Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:31:45 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bút ký về tiểu sử G.K. Giucov  (Đọc 36443 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #20 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 03:39:16 pm »

Nói tới vấn đề này, không thể quên được những giờ phút nặng nề hôm nói chuyện với Xtalin. Một hôm tôi cùng Vaxilepxki tới báo cáo ở chỗ đồng chí. Vaxilepxki đọc báo cáo những tình huống thực, không phù hợp với những mong đợi, những ý định của ta. Quân Đức đã làm lật nhào những cái ta đề nghị, ta mong muốn. Thứ báo cáo không dễ chịu này làm Xtalin không kìm chế nổi mình. Đồng chí tiến lại phía Vaxilepxki và nói xỉa vào đồng chí:
- Đồng chí làm việc cho ai, đồng chí Vaxilepxki?
Vaxilepxki không hiểu:
- Như vậy là thế nào, thưa đồng chí Xtalin?
- Đồng chí làm việc cho ai, cho người Anh hay người Đức?
Vaxilepxki nhắc lại.
- Tôi không hiểu đồng chí, thưa đồng chí Xtalin.
- Đồng chí không hiểu gì? Đồng chí làm báo cáo mà chúng tôi thấy như không phải đồng chí làm cho chúng ta, mà làm cho người Anh...
Vaxilepxki hơi tái mặt. Câu chuyện nặng nề ấy bỗng bị cắt ngang. Sau đó tôi lại ngồi cùng xe với Vaxilepxki. Đi trên đường, phải thật lâu, đồng chí ấy mới trấn tĩnh lại.
Đến sáng, chúng tôi lại cùng đi với Vaxilepxki tới báo cáo ở chỗ Xtalin. Lúc này, Xtalin đã xử sự khác, tựa như không bao giờ lại có chuyện đối thoại ngày hôm qua nữa.
Nói chung, trong thời kỳ thứ hai của chiến tranh, Xtalin không có khuynh hướng nóng vội khi giải quyết cáo vấn đề. Đồng chí thường nghe hết các báo cáo, kể cả những báo cáo không dễ chịu, không tỏ ra bực bội, không ngắt lời mà vừa đi lại vừa hút thuốc, ngồi xuống ghế, tiếp tục nghe.
Đồng chí hỏi, Xtalin lúc đầu chiến tranh như thế nào và lúc cuối chiến tranh ra sao? Ở Xtalin có gì thay đổi? Có thấy gì khác rõ?
Trước hết phải nói rằng Xtalin vẫn là Xtalin. Những quan điểm có tính nguyên tắc, những thói quen, thái độ của Xtalin đối với tình hình và đối với mọi người không có gì thay đổi. Thái độ của đồng chí ấy đối với mọi người cũng vẫn như trước kia, duy chiến tranh đã đánh giá cao những con người... Công lao của họ, khả năng của họ, sự cần thiết của họ đồi với công việc được nổi rõ trong quá trình chiến tranh. Quan hệ của Xtalin đối với mọi người cũng gắn hến ngày một rõ hơn đối với điều kiện ấy. Chẳng hạn như đối với Cônhiép chỉ huy Phương diện quân Thảo Nguyên và công việc tiến triển tốt, những kết quả và những chiến dịch đánh thắng đã làm thay đổi mối quan hệ, Xtalin nhìn thấy Cônhiép đã chiến đấu ra sao và đã thay đổi cách xử sự của mình với đồng chí ấy. Trong chiến tranh bản thân Xtalin cũng tích lũy được kinh nghiệm và tri thức. Đồng chí hiểu được nhiều hơn những cái mà lúc đầu chưa hiểu. Đồng chí đi sâu vào các hoạt động quân sự, nhận định của đồng chí ấy sâu hơn và đúng đắn hơn. Ngoài ra, Xtalin cũng ngày một coi trọng nhiều hơn thực tại khách quan. Cái quan điểm “cái gì tôi đã quyết định thì có thể cần phải” đã nhượng bộ cho những lập trường tỉnh táo hơn, có căn cứ vào sự đánh giá những hiện thực khách quan “chỉ có thể làm những gì có thể làm được, mà không thể làm những gì không thể”.
Xtalin ngày càng thêm chú ý lắng nghe những ý kiến đóng góp, nảy ra mối hên hệ qua lại giữa mong muốn lắng nghe của đồng chí với sự coi trọng những ý kiến đóng góp và Xtalin cũng ngày một hiểu sâu hơn tình hình quân sự. Một nảy nở thành hai, và cái thứ hai lại đẩy mạnh thêm cái thứ nhất. Nắm được tình hình sâu sắc hơn đã giúp cho đồng chí biết lắng nghe các ý kiến đóng góp và biết lắng nghe các ý kiến lại giúp đồng chí đi sâu hơn nữa vào các vấn đề chiến tranh.
Như tôi đã nhắc ở trên, những cuộc nói chuyện với Xtalin trực tiếp đi vào những hành động quân sự trong những năm chiến tranh, tôi đã nhiều lần phải nói lên sự không đồng tình của mình và lao vào tranh cãi. Rõ ràng là, tất cả những cái đó có gây cho Xtalin một ý kiến nhất định về tôi.
Khi tôi bị miễn chức Thứ trưởng và ra chỉ huy Quân khu Xveclốp, thì Abacumốp (6) dưới sự chỉ đạo của Bêria đã chuẩn bị xong toàn bộ hồ sơ về một vụ âm mưu bạo loạn quân sự. Nhiều sĩ quan đã bị bắt và nêu lên vấn đề bắt giữ cả tôi. Bêria cùng với Abacumốp đã đi tới chỗ xằng bậy và hèn hạ, dựng chuyện tôi là người đứng đầu các sĩ quan đã bị bắt ấy và đang chuẩn bị một vụ âm mưu lật đổ bằng quân sự chống lại Xtalin. Nhưng như sau này, những người có mặt trong buổi nói chuyện đó nói lại cho tôi biết, khi nghe kiến nghị của Bêria đòi bắt giữ tôi, Xtalin đã nói:
- Không, không được bắt Giucốp. Tôi không tin vào tất cả những cái đó. Tôi biết rõ Giucốp. Tôi biết đồng chí ấy trong 4 năm chiến tranh còn rõ hơn cả bản thân mình.
Mưu toan của Bêria định kết liễu cuộc đời tôi bị sụp đổ và câu chuyện này tôi được biết như thế.”
Tôi biết Giucốp lâu nay đang viết hồi ký về bước đường đời của mình nên không dám đề nghị kể cho tôi nghe tiểu sử, e mất thời gian của đồng chí ấy. Nhưng chủ đề trong các câu chuyện của chúng tôi là chiến tranh, nên tự nhiên có lúc Giucốp nhắc đến các sự kiện, những sự kiện tự thuở xa xưa và những sự kiện mới xảy ra gần đây trong cuộc đời mình, như có lúc nói đến đặc điểm của những người đã gắn bó với vận mệnh của đồng chí, có lúc nói về cái nhìn của đồng chí về cuộc sống nói chung và bước đường đời của mình nói riêng.
Tôi dẫn ra đây những câu chuyện này bởi thấy rõ các mặt tiêu biểu của các ghi chép đã phản ánh được bản tính vốn nhất quán của Giucốp.
“Khi tôi viết xong những hồi ức về thời niên thiếu và những năm tuổi trẻ, tôi đọc lại và ngẫm nghĩ, thấy hầu như tiểu sử của các tướng lĩnh và nguyên soái của chúng ta cũng hao hao như thế, hầu như ai nấy cũng đều xuất thân từ những làng, bản xa xôi và đều nghèo, đều sinh ra trong các gia đình ở nông thôn. Một sự giống nhau đến lạ kỳ.
Có lúc tôi nghĩ thầm, tại sao bước đường đời của mình trong chiến tranh và trong cuộc sống nói chung lại như thế, mà không khác hơn. Quả là ở thời Sa Hoàng, tôi có thể theo học tại trường đào tạo chuẩn úy, vì tôi đã học xong chương trình 4 năm ở nhà trường trong ngõ hẻm Briuxốpxki, nguyên là ngõ hẻm Gadétnưi (ở Matxcơva), mà vào thời ấy được coi là đã có đủ trình độ học vấn để nhập học trường đào tạo chuẩn úy.
Năm tôi là một chàng trai 19 tuổi, đi lính ngoài mặt trận với những thành tích đã đạt được tôi có thể vào học trường đào tạo chuẩn úy. Nhưng tôi lại không muốn vậy. Tôi không viết trên tờ khai trình độ học lực của mình, mà chỉ nói rằng tôi đã học xong lớp 2 của nhà trường xứ đạo và người ta đã nhận tôi vào lính. Tôi thích vậy.
Bởi trước đó ít lâu chuyến về phép thăm quê hương đã có ảnh hưởng tới quyết định của tôi. Ở nhà, tôi gạp hai viên chuẩn úy người làng. Ngó bộ thấy xoàng xĩnh, không gọn gàng, kém cỏi, khiến tôi suy nghĩ lung mung, rằng nếu như mình, một thằng bé 19 tuổi sẽ tốt nghiệp nhà trường, đóng lon chuẩn úy và ra chỉ huy trung đội, lãnh đạo những người lính đã lớn, đã có râu, thì dưới mắt họ, anh cũng sẽ như những viên chuẩn úy này, như tôi nhìn thấy họ ở nhà. Thấy khó xử quá, nên tôi không muốn vậy.
Tôi đã đi lính. Rồi sau khi qua một lớp huấn luyện tốt nghiệp trường đào tạo hạ sĩ quan. Tôi có thể nói, cái lớp huấn luyện này là một trường học rất nghiêm, đào tạo ra các hạ sĩ quan còn cơ bản hơn là các nhà trường của cấp trung đoàn chúng ta.
Tôi đi vào chiến tranh với hành trang người lính và một viên hạ sĩ. Sau Cách mạng tháng 2 tôi được bầu làm Chủ tịch của Ủy ban Đại đội kỵ binh, rồi sau là Ủy viên của Ủy ban Trung đoàn.
Không thể nói rằng những năm chiến tranh ấy, tôi đã là một người giác ngộ về chính trị. Hồi ấy, cả một phong trào náo nhiệt giương cao các khẩu hiệu, biểu ngữ, tràn vào môi trường binh lính, song không phải chỉ có những người Bônsêvich, mà cả những người Mensêvich, những người Xã hội cách mạng. Có nghĩa là rất nhiều và rất nhiều người hòa theo. Tất nhiên, trong thâm tâm cũng có một cảm giác chung, một linh cảm là đi đâu. Nhưng vào thời đó, trong những năm trẻ tuổi ấy cũng có thể đi chệch khỏi con đường đúng đắn. Cái đó cũng không loại trừ. Và ai biết điều đó sẽ như thế nào, nếu như tôi không phải là lính, mà lại là sĩ quan nếu như tôi tốt nghiệp trường đào tạo chuẩn úy, lại chiến đấu xuất sắc nhận các chức hàm sĩ quan và đến lúc đó thì cách mạng lại nổ ra. Tôi sẽ rơi vào đâu và chịu ảnh hưởng của những hoàn cảnh như thế nào đây? Cũng có thể tôi sẽ sống hết đời lưu vong ở nước ngoài nào đó?
Tất nhiên, sau này dần dần tôi cũng trở thành một người giác ngộ, xác định được đường đi của mình, hiểu được là mình đi đâu và chiến đấu vì cái gì. Nhưng hồi ấy, tự cái thuở ban đầu ấy, nếu số phận lại bẻ tôi đi con đường khác, nếu như tôi là sĩ quan thì có ai biết sự thể sẽ ra sao. Nhiều người trong hàng ngũ nhân dân cũng như tôi trong thời ấy đã rơi vào những số phận què quặt biết bao...
Tôi đã ngồi trên mình ngựa 25 năm, đã là một hạ sĩ quan, đã chỉ huy trung đội, đại đội kỵ binh, trung đoàn, sư đoàn và quân đoàn.

Giucop, năm 1916, hạ sĩ quan kỵ binh quân đội Sa hoàng. Trung đoàn long kỵ binh số 10 "Novgorod"
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười, 2010, 12:07:15 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #21 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:37:29 pm »

Buổi đầu là công việc của một hạ sĩ quan trong quân đội Sa Hoàng. Vai trò của hạ sĩ quan trong quân đội Sa Hoàng thật nặng. Thật ra họ phải gánh vác mọi việc huấn luyện cho binh lính và cả những việc quản lý binh lính hàng ngày cũng thật không nhẹ nhàng chút nào, kể cả những việc phải chỉ huy họ trong chiến đấu.
Trong đám các sĩ quan Sa Hoàng cũng có không ít những người lao động chân chính, họ biết tự mình làm tất cả mọi việc và đã làm chẳng tiết sức lực và thời gian. Nhưng phần lớn bọn họ thường trút mọi công việc khó nhọc xuống đầu các hạ sĩ quan. Và cái đó cũng đã quyết định cho tình thế các hạ sĩ quan trong quân đội Sa Hoàng. Họ được huấn luyện kỹ; đã phục vụ nghiêm chỉnh và là một lực lượng lớn.
Năm 1921, tôi buộc phải ra trận chống lại quân Antônốp. Phải nói rằng đây là một cuộc chiến tranh khá nặng nề. Vào những thời kỳ cao điểm, chúng tôi phải chống lại 7 vạn thanh kiếm và lưỡi lê. Tất nhiên, trong cuộc chiến tranh này, quân của Antônốp không đủ pháo hạng trung và cả pháo hạng nặng, thiếu đạn pháo và đạn các loại cũng bị thất thường, nên không muốn lao vào những trận đánh lớn. Đụng đầu với chúng tôi, họ đã rút lui, tán loạn, biến mất và lại xuất hiện. Chúng tôi cho rằng mình đã diệt được lữ đoàn này, chi đội nọ của Antônốp, song thực ra họ chỉ tán loạn, để rồi ngay sau đó lại xuất hiện. Cuộc chiến tranh này nghiêm trọng là bởi trong hàng quân của Antônốp có rất nhiều người nguyên là lính đã chiến đấu, trong đó có các hạ sĩ quan. Và chút xíu nữa thì có tên đã cho tôi đi sang thế giới bên kia.
Có một trận, lữ đoàn của chúng tôi bị phờ phạc, quân của Antônốp đổ vào chúng tôi khá mạnh. Nếu bên phía chúng tôi không có 50 tay súng máy yểm hộ, thì nói chung sẽ bị nguy kịch. Được súng máy yểm hộ, chúng tôi đã trấn tĩnh lại được và đánh đuổi được quân Antônốp. Trước đó ít lâu, tôi kiếm được một con ngựa cực kỳ tôi đã bắt được nó sau khi tên chủ bị bắn ngã.
Và chuyện này nữa, đại đội kỵ binh của tôi đang lúc truy kích quân Antônốp, tôi nhận ra bọn chúng quay lại đón đánh chúng tôi. Một đơn vị đang theo sau, chúng tôi vọt lên tiến công. Ngựa của tôi lao lên phía trước cánh đại đội hơn trăm bước, tôi không kìm được. Thoạt đầu mọi việc tiến triển tốt, quân Antônốp bắt đầu rút.
Đang lúc truy kích tôi thấy có một tên chỉ huy trong bọn chúng tạt vào con đường mòn - trời lúc này đã phủ tuyết - và lẩn vào bìa rừng. Tôi rượt theo hắn. Hắn cố thoát khỏi tôi... Lúc đuổi theo hắn, tôi thấy hắn dùng tay phải quất roi vun vút vào hông ngựa, kiếm còn nằm trong bao. Đuổi kịp hắn, thay vì tôi sẽ bắn, song đang cơn hăng tiết tôi vác kiếm xông vào. Hắn quất roi bôm bốp vào hông ngựa, lúc bên trái, lúc bên phải. Tới lúc tôi vung kiếm thì roi hắn đang quất ở bên trái. Vụt thật mạnh, xong hắn quăng roi đi, rút kiếm khỏi bao, chém vào tôi. Tôi chưa kịp né, thậm chí chưa kịp xoay kiếm, chỉ trong nháy mắt. Tôi hoàn toàn không nhận ra động tác lúc hắn rút kiếm khỏi bao, chém vào tôi. Và tới khúc ngoặt hắn đã chém ngang ngựa tôi. Lúc đó tôi mặc áo lông cộc có phủ nỉ, trên ngực bao thứ dây đeo, dây đeo kiếm, dây đeo súng ngắn, dây đeo ống nhòm. Kiếm của hắn chặt đứt hết các thứ dây đeo này, chặt đứt cả tấm nỉ, cả áo lông cộc và đánh tôi một cú ngã khỏi yên ngựa. May mà đồng chí chính trị viên của tôi tới kịp, rút kiếm đâm ngã hắn, nếu không, sự thể sẽ như thế nào.
Lúc chúng tôi lục soát tử thi xem xét các giấy tờ của hắn thấy có bức thư gửi cho Galina nào đấy đang viết dở. Và biết rằng, hắn cũng lại là một tên hạ sĩ giống như tôi, riêng tầm vóc to lớn hơn. Suốt nửa tháng sau, ngực tôi vẫn còn đau ê ẩm.
Đấy là chuyện thời đánh nhau với quân Antônốp.
Hồi đó, Tukhachepxki chỉ huy các đơn vị chúng tôi, còn Ubôrêvich là chỉ huy phó... ”.
Nghe thấy vậy, tôi buột hỏi ngay, đồng chí đánh giá thế nào giữa Ubôrêvich và Tukhachepxki (7).
“Cả hai đồng chí, tôi đều đánh giá cao, mặc dù họ là những người khác nhau, có những kinh nghiệm không giống nhau.
Tukhachepxki giàu kinh nghiệm về các chiến dịch phương diện quân, còn Ubôrêvich đã chỉ huy tập đoàn quân trong nội chiến. Tukhachepxki được nhiều người biết rộng rãi hơn, nhưng tôi không thích đồng chí ấy bằng Ubôrêvich.

Nguyên soái M.N.Tukhachevsky (1893-1937). Tổng Tham mưu trưởng Hồng quân công nông (1925-1928) sau khi Frunze qua đời. Nhà lý luận quân sự nổi bật của thế kỷ 20, tác giả của lập luận biện chứng "Vũ khí mới quyết định hình thức mới của chiến tranh" làm cơ sở tiên đoán bức tranh chiến trường, từ đó khai sinh học thuyết quân sự "Tác chiến theo chiều sâu" cùng với V.K.Triandafillov,  và giới thiệu khái niệm nghệ thuật chiến dịch bắc cầu giữa hai cấp độ chiến lược và chiến thuật. Qua thực tiễn ứng dụng ở các quân đội lớn trên thế giới, khái niệm này đã được xem là một đóng góp quan trọng cho nền khoa học quân sự hiện đại. Ở cương vị Phó Dân ủy Quốc phòng (1931) kiêm Cục trưởng Vũ khí và Trang bị, ông đã có công lớn chính quy hóa và hiện đại hóa Hồng quân. Ông là Nguyên soái trẻ nhất (42 tuổi) khi được phong trong đợt phong quân hàm Nguyên soái Liên bang Xô viết đầu tiên năm 1935. Bị Stalin xử bắn năm 1937 khi 44 tuổi.


Theo đặc điểm chung của tư duy và những kinh nghiệm quân sự của mình, thì Tukhachepxki uyên thâm hơn về các vấn đề chiến lược. Đồng chí đã nghiên cứu nhiều về chiến lược, suy nghĩ về chiến lược và cũng đã viết sách về chiến lược. Đồng chí có một bộ óc phân tích điềm đạm, sâu sắc. Ubôrêvich nghiên cứu các vấn đề nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật nhiều hơn. Đồng chí am hiểu rộng cả vấn đề nghệ thuật chiến dịch, cả chiến thuật và là nhà giáo dục tuyệt vời của bộ đội.

I.P.Uborevich (1896-1937). Ảnh chụp khoảng sát trước 1937. Thành viên Hội đồng Quân sự Cách mạng toàn Liên bang (1926-1934). Tư lệnh Quân khu Bêlarus (1931-1937). Quân hàm tư lệnh Tập đoàn quân bậc 1 năm 1935. Ủy viên ủy ban trung ương ĐCS Bêlarus từ 1932. Bị xử bắn cùng Tukhachevsky và một số chỉ huy xuất sắc khác của Hồng quân trong cuộc "Đại thanh trừng" của Stalin những năm 1937-1938

Trên ý nghĩa này, theo quan điểm của tôi, đồng chí cao hơn Tukhachepxki hẳn ba cái đầu, bởi Tukhachepxki vốn dòng dõi quý tộc, coi khinh những công việc nhỏ nhặt hàng ngày. Ở đây, nguồn gốc xuất thân và sự giáo dục có ảnh hưởng đến đồng chí ấy.
Tôi có dịp được tiếp xúc nhiều với đồng chí ấy vào năm 1936, khi biên soạn Điều lệnh chiến đấu mới. Phải nói rằng, thời kỳ đó Vôrôsilốp là Bộ trưởng Bộ Dân ủy Quốc phòng, nhưng đồng chí là người ít am hiểu sâu trên cương vị ấy. Cho mãi đến tận sau này đồng chí vẫn là con người tài tử trong các vấn đề quân sự, không bao giờ nắm sâu và nghiêm túc. Thế nhưng, đồng chí giữ chức vụ cao, lại là người có danh tiếng, nên tự cho mình là một nhà quân sự, nắm sâu các vấn đề quân sự.
Trong thực tế, đại bộ phận công tác trong Bộ Dân ủy Quốc phòng lúc ấy do đồng chí Tukhachepxki đảm đương và Tukhaehepxki quả là một chuyên gia quân sự. Đồng chí ấy có sự đụng chạm với Vôrôsilốp và nói chung giữa hai người có hiềm khích. Vôrôsilốp rất không ưa Tukhachepxki. Tôi còn biết khi đẻ ra vấn đề ngờ vực đối với Tukhaehepxki, rồi về sau, đồng chí ấy bị bắt, Vôrôsilốp đã không làm một việc gì để cứu đồng chí ấy.
Tôi nhớ một tình tiết trong thời gian biên soạn Điều lệnh. Tukhachepxki có đặc điểm rất bình tĩnh. Tukhachepxki là Chủ tịch Ủy ban biên soạn Điều lệnh, báo cáo với Vôrôsilốp là Bộ trưởng Bộ Dân ủy. Tôi có mặt hôm đó. Vôrôsilốp không đồng ý một điểm nào đó mà nay tôi không còn nhớ là điểm nào, đã đề nghị sửa đổi, nhưng không thích hợp. Nghe xong, Tukhachepxki đã nói với giọng bình tĩnh như thường lệ của mình.
- Thưa đồng chí Bộ trưởng, Ủy ban không thể tiếp thu những ý kiến sửa đổi của đồng chí.
- Tại sao? - Vôrôsilốp hỏi.
- Vì rằng những ý kiến sửa đổi của đồng chí không có tính thuyết phục, thưa đồng chí Bộ trưởng.
Tukhachepxki phản bác lại rất căng vẫn bằng giọng nói điềm tĩnh như thế, nên tất nhiên Vôrôsilốp không hài lòng.
Tôi được công tác với Ubôrêvich (8 ) tròn 4 năm, bắt đầu từ năm 1932. Tôi phục vụ trong Ban thanh tra kỵ binh của Buđionnưi. Trước đó, tôi là Chỉ huy phó một Sư đoàn ở quân khu Kiép.
Một hôm, Ubôrêvich gọi điện thoại tới Quân khu Kiép, gặp Timôsencô và hỏi đồng chí ấy, đề nghị có thể tiến cử ai trong hàng ngũ kỵ binh để đứng ra tổ chức chấn chỉnh lại Sư đoàn kỵ binh 4. Sư đoàn kỵ binh 4 trước kia là một sư đoàn kỵ binh xuất sắc trong Tập đoàn quân kỵ binh 1. Sau được điều động sang Quân khu Lêningrat, rồi về Quân khu Bêlôruxia và phải xây dựng lại tất cả ở đây. Sư đoàn còn có nhiệm vụ đi xây dựng kinh tế. Đồng chí Sư đoàn trưởng tỏ ra không năng động, qua 2 năm ở Bêlôruxia, sư đoàn chỉ chuyên trị làm công tác xây dựng kinh tế, bỏ bê công tác huấn luyện, nói chung rơi vào tình trạng bê bối.

Giucop, trong trang phục kỵ binh Budyonny năm 1923, trung đoàn trưởng trung đoàn 39 Buzuluk, sư đoàn kỵ binh 7 Xamara
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười, 2010, 05:14:28 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #22 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:38:59 pm »

Timôsencô đề nghị Ubôrêvich nhận tôi về phụ trách sư đoàn, Ubôrêvich gọi điện thoại về Matxcơva gặp Vôrôsilốp và với giọng kiên quyết thông thường của mình, đề nghị:
- Thưa đồng chí Bộ trưởng, đề nghị đồng chí cho tôi Giucốp để về phụ trách sư đoàn. Timôsencô tiến cử đồng chí ấy cho tôi.
Vôrôsilốp trả lời rằng tôi đang công tác ở Ban thanh tra kỵ binh của đồng chí Buđionnưi. Nhưng Ubôrêvich kiên trì đề nghị:
- Ở Ban thanh tra đang có nhiều người, chúng ta có thể tìm người khác thay thế. Chỗ tôi đang cần một đồng chí sư đoàn trưởng, mong đồng chí quan tâm tới đề nghị của tôi.
Khi được bổ nhiệm, lẽ tất nhiên tôi rất sung sướng đi nhận sư đoàn và tới Quân khu Bêlôruxia. Tôi chưa chỉ huy sư đoàn, mới chỉ huy lữ đoàn.
Thoạt đầu mối quan hệ của tôi với Ubôrêvich không thuận. Tôi tiếp nhận sư đoàn được chừng nửa năm thì bị đồng chí khiển trách cho một trận về cái báo cáo không công minh. Chẳng là, có một ban kiểm tra nào đó tới sư đoàn và đã báo cáo không đúng, song kết quả vẫn bị khiển trách trong toàn quân khu. Khiển trách như vậy không đúng, vì rằng mới trong vòng nửa năm chưa thể vực sư đoàn lên được, mới chỉ có thể tìm hiểu và bước đầu đề ra các biện pháp. Dẫu có mong muốn đến đâu tôi cũng không thể trong phạm vi nửa năm mà làm được hết những gì theo yêu cầu để chấn chỉnh triệt để sư đoàn. Nhưng dẫu sao thì cũng vẫn là khiển trách vắng mặt. Đây là sự khiển trách đầu tiên trong cả cuộc đời tôi, mà theo tôi, tôi xin nhắc lại sự khiển trách hoàn toàn không đúng. Tôi lấy làm công phẫn và đánh điện lên quân khu.
“Kính gửi đồng chí Ubôrêvich, Tư lệnh quân khu.
Đồng chí là một Tư lệnh Quân khu rất không công bằng. Tôi không muốn làm việc dưới quyền đồng chí. Đề nghị đồng chí chuyển tôi sang bất kỳ một quân khu nào khác. Giucốp”.
Tôi gửi bức điện đi được hai ngày, thì Ubôrêvich gọi điện thoại cho tôi.
- Tôi đã nhận được một bức điện thú vị. Đồng chí bất bình lắm hả?
Tôi đáp:
- Làm sao tôi có thể vui lòng, thưa đồng chí Tư lệnh, khi sự khiển trách không công bằng và không đúng đối với tôi?
- Đúng, tôi cũng thừa nhận như thế. Nếu không, tôi đã điện trả lại đồng chí. Đồng chí đặt vấn đề chuyển đi nơi khác?
- Tôi có đặt vấn đề.
- Đồng chí hãy đợi. Hai tuần nữa sẽ có đoàn thanh tra tới, chúng tôi sẽ nói chuyện với đồng chí. Đồng chí có thể chờ được không?
- Có thể được chúng ta chờ xem.
Cuộc nói chuyện của chúng tôi đến đây kết thúc.
Trong chuyến đi thanh tra lần này, Ubôrêvich đã tìm cơ hội, gọi tôi sang một bên và nói.
- Tôi đã kiểm tra tài liệu, qua đó đề nghị khiển trách đồng chí. Tôi thấy những đề nghị ấy không đúng. Cứ để họ tiếp tục phán xét. Chúng ta sẽ công nhận vấn đề sau khi kết luận.
- Tôi có thể cho là khiển trách được hủy bỏ? - Tôi hỏi.
- Tất nhiên, nếu tôi nói sự khiển trách ấy không đúng.
Tai họa thế là cũng chấm dứt tại đây.
Về sau, sư đoàn trở thành sư đoàn xuất sắc trong quân khu và là một trong những sư đoàn xuất sắc của toàn quân. Trong phạm vi 2 năm, tôi đã chấn chỉnh được sư đoàn.
Quan hệ với Ubôrêvich trở nên tốt đẹp. Tôi cảm thấy đồng chí đã nâng đỡ tôi, giao cho tôi nhiều nhiệm vụ và rút tôi ra làm các báo cáo. Về sau, trong cuộc họp tổng kết tại Bộ tham mưu Quân khu, đồng chí ủy nhiệm cho tôi đọc báo cáo về kỵ binh của Pháp hoạt động trong trận đánh trên sông Pô hồi Thế chiến thứ nhất.
Đối với tôi báo cáo này là một việc khó mà tôi chưa quen. Thêm nữa, tôi là Sư đoàn trưởng mà phải đọc báo cáo trước sự có mặt của tất cả các tư lệnh binh chủng và quân đoàn, nhưng tôi cũng vẫn chuẩn bị báo cáo và lúc đầu quả là có do dự: Treo hết các tấm bản đồ, rồi đứng lại gần những tấm bản đồ ấy; cần bắt đầu, song tôi vẫn đứng ngây và im lặng. Ubôrêvich biết cách giúp tôi trong lúc ấy. Đồng chí gợi ra những câu hỏi giúp tôi đi vào nội dung. Mọi việc tiếp sau diễn ra bình thường. Báo cáo xong, đồng chí nhận định đây là một báo cáo tốt.
Tôi xin nhắc lại, tôi cảm thấy đồng chí đã kiên nhẫn nâng đỡ tôi.
Nói chung, đồng chí là một con người nghiêm. Nếu trong lúc tập bài, đồng chí thấy có đồng chí tư lệnh quân đoàn nào lơ đãng lập tức, không nói một lời thừa, đồng chí đặt ngay ra nhiệm vụ:
- Đồng chí A? Địch đang ở khu vực X tiến ra đây, đang ở cứ điểm này. Đồng chí ở nơi kia. Đồng chí dự kiến sẽ phải làm gì?
Viên tư lệnh quân đoàn lơ đãng nọ lập tức phải đảo mắt thật nhanh khắp lượt bản đồ nhận ra các cứ điểm... Nếu anh ta chú ý theo dõi, thì cũng sẽ tìm ra ngay. Song nếu như có đôi chút chểnh mảng, thì không khỏi không vấp nhiều khó khăn. Tất nhiên, cái đó cũng là một bài học cho anh ta. Sau đó, thì suốt buổi tập bài, anh ta sẽ dán mắt lên các tấm bản đồ.
Ubôrêvich là một nhà giáo dục có một không hai, chú ý theo dõi mọi người và nắm vững họ. Đồng chí là một người nghiêm cách và đòi hỏi, biết nói rõ cho người khác những sai sót của họ. Đặc điểm tuyệt vời ở đồng chí là chỉ nói ba bốn câu mà rõ hết sự việc. Các cán bộ xung quanh có sợ tính nghiêm đó, song đồng chí không hề gay gắt, thô bạo”.
Trong lúc đang kể chuyện về Ubôrêvich, Giucốp nhắc đến Timôsencô, rồi bỗng thôi không nói đến Ubôrêvich mà quay sang nói về Timôsencô. Đồng chí nói:
“Có một số sách đánh giá Timôsencô hoàn toàn không đúng, thể hiện đồng chí ấy gần như là một người không có ý chí, bợ đỡ Xtalin. Cái đó không đúng.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #23 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:42:32 pm »

Nguyên soái (1940) X.K.Timoshenko (1895-1970), người lãnh đạo Hồng quân (từ 11/1940) giành được thắng lợi trong Chiến tranh Phần Lan (1939-1940). Dân ủy Quốc phòng (1940-1941), thay thế Kliment Voroshilov (bị cách chức do thất bại trong Chiến tranh Phần Lan). Tư lệnh PDQ Trung tâm (1941). Tổng chỉ huy Hồng quân trong trận phản công Kharkov lần thứ nhất tháng 5 năm 1942.


Tímôsencô là một người đứng tuổi, giàu kinh nghiệm về quân sự, một con người kiên nhẫn, có ý chí, thông thạo cả về chiến thuật và chiến dịch. Trong mọi trường hợp, đồng chí ấy là Bộ trưởng Bộ Dân ủy Quốc phòng xuất sắc hơn Vôrôsilốp. Và chỉ trong một thời gian ngắn giữ chức Bộ trưởng, đồng chí ấy đã kịp làm một số việc cho quân đội tốt hơn. Sau khi xảy ra tai họa ở Kháccốp, đồng chí ấy không được giao nhiệm vụ chỉ huy các mặt trận nữa, mặc dù ở cương vị Tư lệnh mặt trận, đồng chí ấy có thể mạnh hơn một số Tư lệnh khác ví dụ như Êrêmencô. Nhưng Xtalin vẫn bực bội với đồng chí ấy sau vụ Kháccốp và nói chung, nên có ảnh hưởng tới vận mệnh đồng chí ấy trong suốt cuộc chiến tranh. Đồng chí là một người cương nghị và không bao giờ tỏ ra xu nịnh Xtalin. Nếu đồng chí ấy như vậy, thì hoàn toàn có thể được nhận phương diện quân”.
Trong một câu chuyện khác, chúng tôi nói với Giucốp về các hồi ký quân sự. Căn cứ vào những nhận xét của đồng chí về các cuốn sách, các ấn phẩm đã xuất bản mà đồng chí đã chăm chú đọc gần hết, thì rõ ràng, vấn đề này sẽ hấp dẫn đồng chí, bởi đồng chí cũng đang viết hồi ký của mình về chiến tranh.
Tôi dẫn ra đây mấy ghi chép có liên quan.
“Tôi không biết ý kiến của anh thế nào, chứ tôi hình dung hồi ký của những người chỉ huy quân sự không phải là chỗ để đăng những danh sách dài các tên tuổi và viết một số lớn các tình tiết chiến đấu, nhắc tới các trường hợp của chủ nghĩa anh hùng. Nếu miêu tả như là những quan sát riêng của mình thì không đúng. Nếu anh là Tư lệnh phương diện quân, bản thân anh đã không thấy, không có mặt ở đó, không trực tiếp biết những con người mà sách nói đến, không hình dung được những tình tiết chiến công của những con người ấy. Có trường hợp anh còn không biết cả tên, họ những con người đã lập nên chiến công. Nhiều trường hợp, những sự thật ấy trong hồi ký phải lấy ở những tài liệu khác không nói lên được đặc điểm hoạt động của người Tư lệnh Phương diện quân, mà có khi lại cản trở đến việc tạo nên bức tranh nguyên khối của những sự việc xảy ra được miêu tả theo quan niệm của người viết hồi ký. Tôi nghĩ rằng, sự lạm dụng những cái đó nom có vẻ như sự dân chủ giả hiệu, sự bợ đỡ giả dối.
Muốn chứng minh nhân dân đã chiến đấu ra sao không nhất thiết phải lấy trong các báo chí thời ấy, hoặc trong các báo cáo chính trị danh sách những tên họ. Anh em kể chuyện cả mặt trận đã chiến đấu như thế nào, những người đi vào quân đội chiến đấu ra sao, cả một khối lớn quần chúng chiến đấu, họ đã chịu biết bao mất mát, đã đạt được những gì và đã đánh thắng ra sao - thì cái đó chính là những chuyện kể về các hành động của nhân dân trong chiến tranh.
Trong chiến tranh chúng ta cũng phạm không ít sai lầm, trong hồi ký của mình phải viết về những sai lầm ấy. Dẫu sao tôi cũng sẽ viết. Ví dụ như, tôi sẽ viết về những sai lầm của mình khi làm nhiệm vụ phối hợp hoạt động hai phương diện quân trong chiến dịch Lvốp - Xanđômia, trong khi ta có đủ lực lượng hơn để thực hiện nhiệm vụ mà phải dẫm chân trước Lvốp và tôi là người phối hợp hoạt động của hai phương diện quân đã không biết sử dụng lực lượng tại những nơi cần thiết, không biết cơ động kịp thời để giành thắng lợi nhanh hơn.
Thiếu sót lớn của một số hồi ký mà tôi được đọc là đã hạn chế tầm nhìn khi miêu tả các sự kiện chiến đấu của Tư lệnh các tập đoàn quân và thậm chí cả Tư lệnh các phương diện quân. Có lúc đã tạo nên ấn tượng lạ lùng, như là một nhà quân sự giàu kinh nghiệm, hiểu biết rộng đang hành động trong chiến tranh thuộc phạm vi các tuyến được phân giới và có các đơn vị bạn ở bên phải và bên trái, lại quên mất rằng, gắn với những hành động của các đơn vị, không phải chỉ có những thất bại, mà cả những thành công của họ. Họ quên đi rằng bên phải và bên trái họ cũng đều là những đơn vị của Quân đội Liên Xô, mà phải nói một cách thỏa đáng giống như nói về các đơn vị của mình. Họ quên mất rằng, tất cả đều chỉ là một quân đội, chứ không phải là quân đội khác và quân Đức hành động không phải chỉ để không tập đoàn quân, phương diện quân của họ, mà chống lại Quân đội Liên Xô nói chung, chống lại tất cả các tập đoàn quân, tất cả các phương diện quân.
Nếu như trong một thời điểm nào đó chính họ bị vấp khó khăn, mũi đột kích giáng vào họ, quân Đức tập trung những lực lượng lớn đánh họ, thì cái đó có liên quan đến một nơi nào đó ở chỗ khác đã không có những lực lượng như thế một nơi khác không bị căng thẳng, không bị đột kích và vào thời điểm ấy, các đơn vị bên phải hoặc bên trái do đó mà sẽ nhẹ hơn.
Về phần mình, cái đơn vị bạn ấy lại không được quên những nguyên nhân, rằng tại sao ở thời điểm ấy mình lại được nhẹ hơn. Nhưng đồng chí nếu có viết hồi ký thì không được quyền quên rằng, kết quả của sự lao động của đồng chí gắn với không gì mà trong thời gian ấy quân Đức đã tập trung lực lượng trên khu vực khác và đơn vị bạn của đồng chí đã buộc phải lâm vào tình thế rất nặng nề.
Cũng không được quên rằng, đồng chí đánh thắng không chỉ do mình thông minh và giỏi giang, bộ đội mình biết hành động giỏi, mà còn là vì tình huống thuận lợi đã tạo cho mũi tiến công của đồng chí, do các đơn vị bạn đã thu hút về mình những lực lượng chủ yếu của địch và đồng chí đã chiếm được ưu thế làm cơ sở cho những thành công của mình.
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười, 2010, 01:14:00 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #24 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:43:54 pm »

Nhưng cái thành công này của đồng chí là thành công chung, chứ không phải riêng của mình. Thật giống hệt như nếu đơn vị bạn gặp được tình huống có lợi và đơn vị đồng chí gặp khó khăn, thì thắng lợi của đơn vị bạn không phải chỉ là thắng lợi của họ, mà là của cả các đơn vị đồng chí.
Đấy, trong các hồi ký thường quên đi điều ấy. Họ đã viết, như chiến tranh chỉ diễn ra trong các tuyến phân giới của mình, như bộ đội của đơn vị họ hoàn toàn tách biệt với tất cả các đơn vị khác. Chúng ta không được nhân nhượng về nguyên tắc với cách nhìn chật hẹp ấy, đấy là chưa nói đến sự thiển cận đó còn dẫn tới sự bóp méo những nhận định cả tiến trình những hành động quân sự”.
Có lẽ tính chất những ghi chép này của tôi sẽ phản ánh những tình tiết nằm trong giai đoạn câu chuyện khi Giucốp đang viết những hồi ức của mình. Khi con người đã trải qua một cuộc đời lớn lao, lại ngó nhìn vào toàn bộ chính cuộc đời mình, thì một phần những suy nghĩ về cuộc đời riêng đã xâm nhập vào câu chuyện của anh ta với những người bạn đang cùng nói chuyện.
Tôi dẫn ra đây mấy ghi chép mang tính chất ấy.
“Anh sẽ cảm thấy, dẫu sao thì anh cũng không triệt để tận dụng được những khả năng vốn có trong anh. Trong phạm vi nào đó, anh sẽ thấy mình không đủ tri thức, trình độ và học lực có hệ thống. Cuộc sống không cho ta cái may mắn có được nhiều. Chẳng hạn như, những suy nghĩ thuần túy về quân sự của anh cũng sẽ đụng tới những tri thức sinh học, các khoa học tự nhiên. Có lúc tôi không sao rời bỏ được cảm giác, phạm vi tri thức của tôi hẹp hơn cái mà tôi muốn có, cái mà tôi thấy cần phải có về chức trách của mình. Tôi đã từng trải qua và đang nếm trải.
“Tôi không khi nào là một người quá tự tin. Sự thiếu vắng lòng quá tự tin không hề cản trở tôi kiên quyết trong công việc. Khi chúng ta làm việc, chịu trách nhiệm về việc làm của mình và quyết định, thì ở đây không có chỗ cho sự ngờ vực hoặc quá tự tin. Công việc đang cuốn hút anh và anh đã hiến dâng hết mình cho công việc đó và đã làm tất cả những gì mà anh có thể. Nhưng sau đó, đến khi xong việc, khi anh suy nghĩ về những công việc đã làm, suy nghĩ không chỉ về quá khứ mà nghĩ cả đến mai sau, anh sẽ thấy thấm thía là anh còn thiếu cái gì đó, thưa đạt được cái gì đó và nếu như anh có thể biết được nhiều sự việc mà anh đã không biết, thì cái tình cảm lại quay trở lại đó buộc anh phải suy nghĩ lại một lần nữa tất cả và tự mình phải giải quyết: “Vậy ra mình đã không làm tốt hơn cái đã làm, nếu như mình nắm được tất cả những gì mình còn thiếu?”.
Trong thực tế, tôi buộc phải nắm vững nhiều cái mà lại thiếu những tri thức đủ rộng và nhiều mặt đã tích lũy được trước đây. Cái đó có mặt thiết thực của nó. Chịu trách nhiệm về công việc, tôi ráng sức làm thật tốt và đồng thời cũng cảm thấy với trình độ được huấn luyện chung của mình có những chỗ hổng, nên tôi cố gắng giải quyết những vấn đề đặt ra sao cho thật cơ bản hơn, cố gắng đào bới đến tận gốc, không cho phép mình hạ quyết tâm một cách nông nổi. Tinh thần trách nhiệm được nâng cao, ta càng thấy cần phải nắm bắt được tất cả bằng trí tuệ của mình, kinh nghiệm của mình, cố gắng bồi bổ cho kiến thức của mình bằng tất cả những gì cần thiết cho công việc.
Trước mọi khó khăn của tình thế, đôi lúc lại nảy ra trong đó cả mặt tích cực của nó. Nhân đây, cũng nên nói thêm, một số nhà quân sự của chúng ta có trình độ học vấn cao, cỡ giáo sư và các phó giáo sư, ở vào tình thế các tư lệnh của mặt trận nào đó trong chiến tranh đã không bộc lộ mình từ mặt tích cực. Trong các giải pháp của họ mà tôi có dịp được nhận xét, đúng là có yếu tố của sự nông cạn. Có lúc, họ đề ra những giải pháp thiển cận về những vấn đề phức tạp, không nằm trong sự uyên bác giáo sư của họ. Ở đây, có mặt trái của tấm huy chương. Đôi lúc họ tưởng như giản đơn, song kỳ thực lại phức tạp.
Trong đời có những cái ta không thể nào quên. Con người quả thật là không thể nào quên những cái đó, nhưng lại nhớ những cái đó cũng không giống nhau. Có ba cái để nhớ. Có thể không quên cái ác. Đó là một. Có thể không quên kinh nghiệm. Đó là hai. Có thể không quên quá khứ khi nghĩ về tương lai. Đó là ba.
Trong cuộc đời mình, tôi đã nếm trải ba yếu tố nặng nề. Nếu nói về yếu tố thứ ba, thì có cái gì trong đó, rõ ràng tôi cũng có lỗi, bởi không có lửa sao có khói. Chịu đựng những cái đó thật chẳng nhẹ nhàng.
Năm 1957, tôi bị ra khỏi Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương và ra khỏi Ủy ban Trung ương Đảng, tôi trở về nhà. Tôi quyết định dứt khoát không để mất, không làm hỏng mình, không nằm dài, không bỏ mất sức mạnh của ý chí, dẫu tình thế có nặng nề đến đâu.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #25 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:45:22 pm »

Cái gì đã giúp tôi? Tôi đã xử sự như sau: Trở về đến nhà, tôi uống một liều thuốc ngủ. Ngủ được mấy tiếng đồng hồ. Tỉnh dậy. Tôi ăn. Tôi lại uống thuốc ngủ. Lại ngủ. Lại thức giấc. Lại uống thuốc ngủ, lại ngủ... Tôi cứ ngủ đứt đoạn như thế kéo dài 15 ngày đêm.
Tôi đã chịu đựng hết những gì đau đớn giày vò mình, những gì nằm trong ký ức như thế. Tất cả những cái tôi đã suy nghĩ, tôi đã tranh luận thầm trong tôi, tôi đã đau buồn trong tình trạng thao thức ấy, tôi đã chịu đựng hết, có lẽ trong giấc ngủ. Tôi tranh luận và chứng minh và đau buồn - tất cả đều trong giấc ngủ. Rồi sau đó, khi 15 ngày đêm trôi qua, tôi đi câu cá.
Sau tất cả những sự việc đó, tôi viết cho Ủy ban Trung ương Đảng, đề nghị cho tôi đi nghỉ ở nhà điều dưỡng.
Tôi đã vượt qua thời điểm nặng nhọc này thế đấy”.
*
Tôi muốn chấm hết những bút ký này giống như lúc nó mở đầu. Đây không phải tôi có ý định viết tiểu sử Giucốp, mà mới chỉ là những bút ký về tiểu sử. Và tôi thật sung sướng, nếu sau này dẫu là một phần của những gì đã nói, đã dẫn ra trong bút ký góp được phần nào phục vụ cho các nhà viết sử mai sau về nhiều mặt của con người lỗi lạc này.

Tháng 4, 5 năm 1968

Trên con ngựa trắng, ngày duyệt binh Chiến thắng tại Quảng trường Đỏ 24 tháng 6 năm 1945


---
(1) Là các Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. ND.
(2) Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nội vụ năm 1938-1945.
(3) Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. ND.
(4) Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Liên Xô. ND.
(5) Một tình báo viên chiến lược Liên Xô hoạt động tại Nhật Bản trước những năm Thế chiến thứ hai. N.D.
(6) Bộ trưởng An ninh quốc gia những năm 1946- 1953. N.D.
(7) Nguyên soái Liên Xô, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô. Bị đàn áp chính trị và giết hại năm 1937. Sau được minh oan và khôi phục danh dự. N.D.
(8 ) Tư lệnh Quân khu Bêlôruxia từ 1930-1937, chức danh Tư lệnh Tập đoàn quân bậc 1 (tương đương quân hàm Đại tướng). Bị đàn áp chính trị năm 1937 và bị giết hại. Sau được minh oan và khôi phục danh dự. N.D.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Mười, 2010, 11:01:21 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #26 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 05:35:48 pm »

Phụ lục
SỰ NGHIỆP CỦA G.C. GIUCỐP TRONG BÁCH KHOA THƯ QUÂN SỰ NGA
Nhà Xuất bản Quân sự - Matxcơva - 1995 (t.3, tr. 188, 189)

G.C.Giucốp sinh ngày 1-12-1896 tại làng Xtơrencôpca, nay là huyện Giucôva. Mất ngày 18-6-1974 tại Matxcơva.
Là nhà hoạt động quân sự của Liên bang Xôviết, một vị thống soái, G.C. Giucốp được phong Nguyên soái Liên Xô năm 1943 và 4 lần danh hiệu Anh hùng Liên Xô vào những năm: 1939; 1944; 1945; 1956.
G.C. Giucốp vào quân ngũ năm 1915 và tham gia quân đội Liên Xô năm 1918. Đã tốt nghiệp các khóa học: Kỵ binh năm 1920, bổ túc sĩ quan kỵ binh năm 1925, bổ túc cấp cao năm 1930.
Trong Thế chiến thứ nhất là hạ sĩ quan, được tặng thưởng 2 Huân chương chữ thập Giêocgi.
Trong Nội chiến là chiến sĩ Hồng quân, đã giữ những chức vụ trung đội trưởng, đại đội trưởng, tham chiến truy quét thổ phỉ trên các mặt trận phía đông, phía nam và phía tây.
Sau Nội chiến, G.C. Giucốp giữ chức vụ đại đội trưởng kỵ binh. Đến tháng 7 năm 1923 được đề bạt trung đoàn kỵ binh và tháng 5 năm 1930 ở cương vị lữ đoàn trưởng kỵ binh 4. Tháng 7 năm 1937 là quân đoàn trưởng kỵ binh 3 và từ tháng 2 năm 1938 là quân đoàn trưởng kỵ binh 6.
Tháng 6 năm 1938 giữ cương vị phó tư lệnh quân khu Bêlôruxia. Tháng 7 năm 1939 được bổ nhiệm làm tư lệnh cụm tập đoàn quân 1 trên địa hạt Mông Cổ đã đánh thắng chiến dịch tiêu diệt quân xâm lược Nhật ở vùng sông Khankhin Gôn.
Được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô vì đã khéo lãnh đạo các đơn vị và tỏ ra can trường, dũng cảm trong chiến dịch này.
Tháng 6 năm 1940, được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu Kiép. Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1941 giữ cương vị Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Liên Xô và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tài năng cầm quân của G.C. Giucốp rực sáng trong những năm Chiến tranh giữ nước vĩ đại.
Ngày 23-6-1941, được Ủy ban Quốc phòng Nhà nước Liên Xô cử làm thành viên của Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh (đến tháng 8 năm 1941 gọi là Bộ Tổng tư lệnh tối cao).
Tháng 8 năm 1942 là Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng và Phó Tổng tư lệnh tối cao.
Trong những ngày đầu chiến tranh được Đại bản doanh cử làm đại diện của Đại bản doanh xuống phối hợp với Bộ tư lệnh Phương diện quân Tây Nam, sử dụng lực lượng các quân đoàn cơ giới tổ chức phản đột kích ở gần thành phố Brôđưi, phá vỡ âm mưu đột phá trong hành tiến bằng các binh đoàn cơ động của Bộ chỉ huy Hitle (xem trận đấu xe tăng năm 1941). Tháng 7 đến tháng 9 năm 1941 là Tư lệnh Phương diện quân dự bị, đã chỉ huy chiến dịch tiến công đầu tiên trong Chiến tranh giữ nước vĩ đại đánh thắng cụm các Tập đoàn quân của nước Đức phát xít ở vùng Ennhia (xem chiến dịch Ennhia năm 1941).
Tháng 9 năm 1941 trong những ngày chiến đấu căng thẳng và nặng nề nhất tại cửa ngõ Lêningrat, G.C. Giucốp được phái xuống làm Tư lệnh Phương diện quân Lêningrat. Đồng chí đã cùng với Hạm đội Bantích và được nhân dân Lêningrat hết lòng ủng hộ, đã chặn đứng các mũi tiến công, bẻ gãy âm mưu đánh chiếm thành phố của địch.
Từ tháng 10 năm 1941 đến tháng 8 năm 1942, G.C. Giucốp được Đại bản doanh triệu tập về làm Tư lệnh Phương diện quân Tây, với nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ Matxcơva. Và từ tháng 2 đến cuối tháng 5 năm 1942, G.C. Giucốp đồng thời kiêm chức Tổng Tư lệnh Mặt trận hướng Tây.
Dưới sự lãnh đạo của Giucốp, bộ đội của Phương diện quân Tây và cả Mặt trận hướng Tây đã chiến đấu quyết liệt, làm tiêu hao và suy yếu các đơn vị tinh nhuệ của Hitle và chuyển sang phản công kiên quyết. Bộ đội của Phương diện quân Tây đã hiệp đồng với các Phương diện quân Calinin, Briancơ và cùng với bộ đội cánh phải của Phương diện quân Tây Nam hất quân địch ra xa Thủ đô tới 100-250 kilômét (xem chiến dịch Matxcơva năm 1941-1942).
Trong các năm 1942-1943, Giucốp với tư cách là đại diện của Đại bản doanh xuống các mặt trận trực tiếp chỉ đạo và phối hợp hành động của các Phương diện quân trong chiến dịch Xtalingrat. Kết quả đã đánh tan các tập đoàn quân xe tăng 6 và 4 của Đức, các tập đoàn quân 3 và 4 của Rumani và tập đoàn quân 8 của Italia.
Đồng thời, Giucốp còn chỉ đạo việc phối hợp hành động của các đơn vị phá vỡ vòng vây Lêningrat năm 1943 và đã cùng với Vaxilepxki (Tổng tham mưu trưởng) phối hợp hành động của các Phương diện quân trong chiến dịch Cuôcxơ năm 1943. Chiến dịch Cuôcxơ là giai đoạn quan trọng dẫn tới thắng lợi của Liên Xô trước nước Đức phát xít.
Năm 1943, Giucốp còn chỉ đạo phối hợp các hành động của 2 phương diện quân Vơrônegiơ và Thảo Nguyên, giải phóng vùng Đơnhiep (xem chiến dịch Đơnhiep năm 1944).
Tháng 3 đến tháng 5 năm 1944 Giucốp chỉ huy Phương diện quân Ucraina 1. Hè năm 1944 đồng chí đã chỉ đạo phối hợp ngoài mặt trận các hành động của 2 Phương diện quân Bêìôruxia 1 và 2 trong chiến dịch - chiến lược Bêlôruxia năm 1944.
Sang giai đoạn cuối Chiến tranh giữ nước vĩ đại (11-1944 - 5-1945) Giucốp chỉ huy Phương diện quân Bêlôruxia 1 đã hiệp đồng với bộ đội của Phương diện quân Ucraina 1 tiến hành chiến dịch - chiến lược Vixla - Ôđe. Kết quả đã đánh tan Cụm các tập đoàn quân “A” (từ 25-1-1945 gọi là Cụm các tập đoàn quân “Trung tâm”) của phát xít Đức, giải phóng thủ đô Vacxava và đại bộ phận lãnh thổ Ba Lan. Trong quá trình chiến dịch, bộ đội Liên Xô đã vượt qua 500 kilômét, tiến vào lãnh thổ nước Đức phát xít.
Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1945 bộ đội của Phương diện quân Giucốp đã hiệp đồng với bộ đội của Phương diện quân Ucraina 1 và Phương diện quân Bêlôruxia 2 tiến hành chiến dịch Béclin.
Ngày 8-5-1945, được ủy nhiệm thay mặt Bộ Tổng tư lệnh tối cao, G.C. Giucốp đã tiếp nhận việc đầu hàng của các lực lượng vũ trang nước Đức phát xít tại Cackhoocxtơ ở đông nam Béclin.
Giucốp là một trong những thành viên chính biên soạn và thực hiện các kế hoạch chiến dịch - chiến lược lớn của Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô trong Chiến tranh giữ nước vĩ đại.
Đặc điểm nổi bật ở Giucốp là sức mạnh ý chí kiên cường, trí tuệ cao sâu cùng với khả năng đánh giá đúng các tình huống chiến lược phức tạp. Đồng thời, Giucốp còn giỏi dự đoán tiến trình hoạt động quân sự có thể xảy ra. Đồng khí biết tìm ra những giải pháp đúng trong các tình huống thay đổi nhanh và phức tạp. Khi cần thiết dám đi tới những quyết định táo bạo và đảm nhận hết trách nhiệm về các hành động quân sự của mình.
G.C. Giucốp là con người tài năng, xuất sắc trong công tác tổ chức, trong sự can đảm của bản thân. Đồng khí còn giỏi vận dụng trong thực tiễn một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của nghệ thuật quân sự, là tập trung lực lượng và phương tiện trên hướng đột kích chủ yếu nhằm tiêu diệt các cụm quân chính của địch.
Sau chiến tranh, G.C. Giucốp là Tổng Tư lệnh Cụm quân Liên Xô đóng trên nước Đức và là Chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố Béclin từ tháng 6 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946.
Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1946 là Tổng Tư lệnh Lục quân và Thứ trưởng Bộ các lực lượng vũ trang.
Từ 1946-1953 chỉ huy bộ đội các Quân khu Ôđetxa và Uran. Tháng 3 năm 1953 lại được bổ nhiệm làm Thứ trưởng thứ nhất và từ tháng 2 năm 1955 cho đến tháng 10 năm 1957 là Bộ trưởng Quốc phòng.
Trên các cương vị này, G.C. Giucốp đã khéo vận dụng những kinh nghiệm chiến đấu phong phú trong công tác huấn luyện bộ đội và thường xuyên quan tâm đến việc nắm vừng các chủng loại vũ khí mới.
Nhưng số phận G.C. Giucốp sau chiến tranh không đơn giản. Hầu như gần nửa thế kỷ dưới thời Xtalin, Khơrútxốp, Brêgiơnép, đồng chí đã bị thất sủng.
Song G.C. Giucốp đã kiên gan chịu đựng mọi khó khăn một cách thật xứng đáng.
G.C. Giucôp là đại biểu của Xôviết Tối cao các khóa 1 - 4. Được tặng thưởng 6 Huân chương Lênin, Huân chương Cách mạng tháng 10, 3 Huân chương Cờ đỏ, 2 Huân chương Xuvôrôp hạng nhất và nhiều huy chương khác cùng nhiều huân chương của nước ngoài. Hai lần được tặng thưởng Huân chương “Chiến thắng”, huân chương cao quý nhất của quân đội. Đồng chí được tặng thưởng khẩu súng vinh quang.
Khi mất, di hài được chôn cất tại chân tường điện Kremli ở Hồng trường.

Tượng đài nguyên soái Giucop ở Moskva
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #27 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 06:37:19 pm »

Lời bạt
TẠP CHÍ LỊCH SỬ QUÂN SỰ LIÊN XÔ
NĂM 1987

Những trang bút ký của K.M. Ximônôp về tiểu sử Giucốp được đăng đến số này là hết, đã được tình cảm của nhiều bạn đọc trong nước đáp lại rất sống động.
Điều này cũng dễ hiểu, bởi đó là bằng chứng và sự phán xét của người thống soái kiệt xuất, của nhà hoạt động quân sự và hoạt động nhà nước có danh tiếng. Là thái độ của đồng chí ấy đối với những hiện tượng phức tạp và có lúc mâu thuẫn trong lịch sử chúng ta.
Trong thùng thư của Tòa soạn có bức thư của Era Gheoocghiepna Giucôva, con gái của Giucốp, có câu viết: “Tôi xúc động mạnh bởi ấn phẩm này - bà viết - cảm ơn các đồng chí”.
Về phần mình, chúng tôi xin cảm ơn tác giả của rất nhiều bức thư đã gửi đến Tòa soạn chúng tôi và tỏ lời biết ơn sâu sắc gia đình nhà văn K.M. Ximônôp, cảm ơn Ban lãnh đạo Tổng cục Chính trị của Quân đội và Hải quân Liên Xô đã dành điều kiện cho tạp chí Lịch sử Quân sự được công bố những tài liệu này.
Chúng tôi có kế hoạch từ nay sẽ đăng trên các trang tạp chí về những con người, những sự việc và sự thật lịch sử ít người được biết.

HẾT


Tham khảo

DIỄN TẬP VÀ THẢM HỌA (Репетиция катастрофы)
Đại tá quân dự bị, tiến sĩ khoa học lịch sử P.N.Bobylev
Nguyên bản tiếng Nga xem ở đây:
http://rkka.ru/analys/kshu/main.htm


Đầu tháng giêng năm 1941, sau cuộc họp tháng mười hai năm 1940 mà thành phần là các chỉ huy cao cấp của Hồng quân, Bộ Tổng tham mưu đã tổ chức hai cuộc diễn tập chiến lược-chiến dịch, chúng mặc nhiên trở thành các cuộc diễn tập quy mô lớn cuối cùng trước khi nổ ra Chiến tranh vệ quốc vĩ đại.  Tất cả các tài liệu diễn tập đều gắn dấu "mật", do đó hơn nửa thế kỷ qua, thông tin về các cuộc diễn tập ấy, ngay cả trong các công trình nghiên cứu công phu cũng chỉ đơn giản là công bố về sự hiện diện của chúng .
 Một số tình tiết của các cuộc diễn tập chiến lược-chiến dịch năm 1941 đã được đề cập  trong hồi ký của một số thành viên tham gia các cuộc diễn tập này. Tuy nhiên, rất dễ dàng thấy được mâu thuẫn trong các thông tin tương tự, bao gồm cả các vấn đề nguyên tắc.  Ví dụ, G.K.Zhukov nhớ lại rằng trong cuộc diễn tập đầu tiên ưu thế về số lượng các sư đoàn thuộc về quân "Miền Tây" (quân "xanh" trong diễn tập), còn M.I. Kazakov khẳng định rằng con số các sư đoàn này ở phía quân "Miền Đông" (quân "đỏ" trong diễn tập) là cao hơn.
 Sự quan tâm đáng kể về các cuộc diễn tập tháng một năm 1941 được thể hiện trong cuốn hồi ký của M. V. Zakharov.  Lần đầu tiên, trong các tài liệu đã công bố, tác giả đã trích dẫn thông tin về thành phần những người tham gia, về tình hình và những ý đồ chiến dịch của  các bên. Tuy nhiên, diễn biến các cuộc diễn tập, ông không đề cập, và đó có lẽ là lý do khiến ông đã phạm sai lầm cơ bản khi đánh giá kết quả diễn tập.
 Hiện nay, tài liệu về các cuộc diễn tập chiến lược-chiến dịch năm 1941 đã được giải "mật".  Lần đầu tiên trên cơ sở các tài liệu lưu trữ chính thức, đã có khả năng phân tích diễn biến các cuộc diễn tập, đánh giá vị trí và vai trò của chúng trong việc chuẩn bị năng lực tác chiến chiến dịch cho các chỉ huy cao cấp của Hồng quân trong vòng nửa năm trước khi bước vào Chiến tranh vệ quốc vĩ đại.
 Ý tưởng về cuộc diễn tập chiến lược-chiến dịch trên bản đồ với thành phần tham gia là các chỉ huy  cao cấp của Hồng quân công nông đã được Dân ủy Quốc phòng, Nguyên soái Liên bang Xô viết, X.K. Tymoshenko phê chuẩn từ 11 tháng 10 năm 1940.  Nó được hoạch định là một cuộc diễn tập hai chiều tiến công và phòng thủ trên hướng tây bắc theo chủ đề "Chiến dịch tấn công trên chính diện bằng đòn đột phá qua khu vực phòng ngự vững chắc có tổ chức và chiều sâu". Mục tiêu huấn luyện của diễn tập được hình thành như sau:
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười, 2010, 05:12:33 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #28 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 01:54:51 am »

 1 Tăng cường kinh nghiệm thực hành cho cơ quan chỉ huy cấp cao về các công tác:
 a) Tổ chức và lập kế hoạch chiến dịch cho cấp tập đoàn quân và phương diện quân, bảo đảm vật chất phục vụ tác chiến trên toàn bộ chiều sâu chiến dịch.  
 b) Điều hành chỉ huy chiến dịch, tổ chức và đảm bảo sự hơp đồng giữa các quân binh chủng, kiểm soát hậu phương.
 2.  Nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề cơ bản của chiến dịch tấn công hiện đại cấp phương diện quân và tập đoàn quân, cụ thể là:
 a) Cách tổ chức và các phương pháp đột phá khu vực phòng thủ tăng cường, khắc phục chướng ngại để vượt qua và phát triển mạnh mẽ vào tung thâm.
 b) Tổ chức vượt các chướng ngại thiên nhiên là các sông hồ lớn;
 c) Tổ chức và tiến hành các chiến dịch chống đổ bộ đường không và đường biển;
 d) Tổ chức và đảm bảo đổ bộ đường không với quy mô lớn.
 e) Đưa các cụm kỵ binh cơ giới vào đột phá chiến dịch.
 e) Hợp đồng với Hải quân. "
 Cũng đâ dự kiến nghiên cứu chiến trường Pribaltic và Đông Phổ, tìm hiểu những vấn đề cơ bản của chiến dịch phòng thủ.
 Như đã thấy từ phần trích dẫn của tài liệu giải mật, chiến dịch tấn công của phương diện quân và tập đoàn quân đã được lên kế hoạch thực hành cụ thể, được minh chứng bằng những chủ đề của đề cương chuẩn bị cho diễn tập phù hợp với các chuyên gia trong các chuyên ngành quân sự: "Tổ chức và phương thức phá vỡ các khu vực tăng cường"; "Vượt chướng ngại nước ";" Các phương pháp sử dụng bô đội đổ bộ đường không trong chiến dịch tấn công cấp phương diện quân"; "Bộ đội đổ bộ đường không và vai trò của lực lượng này trong chiến dịch tấn công của phương diện quân", "Nguyên tắc cơ bản của chiến dịch đổ bộ".  Các vấn đề phòng thủ chỉ được lên kế hoạch tìm hiểu thực hành ở phạm vi mà nó phát sinh trong tiến trình tập trận.  Cuộc diễn tập dự kiến diễn ra ba ngày - từ ngày 17- ngày 19 tháng 11, năm 1940.  Nhưng sau đó thời hạn đã được thay đổi cho phù hợp với thời điểm kết thúc của hội nghi tháng mười hai của các chỉ huy cao cấp của Hồng quân, và phạm vi hoạt động tập trận đã mở rộng đáng kể.  Thay vì một thì bây giờ là hai cuộc diễn tập: cuộc diễn tập đầu tiên, từ ngày 2-6 tháng 1 năm 1941 - trên hướng chiến lược tây bắc, cuộc diễn tập thứ hai: từ ngày 08-11 Tháng 1 - ở hướng chiến lược tây-nam, không gian của các cuộc tập trận này bao trùm từ biển Baltic đến Biển Đen.
 Tỷ lệ giữa lực lượng các bên tham gia khi bắt đầu diễn tập như sau (1/8/1941):
Lực lượng và phương tiện chiến tranh  PDQ Tây Bắc "Đông"  PDQ Đông Bắc "Tây"  Tỷ lệ
Sư đoàn:
súng trường (bộ binh) 51 41 1,2: 1
kỵ binh 3 1 03:01
cơ giới hóa 4 2 02:01
xe tăng93 03:01
Lữ đoàn:
cơ giới hóa5 - 05:00
xe tăng 15 6 2,5:1
pháo lớn69744850 1,4:1
pháo chống tăng 3069 4048 1:1,3
Súng cối 3846 2214 1,7:1
Xe tăng 8811 35122,5:1
Máy bay 56523336 1,7:1
Việc triển khai vội vã cuộc diễn tập chiến dịch-chiến lược trên hướng tây nam cho thấy một thực tế rõ ràng là vào mùa thu năm 1940, đã có thay đổi cơ bản trong quan điểm của cơ quan lãnh đạo  chiến lược của Liên Xô về nơi tập trung các lực lượng chính của quân đội Liên Xô trong trường hợp chiến tranh với nước Đức. Theo kế hoạch bố trí chiến lược, đã thực hiện cho tới tháng 7 năm 1940, các lực lượng chính của Hồng quân đã được triển khai tới phía bắc Polesie, vì dự kiến đòn tấn công của người Đức là từ khu vực phía bắc cửa sông San.  Điều hoàn toàn lôgich là cuộc diễn tập phải bao trùm được chính khu vực này.  Tuy nhiên, vào cuối năm 1940, cơ quan lãnh đao chiến lược Liên Xô đã khẳng định một quan điểm khác, đó là: tấn công Liên Xô, Đức sẽ thực hiện đòn đánh chủ yếu từ phía nam Polesie, cuộc tấn công của quân Đức từ Đông Phổ được coi là ít khả năng xảy ra hơn và trong bất kỳ trường hợp nào cũng là thứ yếu so với cuộc tấn công trong dải lãnh thổ từ Brest tới Biển Đen.  Không loại trừ rằng đó chính là lý do tại sao phải triển khai cấp bách cuộc tập trận chiến dịch-chiến lược thứ hai, với quy mô lớn hơn cuộc tập trận đầu, thêm vào đó việc tấn công từ phía quân "Tây" được coi là cuộc tấn công "vì lợi ích của chiến dịch chính", diễn ra trên hướng chiến lược Tây Nam.
 Danh sách người lãnh đạo và các thành viên tham gia cuộc tập trận thứ nhất được chuẩn bị trong những ngày 13-ngày 14 tháng 12, được phê chuẩn ngày 20 tháng 12 năm 1940.  Ở cuộc tập trận thứ 2, danh sách này chỉ được xây dựng và phê chuẩn trong ngày bắt đầu diễn tập - 8 Tháng Một, 1941.
  Lãnh đạo chung các cuộc diễn tập là Dân ủy Quốc phòng Liên Xô, Nguyên soái S.K . Timoshenko.  Trong thành phần lãnh đạo gồm có các Phó dân ủy Quốc phòng, Nguyên soái Liên bang Xô viết, S.M. Budyonny, G.I. Kulik, B.M. Shaposhnikov, Tổng Tham mưu trưởng Hồng quân công nông, đại tướng K.A . Meretskov, Phó Tổng tham mưu trưởng, trung tướng- N.F.Vatutin, F.I. Golikov (cục trưởng Quân báo Hồng quân), Trợ lý Tổng Tham mưu trưởng-Thiếu tướng V.D. Ivanov, Trợ lý Tổng tham mưu trưởng về không quân, trung tướng không quân Ya.V. Smushkevich, Tổng thanh tra kỵ binh, thượng tướng O.I. Gorodovikov, Tổng Thanh tra pháo binh, trung tướng pháo binh, M.A. Parsegov, tổng thanh tra bộ đội xe tăng, thiếu tướng xe tăng, B.G. Vershinin. Được triệu tập tham gia cơ quan chỉ huy cuộc diễn tập thứ nhất còn có Phó Tổng cục trưởng tổng cục pháo binh, trung tướng N.N.Voronov (bị bệnh không tham gia tập trận), Tổng cục trưởng tổng cục ôtô-tăng-thiết giáp trung tướng Ya.N. Fedorenko, tổng cục trưởng công binh, thiếu tướng A.F.Khrenov (bị bệnh không tham gia), cục trưởng phòng hóa, thiếu tướng P.G. Melnikov, cục  trưởng thông tin liên lạc, thiếu tướng N.I.Gapich (bị bệnh không tham gia), cục trưởng cục cung cấp nhiên liệu,thiếu tướng P.V. Kotov, cục trưởng  quân y, E.I. Smirnov.  Trong cuộc diễn tập thứ hai những nhân vật này không có mặt trong danh sách, điều này có thể giải thích do tiến độ chuẩn bị tập trận bị siết chặt lại, thêm vào đó, những vấn đề thuộc thẩm quyền của các cán bộ này không được coi trọng như trong cuộc tập trận thứ nhất.

Đại tướng K.A.Meretskov, Tổng Tham mưu trưởng Hồng quân (8-1940 đến 1-1941)
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười, 2010, 01:57:42 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #29 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2010, 01:43:38 am »

Đại tướng K.A.Mereskov, ảnh chụp khoảng 1944. Sau diễn tập, bị Stalin thay thế bởi G.K.Giucov. Bị bắt giam ngày 23-6-1941. May mắn không bị xử bắn, được trả lại tự do tháng 9-1941 và điều ra mặt trận Phần Lan, chỉ huy tập đoàn quân độc lập 7, chặn đứng được quân Phần Lan trên tuyến sông Svir.

              
Tham gia diễn tập trực tiếp và giữ các vai trò then chốt (chỉ huy phương diện quân, tham mưu trưởng phương diện quân, trưởng phòng tác chiến bộ tham mưu phương diện quân, tư lệnh tập đoàn quân, tham mưu trưởng tập đoàn quân) là các tư lênh quân khu, tham mưu trưởng các quân khu và tư lệnh các tập đoàn quân, trưởng phòng tác chiến bộ tham mưu quân khu, cũng như cán bộ các cơ quan thuộc Bộ Ủy viên nhân dân quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu Hồng quân. Trong số những người tham gia các cuộc tập trận trên có các nhà chỉ huy quân sự, mà tên tuổi đã trở thành nổi tiếng trong Chiến tranh vệ quốc ví đại: I.R. Apanasenko, A.G. Golovko, A.I. Eremenko, M.G. Efremov, G.K. Zhukov, P.F. Zhigarev, M.I. Kazakov, M.P. Kirponos, I.S. Konev, G.P. Kravchenko, V.I. Kuznetsov, P.A. Kurochkin, M.F. Lukin, I.N. Muzychenko, A.A. Novikov, D.G. Pavlov, P.G Ponedelin, M.M. Popov, M.A. Purkayev, I.V. Tyulenev, V.D. Sokolovsky, F.I. Tolbukhin, T.T. Khryukin, Ya.T. Cherevichenko và nhiều người khác.
    Cả hai cuộc diễn tập đều được tổ chức thực hiện theo ba giai đoạn, trong đó, các bên tham gia căn cứ các nhiệm vụ và hướng dẫn nhận được mà ra quyết định và chỉ thị bằng văn bản cho các mệnh lệnh chiến đấu, báo cáo tác chiến chiến dịch và các tài liệu khác, và kết thúc với quyết định tình hình vào cuối giai đoạn thứ ba.
    Ngày 30 Tháng 12 năm 1940 các thành viên của cuộc tập trận thứ nhất nhận được nhiệm vụ, mà theo đó họ hiểu được những điều sau đây: quân "Tây" liên minh với quân "Tây Bắc ", quân "Bắc" và "Tây Nam" chống lại quân "Đông", dự đoán họ sẽ triển khai tấn công vào 15 Tháng bảy năm 1941. Đòn tấn công chính của quân "Tây" sẽ đánh từ phía nam Brest theo hướng Vladimir-Volynski, Ternopol, binh lực của mũi tấn công này là 120 sư đoàn, nếu kể cả lực lượng "Tây Nam" - lên tới 140-150 sư đoàn. Về phía bắc của Demblin tới Biển Baltic, quân "Tây" triển khai 60 sư đoàn, bố trí trong hai phương diện quân - Đông và Đông Bắc, và không chờ đợi sự tập trung đầy đủ các đơn vị quân đội của mình, nhằm thực hiện sớm đòn đánh chính, đã tấn công với nhiệm vụ đập tan cụm quân "Đông" trên tuyến Belostok-Volkovyssk và Kaunas, và vào cuối ngày 15 tháng 8 tiến tới tuyến Baranovichi, Dvinsk, Riga.
    Cuộc tấn công của quân "Tây" phát triển từ Đông Phổ theo hướng Riga và Dvinsk, và từ Suvanka và Brest - theo hướng Baranovichi. Tới ngày 23-25 tháng bảy, các đơn vị của phương diện quân Đông Bắc của quân "Tây" đã đạt tới tuyến Osovets, Skidel, Liđa, Kaunas, Siauliai, từ đó gặp phải cuộc phản công có lực lượng tới 50 sư đoàn của quân "Đông", bắt đầu rút về tuyến phòng thủ định trước, với nhiệm vụ trước khi các quân đoàn dự bị tới kịp, phải chặn được cuộc phản công của quân "Đông", và khi quân tiếp viện tới (khoảng từ 10 tháng Tám ) sẽ khởi động một cuộc tấn công mới đánh bại kẻ thù và tới 05 tháng 9 năm 1941 sẽ tiến ra tuyến Minsk, Dvinsk, Riga. Theo quy định phương diện quân Đông cũng đi vào phòng thủ trên tuyến Vłodava,Terespol, Ostruv- Mazovetska, và khi viện binh tới (khoảng ngày 10 tháng 8 ), phương diện quân sẽ tấn công, với đòn đánh chính theo hướng Brest, Baranovichi, tiêu diệt cụm quân Brest-Slonimsk của quân "Đông" và vào cuối ngày 05 Tháng Chín năm 1941 tiến tới tuyến Luninets, Minsk.
    Phương diện quân Tây Bắc của quân "Đông", đứng vững trước cuộc tấn công của quân "Tây", tới ngày 01 tháng 8, tiến ra tuyến biên giới quốc gia và nhận nhiệm vụ sau đây: đánh bại quân "Tây" ở Đông Phổ và tới 03 tháng 9 năm 1941 tiến tới sông Visla từ Vlotslavek đến cửa sông. Từ cánh phải, ngày 5 tháng 8, phương diện quân Bắc cũng phải bắt đầu tấn công để đánh bại "cánh quân tây bắc", sau khi cụm quân này tấn công không thành công vào Leningrad.  Bên cánh trái là phương diện quân Tây, đảm bảo sườn chiến dịch tấn công của phương diện quân Tây Bắc, bằng mũi tấn công vào Varsava từ tuyến Dzyadkovitse, Brest, Vłodava, và cuối ngày 20 tháng 8 cũng phải tiến được tới sông Visla.
    Theo đầu bài diễn tập đã ra, ưu thế về lực lượng và phương tiện chiến tranh khi bắt đầu tập trận thuộc về quân "Đông" (xem bảng), Quân "Tây" chỉ chiếm ưu thế so với quân "Đông" ở số lượng pháo chống tăng.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Mười, 2010, 01:49:41 am gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM