Thôi, nợ bác ATS lâu quá rồi, nhưng vì thông tin chưa đầy đủ nên em chưa dám viết bài trả lời. Nhưng thấy bác ít vào box ta quá, từ 11/11 đến giờ chả thấy "kêu gào" gì cả,

. Vậy thì có sao dùng vậy nhé bác,

:
Tóm tắt bác E40 pháo binh này cho đến thời điểm 30/1/11968 nhé:
-Sau chiến thắng Sa Thầy, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên đã ra quyết định số 18/A3 chính thức thành lập đơn vị pháo binh chủ lực của mặt trận, đặt tên là Trung đoàn 40 (40 là tên một huyện ở phía bắc tỉnh Kon Tum, trước gọi là chiến khu Vọng Khê nơi đơn vị pháo binh đầu tiên vào chiến trường, nay thuộc địa phận xã Đắc Blô, huyện Đắc Glei tỉnh Kon Tum). Để giữ bí mật, đơn vị mang mật danh "Công trường 40". Biên chế của Trung đoàn 40 khi thành lập gồm 4 tiểu đoàn (30, 31, 32, 34) 3 cơ quan (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần) và 2 đại đội (trinh sát, thông tin). Trang bị gồm các loại pháo cối, cao xạ hỗn hợp: cối 120mm, 82mm, ĐKZ và súng máy phòng không 12,7mm.
Chỉ huy Trung đoàn lúc này gồm có: Đồng chí Nguyễn Đức Giá làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Sơn Hùng làm Chính ủy, các đồng chí Nguyễn Thanh Xô, Nguyễn Thành Lai, Võ Khắc Phụng làm Trung đoàn phó, đồng chí Phạm Việt Thọ làm Phó chính ủy
Ngày 5/2/1967, BCH Trung đoàn đã gọp phiên đầu tiên tại một khu rừng gần sông Pô Kô (giáp biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia) để đề ra các nhiệm vụ hoạt động của Trung đoàn. Sau này, Trung đoàn quyết định lấy ngày 5/2/1967 là ngày thành lập Trung đoàn 40. Quyết định này được trên chấp thuận và từ đó trở về sau, ngày 5/2 được coi là ngày truyền thống của Trung đoàn.
- D200 pháo binh
(sau đổi tiên là D31): được thành lập ngày 20/12/1960 tại Mậu Long (Nghệ An). Tiểu đoàn có 4 đại đội với 148 cán bộ, chiến sĩ (phần lớn là các chiến sĩ miền Nam và Tây Nguyên tập kết ra miền Bắc năm 1954, trong đó có 4 chiến sĩ gái người Ê Đê là: Y Nay, Y Hồng, Y Ngoan, Y Na) được lựa chọn từ 2 tiểu đoàn pháo của Sư đoàn 305 và Sư đoàn 324 do đại úy Trần Trọng Sơn làm tiểu đoàn trưởng và đại úy Hồ Thắc làm chính trị viên. Trang bị của tiểu đoàn gồm 2 khẩu sơn pháo 75mm (có 208 viên đạn), cối 81mm và 60mm, súng tiểu liên K50 băng tròn và một số súng bộ binh khác. Cuối tháng 12/1960, sau khi được Thiếu tướng Nguyễn Đôn giao nhiệm vụ, tiểu đoàn hành quân vào Nam. Khi đến tây Thừa Thiên, một đại đội được lệnh ở lại bảo vệ Tỉnh ủy Thừa Thiên, còn 3 đại đội tiếp tục hành quân vào Tây Nguyên.
- Tiểu đoàn 32 trước đây là Tiểu đoàn Pháo binh 96 thuộc Sư đoàn 304 do đồng chí Nguyễn Trâm làm tiểu đoàn trưởng và đồng chí Đặng Ninh làm chính trị viên; quân số biên chế 699 đồng chí (có 50 sĩ quan), trang bị 12 khẩu súng cối 120mm bổ sung cho Mặt trận Tây Nguyên ngày 28 tháng 3 năm 1966.
- Tiểu đoàn Súng máy phòng không 30 được thành lập trên cơ sở Tiểu đoàn 19 Sư đoàn 325 và Tiểu đoàn 21 Sư đoàn 324. Đây là tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm đã tham gia bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) và A So (Thừa Thiên - Huế).
