@do_long_khach:
Đề nghị bạn đưa bản chụp, scan thông tin đơn vị, hòm thư đã nêu trên lên đây để mọi người xem xét, cần thực hiện đúng quy định nhé, 
bác tailien_son và bác q_trung đã trả lời bạn rất chi tiết rồi, tôi chỉ thêm một số ý nhỏ thôi:
1. Về khu vực cánh đồng chum:
- Khu trung tâm Cánh Đồng Chum: Đây là vùng cao nguyên có độ cao trung bình khoảng 1.200 mét, khá rộng, bằng phẳng trống trải. Chiều dài từ Mường Khừng (phía bắc) tới Căng Xẻng (phía nam) khoảng 48km; chiều rộng từ Khăng Khay (phía đông) đến Phu Thông (phía tây) hơn 28km. Trong khu vực có hai sân bay khá lớn (Mường Phan, Bản áng) và các sân bay nhỏ: Mường Khừng, Bản Ngựa, Lạt Huống. Cánh Đồng Chum có các điểm cao đột xuất có giá trị khống chế như: Phu Tôn (l.324 mét), Phu Tâng (l 581 mét) ở trung tâm; Khu Keng, Phu Thông ở tây bắc; Phu Seo ở tây nam; Phu Keng Luồng, Phu Hứa Sang, Phu Hình ở phía nam.
- Khu trung gian (Hin Tặng): Nằm ở phía tây nam Cánh Đồng Chum, tiếp giáp với các căn cứ (của địch) Sảm Thông, Long Chẹng, Tôm Tiêng; có chiều dài trên 20km (từ bắc dãy điểm cao l.900A đến chân dãy Phu Pha Xay) và chiều rộng từ Phu Xeng Luông đến tây Sao Phan, giáp Sảm Thông. Địa hình khu vực gồm lòng chảo Hin Tặng ở giữa, xung quanh là những dãy núi lớn có giá trị chiến thuật như .dãy 1800, 1913, núi đá Hin Đàm, Thẩm Lửng, Phu Pha Xay, Phu Lũng Mạt, 1960A, l900B. Do địa hình khu trung gian. chủ yếu là núi cao, rừng rậm hiểm trở, nên việc cơ động lực lượng và bảo đảm hậu cần cho các lực lượng của ta ở Hin Tặng rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa.
Khu vực Ngông Pa - Bản Ban: Bao gồm khu vực đông bắc, dọc trục đường 7A và đường số 6; có căn cứ Buôm Lọng (của phỉ Lào) ở phía bắc. Ngoài một số điểm cao có giá trị chiến thuật như Phu San (phía bắc), Phu Hước (phía Tây Nam), Phu Nốc Cốc (phía Đông), Phu Học (ở giữa) trong khu vực này có thung lũng Bản Ban khá rộng, thuận tiên sử dụng binh khí kỹ thuật.
- Khu vực thị xã Xiêng Khoảng và vùng phụ cận: Là một lòng chảo bằng phẳng ở phía đông nam Cánh Đồng Chum, rộng trên 70 ki-lô-mét vuông, có đường số 7B và đường số 4 chạy qua. Xung quanh thị xã có một số điểm cao có giá trị khống chế như Phu Khé (2.125 mét) ở phía Tây, Phu Ka Bó (2.136 mét) ở phía Nam, Phu Nhu (1.824 mét) ở phía Tây Bắc.
- Khu vực Mường Sủi: ở phía tây bắc Cánh Đồng Chum, trên đường 7A, đoạn Cánh Đồng Chum - Sa La Phu Khun. Các dãy núi Phu Xô (phía Bắc), Phu Sang Rao, Phu Đúc (phía Nam) và Phu Cút (phía Đông) tạo thành thế phòng ngự liên hoàn. Những cánh đồng rộng ở phía nam như Nó Luồng, Bản Đúc, Na Te, Xiêng Nga rất thuận tiện để sử dụng binh khí kỹ thuật. Với vị trí và đặc điểm của mình, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một địa bàn có giá trị chiến lược quan trọng cả về quân sự, chính trị, kinh tế của cách mạng Lào.
