm xa, bắn được mục tiêu ở mọi độ cao và thực hành chiến đấu trong mọi điều kiện thời tiết.

- Hệ thống tên lửa phòng không Hồng Kỳ 9 sử dụng đạn tên lửa phòng không có một tầng phóng thuốc phóng rắn, lái hướng luồng phụt.

- Hệ thống điều khiển đạn tên lửa của HQ-9 là loại hỗn hợp: pha phóng/boost sử dụng hệ thống lái tự động quán tính trên đạn, pha giữa/midcourse sử dụng kết hợp hệ thống lái tự động quán tính trên đạn để chỉnh tầm với lệnh điều khiển vô tuyến từ đài điều khiển mặt đất để chỉnh hướng, pha cuối/terminal sử dụng lệnh điều khiển vô tuyến từ đài điều khiển mặt đất với phần tử mục tiêu được đạn cung cấp qua cơ chế điều khiển bám sát-qua-đạn/track-via-missile (TVC: Đạn tên lửa bắt bám mục tiêu ở pha cuối bằng cách thu sóng dội từ mục tiêu bị đài mặt đất chiếu xạ, rồi truyền phần tử mục tiêu về đài điều khiển mặt đất và sau đó nhận lệnh điều khiển vô tuyến phản hồi). Bán kính diệt của đạn tên lửa HQ-9 là 35 m, ngòi nổ vô tuyến cận đích được kích hoạt khi đạn cách mục tiêu 5 km.

- HQ-9 được trang bị đài điều khiển HT-233. Đây là đài điều khiển chiếu xạ 3 tham số, mảng pha phẳng, đơn xung, phần tử thụ động, băng sóng C.

- Nhận định "tuy nhiên nó có nhược điểm là trong điều kiện tác chiến điện tử mạnh thì việc truyền dữ liệu về tọa độ của mục tiêu theo kiểu này rất dễ bị gây nhiễu, khiến tên lửa có thể bị mờ mục tiêu. Điều này đòi hỏi hệ thống của nó phải có khả năng kháng nhiễu rất cao. Điều này thì hiện tại chỉ có các hệ thống của Mỹ, Nga mới làm được." là chưa chính xác. Đ/c cần xem thêm về TVC và việc gây nhiễu đường truyền xuống/downlink và đường truyền lên/uplink.
 
Logged

Thượng tôn công lý - Chế áp cường quyền
longtrec
Trung tá
*
Bài viết: 1941



« Trả lời #4 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 05:42:38 pm »

Hq-9 có hệ thống dẫn đường tương tự như hệ thống Patriot của Mỹ bao gồm dẫn đường quán tính cho giai đoạn đầu, giai đoạn cuối được dẫn đường thông qua một kênh (TVM). Lệnh sửa chửa đường đi được truyền đến tên lửa thông qua một (Midcourse) trung gian với sự tham gia của các trạm điều khiển từ mặt đất
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Như thế này chung chung quá, người đọc không hiểu được F22 ạ Grin

Dẫn bắn cho tên lửa HQ-9 tới mục tiêu pha đầu bằng dẫn đường quán tính với 1 tỉ lệ cự li nhất định , sau đó sẽ chuyển sang dẫn hướng cho tên lửa bằng rada định vị bán chủ động. Hệ thống dẫn đường của HQ-9 thuộc lớp " đi kèm tên lửa" đến gần mục tiêu.Lệnh sửa lái thông qua rada định vị 2 chiều gắn trên tên lửa (Chiếu xạ và dẫn đường cho tên lửa).Hệ thống dẫn đường HQ-9 là hệ thống dẫn đường bán chủ động với nhiều nhược điểm. Một số nguồn tin cho biết TQ đang hướng nghiên cứu phát triển hệ thống dẫn đường cho các thế hệ tên lửa phòng không mà họ mới phát triển (chủ yếu là copy) theo hướng hiện đại. Có nghĩa là có hệ thống dẫn đường chủ động như S-400, SAMP-T, Patriot PAC-3.
Logged
OldBuff
Moderator
*
Bài viết: 3053


Vì nhân dân quên mình


« Trả lời #5 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 06:20:05 pm »

Hệ thống tên lửa đất đối không chống bức xạ HQ-12(FT-2000)



Tác giả nên kiểm tra lại thông tin về FT-2000.