- Tiểu đoàn Vận tải 34 trước đây thuộc Trung đoàn 68 Sư đoàn 351, là tiểu đoàn mang vác trang bị súng cối 120mm, súng cối 82mm và ĐKZ.
- Trung đoàn Pháo binh 68 (thiếu):E68 Pháo binh có 1.100 cán bộ, chiến sĩ; tổ chức, biên chế gồm: Ban chỉ huy Trung đoàn, 3 cơ quan (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần) và 3 tiểu đoàn. Trung đoàn chia thành hai khối hành quân vào Tây Nguyên, khối một có Tiểu đoàn 95 (trang bị súng cối 120mm, và ĐKZ 75mm lên đường ngày 19/2/1966 do đồng chí Nguyễn Phúc Thược tiểu đoàn trưởng và Trần Mỹ Phước chính trị viên chỉ huy) và Tiểu đoàn 96 (trang bị súng cối 120mm do đồng chí Nguyễn Trâm tiểu đoàn trưởng và đồng chí Đặng Ninh chính trị viên chỉ huy).
Khối hai gồm Tiểu đoàn 11 pháo 105mm (12 khẩu) 22 xe kéo pháo, vận tải và đại bộ phận Trung đoàn bộ do đồng chí Nguyễn Đức Giá - Trung đoàn trưởng chỉ huy; xuất phát ngày 10/3/1966 từ Thạch Thành (Thanh Hóa) hành quân vào Tây Nguyên. Đến Nậm Bạc (Hạ Lào) vì chưa có đường xe cơ giới nên phải để xe pháo lại, còn người hành quân vào Tây Nguyên.
- Tháng 3/1967, Để đáp ứng yêu cầu của Chiến trường Tây Nguyên cần tăng cường sức mạnh hỏa lực mà chỉ dùng pháo khênh vác, sau khi đánh địch ở Sùng Thiện về E40 được cấp trên bổ sung Tiểu đoàn 33 pháo ĐKB1 (trước đây thuộc Trung đoàn 204).
- Cuối năm 1967, BTL B3 bổ sung cho E40:
* Trung đoàn Pháo binh 208 gồm các Tiểu đoàn 33, 34 và cơ quan Trung đoàn, trang bị 24 khẩu ĐKB với quân số 949 người do đồng chí Tô Thuận làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Ngọc Tuệ làm Chính ủy Trung đoàn. Trong giai đoạn chiến tranh phá hoại miền Bắc, Trung đoàn 208 bảo vệ bờ biển Thanh Hóa, đã sử dụng pháo 122mm bắn cháy 3 tàu chiến địch, 7 năm liền Trung đoàn được tặng cờ luân lưu của Bác về thành tích huấn luyện và xây dựng.
* Trung đoàn 158 gồm cơ quan Trung đoàn và một đại đội chỉ huy. Trung đoàn 158 là đơn vị pháo của quân khu Tây Bắc do đồng chí Nguyễn Tiến Vinh làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Bùi Tố Tọa làm Chính ủy đã tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và chiến trường Lào, trong những năm hòa bình được tặng thưởng nhiều huân chương cho tập thể và cá nhân. Năm 1960, Trung đoàn được tặng danh hiệu "Trung đoàn Cờ đỏ".
Theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Chiến trường, Trung đoàn 208 và Trung đoàn 158 hợp nhất với Trung đoàn 40 (có 3 tiểu đoàn) thành một Trung đoàn Pháo binh vẫn lấy tên là Trung đoàn 40. Như vậy Trung đoàn Pháo binh 40 thời kỳ này có 10 tiểu đoàn: 4 tiểu đoàn (31, 32, 33, 34) trang bị ĐKB, súng cối 120mm, 82mm, ĐKZ; 2 tiểu đoàn (41,42) trang bị pháo 105mm, 85mm; 2 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, Tiểu đoàn 30 súng máy phòng không 12,7mm, Tiểu đoàn 16 xe tăng PT-76 và 4 đại đội trực thuộc là 17, 18, 19, 20 với đầy đủ thành phần: pháo mặt đất, pháo phòng không, xe tăng... Chỉ huy Trung đoàn thời gian này gồm có các đồng chí: Tô Thuận - Trung đoàn trưởng, Lê Ngọc Tuệ - Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn; Võ Khắc Phụng - Trung đoàn phó, Phạm Việt Thọ - Phó Chính ủy.
-
Mở màn Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa, vào hồi 0 giờ 30 phút ngày 30/1/1968 (tức ngày mùng 1 Tết nguyên đán), hỏa lực pháo binh Trung đoàn 40 đã phối hợp với binh chủng hợp thành đồng loạt bắn phá vào các vị trí của địch ở Tân Cảnh - Đắc Tô. ở bắc Kon Tum, Đại đội 1 Tiểu đoàn 31 dùng pháo 75mm từ trên đỉnh Ngọc Bờ Biêng pháo kích Đắc Tô, sau đó cơ động về Gia Lai bắn 20 viên đạn ĐKB vào sân bay Cù Hanh phá hủy 13 máy bay lên thẳng, 5 kho lương thực, đạn dược của địch. Đường băng trong sân bay bị phá hủy nặng, sân bay Cù Hanh bị tê liệt trong nhiều ngày. Cũng trong thời gian đó, Đại đội 2 tập kích hỏa lực vào sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy và sân bay A Réa phá hủy 25 trực thăng. Ngày 7/2 và ngày 15/3, Đại đội 1 lại pháo kích vào căn cứ sư đoàn bộ binh số 4 của Mỹ ở La Sơn, phá hủy 31 nhà lính, 24 nhà chứa đạn, 2 trạm ra-đa và 1 kho xăng dầu. - ngày 25 tháng 8 năm 1968 BTL Tây Nguyên đã quyết định tách Trung đoàn 40 làm hai, hoạt động ở hai cánh bố trí như sau:
* Cánh bắc gọi là Trung đoàn 40B gồm Tiểu đoàn 32, Tiểu đoàn 33, Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 42, Đại đội 17 cùng một nửa cơ quan Trung đoàn.
* Cánh nam gọi là Trung đoàn 40A gồm Tiểu đoàn 41, Tiểu đoàn 47, Tiểu đoàn 31, Đại đội 15 và một nửa cơ quan Trung đoàn.
* Tiểu đoàn 34 được Bộ Tư lệnh Chiến trường điều đi hướng Phú Nhơn, kết hợp với 1 D bộ binh thành Tiểu đoàn hổn hợp 394.
- Để tổ chức chỉ huy gọn nhẹ, giảm đầu mối, tăng các bộ phận chiến đấu trực tiếp đáp ứng yêu cầu của chiến trường, tháng 3 năm 1969, biên chế, tổ chức của Trung đoàn có sự thay đổi:
* Tiểu đoàn 41 và 42 được sáp nhập lấy tên là Tiểu đoàn 11, biên chế pháo 105 và 85mm.
* Một bộ phận của Tiểu đoàn 46 và Tiểu đoàn 47 sáp nhập lấy tên là Tiểu đoàn 44, biên chế pháo phòng không 37mm. Các đơn vị còn lại của Tiểu đoàn 46 và Tiểu đoàn 47 cùng toàn bộ Tiểu đoàn 30 sáp nhập lấy tên là tiểu đoàn 30 biên chế súng máy phòng không 12,7mm.
* Thành lập thêm Tiểu đoàn 47 pháo hỗn hợp, biên chế pháo phòng không và pháo mặt đất.
* Các Tiểu đoàn 16 xe tăng, 32 cối ĐKZ, 33 ĐKB vẫn giữ nguyên.
* Tiếp nhận Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 16 Sư đoàn 351, biên chế pháo 85mm mới từ miền Bắc bổ sung vào chiến trường.
*
Bộ Tư lệnh Chiến trường điều Tiểu đoàn 31 đi nhận nhiệm vụ mới: Đại đội 1 và tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 31 sáp nhập với Tiểu đoàn bộ binh 6 của Trung đoàn bộ binh 320 thành Tiểu đoàn 631; Đại đội 2 chuyển về tỉnh đội Gia Lai, Đại đội 3 chuyển về tỉnh đội Kon Tum cho đến kết thúc chiến tranh. Tạm vậy đã bác nhé.