-
Ý nghĩa: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là lá chắn bảo vệ trực tiếp căn cứ địa Sầm Nưa, uy hiếp Viêng Chăn và Luông Pha Băng; là bàn đạp tiến công Long Chẹng, phát triển xuống Pắc Sế và Pô Ly Khăm Xay; đồng thời liên quan chặt chẽ đến tuyến vận chuyển chiến lược Trường Sơn của cách mạng Việt Nam và bảo vệ một vùng biên giới Lào - Việt, là một hướng chiến lược của cách mạng ba nước Đông Dương. Cách mạng Lào đánh giá: "Khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là trung tâm chống chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào". Đế quốc Mỹ coi "Cánh Đồng Chum là chìa khóa của nước Lào".
2. Các lực lượng VN tại Cánh đồng Chum 1971:
- Phối hợp chặt chẽ với chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào và giành thế chủ động trước mùa mưa, từ tháng 2-4/1971, ta và Bạn mở chiến dịch 74B nhằm giải phóng Mường Xủi, Sảm Thông, Long Chẹng. Tham gia chiến dịch có lực lượng của Quân khu Cánh Đồng Chum và các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam: Sư đoàn 31 Trung đoàn 165 (Sư đoàn 312), Trung đoàn 866 và một số đơn vị hỏa lực bảo đảm. Sau chiến dịch, vì đã vào mùa mưa, ta rút một số đơn vị.
- Thực hiện chủ trương của hai Quân ủy và hai BQP, mùa khô năm 1971 - 1972 ta và Bạn mở chiến dịch Z1 nhằm tiêu diệt lớn quân địch, giải phóng toàn bộ khu vực Cánh Đồng Chum, Sảm Thông, Long Chẹng, quét sạch các ổ phỉ còn lại trong vùng giải phóng, tạo thế và lực mới cho cách mạng Lào. Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm 2 F bộ binh (312, 316), 2 E bộ binh độc lập (866, 335), 3 D đặc công, 1 tiểu đoàn xe tăng, một số tiểu đoàn pháo binh, pháo phòng không, công binh, trinh sát và 2.500 dân công Quân khu 4; phía Bạn có 9 tiểu đoàn bộ binh, các phân đội bộ đội địa phương, đặc công, pháo binh, dân quân du kích. Ngày 18/12/1971, chiến dịch tiến công Z mở màn.
- Trung tuần tháng 10 năm 1971, tại Con Cuông, Nghệ An, Bộ tư lệnh chiến dịch triệu tập hội nghị cán bộ để quán triệt nhiệm vụ của Quân ủy, phổ biến quyết tâm của Đảng ủy, Bộ tư lệnh chiến dịch và giao nhiệm vụ cho các đơn vị.
* Trong phương án tác chiến chiến dịch, sư đoàn 316 được tăng cường trung đoàn 335, một đại đội xe tăng, một đại đội pháo 120, một tiểu đoàn cao xạ 37 và 400 dân công có nhiệm vụ tiến công trên cánh bắc - hướng quan trọng của chiến dịch, tiêu mệt GM 21, GM 23 ở Na Hin, Bản Sút, trọng điểm là GM 21 và BC 606, BC 608, trận địa pháo Phu Keng. Sau đó phát triển cùng các đơn vị đánh địch ở Bản Na, 1900A, Bản Mèo, Thẩm Lửng và Sảm Thông - Long Chẹng.
* F312 tiến công trên cánh nam theo đường 7B từ Xiêng Khoảng, tiêu diệt địch ở Phu Theng Neng, Bản Tôn, Cang Xẻng. Phủ Xeo.
* E866 tăng cường một tiểu đoàn cho sự đoàn 312, một tiểu đoàn phối hợp vớỉ bộ đội Pa-thét Lào làm nhiệm vụ ở hướng nghi binh Buôm Lọng. Lực lượng còn lại Iàm nhiệm vụ thọc sâu cùng với E148 và đặc công đánh phá Long Chẹng trong giai đoạn phát trỉển.
* Lực lượng bạn đảm nhiệm giải phóng Mường Sủi, sau đó phát triển vào Ngã ba Xa La Phu Khun, Ca Xi, đồng tbời thọc sâu xuống Xiêng Đạt, Mường Phần.
Như vậy, nếu LS hy sinh tại phía trong Cánh đồng chum thì có khả năng thuộc E335 hoặc E866; Nếu hy sinh bên ngoài Cánh đồng Chum thì có khả năng thuộc F316, F312 hoặc các LL khác kể trên.