Theo thông tin từ phía TQ, HQ-12 (Hồng Kỳ 12) không phải là hệ thống FT-2000 (Phản phúc 2000). HQ-12 có phiên bản xuất khẩu là KS-1 (Khải sơn 1) là hệ thống khác so với HQ-9 và các phiên bản xuất khẩu là hệ thống tên lửa phòng không FD-2000 (Phòng thuẫn 2000) và hệ thống tên lửa chống bức xạ đất đối không FT-2000 (Phản phúc 2000).
Logged

Thượng tôn công lý - Chế áp cường quyền
f22raptor
Thành viên
*
Bài viết: 90


« Trả lời #6 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 06:33:36 pm »

Cảm ơn các Bác đã bổ sung thêm thông tin, có nhiều thuật ngữ không biết dịch như thế nào cho mọi người hiểu nữa.Em nói đến độ kháng nhiễu của hệ thống HQ-9 nói chung chứ không nói riêng cho việc truyền dữ liệu dowlink và uplink. Hơn nữa em cũng không hiểu lắm về "track- via-missile". Độ kháng nhiễu của HQ-9 còn hạn chế, việc dẫn đường cho tên lửa với radar bán chủ động của HQ-9 còn tồn tại quá nhiều nhược điểm và khá phức tạp. Điều đó đòi hỏi kíp chiến đấu phải được huấn luyện rất kỷ. Việc sử dụng xen kẻ các loại radar HT-233 và 30N6E khiến cho hệ thống trở nên không đồng bộ, đây là điểm yếu chí tử của hệ thống này. Mặc dù radar được ứng dụng một số công nghệ hiện đại như trang bị màn hình LCD cho phòng điều khiển, phần mềm kiểm soát bắn hiện đại nhưng nó vẫn phải dựa vào các hệ thống phần cứng của Nga để phát huy tầm bắn tối đa 200km. Nhận định của em có phần hơi chủ quan tuy nhiên em thấy hệ thống này vẫn phải dựa vào cơ sở phần cứng của Nga đã cho em có nhận định này.
Logged
longtrec
Trung tá
*
Bài viết: 1941



« Trả lời #7 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 07:05:02 pm »

Hệ thống tên lửa đất đối không chống bức xạ HQ-12(FT-2000)



Tác giả nên kiểm tra lại thông tin về FT-2000.

Theo thông tin từ phía TQ, HQ-12 (Hồng Kỳ 12) không phải là hệ thống FT-2000 (Phản phúc 2000). HQ-12 có phiên bản xuất khẩu là KS-1 (Khải sơn 1) là hệ thống khác so với HQ-9 và các phiên bản xuất khẩu là hệ thống tên lửa phòng không FD-2000 (Phòng thuẫn 2000) và hệ thống tên lửa chống bức xạ đất đối không FT-2000 (Phản phúc 2000).

Đúng như bác OldBuff nói HQ-9 có 2 phiên bản xuất khẩu FD-2000 (Tên lửa phòng không) và FT-2000(Đất đối không). HQ-12 không phải là TF-2000.
Logged
saruman
Thành viên
*
Bài viết: 540



« Trả lời #8 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 07:44:01 pm »

Em nghĩ sau phần tên lửa (vì PLA cũng chỉ có vài loại thôi, chả mấy mà bác chủ topic dịch hết), bác nên mở rộng sang cả mục Radar và Vũ khí phòng thủ điểm (gồm cả pháo PK). Tên topic do đó nên đổi lại là: Tìm hiểu các hệ thống Phòng không của TQ (phạm vi rộng hơn)
Logged
longtrec
Trung tá
*
Bài viết: 1941



« Trả lời #9 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 09:03:52 pm »

Em nghĩ sau phần tên lửa (vì PLA cũng chỉ có vài loại thôi, chả mấy mà bác chủ topic dịch hết), bác nên mở rộng sang cả mục Radar và Vũ khí phòng thủ điểm (gồm cả pháo PK). Tên topic do đó nên đổi lại là: Tìm hiểu các hệ thống Phòng không của TQ (phạm vi rộng hơn)

Theo tôi thì bạn F22 lên đổi tên topic thành: "Tên lửa TQ" , chúng sẽ gồm các loại : Phòng không, không đối đất, đất đối không, chống hạm, chiến lược và chiến thuật. Có như vậy mới cung cấp đầy đủ và trọn vẹn thông tin cho người đọc, qua đó đánh giá chính sác thực lực tên lửa của anh bạn phía bắc này. Trong trường hợp nếu là tên lửa TQ copy của nước khác thì làm nổi bật mạnh yếu của loại tên lửa đó (dẫn chứng số liệu kỹ thuật nếu có thể).
Logged
Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM