Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:38:14 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Penalty Strike - Hồi ký của 1 đại đội trưởng trừng giới Hồng quân 1943 - 1945  (Đọc 70609 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #50 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 09:44:35 pm »

Rõ ràng 1 tiểu đoàn bộ binh với hơn 200 quân sẽ có 1 quãng thời gian dễ dàng khi phòng thủ khu vực này hơn là 1 nhúm 20 shtrafnik vừa phải đánh chiếm vừa phải ngăn chặn các đợt phản công có xe tăng hỗ trợ của bọn Đức. Chúng tôi cảm thấy khó chịu vì phải giao lại vị trí đã phải đổi bằng vô số máu và mạng sống cho 1 đơn vị khác, nhưng đó là số phận của chúng tôi. Lệnh là lệnh. Viên đại úy chỉ huy tiểu đoàn bộ binh lên thay vị trí cho tôi xem cả trên bản đồ lẫn thực địa khu vực mà chúng tôi sẽ phải bảo vệ. Tuy nhiên trong giọng điệu và thái độ của anh ta tôi cảm nhận được suy nghĩ của anh ta về chúng tôi, sự kính trọng của anh ta với kết quả chúng tôi đã đạt được. Từ lời viên đại úy tôi hiểu chúng tôi sẽ ở trong tình trạng phòng ngự 1 thời gian dài, đó cũng chính là lúc tôi cùng các shtrafnik hiểu rằng chỉ huy tập đoàn quân, tướng Batov, sẽ ko giải thoát cho bất kỳ shtrafnik nào trừ phi họ rửa sạch tội lỗi bằng máu hoặc mạng sống. Chúng tôi đã phải phòng ngự ở đó hơn 1 tháng, nhận thêm quân và mất đi nhiều người bạn trong đó có nhiều người theo quan điểm của tôi là hoàn toàn xứng đáng được cho ra khỏi tiểu đoàn trừng giới. Tuy nhiên đó chỉ là quan điểm của tôi trong khi Baturin và Batov có quan điểm khác.

Nhiều nhà nghiên cứu và nhà văn sau chiến tranh cố mô tả các shtrafnik như những kẻ ?ochịu tội chết?, các đại đội và tiểu đoàn trừng giới là những đơn vị ?osinh ra để bị tiêu diệt? trong chiến tranh. Tuy nhiên trong suốt thời kỳ tôi ở Tiểu đoàn Trừng giới Phương diện quân, giai đoạn ở đầu cầu Narev có lẽ là lúc duy nhất có thể chứng minh cho luận điểm chính yếu của các nhà văn hậu chiến đó. Bản thân các shtrafnik cũng có quyền nghĩ như vậy khi ở đầu cầu Narev.

Tôi ko có quyền phán xét về khả năng lãnh đạo cũng như các đặc điểm khác của tướng Batov nhưng các chỉ huy cao cấp như Nguyên soái Rokossovski, Zhukov và Nguyên soái Công binh Kharchenko đều đã chỉ ra các mặt mạnh và yếu của chỉ huy Tập đoàn quân 65, Pavel Ignatovich Batov. Họ chỉ rõ rằng Batov thiếu sự quan tâm thích đáng với công tác trinh sát và tình báo, thiếu chú ý đến 2 bên sườn. Tính tự tin thái quá của ông thường dẫn tới thương vong nặng nề và ko cần thiết. Tất cả những điều này có vẻ hơi lạ, kể cả với tôi vì tướng Batov, 2 lần Anh hùng Liên Xô, có 1 kinh nghiệm chiến trường khổng lồ. Ông từng chiến đấu trong Nội chiến Tây Ban Nha và tham gia Cuộc chiến Mùa đông 1939 ?" 1940. Tuy vậy còn 1 điều lạ hơn nữa là Batov đã trải qua suốt cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại với tư cách chỉ huy Tập đoàn quân 65, chưa bao giờ được thăng chức, Tập đoàn quân của ông cũng ko được nhận các danh hiệu như Cận vệ hay Xung kích. Tôi cho cũng là logic khi cả Baturin và Batov đều ko xứng đáng với danh hiệu Batya, nghĩa là Bố, của các shtrafnik dành tặng như với cựu chỉ huy Osipov, mặc dù cả 2 đều có tên nghe rất giống cái nickname nồng ấm kia.

Trở lại thời điểm đó, tôi ko có thời gian cũng như ko có quyền tranh cãi về mệnh lệnh của các cấp chỉ huy. Trong thời chiến, 1 người lính, 1 sĩ quan thậm chí 1 viên tướng cũng ko có quyền nghi ngờ mệnh lệnh từ cấp trên chứ đừng nói là chống lệnh. Mọi hành động bất tuân thượng lệnh trong thời chiến đều có thể bị xem là tội phản quốc. Có nhiều ví dụ về hành vi chống lệnh, đó chính là 1 số trong các shtrafnik bị tống đến chỗ tôi, và ko ai trong số đó từng được xem là có lý do chính đáng. Đó là lý do tôi ngậm miệng và khuyên Fedor Usmanov ko lan truyền những vần thơ bất mãn mà 1 shtrafnik viết về Baturin và Batov. Dưới đây là những lời cay đắng về viên chỉ huy tập đoàn quân của chúng tôi:

?oVới ông, shtrafnik chỉ là miếng ghẻ chùi chân!
Ông chỉ giải phóng cho những người
Bị thương hoặc bị xe tăng nghiền nát
Số còn lại ông tống vào chỗ chết chắc!?

Trong những ngày khó khăn tháng 10/1944 đó, chúng tôi phải tập trung mọi sự chú ý vào việc tái bố trí các tuyến hào mà bọn Đức bỏ lại, khiến chúng phù hợp với việc phòng thủ hướng ngược lại, tức là chống lại bọn Đức. Điều đó có nghĩa là chúng tôi phải chuyển vị trí các công sự nổi, thiết lập lại lưới lửa súng máy, đào hốc chứa lựu đạn và đạn, đào các tuyến giao thông hào mới và nhiều việc khác. Có hàng đống việc phải làm ngay, đầu tiên chúng tôi đã có đường dây điện thoại, đây lại là nhờ có thượng úy Valery Semykin, anh lại 1 lần nữa ở trong hào cùng với chúng tôi để tự tay làm. Các sĩ quan dưới quyền anh đều ở ban tham mưu phần lớn thời gian trong khi anh lại muốn ở cùng chúng tôi dưới hào!

Tôi đã kể rất nhiều chi tiết thực tế trong đời chiến binh vì nghĩ những kinh nghiệm này có lẽ, xin Chúa đừng để nó xảy ra, chỉ còn hữu dụng với những người nghiên cứu lịch sử các thế hệ sau. Người ta có thể học nhiều điều về cuộc sống tại mặt trận. Đó là lý do tôi sẽ nói những chi tiết thực tế khác. Trong việc củng cố trận địa, chúng tôi phải đào những cái hố, tối thiểu là mỗi tiểu đội 1 hố, cách tuyến hào chính 20 ?" 30 m để làm cầu tiêu. Bao giờ hố đầy thì lấp đất lại và đào hố khác.

Lúc này đã là cuối tháng 10, đêm ngày càng lạnh, thỉnh thoảng còn có băng giá, sương muối màu bạc vẫn còn đóng trên mặt đất và lá cỏ rất lâu sau khi trời sáng. Tại khu vực phòng thủ của tôi chỉ có 1 căn hầm duy nhất, giao liên của tôi đã tìm ra nó và tôi ở đó cùng người phụ trách văn thư của đại đội. Nhân đây tôi cũng nói thêm là văn thư của tôi ko phải shtrafnik mà là lính thường, tên là Malkin, viết rất đẹp và có thể nghĩ ra những câu chuyện hết sức vui vẻ hoặc kinh dị. Cậu ta ko bao giờ tham chiến mà chỉ ngồi trông đống giấy tờ của đại đội. Sau đó tôi mời 1 người bạn vốn là trung đội phó cũ của tôi cùng vào ở trong hầm. Binh lính đào 1 căn hầm khác cho đại đội phó George Sergeev, là các chỉ huy đại đội, tôi và Sergeev ko được ở cùng nhau để ko bị giết cùng lúc nếu bị pháo bắn trúng hầm. Đại đội tôi giờ ko bằng 1 trung đội, mỗi trung đội chỉ có 8 ?" 10 người, vì thế khu vực mà chúng tôi phải phòng thủ có vẻ quá rộng. Tuy nhiên ko lâu sau chúng tôi đã bắt đầu nhận được quân tăng viện. Sau vài ngày người ta đưa tới độ chục lính mới, đại đội giờ đã có quân số tương đương 1 trung đội, thật tốt là nhờ đó tuyến phòng ngự đã được củng cố.

Tuy vậy tôi ngã ngửa khi thấy 1 trong 2 người của nhóm xạ thủ súng trường chống tăng trong số đó, tôi đã đề nghị thăng thưởng và giải thoát cho anh ta khỏi tiểu đoàn trừng giới vì thành tích hạ xe tăng. Đây lại là 1 biểu hiện ?othận trọng? của kombat. Cả Baturin và các sĩ quan NKVD của ông ta đều theo dõi chúng tôi sát sao, họ biết ai là người bắn xe tăng và ai là người nạp đạn vào khẩu súng trường chống tăng, vì vậy họ quyết định chỉ người bắn hạ xe tăng mới có công còn người nạp đạn thì bị từ chối cho phục chức và thăng thưởng. Tay shtrafnik cảm thấy bị xúc phạm và tôi cũng vậy. Tôi cũng thấy xấu hổ vì đã hứa rằng người lính nào mẫn cán và dũng cảm sẽ được thăng thưởng và cho ra khỏi đơn vị trừng giới. Tôi cũng thấy xấu hổ thay cho kombat, người thậm chí ko hề đến gần mặt trận, đã ko tính đến quan điểm của tôi, quan điểm của người đại đội trưởng tại mặt trận, người phải trực tiếp dẫn dắt người của mình với những lời cam kết đó. Vậy là tôi bắt đầu biết cách quan hệ với tân kombat, tức là ko hứa hẹn điều gì tốt đẹp hết vì cả các shtrafnik và tôi đều phải chấp nhận là nó sẽ chỉ dẫn tới chuyện bực mình.

Các trận đánh tái củng cố đầu cầu đã qua. Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, tăng gần gấp đôi kích thước đầu cầu. Chuẩn bị cho cuộc tấn công mới là công việc hàng ngày ngay từ khi bắt đầu phòng thủ, công việc này hoàn tất khác với hồi chúng tôi phòng thủ ở Belorussia. Valery Semykin mang tới 1 bảng mã mới để liên lạc qua điện thoại, trong đó thay vì các con số thông thường tôi được nhận mật danh là ?oAlexander Nevski?, George là ?oGeorge Saakadze? còn Fedor Usmanov là ?oSalavat Yulaev? (**). Kiểu mật danh này thật ko bình thường nhưng nó mang lại 1 niềm vui nho nhỏ.

Quá trình phòng thủ đầu cầu Narev là phần tiếp theo quãng đời chiến trận của tôi.

(*) Câu thơ của nhà văn, nhà thơ Nga nổi tiếng Maxim Gorky (tên thật là A. M. Peshkov, 1868 ?" 1936) là: ?oNhững kẻ sinh ra để bò sẽ ko thể bay?.

(**) Các chỉ huy nổi tiếng trong lịch sử quân sự Nga, Gruzia và Bashkiria.
Logged

IN PAUL WE TRUST
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #51 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 09:44:54 pm »

7
PHÒNG THỦ NAREV


Tôi sẽ cố mô tả vắn tắt những sự kiện tiếp theo tại khu vực phòng thủ của mình trên đầu cầu Narev vì bọn Đức ko có thêm hoạt động nào. Phòng thủ là việc ko có gì mới đối với tôi. Quân của Tập đoàn quân 65 cũng ko có hoạt động gì, có lẽ chỉ huy Tập đoàn quân, tướng P. I. Batov đã thỏa mãn với việc đầu cầu và danh tiếng của ông được phục hồi. Cùng lúc đó chỉ huy Phương diện quân cũng đang phải khôi phục tuyến thông tin liên lạc với các đơn vị hậu cần và chuyển các mệnh lệnh tới cho binh sĩ đã chịu thương vong nặng nề. Người ta sửa chữa tăng thiết giáp và các chiến cụ khác, tích lũy đạn dược các loại để chuẩn bị cho đợt tấn công quy mô lớn tiếp theo, đó sẽ là 1 trong những cuộc tấn công chiến lược quan trọng nhất trong cuộc chiến mà sau này được gọi là Chiến dịch Vistula ?" Oder. Vậy là 1 lần nữa chúng tôi chuyển sang thế phòng ngự. Sau cuộc tấn công thứ 2 với thương vong lên tới 80%, đại đôi tôi chỉ còn chưa bằng 1 trung đội, thậm chí kể cả sau khi nhận quân tăng viện mới tới.

Trong những ngày đầu xây dựng tuyến phòng thủ tại khu vực do đại đội phụ trách, kombat gọi tôi trên điện thoại. Bằng giọng nghiêm khắc ko cho phép bất cứ ý kiến ý cò gì, ông lệnh cho tôi thiết lập 1 CSP, tức là cứ điểm cấp đại đội. Mệnh lệnh quá bất ngờ và ngớ ngẩn này khiến tôi chết điếng mất 1 lúc. Đây là kiểu bố trí phòng thủ cấp đại đội chỉ phù hợp với 1 đại đội có tối thiểu 3 trung đội với quân số gần với chuẩn biên chế. Trong 1 CSP, 2 trung đội sẽ ở tuyến hào đầu còn trung đội thứ 3 sẽ là thê đội 2. Theo cách này các CSP tạo thành trụ cột cho tuyến phòng thủ với chiều sâu lớn hơn nữa của cả tiểu đoàn với 3 đại đội. Trong khi đó chúng tôi thậm chí chưa có nổi 1 đại đội chứ đừng nói tiểu đoàn! Với lực lượng nhỏ bé của mình tôi ko thể thiết lập 1 CSP mà ko làm lực lượng trên tuyến hào đầu trở nên quá yếu, dù sao nó cũng đã quá mỏng rồi. Tôi nói tất cả những điều đó với Baturin, nhắc ông qua phone rằng tôi chỉ có thể thực thi mệnh lệnh nếu có thêm ít nhất 2 trung đội đầy đủ nữa hoặc nhận được đủ quân để thay thế số thương vong. Tôi hiểu rằng câu trả lời đó sẽ làm chỉ huy của mình ko bằng lòng, đó là nói theo cách nhẹ nhàng nhất, nhưng cái tính tôi nó thế.

Đúng như tôi đoán, trung tá trả lời với giọng the thé đầy giận dữ, dọa sẽ rút lại đề cử tôi cho chức đại đội trưởng. Tôi biết rõ rằng trước khi mình được chỉ định làm đại đội trưởng thể nào cũng phải có lệnh được ký chính thức từ cấp Phương diện quân, nhưng kombat cũng có thể hủy bỏ nó dễ dàng. Tuy nhiên khi đó tôi đã quá sôi tiết nên chỉ hỏi lại tôi sẽ phải trao lại quyền chỉ huy đại đội cho ai. Sau 1 quãng im lặng nặng nề kéo dài, Baturin nói với giọng giận dữ: ?oCứ chỉ huy đại đội tiếp đi! Tôi sẽ tính sổ với cậu sau!? Và 1 lần nữa, cứ như có 1 con quỷ trong người tôi, thay vì câu trả lời được mong muốn ?oRõ, thưa đồng chí trung tá!? tôi lại đáp trả thế này: ?oĐến đây, ra chiến hào này này, ông có thể tính sổ với tôi ở đây, ngay tại chỗ!? Baturin chưa từng có mặt tại các chiến hào tiền tiêu, ông ta mất hết bình tĩnh và gần như gào lên: ?oTôi tự biết tôi đang ở đâu và đi đến đâu!? Cuộc đàm thoại kết thúc.

Đại đội trưởng cũ thiếu tá Matvienko, giờ đã là tiểu đoàn phó, sau đó hỏi tôi: ?oSao cậu cứ kiếm thêm rắc rối thế? Đáng lẽ chỉ cần nói ?oVâng? rồi muốn làm gì thì làm!? Thế đấy, tôi phải thú nhận là chưa bao giờ có cái gọi là ?osự từng trải? kiểu đó! Mãi sau này tôi mới biết Baturin mới chỉ qua 1 khóa học chiến thuật ngắn hạn trước khi trở thành sĩ quan Ctrị rồi về tiểu đoàn tôi. Chắc ông ta đã học về CSP tại đó. Sau này, ngay trong lần đầu ông ta định chứng minh kiến thức về chiến thuật của mình, 1 thượng úy trẻ đã bất ngờ bóc mẽ mớ kiến thức về thiết lập phòng ngự của ông. Như tôi đã biết từ sớm, tân kombat nhớ rất tốt những điểm xấu. Trong nhiều tình huống suốt cả cuộc chiến tôi đã cảm nhận được sự soi mói của ông với mình, chính xác là tới tận khi chiến tranh kết thúc.

Trong khi đó, kombat đã được nhận Huân chương Bogdan Khmelnicky hạng nhất, có lẽ là cho ?onhững chiến dịch thành công? để khôi phục 2 cánh đầu cầu. Sau khi ông ta biết được Huân chương Bogdan Khmelnicky hạng 2 và Huân chương Alexander Nevski kém danh giá hơn, ông đã đề cử các huân chương này cho tất cả sĩ quan. Philip Kiselev kể điều này cho tôi và chúng tôi bắt đầu viết đề cử cho các trung đội trưởng. Chúng tôi đề cử George Sergeev Huân chương Alexander Nevski, Fedor Usmanov Huân chương Bogdan Khmelnicky hạng 2. Baturin bắn tin cho tôi rằng tôi cũng sẽ được đề cử Huân chương Alexander Nevski.

Vậy là tôi buộc phải kể cho Philip câu chuyện ngu ngốc về bức ảnh ?ongười sĩ quan với 2 huân chương chiến trận? và nhờ cậu ta nói với kombat cho tôi Huân chương Chiến tranh Vệ quốc, hạng nào cũng được, và tôi đủ điều kiện nhận nó vì đã hạ được xe tăng. Khi Baturin nhận được các đề cử tặng thưởng huân chương, ông đã từ chối ký bản dành cho tôi trong thời gian dài vì nếu làm thế cấp dưới là tôi sẽ nhận được phần thưởng cao hơn ông! Sau này Philip Kiselev kể cho tôi là cả Filatov và Matvienko đều ủng hộ đề cử tặng thưởng huân chương cho tôi, tôi cũng biết Philip đã kể cho Baturin chuyện tôi chụp ảnh với huân chương của người khác lúc ở bệnh viện. Nói ngắn gọn, cả 3 người họ đã phối hợp gây áp lực buộc kombat ký giấy đề cử. Baturin tự tay sửa đề cử Huân chương Chiến tranh Vệ quốc hạng nhất thành hạng 2 và kèm thêm 1 câu chua cay: ?oAnh ta ko thể xin tấm huân chương đó được mà phải kiếm lấy nó.? Cứ theo lời ông ta thì tôi đã ko thắng cuộc đấu tay đôi với chiếc xe tăng Đức ko bằng.

Khi tôi nghe được điều này, tôi hiểu rằng quan hệ công việc và cá nhân với kombat sẽ chỉ ngày càng xấu đi mà thôi. Tuy nhiên, tôi cũng đã nhận được Huân chương Chiến tranh Vệ quốc hạng 2, và ko phải bản thân Baturin mà là tham mưu trưởng, thiếu tá Kiselev trao nó cho tôi. Cuối cùng, sự xấu hổ vì chụp ảnh với huân chương của người khác cũng đã được gỡ bỏ, chuyện này đã đầu độc các mối quan hệ và tra tấn lương tâm tôi trong nhiều tháng. Mặc cho mối quan hệ ngày 1 căng thẳng với kombat, tôi vẫn cảm thấy cực kỳ thỏa mãn. Ngay cả sự thiếu tiện nghi và vô số vấn đề khác của cuộc sống trong chiến hào phòng thủ cũng có vẻ ko còn quá kham khổ.

Tuy nhiên, tình hình tiếp tế đã trở nên hết sức tồi tệ, có lẽ vì các căn cứ hậu cần Phương diện quân chưa di chuyển theo kịp. Khẩu phần được nhận còn lâu mới gọi là đủ mặc dù đang phòng thủ nên chúng tôi ko phải tấn công, hành quân đến kiệt sức, xung phong hay trườn bò. Vậy là lính tráng quay lại với phong tục tiền tuyến là chia tất cả bánh mì, đường và mọi thứ đồ ăn khác có được. 1 người lính được lệnh chia bánh mì và đường thành những phần chênh lệch nhau, sau đó tiểu đội trưởng hay ai đó được chỉ định sẽ quay lưng anh ta lại, lấy mũ bịt mắt trong khi 1 người khác chỉ tay vào từng phần chia mà hỏi: ?oAi sẽ nhận phần này?? Anh chàng bị bịt mắt ko thể nhìn thấy các phần chia sẽ nói tên từng người và thế là đồ ăn được chia cho tất cả theo lời anh ta. Chẳng bao giờ có chuyện cãi lộn hay đánh nhau vì có người nhận được phần hơn vì các chỉ huy trung và đại đội chúng tôi cũng ăn cùng lính ở bếp dã chiến, tôi yêu cầu tất cả sĩ quan đều phải làm như vậy và nó trở thành thói quen rất nhanh. Tuy vậy chúng tôi chỉ chia khẩu phần phụ dành riêng cho sĩ quan giữa các sĩ quan với nhau. Ko có cơ hội kiếm thêm thức ăn từ thiên nhiên vì lúc này đã là cuối thu và sau đó thời tiết chuyển mùa đông rất nhanh. Chúng tôi chẳng kiếm được thứ gì ăn được trong rừng còn dân địa phương thì ko thấy ở đâu quanh đây. Trên tất cả những điều đó, chúng tôi có 1 vấn đề khác mà ko sao quen nổi, nó cực kỳ khó chịu.
Logged

IN PAUL WE TRUST
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #52 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 09:45:04 pm »

Do đã chớm đông nên mọi người được phát mũ ấm, ai ko có áo choàng thì được phát áo choàng, các sĩ quan được nhận đồng phục mùa đông. Chúng tôi đặc biệt sung sướng vì được nhận áo trấn thủ da cừu. Cả binh lính và sĩ quan cuối cùng cũng được thay quần áo lót mới. Người ta ko cấp phòng tắm hơi dã chiến dù điều này đã được thực hiện ở Belorussia, vì thế chẳng ai có cơ hội tắm rửa trong thời gian dài. Có lẽ vì thế, hoặc vì quần áo lót và quân phục chưa được khử trùng trước khi phát, hoặc vì những thứ bọn Đức bỏ lại trong hào mà chúng tôi sớm bị tấn công bởi 1 kẻ thù khác: côn trùng. Nói cho ngắn, tất cả quần áo quân ta đều đầy rận.

Tôi gửi yêu cầu cấp phòng tắm hơi nhưng chẳng được ai ở ban chỉ huy tiểu đoàn nghe. Tuy thế chúng tôi lại được nhận 1 số lượng lớn quá mức cần thiết thuốc trừ sâu dạng bột, thứ chất diệt côn trùng phổ biến nhất thời đó. Chúng tôi đơn giản là rắc thứ bột này xuống dưới cổ áo và những chỗ có lông trên cơ thể. Cách này ko được dễ chịu cho lắm nhưng vài ngày sau chúng tôi đã có thể giũ những xác chết "quân thù" ra khỏi ủng và quần áo. Ko may là chúng sinh sản còn nhanh hơn số chết. Thật chẳng vui vẻ gì khi nói về chuyện này, lại còn viết ra nữa, nhưng tôi đã quyết định ko giấu điều gì trong hồi ký của mình!

Rút cục người ta cũng gửi tới 1 phòng khử trùng dã chiến đặt tại 1 thung lũng ko xa chiến hào, tên lóng kiểu lính tráng là máy giết rận. Vì chưa nhận được bộ phân phục thứ 2 để thay đổi nên binh lính phải cởi hết đồ để đưa vào máy và đứng chờ ngay ngoài trời lạnh với độc quần lót mặc trên người! Cánh sĩ quan chúng tôi giao cả những chiếc áo trấn thủ da cừu mà ko biết rằng chúng sẽ bị co rút lại khi bị máy xử lý trong nhiệt độ cao! Tuy vậy chúng tôi ko tiếc lắm vì ai cũng nghĩ những chiếc áo trấn thủ chính là 1 trong những lý do dẫn tới tình trạng rận rệp. Nhìn chung việc này đã giảm đáng kể tình trạng rận tấn công nhưng ko diệt trừ được hoàn toàn. Chúng tôi chỉ thoát khỏi giống côn trùng ký sinh này khi mùa đông tới, may thay năm đó mùa đông tới rất sớm. Đầu tháng 12 chúng tôi rời tiền tuyến rút về tuyến sau nhận quân thay thế. Chỉ tại đây, sau hàng loạt cuộc khử trùng, cạo lông toàn thân, tắm hơi tại cả nhà tắm dã chiến lẫn nhà tắm của dân, cuộc chiến chống côn trùng mới giành thắng lợi hoàn toàn. Tôi phải nói rằng người có đóng góp quyết định vào chiến thắng này là bác sĩ tiểu đoàn, Stepan Petrovich Buzun. Ông có được loại xà phòng K nổi tiếng diệt côn trùng rất hiệu quả, chỉ cần sát 1 lớp lên bề mặt da là xong, cách này được áp dụng trong thời gian dài. Dù sao chúng tôi cũng muốn thoát khỏi kẻ địch này 1 cách nhân đạo! Khi lại nhận được áo trấn thủ da cừu mới và sạch sẽ, chúng tôi đã sung sướng 1 lần nữa, nhưng chuyện này là mãi về sau.

Trở lại lúc chúng tôi vẫn còn ở trong các chiến hào, ngoài bọn rận chúng tôi còn phát ngán với bọn bắn tỉa Đức và những cuộc tấn công thăm dò tuyến phòng thủ thường xuyên xảy ra. Chúng thường bất ngờ pháo kích dữ dội, tiếp theo là 1 cuộc xung phong ngắn của bộ binh đôi khi lên tới cấp đại đội có thiết giáp yểm trợ. Trong 1 đợt tấn công như vậy tôi đã chứng kiến cuộc đấu giữa những khẩu pháo phòng ko bố trí ngay sau tuyến hào của tôi với xe tăng Đức. Những khẩu pháo bắn trực xạ rất chính xác khiến nhiều chiếc tăng bị hạ lập tức, số còn lại rút lui và cuộc tấn công của bọn Đức bị chặn đứng trước cả khi chúng tới gần được chiến hào quân ta. Sau vụ này tôi còn được chứng kiến rất nhiều cuộc đối đầu giữa pháo phòng ko với các mục tiêu mặt đất và chúng khiến tôi lúc nào cũng khâm phục họ. Các cuộc tiến công của bọn Đức có vẻ như chỉ để trinh sát nhằm phát hiện vị trí hoả lực ta và bắt tù binh mang về thẩm vấn.

Địch chẳng thu được kết quả nào tại khu vực trách nhiệm của chúng tôi nhưng tôi nghe đồn tại 1 số khu vực khác cố gắng của chúng đã thành công. Sau này tôi nghĩ việc ko chấp nhận thiết lập 1 CSP thực sự là điều tốt, nếu chỉ 1 phần cái đại đội gần như ko ra đại đội của tôi bố trí ở tuyến 2 thì ko biết ra sao. Chúng tôi có đủ hoả lực ngay trên tuyến đầu và bọn Đức chưa bao giờ đến gần được tầm lựu đạn. Tôi nghĩ bản thân Baturin cũng hiểu điều đó vì ko bao giờ ông ta còn đề cập đến vấn đề thiết lập CSP nữa. Ông ta cũng ko bao giờ kiếm được lúc nào để tính sổ với tôi dù chúng tôi vẫn nhận được quân bổ sung đều đều, giờ tôi đã có gần đủ 2 trung đội. Thượng uý George Vasilievich Razhev được chỉ định làm 1 trung đội trưởng trong đại đội, đó là 1 người vui tính và cởi mở, sau này chúng tôi còn phát hiện anh ta rất yêu rượu và đàn bà. Từ lúc này đại đội có sĩ quan chỉ huy các cấp toàn là thượng uý khiến cho cánh shtrafnik xuất thân Hải quân đặt cho biệt danh Đại đội Thượng uý.

Các trận pháo kích dữ dội thỉnh thoảng làm chúng tôi bị thương vong nặng. Người ta có thể bị giết hoàn toàn ko phải do ngu ngốc hay bất cẩn mà chỉ bởi bị đạn pháo hạng nặng rơi trúng hào hoặc những căn hầm sơ sài. Ko có rừng cây quanh đây khiến chúng tôi ko có gì để xây những căn hầm kiên cố hơn. Mỗi khi bị bắn trúng hầm hào chúng tôi thường phải đi thu nhặt từng mảnh vụn cơ thể đồng đội, trong 1 vụ như vậy trung đội trưởng mới được chỉ định George Razhev đã bị sốc sức ép nặng. Cậu ta ko nghe thấy gì mấy tuần liền nhưng từ chối rời tiền tuyến đi viện và vẫn chỉ huy trung đội mặc dù điếc đặc.
Logged

IN PAUL WE TRUST
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #53 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 09:45:34 pm »

Tôi còn nhớ rõ cái chết của 1 shtrafnik tên là Kostya Smertin, cấp bậc trước đây của anh ta là trung hay đại uý gì đó, anh là 1 trong những lính quan sát của đại đội. Hôm đó tôi đang đứng cạnh anh ta trong hào để quan sát vị trí địch bằng ống nhòm. Tôi nghĩ mình đã phát hiện ra vị trí 1 tên bắn tỉa Đức được nguỵ  trang rất tốt và cảnh báo Kostya về nó, dặn ko được ló ra khỏi hào vì chắc tên bắn tỉa đang rình bắn 1 trong 2 người chúng tôi. Dự đoán của tôi được chứng minh là đúng chỉ 1 giây sau, ngay khi ngồi xuống hào thì 1 viên đạn rít qua đầu tôi, vậy là tôi lại gặp may như vẫn thường xảy ra. Tôi ko kịp lệnh cho Smertin ngồi xuống, có lẽ anh ta muốn chớp thời cơ để nhìn xem tên bắn tỉa bắn ra từ đâu. Viên đạn thứ 2 bắn ra ngay sau phát đầu găm đúng giữa trán anh ta, phía trên lông mày 1 chút khiến anh từ từ sụp xuống đáy hào, ko phải ngã vật ra mà là ngồi xuống 1 cách rất nghiêm chỉnh. Đôi mắt anh ta nhìn lên và bắt đầu đảo lia lịa, đôi môi thều thào gì đó tôi ko thể hiểu nổi, gương mặt trở nên tái nhợt. Tôi quấn băng quanh vết thương rất nhỏ đó, máu ko chảy nhiều. Chúng tôi đã được học cách băng đầu và gọi nó là "mũ của Hippocrate". Đôi mắt đảo 1 cách kỳ lạ và những tiếng thều thào chấm dứt sau khoảng 1 phút, sau đó là 1 cơn co giật toàn thân rồi bất thần tất cả các cơ căng cứng lên và anh ta câm bặt. Vậy là anh ta đã chết, tôi vuốt mắt cho anh, người ko được may mắn như tôi.

Tôi cảm thấy rất tiếc cho anh vì 1 số lý do. Có lẽ vì tôi đã ko cảnh báo đủ mức, hoặc vì phút cuối cuộc đời anh đã diễn ra ngay trước mắt tôi. Tôi cũng ko nhớ nổi những lời cuối của anh. Tôi nhớ họ tên anh vì nó giống tên họ thời con gái của bà ngoại tôi, Smertina, nghĩa theo tiếng Nga là "con gái Thần Chết". Khi anh ta về trung đội tôi thậm chí còn thử tìm hiểu về gia đình anh xem chúng tôi có chút quan hệ họ hàng nào ko. Tuy nhiên bà ngoại tôi mang trong mình 1 chút dòng máu Khakassia và có khuôn mặt Châu Á điển hình với đôi mắt nhỏ sẫm màu và gò má cao trong khi chàng trai trẻ này lại là dân Yaroslavl với tướng mạo 1 người Nga thực thụ. Nhìn anh ta tôi tưởng tượng đến 1 hiệp sĩ Nga thời trung cổ. Đến tận bây giờ, tôi vẫn như nhìn rõ đôi mắt xanh của anh đảo rất nhanh, đôi môi trắng bệch cố nói với tôi những lời cuối cùng. Tôi đã nhìn thấy nhiều cái chết trong chiến tranh, nhưng cái chết này thì đặc biệt nhớ.

Liên quan đến chuyện này tôi muốn nói thêm là tiểu đoàn chúng tôi ko có thói quen đội mũ sắt. Câu nói "Cẩn thận là cha an toàn" có lẽ ko phổ biến với chúng tôi. Ai nấy đều nghĩ ko đội mũ sắt trông sẽ "cool" hơn dù biết thứ này lúc nào cũng có sẵn trong kho tiểu đoàn và các sĩ quan hậu cần đã đề nghị cấp cho chúng tôi nhiều lần. Tôi ko hiểu thói khinh thường mũ sắt ở tiểu đoàn tôi bắt nguồn từ đâu, nhưng nó có thật và ai đội mũ sắt sẽ bị xem như dấu hiệu của sự yếu đuối. Giờ tôi nghĩ các sĩ quan cũng góp phần vào thói quen ko thực sự tốt này bằng hành động của chính mình, nó đã tồn tại trong tiểu đoàn từ trước khi tôi tới. Tôi ko nghĩ 1 chiếc mũ sắt có thể cứu mạng Kostya Smertin, viên đạn bắn đúng giữa trán ngay trên chân mày và mũ sắt dù sao cũng ko thể bảo vệ được vị trí này. Dù sao thì sau cái chết của Smertin vẫn chẳng có ai đội mũ sắt cả. Có lẽ đó là điều ngu ngốc, nhưng nó đã xảy ra như vậy đấy.

Mùa đông đang tới và cuộc sống chiến hào của chúng tôi chưa có vẻ gì chấm dứt. Chúng tôi bắt đầu sắp xếp lại chỗ ăn ở theo cách tốt nhất có thể, đào thêm hốc nhưng nhỏ hơn cho chỉ 1 - 2 người vì vẫn còn nhớ rõ cái chết bi thảm của Ivan Yanin. Bằng mọi cách, bao gồm cả việc đột kích đêm vào 1 nhà kho đã bị phá huỷ trên khu phân tuyến dưới những loạt đạn súng máy Đức bắn theo chu kỳ, binh lính đã kiếm được 1 ít gỗ tấm và đôi khi cả 1 súc gỗ. Những thứ kiếm được theo cách rất nhiều rủi ro này cho phép chúng tôi xây dựng vài công sự sơ sài giống như cái tôi đang dùng làm sở chỉ huy đại đội. Những công sự này cho chúng tôi có cơ hội tránh mưa tuyết hay chỉ đơn giản là làm ấm người và hong khô quần áo đôi chút.

Tất nhiên chúng tôi ko thể sưởi ấm bên trong công sự đủ mức, nhưng chúng tôi có đào những cái hốc trên tường với đường thông lên mặt đất để dùng như ống khói. Trong cái lò sưởi sơ sài đó chúng tôi đốt bất cứ thứ gì có thể kiếm được: giấy bọc đạn súng trường, rơm rạ và những mẩu gỗ thu nhặt được vào ban đêm sau khi đã quan sát kỹ khắp khu vực suốt cả ngày. Chúng tôi còn đốt cả những bụi cỏ có thể đốt được mà chúng tôi cắt về trong đêm. 1 thứ khó tưởng tượng cũng được binh lính đem đốt khiến tôi phát sợ là những thỏi thuốc nổ TNT, tất nhiên là ko gắn kíp! Hoá ra TNT tan chảy ra trong lửa và cháy từ từ, tạo ra rất nhiều bồ hóng và chỉ chút ít hơi ấm. Tôi rất sợ sẽ có tai nạn nếu 1 thỏi thuốc nổ bị quăng vào lửa mà vẫn còn kíp, nếu thế thì ... Vì vậy sau khi biết cách sưởi này tôi đã lệnh cho các trung đội trưởng kiểm tra toàn bộ quá trình đốt 1 cách chặt chẽ nhất có thể. Chúa cấm cho bất kỳ thỏi thuốc nổ nào vào lửa nếu vẫn còn giấy dầu bọc ngoài!

Đương nhiên các công sự sơ sài của chúng tôi ko có cửa, lối vào chỉ được che bằng 1 tấm áo mưa lính plash - palatka, nó dày và ko cho ánh sáng lọt qua. Khi "lò sưởi" hoạt động mà muốn viết thư về nhà hay báo cáo, tôi phải dùng cách chiếu sáng nguyên thủy. Lúc này số đèn paraffin chiến lợi phẩm đã dùng hết, vì vậy Valery Semykin mách cho chúng tôi 1 cách chiếu sáng bên trong công sự. Anh ta cho chúng tôi nguyên 1 cuộn cáp điện thoại Đức bọc cao su và giấy dầu. Chúng tôi treo dây cáp lên trần công sự sao cho đầu này cao hơn đầu kia 1 chút rồi châm lửa vào đầu cao, ngọn lửa sẽ cháy từ từ lớp bọc cao su và giấy dầu từ đầu đến cuối sợi cáp. Cần phải kéo đầu trên đúng lúc để lôi thêm dây trong cuộn cáp lên. Nó ko cho nhiều ánh sáng lắm mà mùi rất khó ngửi, lại nhiều bồ hóng. Mỗi buổi sáng ra khỏi hầm trông chúng tôi như 1 lũ quỷ chui từ địa ngục ra và phải rất mất công mới lau sạch được tấm mặt nạ nhọ nồi kinh dị bằng tuyết và xà phòng. 1 cách lựa chọn khác là bôi xà phòng lên mặt rồi dùng dao cạo bồ hóng đi cùng với cả râu ria. Nhìn chung tôi ko nhớ nổi là có bao giờ rửa mặt được đủ sạch ko. Sẽ tốt hơn nếu có tuyết, thứ tuyết mới rơi sạch sẽ chứ chưa bị phủ đầy muội thuốc súng, đó là 1 niềm vui với chúng tôi!

Tôi tổ chức lễ sinh nhật trong chiến hào tại đầu cầu Narev, vậy là đã bước sang tuổi 21. Trong cuộc chiến tôi đã trưởng thành rất nhanh như thể đã trải qua 1 cuộc đời dài. Tất cả chúng tôi ko hề còn suy nghĩ như 1 người cùng tuổi bình thường. Có lẽ người ta đã đúng khi tính 1 năm phục vụ trong tiểu đoàn trừng giới tại tiền tuyến tương đương với 6 năm quân ngũ. Theo cách tính này tôi đã 27 tuổi, thật quá già sọm! Trung đội trưởng mới George Razhev bảo mặc dù còn trẻ nhưng tôi đã nhận được nickname vinh dự nhất là batya, tức là "bố", trong cánh shtrafnik. 1 số người thậm chí còn gọi tôi là shtrafbatya, tức "bố trừng giới", vì sự chăm lo của tôi dành cho binh lính. Tôi phải nói thật đó là để nịnh thôi. Thậm chí George và các sĩ quan khác trong đại đội, mặc dù thực ra tôi là người trẻ tuổi nhất trong số họ, cũng bắt đầu gọi tôi là "bố" trong các tình huống ko chính thức. 1 thời gian sau tôi nghĩ mình cần để cho râu mọc để trông có vẻ già hơn vì 1 shtrafnik lớn tuổi bảo tôi có "tuổi đời trẻ đến ức trơ trẽn". Tôi cũng hơi ngại Baturin biết chuyện nickname này, chẳng chóng thì chầy ông ta cũng biết và sẽ chỉ càng ghét tôi hơn thôi! Tuy nhiên đã ko có hậu quả nào xảy ra vì cái nickname của tôi, thậm chí cả osobist cũng ko có phản ứng gì, có lẽ bản thân osobist cũng ko ưa Baturin!
Logged

IN PAUL WE TRUST
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #54 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 09:45:46 pm »

Có thông báo về việc lấy ngày 19/11 làm Ngày Pháo binh, gần trùng với ngày sinh nhật tôi, nhằm tưởng nhớ những người pháo thủ anh hùng trong Trận Stalingrad. Trong ngày này chúng tôi được nhận 1 khẩu phần vodka tiền tuyến, vì thế mọi người tổ chức tiệc sinh nhật tôi luôn. Tôi hân hạnh được đón tiếp Ivan Matvienko, đại đội trưởng cũ, tham mưu phó Valery Semykin, tham mưu trưởng Philip Kiselev và Alex Filatov, tất cả đều đến chúc mừng tôi với khẩu phần vodka của họ. Cùng với các đồng đội George Sergeev, George Razhev và cả Fedor Usmanov, chúng tôi tổ chức buổi sinh nhật trong tình bằng hữu tốt đẹp, trong ko khí anh em thực sự của cuộc sống nơi tiền tuyến. Chúng tôi nhắc tới Ivan Yanin và tất cả những người đã ngã xuống trong cuộc chiến dài và tồi tệ này, dù sao cũng đã thấy được hồi kết của nó. Hồi kết cuộc chiến có vẻ đã rất gần, ko giống như năm ngoái.

Ngay sau đó người ta mang tới cho tôi 1 bức thư "của vợ cậu" như tay quân bưu nói, tôi biết đó là thư của Rita. Chỉ 1 số ít bạn bè biết tôi vẫn gọi người con gái tôi yêu, Rita người Leningrad, là vợ. Tôi gặp và yêu cô 1 năm về trước và những bức thư tình dài lê thê của chúng tôi lúc đó vẫn chưa có điểm dừng. Chúng tôi vẫn tiếp tục đánh lừa hệ thống kiểm duyệt quân đội, đầu thư là danh sách "những người bạn" gửi lời chúc mừng sinh nhật tôi, qua đó tôi biết bệnh viện của cô đã phải di chuyển gấp tới Lochuv, 1 thị trấn Ba Lan nhỏ ngay gần chỗ tôi.

Đầu tháng 12 chúng tôi bất ngờ được rút khỏi tiền tuyến, nhanh chóng trao lại vị trí cho 1 đại đội bộ binh đầy đủ quân số và chuẩn bị để rời về tuyến sau. Hoá ra chỉ huy Phương diện quân, Nguyên soái Rokossovski, phát hiện "những tên kẻ cướp của ông" vẫn ở trên tuyến đầu suốt từ tháng 10, ông lệnh cho giải phóng tất cả sĩ quan shtrafnik đã phục vụ đủ thời hạn trong Tiểu đoàn Trừng giới, cả những người đã chứng minh tinh thần dũng cảm và kiên cường nữa. Niềm vui của chúng tôi đúng là vô hạn, đặc biệt là với những người được giải thoát. Giấy chứng nhận phục chức của họ đã có sẵn từ lâu, thật tiếc là Kostya Smertin và nhiều người khác đã ko sống được đến ngày vui này, họ đã chết khi chúng tôi đang phòng thủ đầu cầu Narev. Tôi cũng đã viết giấy giới thiệu cho Kostya từ lâu vì anh ta vừa dũng cảm vừa kiên cường trong 2 tháng thời hạn phục vụ tại tiểu đoàn trừng giới, và thời hạn đó đã kết thúc.

Chúng tôi nhanh chóng đóng gói số tư trang ít ỏi và ngày hôm sau bàn giao các vị trí phòng thủ cho đơn vị bạn. Mọi người tập trung tại sở chỉ huy tiểu đoàn đóng tại 1 căn nhà nhỏ nằm bên rìa 1 ngôi làng đã bị tàn phá gần như hoàn toàn. Tim tôi đập mạnh, đã có quá nhiều chuyện xảy ra trong 6 tuần qua! Tôi báo cáo quân số đại đội cho tiểu đoàn trưởng, giao cho ông ta các giấy chứng nhận được cho ra khỏi tiểu đoàn trừng giới của các shtrafnik. Trong lúc vui vẻ, tôi cũng xin phép rời tiểu đoàn độ 3 - 4 ngày để đi thăm vợ chưa cưới ở bệnh viện. Tôi ko giấu Baturin rằng Rita chưa phải là vợ tôi như tôi vẫn thường nói với mọi người khác trong tiểu đoàn. Tôi cũng thêm rằng trung đội trưởng súng máy George Sergeev sẽ thay khi tôi đi, trong các trận đánh vừa qua anh ta là phó của tôi.

Kombat do dự 1 lúc trước khi có quyết định về lời đề nghị của tôi, và tôi đã nghĩ ông ta sẽ ko cho. Sau đó ông nói cho tôi tên làng mà ban tham mưu tiểu đoàn, các đơn vị hậu cần, hỗ trợ và đại đội tôi sẽ phải tới và lệnh cho tôi có mặt ở đó sau 2 ngày nữa, giao lại đại đội cho thượng uý Usmanov tạm chỉ huy. Đương nhiên trong trường hợp này kombat đã đúng vì George Sergeev thuộc đại đội súng máy chứ ko phải đại đội tôi. Tôi sung sướng vì được cho phép mà ko gặp trở ngại gì và ko bỏ phí 1 giây, tôi xin giấy nghỉ phép rồi chạy ra khỏi nhà với chỉ 1 suy nghĩ trong đầu: "Phải đi thôi!" Thậm chí tôi ko có thời gian nghĩ ra kỳ phép này ngắn đến mức kỳ cục. Điều đó là có lý do!

Đã hơn 1 năm kể từ lần cuối cùng tôi gặp Rita ở Ufa. Sau đó tôi mới biết mình có thể gặp cô ngay tại mặt trận này! Tôi để lại 1 bản chỉ dẫn ngắn cho Fedor Usmanov, anh ta hiểu hoàn toàn, vồ lấy balô, trong đó đã có đồ ăn khô, bánh mì, đường, thịt hộp và các thứ khác, tôi chạy ngay tới con lộ gần nhất để xin đi nhờ xe. Sau khi tìm địa điểm trên bản đồ, tôi nhận ra rằng mình khá may mắn vì có thể tới Lochuv ngay trong ngày, chiếc xe đầu tiên dừng lại cho tôi lên cũng là 1 món quà của thần may mắn, nó đang về tuyến sau và có đi qua Lochuv! May quá đi mất!

Mặc dù chiếc xe thường xuyên dừng lại giữa đường nhưng tôi cũng đã đến được 1 thị trấn nhỏ vài giờ sau. Tôi chạy tới chiếc xe ngựa đầu tiên do 1 chú lính trẻ nhỏ thó cầm cương, quân phục cậu ta vì lý do nào đó ko có quân hàm, và hỏi cậu xem bệnh viện ở đâu. Cả ngày hôm đó tôi đã tưởng tượng ra đủ thứ nhưng đến lúc đó tôi mới biết trí tưởng tượng của mình còn kém xa so với thực tế. Với 1 chút khó khăn tôi nhận ra cậu nhóc chính là Stas, em trai Rita, người đã cùng Rita và mẹ bí mật ra mặt trận. Có vẻ cậu ta cũng nhận ra tôi và hỏi trước: "Anh muốn tìm Rita Makarievskaya phải ko?" Tôi nhảy bổ tới ôm chầm lấy thân hình nhỏ bé còm nhom của cậu, nhảy lên xe và cậu ta chậm chạp đánh xe đưa tôi tới bệnh viện. Tôi chỉ muốn nhảy khỏi xe để chạy bộ tới nơi cậu ta chỉ nhưng rồi chiếc xe đã tới 1 khu nhà. Stas chạy vào 1 trong những ngôi nhà đó nhưng ngay sau đó quay ra, với vẻ rụt rè, cậu bảo tôi Rita ko ra được vì đang bị sếp bệnh viện mắng, và bảo chúng tôi về nhà chờ.

Rita, Stas và mẹ ở trong 1 căn nhà biệt lập. Tôi những muốn nhận lời đề nghị này làm sao nhưng khắp người tôi đầy thứ côn trùng chết tiệt ko chỉ đầu độc cuộc sống ngoài tiền tuyền mà còn đẩy tôi vào tình thế thực sự dở khóc dở cười tại đây, trong ngôi làng này. Chỉ vì lũ rận mà tôi ko dám lên kế hoạch ngủ lại qua đêm mà chỉ muốn gặp người con gái tôi yêu nhất trên đời. Có lẽ vì mong nhớ điên cuồng và thực tế là tôi có biết Ekaterina Nikolaevna, mẹ Rita, từ trước nên tôi quyết định sẽ nói thẳng toẹt vấn đề ra với bà. Dù gì tôi cũng phải chờ Rita, ngay cả phải ngồi ngoài cửa trong 1 ngày rét mướt như hôm nay để được nói chuyện với cô, kể cả là ngoài cửa.

Chúng tôi về tới nhà, Ekaterina Nikolaevna nhìn thấy chúng tôi qua cửa sổ, nhận ra tôi và chạy ra. Có lẽ tôi đã đỏ mặt vì xấu hổ khi nghĩ tới việc sắp phải thú nhận, vì thế bà lập tức hỏi tôi với vẻ lo lắng rằng tôi có bị ốm gì ko. Tôi phải nói thẳng với bà về tình trạng của mình và rằng tôi chỉ xin được ngồi chờ Rita ngoài cửa thôi cũng được. Tuy nhiên bà hiểu mọi chuyện ngay lập tức và có 1 quyết định khác lạ: "Vào đi Alex, đừng có xấu hổ vì chuyện rận rệp. Ko may là chuyện này quá phổ biến ở mặt trận và nhiều thương binh đã đem về bệnh viện cái của này. Chúng ta sẽ làm ngay tất cả những gì cần thiết." Khi tôi bước vào nhà, bà lập tức lệnh cho tôi cởi bỏ quân phục rồi vào phòng Stas cởi nốt đồ lót, mặc tạm 1 tấm áo nhân viên y tế trắng. Tôi có thể nằm nghỉ 1 lúc chờ Rita về trong khi mẹ Rita bắt đầu cho tất cả quần áo của tôi vào nồi luộc trên bếp lò, sau đó còn là kỹ bằng 1 chiếc bàn là nóng đỏ. Tôi nằm trên giường mà ko thể tưởng tượng ra cuộc gặp gỡ sẽ diễn ra thế nào. Mặc dù đã nhiều đêm thiếu ngủ vì phải viết giấy giải phóng cho các shtrafnik, bàn giao vị trí và nhiều công việc trận mạc khác, tôi vẫn ko thể ngủ trước cuộc gặp gỡ quan trọng nhất cuộc đời mình!

Vài giờ sau Rita chạy vội về. Tôi nhảy khỏi giường trong bộ trang phục kỳ quặc, tấm áo blu bác sĩ rõ ràng là ko vừa cỡ tôi. Hình như mẹ Rita đã nói hết từ trước nên cô ko có vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi trong thứ quần áo này. Cô chỉ lao vào tôi và chúng tôi đứng ôm ghì lấy nhau như vậy 1 lúc lâu. Rita đã thay đổi rất nhiều! Mới có hơn 1 năm, nhưng trong chiến tranh nó dài như vô tận! Sau khi tôi rời Ufa cô đã trở nên chín chắn hơn nhiều. Bộ quân phục bạc màu đính cầu vai rất hợp với cô và cô đã lấy lại 1 phần trọng lượng đã mất trong những ngày đói kém vì Leningrad bị vây hãm. Thay vì thắt lưng lính cô đeo 1 thắt lưng sĩ quan, chắc của mẹ cô, 1 cái váy quân phục cotton bạc màu che đôi chân mảnh dẻ. Chúng tôi sướng đến phát điên và nói chuyện gần như suốt đêm, trong khi đó Ekaterina Nikolaevna đun sôi và là quân phục cho tôi ko mệt mỏi. Chúng tôi nhắc lại tất cả những lúc bên nhau kể từ lần đầu gặp gỡ, sau đó kể những chuyện đã xảy ra với mỗi người trong năm qua, cho đến tận buổi tối hạnh phúc đó. Cả Stas và Ekaterina Nikolaevna cũng góp chuyện và điều đó làm chúng tôi thêm gần gũi. Chúng tôi đã mơ đến giây phút này trong nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng.
Logged

IN PAUL WE TRUST
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #55 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2010, 12:42:44 pm »

8
LẤY VỢ


Chuyện tình của tôi bắt đầu vào 1 đêm hè ấm áp tại làng Alkino, cách Ufa ko xa. Ban nhạc trung đoàn tôi đang chơi điệu van trong phòng khiêu vũ. Nhảy nhót là thứ cuối cùng tôi nghĩ tới dù đang còn trẻ, mới 19 tuổi và là 1 trung uý vừa mới tốt nghiệp. Đó là vì 2 chiếc răng khôn đang mọc xuyên qua lợi tôi cùng lúc, cơn đau dai dẳng khiến tôi kiệt sức. Lúc đó tôi đang chúi đầu sau 1 cái rào để trốn khỏi phải nhảy như các sĩ quan trẻ giống mình, những người vừa đổi cầu vai lính với những khối vuông thành cầu vai sĩ quan với những ngôi sao. Bạn nhảy của họ là những cô gái hầu hết đều ăn diện trông rất đáng yêu, công nhân 1 trại bò sữa gần đấy. Các sĩ quan trẻ ko chỉ nhảy van rất điệu mà còn có hàng loạt cuộc hẹn hò với các cô gái vắt sữa. Tôi thấy có 1 cô gái tóc vàng mảnh khảnh ngồi lặng lẽ trên ghế dài, trông như sắp khóc, cô ăn mặc rõ ràng là ko phù hợp để đi khiêu vũ. Có thể tôi cảm thấy tội tội hoặc muốn làm điều gì đó cho quên đi cơn đau răng nên tôi bước đến bên cô và bắt đầu cuộc nói chuyện.

Tôi được biết cô tên là Rita, đến từ Leningrad, cô cùng mẹ và em trai được sơ tán từ đó tới Ufa. Cha cô, 1 kỹ sư xây dựng đã chết đói khi thành phố bị vây hãm. Tại Ufa, nơi Lenin từng sống thời trẻ, họ có nhiều họ hàng. Đoàn thanh viên thành phố lo cho những người sơ tán từ Leningrad. Để giúp cô gái mới tới thay đổi khẩu phần chết đói, họ gửi cô tới làm phụ trách 1 trại thiếu niên tiền phong tại Alkino, cạnh chỗ trung đoàn tôi đóng quân. Thay vì 1 bộ váy áo dạ hội đáng yêu, cô chỉ mặc 1 cái quần đi tuyết kỳ cục ko rõ màu gì và 1 chiếc áo blouse quá khổ, chân đi guốc gỗ quai da thay cho giày nhảy. Cô gái khốn khổ đang chực khóc vì thất vọng với bộ quần áo chẳng phù hợp chút nào với những giai điệu của ban nhạc quân đội, có lẽ cô cũng khóc vì thất vọng với bản thân mình nữa. Chúng tôi nói chuyện rất lâu. Cô bình tĩnh lại và cơn đau răng quá quắt của tôi có lẽ cũng giảm bớt đôi chút. Tôi đưa cô về tới tận cổng trại thiếu niên, tại đó 1 phụ nữ chừng 35 - 40 tuổi có vẻ giận dữ bắt đầu mắng cô vì đã để mặc những thiếu niên tiền phong nghịch như quỷ ko người chăm sóc. Tôi buộc phải bào chữa giúp cô và nhờ đó biết sếp của Rita. Có lẽ việc làm của tôi đã giúp được Rita ít nhiều vì bà lớn đã đối xử với cô tử tế hơn sau cuộc nói chuyện. Chúng tôi đồng ý hẹn hò vào ngày mai và tiếp tục nhiều ngày sau đó, tôi bắt đầu cảm thấy ko thể chờ đến mai để được gặp cô.

Trước đây tôi chưa từng ngại mọi loại công việc từ canh gác, làm bếp trở đi, thậm chí còn thực sự thấy thích những công việc tẻ nhạt đó. Tôi thích tỏ ra là người có trách nhiệm trong tiểu đoàn, dù chỉ với tư cách 1 lính canh hay thậm chí 1 anh nuôi. Nhưng từ khi gặp Rita tôi bắt đầu ghét tất cả những công việc dạng này vì nó làm giảm thời gian tôi có thể ở bên người con gái tôi yêu. Ở bên cô lúc nào cũng thú vị. Tôi đã nhanh chóng yêu cô ngay từ cái nhìn đầu tiên, yêu từ đầu đến chân. Nhưng 1 hôm cô ko đến chỗ chúng tôi thường hẹn nhau. Tất cả như sụp đổ. Nhưng tôi vẫn còn nhớ địa chỉ mà 1 lần cô viết bằng cành cây lên cát: "Ufa, phố Tsuryupa". Tôi phải đợi đến lúc có cơ hội. Ở Alkino chúng tôi có 1 câu nói vui: "Có tiền thì vui vẻ ở Ufa, hết tiền thì ra ngồi ở Chishmy." Chishmy là đầu mối đường sắt lớn gần nhất. Rồi tôi cũng có được 1 khoảng thời gian rỗi để đi Ufa tìm Rita. Vốn luôn là 1 anh chàng nhút nhát nhưng khi đó ko hiểu sao tôi có đủ dũng khí! Tôi tự giới thiệu mình với mẹ Rita và các cô dì vì đàn ông họ hàng của cô đã đi lính ngoài mặt trận hết và gây ấn tượng tốt với họ.
Logged

IN PAUL WE TRUST
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #56 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2010, 12:42:52 pm »

Tôi trở lại trung đoàn và vài ngày sau bị chuyển ngoài ý muốn từ Ufa tới 1 xưởng cưa bên sông Belaya gần đó để thu mua gỗ cho trung đoàn. Tôi mất 2 tuần ở đó. Trong thời gian này tình cảm của tôi với Rita trở thành tình yêu thực thụ với người con gái mỏng manh tóc vàng mắt xám đến từ thành Leningrad bị vây hãm. Lúc đó cô đã chuyển sang làm công nhân lắp ráp tại nhà máy sản xuất điện thoại Ufa, ngoài ra còn đi học làm y tá tại RSRC - Uỷ ban Chữ Thập Đỏ Nga. Chúng tôi dành phần lớn các buổi tối tại nhà hát Ufa xinh đẹp, các nghệ sĩ ở đây đều được sơ tán tới Ufa từ Moscow và Kiev.

Mẹ cô là bác sĩ quân y đã từng có kinh nghiệm chiến trường từ thời Nội Chiến và Chiến tranh Phần Lan, bà gia nhập 1 quân y viện mới thành lập, Rita cũng vào đó làm y tá. Cậu em trai 15 tuổi của cô, Stas nhỏ thó, cũng đang làm việc trong 1 nhà máy ở đâu đó nên đã có tem phiếu công nhân. Như 1 quý ông thực thụ, tôi cố tìm mọi lý do để mua thứ gì đó chiêu đãi Rita nhưng lúc đó thứ duy nhất có thể kiếm được ở Ufa mà ko cần tem phiếu là kẹo dính và 1 loại đồ uống thường gọi là "bánh mì rán" chẳng gợi lên cảm giác ngon lành tí nào. Mọi thứ tốt đẹp đã ko còn. Chuyến thu mua gỗ của tôi tại Ufa sớm kết thúc, tôi trở lại trung đoàn đóng tại Alkino, sau đó chúng tôi ít được gặp nhau. Ko lâu sau Rita báo cho tôi biết bệnh viện đã đủ người nên cô bị chuyển ra mặt trận 1 thời gian.

Tôi chạy tới gặp đại đội trưởng, thượng uý Nurgaliev, trong mắt chúng tôi ông là 1 sĩ quan kỳ cựu, khoảng 40 tuổi, bình tĩnh và vững vàng. Ông cho phép tôi tới Ufa trong 1 ngày nhưng phải trở lại trình diện ông vào buổi tối. Tôi chỉ vừa kịp thời gian tới nhà Rita gặp cô và gia đình, mọi người đang đóng gói số hành lý cuối cùng. Tôi giúp họ lên tàu, nhưng rồi khi đoàn tàu chuyển bánh tôi buộc phải nói câu "Tạm biệt" rồi quay về trung đoàn. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy Rita và mẹ cô, Ekaterina Nikolaevna, mặc quân phục, và đó cũng là lần đầu tiên tôi rũ bỏ được tính rụt rè để hôn lên môi người nữ chiến binh của riêng tôi, lau nước mắt và vội vã ôm lấy cô. Vì đã muộn nên tôi phải chạy sang 1 con tàu đang tới Alkino, nhảy lên ngay khi nó đang chạy và chúng tôi ko còn nhìn thấy nhau nữa.

Tôi ko thể cảm thấy thoải mái trong nhiều ngày sau đó, thêm vào đó, tôi khổ sở với ý nghĩ rằng 1 cô gái 18 tuổi như Rita mà vừa thoát khỏi thành phố bị vây hãm đã lại trên đường ra mặt trận, trong khi đó thì 1 thằng đàn ông trưởng thành gần 20 tuổi là tôi vẫn đang ở hậu phương dù cho nhiều sĩ quan đã ra mặt trận cùng các đại đội bổ sung mà chúng tôi đã huấn luyện xong. Trung đoàn trưởng, thiếu tá frontovik Zhidovich với vết sẹo dài điển hình trên má trái, 1 lần nữa bác bỏ yêu cầu được ra mặt trận của tôi bằng 1 mệnh lệnh ngắn gọn: "10 ngày cấm túc vì tội xin xỏ ko đúng lúc!" Cấm túc có nghĩa là ko được tới Chishmy hay Ufa nữa đồng thời bị trừ 25% lương tháng. Chúng tôi thường đùa rằng số tiền đó sẽ được đưa vào quỹ Quốc phòng. Mặc kệ các nguyên tắc, sáng hôm sau tôi lên gặp trực tiếp trung đoàn trưởng nhưng câu trả lời của ông thậm chí còn ngắn gọn hơn nữa: "Đừng vội! Tất cả chúng ta rồi sẽ ra đó." Tuy vậy số phận cũng mỉm cười với tôi sau cả chục lần đề đạt, người ta đang thành lập 1 nhóm sĩ quan cho trung đoàn sĩ quan dự bị quân khu để gửi ra mặt trận.

... Số phận con người ta đôi khi ko thể đoán trước được! Năm 1960 tôi đang là 1 đại tá dù đóng tại Kostroma thì phải tới quân y viện Yaroslavl để phẫu thuật cắt tuyến giáp. 1 thanh tra quân y tới kiểm tra xem tôi có còn phù hợp với việc phục vụ trong lực lượng dù hay ko. Tại quân y viện tôi đã gặp lại trung đoàn trưởng cũ, đại tá Zhidovich, trong bộ pyjama bệnh viện. Tôi nhận ra ông vì vết sẹo điển hình chạy qua toàn bộ má trái vòng từ thái dương tới tai, nhìn từ bên cạnh trông hơi giống 1 lọn tóc mai. Thật kỳ lạ, ông ko chỉ gọi đúng tên tôi mà còn lập tức nhận ra tôi chính là tay trung uý trẻ cứng đầu đã làm ông phát mệt vì những lời đề nghị được ra mặt trận liên tục. Hoá ra chính ông, cựu chỉ huy của tôi, cũng tình nguyện xin ra mặt trận nốt. Ông chỉ huy 1 trung đoàn bộ binh Cận vệ nhưng bị thương nặng ngay trận đầu, sau đó nằm viện mất nhiều năm rồi trở lại quân ngũ cho đến ngày về hưu tại Yaroslavl.

Tôi ở bệnh viện cho tới khi họ nhận ra tôi ko còn phù hợp với lực lượng đổ bộ đường ko. Chúng tôi đã có những buổi tối tha hồ ngồi ôn lại kỷ niệm về Alkino, kinh nghiệm trận mạc và cuộc sống sau chiến tranh. Ông kể cho tôi về số phận các trung đoàn phó hồi ở trung đoàn dự bị. Thiếu tá Rodin, 1 sĩ quan khoẻ mạnh đẹp trai, đã hy sinh trong lần thứ 2 ra mặt trận. Trung tá Neklyukov, con người lịch lãm với hàng ria con kiến trông như 1 đại diện điển hình của quân đội Nga Sa hoàng thời xưa trong con mắt các trung uý trẻ mới nhận quân hàm chúng tôi, ông đã quá già nên ko ra trận và giải ngũ ngay sau chiến tranh. Chúng tôi đã có nhiều thời gian ôn lại những kỷ niệm đẹp ở bệnh viện Yaroslavl ...

Trở lại năm 1943, sau khi Rita rời Ufa chúng tôi bắt đầu chuyển sang quan hệ qua thư, chính xác là thư tình. Qua những bức thư của cô tôi biết được cô đã tới Tula, bệnh viện cô đặt tại phố Krasnoperekopskaya. Mãi sau này khi tôi đã ở mặt trận Rita mới cho biết bệnh viện của cô đã trở thành 1 bộ phận cơ hữu của Phương diện quân Belorussia. Số phận đã mỉm cười khi để chúng tôi vào cùng 1 Phương diện quân khiến chúng tôi có cơ hội gặp nhau 1 lần nữa, 1 lần cho mãi mãi. Giống như nhiều chàng trai trẻ đang yêu khác, tôi có nguồn cảm hứng mạnh mẽ để sáng tác những bài thơ và đã viết nhiều bức thư cho người yêu toàn bằng thơ.

Thậm chí bây giờ, nhiều năm sau chiến tranh, tôi vẫn tin rằng tình yêu của chúng tôi chính là linh vật giữ cho tôi sống sót. Nó dẫn dắt tôi thoát khỏi những nguy hiểm chết người mà tôi luôn phải đối mặt trong cuộc chiến, thôi thì đủ loại đạn, mìn, xe tăng, bom ... Tôi ko thể ko nói đến 1 "bài kiểm tra" mà Rita đã bắt tôi vượt qua. Hồi hè năm 1944 cô đã viết cho tôi 1 bức thư nói cô đã từng lập gia đình và thậm chí đã có con. Tôi trả lời nếu tất cả đã là quá khứ thì chẳng ảnh hưởng gì đến tình yêu của chúng tôi hết, và con của cô sẽ là con chúng ta. Tôi đã suýt tin vào bức thư đó dù ko hiểu chuyện lấy chồng có con đó xảy ra như thế nào và vào lúc nào. Cô rời Ufa vào tháng 8 và từ đó đến lúc nhận thư chưa được 1năm. Ngay cả khi gặp nhau ở Lochuv câu hỏi đó vẫn còn treo lơ lửng trên đầu tôi dù tôi ko hỏi han hay có ý nghi ngờ tình yêu của cô dành cho tôi, hoặc của tôi dành chô cô. Sáng sớm hôm sau, chưa hề ngủ chút nào, tôi mặc lại bộ quân phục đã được giặt là tinh tươm để bắt đầu chuyến đi tới ngôi làng đã định và để kombat khỏi phải bực mình. Chậm trễ ko phải thói quen của tôi.
Logged

IN PAUL WE TRUST
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #57 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2010, 12:43:23 pm »

Tôi mở bản đồ ra nghiên cứu và tìm thấy có 2 ngôi làng nhỏ tại vị trí cần tới, Buda Pritocka và Buda Kuminska, cả 2 đều nằm gần tuyến đường cao tốc nối Warsaw với Brest. Kalushin thì tôi đã biết từ hồi ở bệnh viện còn Rembertuv nằm ở ngoại ô Warsaw, phía đông sông Vistula. Tôi chỉ 2 ngôi làng đó cho Rita, tôi nghĩ mình sẽ ở đó 2 - 3 tuần hoặc lâu hơn. Theo lệnh của chỉ huy Phương diện quân, Nguyên soái Rokossovski, đó là nơi chúng tôi sẽ giải thoát cho các shtrafnik hoàn thành nhiệm vụ tại tiểu đoàn trừng giới. Có thể sau đấy chúng tôi sẽ nhận được quân bổ sung, bố trí họ vào các đơn vị chiến đấu và huấn luyện họ cho các trận đánh mới. Rita nói bệnh viện của cô, tôi nghĩ cũng như các bệnh viện khác, có 1 nhóm nghệ sĩ nghiệp dư, và vì cô là cựu sinh viên trường balê Leningrad nên cô trở thành người đứng đầu nhóm nhảy. Trong giai đoạn chiến sự tạm lắng này bệnh viện ko có nhiều thương binh, vì thế nhóm nghệ sĩ nghiệp dư có thể tổ chức những chuyến "lưu diễn" tới các đơn vị đóng gần đó cũng đang nghỉ ngơi và nhận quân bổ sung. Các chuyến "lưu diễn" này do ban Ctrị Phương diện quân tổ chức, và ai biết được, chúng tôi nghĩ, có thể nhóm nghệ sĩ sẽ làm 1 chuyến lưu diễn ở đâu đó gần chỗ tôi dù trong suốt cuộc chiến tiểu đoàn trừng giới ko bao giờ được các nghệ sĩ viếng thăm. Giả thiết này sau đó đã được chứng minh khi đoàn ca nhạc được xếp lịch tới thăm thị trấn Sedlec, phía đông Kalushin.

Như người ta thường nói trong trường hợp này: "Tôi biết rồi!" Cuối ngày hôm đó tôi đã tới được 2 ngôi làng mà kombat chỉ và gặp Ctrị viên tiểu đoàn mới, thiếu tá Kazakov. Ông được chỉ định thay thế trung tá Rudzinski, người được cựu kombat là đại tá Osipov lấy khỏi tiểu đoàn. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy nhiều Ctrị viên mới tới trong thời gian gần đây ko bao giờ đến các chiến hào tiền tiêu. Khi tôi trình diện kombat, ông chỉ lẩm bẩm mấy tiếng tỏ vẻ hài lòng, thậm chí ko buồn hỏi tôi đã đi đâu và như thế nào trong "kỳ nghỉ", và ra lệnh cho tôi bố trí đại đội tại làng Buda Pritocka. Tôi tới làng, tại đó tôi gặp Fedor Usmanov, George Razhev và trung đội trưởng súng máy trực thuộc đại đội súng máy George Sergeev, lúc này vẫn còn được "phối thuộc" vào đại đội tôi nên cũng đóng trong làng. Đại đội trưởng súng trường chống tăng Pete Zahumennikov, bạn cũ của tôi, và trung đội trưởng cối Michael, hay như tên thường gọi là Musya Goldstein cũng ở trong làng.

Thực tế là tất cả các chiến hữu lại 1 lần nữa ở bên tôi. Giao liên của tôi là cựu đại uý già Nikolai, ko may tôi ko nhớ được họ của ông. Ông tìm được căn nhà của 1 người Ba Lan độc thân tên là Krul, vì 1 số lý do tôi vẫn nhớ tên họ này. Tay Ba Lan rất tự hào với dòng họ của mình, nó ko có nghĩa là thỏ (tiếng Nga là krolik) như lúc đầu tôi tưởng mà có nghĩa là vua - korol. Ngôi nhà trông ko đẹp nhưng có phòng rộng đủ để tổ chức các buổi họp "hội đồng quân sự đại đội" như cách nói của Fedor Usmanov. 2 phòng nhỏ hơn dành cho tôi và giao liên. Pan (địa chủ Ba Lan) Krul vì lý do nào đó sống đời đơn chiếc ko vợ con nhưng lại có cả tá nông dân cả đàn ông lẫn đàn bà làm việc cho mình. Họ ko bị tống sang Đức làm lao động khổ sai như tôi thường thấy ở Belorussia hay Ukraina. Sau đó đến tầm tháng 12/1944 chúng tôi nhận thấy có nhiều thỏ rừng chạy trên ruộng, vậy là tôi quyết định trổ tài thiện xạ để đãi mình cùng bạn bè 1 bữa thịt thỏ.

Từ hồi trung học tôi đã là 1 trong những học sinh đầu tiên hoàn thành các bài tập bắn vượt tiêu chuẩn đạt danh hiệu "Thiện xạ Voroshilov" hạng 2. Khi mới tốt nghiệp trung uý, trong 1 buổi hướng dẫn ban đầu tại trung đội tân binh mà tôi được giao huấn luyện, tôi đã chứng minh cho 1 người lính bắn tồi rằng khẩu súng trường của anh ta ko bị lỗi bằng cách dùng khẩu súng đó bắn trúng 1 cục sứ cách điện dùng cho cột điện tín ở khoảng cách 100m, đứng bắn ko bệ tì. Cục sứ cách điện vỡ tan từng mảnh khiến sợi dây điện treo lủng lẳng trước cặp mắt ngạc nhiên của binh lính. Nói thực là chính tôi cũng shock khi nhìn thấy kết quả phát đạn đó vì hiểu rằng mình đã nêu 1 ví dụ xấu trước lính tráng, đáng ra tôi ko nên làm hỏng đường dây thông tin hoặc làm tổn hại thanh danh của chính mình. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi bắn trượt?

Vậy là vào ngày 14/12/1944, 1 trong những ngày quan trọng nhất đời tôi, vào khoảng 4h chiều, sau bữa trưa vừa dở vừa ít tôi đã dùng khẩu súng ngắn TT của mình thay vì 1 khẩu Nagant để săn thỏ rừng và hạ được 1 con sau vài lần bắn. Tôi trở lại trại lính cùng với chiến tích săn bắn đó và gặp Nikolai đang giúp cởi áo khoác cho 3 nữ binh sĩ trẻ, Rita yêu quý của tôi là 1 trong số đó! Đi cùng Rita là 1 cô gái Tatar mảnh dẻ với thân hình và khuôn mặt Châu Á xinh đẹp tên là Zoya Farvazova và 1 nghệ sĩ chơi harmonica tên là Lusya Pegova. Cả 3 cô gái đều còn trẻ, khuôn mặt ửng đỏ vì lạnh, và đều thích thú được gặp chúng tôi! Tôi đã thông báo với cả tiểu đoàn rằng Rita là vợ tôi, có lẽ đó là lý do ko ai khác ngoài chính bản thân tôi ngạc nhiên vì thấy cô có mặt tại tiểu đoàn. Tôi sung sướng phát điên!

Bạn bè tôi trong tiểu đoàn chạy ào tới và quyết định tổ chức 1 ?ođám cưới tiền tuyến?, như vậy quan hệ hôn nhân ?ophi chính thức? của chúng tôi sẽ được chứng thực bằng 1 lễ cưới. Tôi hơi lo về phản ứng của Rita, nhưng cô nhìn 2 cô kia rồi đồng ý. Nikolai đã lột da con thỏ xong và bắt đầu nấu ragu với rất nhiều hành mỡ. Món ăn thật tuyệt dù chưa ai trong chúng tôi từng được ăn ragu thỏ rừng đúng nghĩa, điều duy nhất chúng tôi biết là 1 câu đùa như thế này: ?oĐể có món ragu thỏ rừng bạn cần ít nhất là 1 con mèo, nhưng thỏ nhà thì ngon hơn.?

Tin tức về đám cưới của tôi lan ra các bạn bè với tốc độ ánh sáng và tất cả đều tập trung tới phòng họp của ?ohội đồng quân sự?. Cả tham mưu trưởng Philip Kiselev cùng 2 tiểu đoàn phó Ivan Matvienko và Aleksey Filatov, người chúng tôi vẫn gọi là Alex dù thực tế ông hơn tôi cả chục tuổi, đều tới dự đám cưới. Có lẽ lý do khiến chúng tôi coi Filatov như bạn cùng trang lứa là vì tính tình cởi mở vui vẻ cùng khuôn mặt trẻ hơn tuổi của ông. Mọi người nhanh chóng tập trung đầy đủ và sẵn sàng nhập tiệc. Vài người mang tới chút đồ ăn dành dụm từ khẩu phần sĩ quan, số khác mang tới thịt lợn muối hoặc hun khói trong khi Valery Semykin ko hiểu bằng cách nào mà lấy được 1 khoanh tướng pho mát Mỹ từ sĩ quan hậu cần Seltzer. Thứ vodka Ba Lan tuyệt hảo Monopolka và thậm chí mấy chai vang ngoại cũng xuất hiện trên bàn. Có lẽ các sĩ quan đã giữ nó cho các trường hợp đặc biệt tỷ dụ như đám cưới tiền tuyến của tôi. Tôi nhìn Rita hết lần này đến lần khác. Trông cô hơi rụt rè nhưng dễ dàng tiếp chuyện với các bạn tôi, rõ ràng cô đã sẵn sàng đóng vai trò 1 cô dâu. Đến lúc này tôi đã đi đến kết luận rằng cuộc hôn nhân trước đây là 1 chương ko hay ho gì trong quá khứ của cô và giờ đây cô đã sẵn sàng trở thành người vợ thực sự của tôi. Có lẽ mẹ cô, Ekaterina Nikolaevna, cũng đã chúc phúc cho lần đi bước nữa quan trọng này của đời cô.

Đám cưới của tôi vừa vui vừa huyên náo. Chúng tôi có 2 tay chơi harmonica, Lusya chơi rất hay còn Musya Goldstein cũng rất tài. Chúng tôi cũng có máy quay đĩa cùng đĩa hát các bài Rio ?" Rita, Ly Champagne sủi bọt và Sóng Amur, những bài hát nhắc tôi nhớ lại phòng khiêu vũ ở Alkino. Phòng của Pan Krul quá nhỏ nhưng chúng tôi vẫn nhảy múa. Đám cưới vô tiền khoáng hậu của chúng tôi ko kéo dài lâu, 2 cô gái Lusya và Zoya hiểu rõ tình thế tế nhị hoặc đã có ăn ý với nhau từ trước nên bắt đầu đứng dậy xin về, nại rằng họ được lệnh phải trở về đoàn ca nhạc trước nửa đêm. Ko 1 lý do hay ho nào có thể giữ họ ở lại, chúng tôi thậm chí còn cố nói rằng họ ko nên đi khi đêm đã quá khuya thế này.

Thật bất ngờ là George Razhev, 1 anh chàng rất đáng yêu, đã phải lòng Zoya Farvazova và cực kỳ choáng váng khi nghe được rằng cô sẽ ko ở lại. 2 cô gái mỏng manh nhưng dũng cảm ko hề ngại đi bộ xuyên rừng ra đường cao tốc để xin đi nhờ xe mặc dù lúc đó chúng tôi ai cũng ngại những hành động khiêu khích của quân Armeja Krajowa Ba Lan, những người đã thất bại tức tưởi trong cuộc nổi dậy Warsaw. George Razhev có vẻ như đã phát điên vì Zoya, anh ta thao thao về lần bị sức ép đạn pháo mới đây, uống ko ngừng như mọi người khác nhưng ko muốn nhìn thấy các cô gái đi mất. George Sergeev, 1 chàng trai kiệm lời và đáng tin cậy, lãnh nhiệm vụ đưa các cô gái ra đường cao tốc, vẫy 1 chiếc xe đang trên đường tới Sedlec, nơi các cô gái cần tới.

... Dù sao vào năm 1984 tôi cũng đã tìm được George Razhev trong số những bạn chiến đấu cũ, anh viết cho tôi ngay trong bức thư đầu tiên như sau: ?oTất nhiên tôi nhớ cậu, thậm chí là rất rõ. Tôi nhớ cái đầu quấn băng của cậu sau trận đánh ở Oder, nhớ cái bao súng ngắn của cậu đeo trễ tới tận đầu gối. Chỉ cậu mới có cái mốt đó trong toàn tiểu đoàn! Tôi nhớ Rita trong buổi tiệc tại căn lán Ba Lan đã làm tất cả chúng ta trở nên gần gũi. Và tất nhiên, tôi cũng nhớ cô gái đã cho tôi ra rìa và bỏ đi.?

Nhiều chuyện đã xảy ra với George Razhev, tất cả đều liên quan tới rượu và đàn bà. Anh ta đúng là 1 gã tay chơi. Nói về chuyện ?obao súng ngắn đeo trễ tới tận đầu gối?, tất cả các sĩ quan ko cứ gì lớp trẻ, đều cố theo 1 mốt nào đó của cánh lính tuyến đầu trong khả năng có thể và sự cho phép của thượng cấp. Theo gợi ý của nhiều shtrafnik cựu Hải quân tôi đã đeo bao súng ngắn theo "kiểu Hải quân" và thực sự tin rằng nó thuận tiện hơn trong chiến đấu. Thậm chí kombat Baturin, người chúng tôi luôn xem như 1 cụ khốt, và người cháu họ ông ta là Ctrị viên trẻ tuổi đẹp trai Kazakov cũng phá vỡ quy tắc mặc quân phục thông thường. Thay vì đội mũ lông mùa đông thì 2 người toàn đội mũ kubanka, kiểu mũ lưỡi trai truyền thống của lính Cossack, với chóp đỏ giống kiểu mũ papakha dành cho cấp tướng. Chúng tôi, những sĩ quan trẻ, nhìn thấy và cũng làm cho mình 1 cái mũ kubanka, đã có sẵn thợ may và các nguyên vật liệu cần thiết. Nó cũng chỉ giống như mốt đi ủng làm từ áo mưa lính plash - palatka trong mùa hè vừa qua ...
Logged

IN PAUL WE TRUST
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #58 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2010, 12:43:32 pm »

Trở lại lúc đó, tiệc cưới của chúng tôi đã kết thúc và các bạn bè nhanh chóng ra về để cho chúng tôi quãng thời gian riêng tư lâu nhất có thể. Trong khi mọi người đang ăn tiệc Nikolai đã chuẩn bị giường cưới vì ông chân thành tin rằng chúng tôi đã thực sự là vợ chồng. Ngược lại tôi cũng chân thành tin rằng mình ko phải người đàn ông đầu tiên trong đời cô, như cô từng viết trong thư cô thậm chí đã có cả con! Nhưng tôi tự nhủ sẽ trở thành người chồng mới, người chồng thực sự của cô. Tôi rất shock khi biết cô đã nói dối cả về chuyện lấy chồng lẫn có con. Tất nhiên tôi ko còn là trai tân, nhưng là 1 sĩ quan tôi đã thề rằng mình sẽ ko làm bất kỳ cô gái nào mất tân cho đến khi nào chiến tranh kết thúc. Nếu có chuyện đó thì nó sẽ chỉ có thể xảy ra sau 1 đám cưới. 1 người có thể bị giết trong chiến tranh khiến cho 1 cô gái trở thành bất hạnh, thậm chí goá bụa. 1 cô gái nên giữ danh dự và sự trong trắng. Đó là quan niệm phổ biến trong các sĩ quan thời đó, mặc dù quan niệm về danh dự phụ nữ này đôi khi bị xem là cổ hủ trong môi trường "mọi rợ", "hoang dã" và "vô giáo dục" như ngoài mặt trận. Tôi vừa bực vừa vô cùng sung sướng vì Rita yêu quý của tôi đã thực sự muốn và thực tế đã trở thành vợ tôi. Ko giống như 1 "PPZh" (vợ hờ sĩ quan), đó ko phải 1 mốt nhưng khá phổ biến trong những năm chiến tranh đầy hiểm nguy, Rita đã trở thành người vợ thực sự, người bạn chiến đấu, người chị em tay trong tay đi cùng tôi suốt cuộc đời, và là mẹ của những đứa con tôi sau này. Chúng tôi đã sống hạnh phúc bên nhau trong chính xác là 52 năm.

... Chuyện xảy ra vào ngày 14/12/1996, cũng vào 1 buổi tối mùa đông như 52 năm trước, tôi đã nói lời vĩnh biệt Rita trước huyệt mộ. Rita của tôi đã trải qua 2 cơn đau tim và ko thể qua khỏi lần thứ 3. Vào năm 1996 chúng tôi đã có 2 con trai, 4 cháu trai và 1 chắt gái xinh xắn. Cái chết cuối cùng đã bắt kịp Rita, y tá chiến trường trong Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, sau 50 năm kể từ Ngày Chiến thắng. Nó cũng đã đến với nhiều bạn chiến đấu của tôi, lúc đó đã có hơn chục cựu binh tiểu đoàn trong số những người mà tôi tìm lại được qua đời ...

Trở lại năm 1944, chiến thắng vẫn còn ở phía trước và ko ai trên mặt trận biết mình có sống được để thấy ngày đó ko, dù ai cũng mong như vậy. Tháng 12/1944, sông Vistula đóng băng cùng thủ đô Ba Lan Warsaw cũng như toàn bộ vùng đất Ba Lan phía bên kia sông Vistula vẫn còn nằm dưới gót giầy phát xít. Những trận đánh đẫm máu vẫn còn ở phía trước, nơi đó có đường biên giới nước Đức phát xít. Câu khẩu hiệu "Hãy tiêu diệt con quỷ phát xít ngay tại hang ổ của nó" nghe vẫn còn xa vời với chúng tôi. Vượt sông Oder hay Công phá Berlin còn xa vời hơn nữa.

Rita bắt đầu đóng gói đồ đạc để trở lại đoàn văn công nghiệp dư của cô vào sáng ngày 15/12. Cô lo nếu mình ko có mặt, vì cô là người dẫn đầu nhóm múa, sẽ làm ảnh hưởng đến buổi biểu diễn đầu tiên của đoàn dù cô ko biết khi nào nó bắt đầu. Tôi nói với vợ (tôi cực kỳ sung sướng và tự hào khi nói từ này!) rằng hãy hượm đã rồi tới chỗ kombat để giới thiệu cô với Baturin và nhờ ông chứng thực đám cưới của chúng tôi, tức là đóng dấu vào chứng minh thư sĩ quan của tôi và chứng minh thư Hồng quân của cô. Khi chúng tôi đến chỗ kombat, tham mưu trưởng Philip Kiselev bảo tự anh cũng có thể làm việc đó nhưng kombat lúc nào cũng giữ con dấu tiểu đoàn bên mình, ko chịu tin tưởng vào ngay cả tham mưu trưởng. Điều này trái với phong tục nhà binh thông thường. Vì vậy Philip phải đi báo cáo đề nghị của tôi. Sau vài phút 1 cái bụng tròn như quả bóng bằng thịt ló ra từ sau cánh cửa khép hờ, tiếp theo là toàn bộ thân hình Baturin xuất hiện trên ngưỡng cửa. Cả 2 chúng tôi đứng lên chào ông và như tôi thấy, ông chỉ liếc nhìn lại 2 chúng tôi 1 cách thô lỗ, thay vì lời chúc mừng ông ta nói huỵch toẹt: "Tôi ko có phòng đăng ký hôn nhân nào ở đây. 2 anh chị sẽ đăng ký mối quan hệ của mình, nếu nó là đứng đắn, sau chiến tranh." Ông ta bỏ đi luôn và còn ngoái lại nói với tôi rằng: "Và nếu anh còn sống."
Logged

IN PAUL WE TRUST
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #59 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2010, 12:43:50 pm »

Tôi thực sự thấy khó chịu, tất nhiên bạn ko thể phàn nàn hay bật lại các quyết định nghiêm khắc thái quá của thượng cấp ngoài mặt trận cũng như trong môi trường quân đội nói chung. Tuy nhiên sự khiếm nhã có chủ ý, sự thiếu quan tâm tới cấp dưới có thể gây đau đớn hơn cả 1 viên đạn địch. Đòi hỏi hoàn thành tốt nhiệm vụ, thậm chí dù điều đó là tàn nhẫn, là cần thiết trong quân đội, đặc biệt là trên mặt trận, nhưng ko phải là trong trường hợp này! Nó rất giống thói cửa quyền tại các cơ quan hành chính. Tôi đành phải bỏ qua chuyện này, có thể làm gì được cơ chứ, nó sẽ bị coi là bất tuân thượng lệnh tại tiền tuyến. Tuy nhiên đến khi tôi áy náy liếc nhìn sang Rita, tôi đã thực sự ngạc nhiên! Trông cô vẫn hạnh phúc, ánh mắt lấp lánh và nụ cười vẫn nở. Tôi ko thể kiềm chế bản thân nên đã hôn lên đôi môi xinh đẹp của cô, thầm nghĩ cô thật là 1 cô gái mạnh mẽ, ở bên cô mọi thứ với tôi trở nên dễ dàng, thậm chí kể cả trong những tình huống khó khăn nhất đời!

Phil Kiselev, các tiểu đoàn phó Matvienko và Filatov ôm hôn cả 2 chúng tôi và bắt chặt tay. Valeri Semykin lúc này cũng bất thần xuất hiện và nói đại khái như này: "Thôi nào, mấy đứa õng ẹo (tôi nhớ chính xác từ này!) Hãy sống yêu thương chan hoà thật lâu sau Chiến thắng nhé!" rồi ôm hôn cả 2 chúng tôi. Cậu ta còn gọi chúng tôi là "bọn õng ẹo" cả trong những bức thư sau chiến tranh. Cám ơn cậu, người bạn chiến đấu của tôi! Những lời tốt đẹp xuất phát từ trái tim đó đã xoá bỏ ấn tượng xấu vì sự khiếm nhã của Baturin và làm tôi hết muốn bật lại ông ta. Những lời nói đó đã đi theo chúng tôi cả trong quãng đời ngắn ngủi ngoài mặt trận lẫn quãng đời dài sống trong hoà bình sau chiến tranh, nó chỉ chấm dứt sau hơn 50 năm.

Sau sự cố khó chịu với kombat, chúng tôi chạy về căn nhà nơi vừa trở thành phòng cưới của tôi. Chúng tôi lấy balô của Rita, trong đó có tất cả trang phục biểu diễn cần thiết, 1 bộ váy áo kiểu nông dân Ukraina rất đẹp, 1 đôi ủng dài kiểu gopak và 1 bộ trang phục Digan lấp lánh cùng 1 số tư trang khác. Sau đó chúng tôi chạy xuyên rừng ra đường cao tốc để vẫy xe đi nhờ đến Sedlec. Cảm xúc của chúng tôi đã hoà vào làm 1. Rita là 1 người lính và tôi muốn để cô đi càng nhanh càng tốt để thượng cấp khỏi phải phát điên lên vì cô. Nhưng tôi còn muốn ở bên cô thêm vài phút hơn. Có thời gian để làm cả 2 việc đó và vài phút sau Rita đã vẫy khăn tạm biệt tôi từ trên thùng 1 chiếc xe tải trước khi biến mất ở khúc ngoặt con đường.

Tôi trở về nhà Pan Krul và gặp bác giao liên Nikolai, ông đã thu dọn đồ đạc cho tôi cùng cả chiếc máy hát và các đĩa hát. Ông báo cáo chúng tôi đã được chuyển tới ngôi làng cạnh đó, Buda Kuminska, ông cũng nói thêm đó là lệnh của kombat. Tôi ko hiểu ngay được lý do của việc thiên chuyển này, nhưng lệnh bao giờ cũng là lệnh. Thì ra việc đó chỉ để kombat được dễ dàng hơn khi tất cả các đại đội trưởng đều ở cùng 1 chỗ, mặc dù các trung đội trưởng mới ở đâu vẫn ở đó. Có vẻ như lý do là để ông ta đỡ phải thường xuyên gửi các giao liên đi và quản lý các đại đội trưởng chúng tôi được dễ dàng hơn. Về cơ bản đây là 1 quyết định đúng.

Tôi rời khỏi ngôi nhà ko được mến khách cho lắm của Pan Krul mà ko có cảm xúc gì đặc biệt và được phân vào ở trong 1 căn nhà đẹp của 1 bà già Ba Lan, nó đặc biệt ngăn nắp so với 1 ngôi làng thời chiến. Cô con gái lớn Stefa 17 tuổi lau dọn nhà cửa rất kỹ lưỡng và hăng hái. Đó là 1 cô gái vui tươi xinh đẹp với đôi má phính và thân hình quyến rũ. Khi tôi tập trung tất cả các trung đội trưởng của mình lại để thông báo vắn tắt tình hình, tôi để ý thấy George Razhev nhìn cô rất lạ. Trong suốt thời gian tôi ở trong làng, cậu ta tìm đủ mọi lý do để tới và cố bắt chuyện với Stefa mong kiếm được chí ít là 1 buổi đi dạo cùng nhau. Nhưng Stefa là 1 cô gái đoan trang và có để ý đến tôi vì tôi là khách trọ chính và là thượng cấp của tất cả đám sĩ quan. Tôi để ý thấy là dân Ba Lan bao giờ cũng đặc biệt chú ý tới những người có địa vị. Stefa thậm chí còn đan găng tay ấm và chuyển nó cho tôi qua Rita trong 1 lần cô đến thăm tôi.

Tôi đã nhắc đến mối quan hệ đàn ông đàn bà trong chiến tranh nhiều lần, chúng có số phận cũng như hậu quả rất khác nhau, tôi ko có ý định tổng quát hoá. Tôi thấy các cuộc hẹn hò ngoài mặt trận thường ko dẫn tới những tình cảm thực sự sâu sắc mà chỉ đơn thuần là "tiếng gọi của xác thịt". Thật đáng tiếc cho nhiều phụ nữ khi đàn ông ra trận hết và cho đàn ông vì ko có người phụ nữ nào làm bầu bạn trong nhiều năm. Ngay cả trong những câu chuyện tưởng tượng cũng chẳng ai biết được 1 người đàn ông khoẻ mạnh có thể sống sót qua trận đánh tiếp theo ko. Lòng trắc ẩn là thói nhi nữ thường tình, và nó càng mạnh mẽ hơn trong chiến tranh. Vì vậy tôi có thể hiểu được George khi anh ta ko hẹn hò được với cô gái Ba Lan trẻ đẹp Stefa thì lập tức chuyển hướng sang 1 cô gái Nga. Đó là 1 cô "người hồi hương" theo cách chúng tôi vẫn gọi những phụ nữ trở về từ trại tập trung của bọn Đức. Cô tên là Stafa, người gầy còm đói ăn, ít hẫp dẫn và đáng chú ý là đang có mang. Khi biết được cô ta đã sống cùng George 2 ngày, tôi đã yêu cầu George quan hệ an toàn để tránh khả năng lây bệnh cũng như phải cẩn thận vì cô đang có mang thai. Cậu ta đốp lại thế này: "1 người no xôi chán chè thì làm sao hiểu được 1 người đang đói." George lớn hơn tôi 3 tuổi nên tôi ko cố giảng đạo đức cho anh ta trong vấn đề này dù có lý do để làm điều đó. Tôi biết tôi chưa có quyền phán xét chuyện tình cảm, và nói thật ra là tôi cũng có tránh được đâu.

Bà chủ nhà và cô con gái xinh đẹp Stefa chào đón Rita hết sức nồng hậu. Họ thết đãi Rita với 1 sự kính trọng đặc biệt, tôi đoán họ xem cô là Bà Đại Uý Phu Nhân Nga vì thấy họ gọi cô là "Pani Kapitana". Khi Rita đi, tôi 1 lần nữa lại đưa cô ra tận đường cao tốc và 1 chiếc xe đã sớm mang cô đi, giống như lần trước.

Ngay trước khi cuộc tấn công vào Warsaw mà chúng tôi mong mỏi từng ngày bắt đầu, Rita lại đến thăm tôi lần nữa vào tháng 1. Mẹ cô, Ekaterina Nikolaevna, là vị bác sĩ đáng kính và bản thân Rita cũng là 1 y tá tốt và tận tâm tại bệnh viện, cả 2 đều được trưởng khoa phẫu thuật đánh giá cao. Tôi đoán đó chính là lý do khiến cô có thể xin nghỉ phép đi thăm tôi nhiều lần. 1 lý do khác có lẽ là do bệnh viện đang thiếu thương binh trong giai đoạn chiến trận tạm lắng này. Trong bất kỳ trường hợp nào, tôi nghĩ việc cô lập gia đình sẽ được bệnh viện đánh giá nghiêm túc chứ ko như kombat Baturin của tôi. Chỉ 1 thời gian rất ngắn sau chuyến viếng thăm cuối cùng của Rita tới Buda Kuminska, tiểu đoàn tôi đã bước vào trận tấn công nhằm hướng Warsaw.
Logged

IN PAUL WE TRUST
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM