ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 04:41:00 pm » |
|
Một thời gian ngắn sau, Stalin gọi tôi và đề nghị tôi về Moskva. Bây giờ tôi còn đi tàu hoả. Lúc đó uỷ viên Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng không đi máy bay, có lệnh cấm. Lệnh cấm ấy xuất hiện một cách thú vị. Mikoyan đã kể cho tôi có lần ông đi đến Belorussia, phi công đề nghị ông đi máy bay. Ông đồng ý bay. Điều này sau đó được viết trên báo. Stalin đọc, biết Mikoyan bay bằng máy bay và phi công khi ấy thực hiện những cú nhào lộn dành cho phi công hạng cao, đề nghị tuyên án khiển trách Mikoyan vì những liều lĩnh không cần thiết. Rồi ra một biên bản cấm các uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản toàn Nga (b) và Bí thư nước cộng hoà Ban chấp hành Trung ương bay, điều này được coi là khá nguy hiểm. Chúng tôi chỉ bay trong thời gian chiến tranh. Tôi rất thích máy bay và thường bay, khi có điều kiện mà không làm Stalin lo ngại. Tôi thường bay, khi làm việc tại Kiev những năm 1928-1929. Ở đó phi công Deych phục vụ. Tôi đi đến Rzinsev, và phi công Deych “đãi” lần đầu tiên trong đời bằng chuyến bay. Điều này gây cho tôi ấn tượng mạnh. Sau đó tôi thường bay trên “Junkers“. Trên “Junkers” khi đó thường chở tư lệnh không quân Liên Xô Baranov. Về sau này ông chết thảm khốc. Đó là một người tuyệt vời, bạn thân của Yakir. Khi ông bay đến Kiev, cho phép tôi bay trên máy bay của ông. Như vậy tôi cũng đã là “con sói trên không“. Nhưng khi là bí thư Thành uỷ Moskva, tôi thậm chí đã bay trên máy bay thí nghiệm “Stal-2” cùng với Dân uỷ viên hàng không dân sự. Tôi bay cả trên khinh khí cầu cũng với Dân uỷ viên hàng không dân sự. Mặc dù cũng đã bay nhiều, bây giờ lại bị cấm, vì thế tôi từ Kiev về Moskva chỉ bằng tầu hoả. Về Moskva, tôi gặp Stalin, một lần nữa kể về Paton. Ông cướp lời tôi: - Tôi gọi anh đến về vấn đề này. Tôi đọc thư và tôi rất thích nó. Tôi hoàn toàn đồng ý với ông đánh giá công trình này và muốn nói chuyện với ông, còn sau đó đưa vấn đề này cho Ban chấp hành Trung ương và viết quyết định đưa vào sản xuất. Nhưng Paton là người thế nào? Ý nguyện của ông ta thế nào? Ông ta còn khoẻ không, nếu chúng tôi cho ông làm Hội đồng Dân uỷ toàn quyền và cho ông thư uỷ nhiệm không hạn chế về việc áp dụng phương pháp hàn trong sản xuất. Ông ấy có thể ép những người quan liêu phải đưa việc hàn vào sản xuất? Tôi trả lời: - Chừng mực nào tôi biết Paton, nếu trao cho ông thư uỷ nhiệm như thế, những người quan liêu sẽ không còn gì bấu víu. Ông ấy sẽ không cho họ lẩn tránh. Ông ấy là người ý chí kiên trì lắm. Lúc ấy Stalin bảo tôi không quay về Kiev, để gọi Paton lên nhận quyết định, cho phép ông toàn quyền tổ chức áp dụng trong sản xuất phương pháp hàn mới. Khi Paton đến, Stalin trao cho ông một số vấn đề và làm quen với ông. Ông cũng gây một ấn tượng lớn, rất tốt đối với Stalin: Paton là người có ý chí, có tổ chức, biểu thị rõ ràng và khúc chiết ý nghĩ của mình, mặt mũi có khí phách và sắc bén, con mắt nhìn thấu suốt. Ông buộc người ta phải coi trọng ông và ông có ảnh hưởng đến những người gặp ông. Điều này làm cho Stalin thích thú. Paton nhận thư uỷ nhiệm, và lúc ấy tôi mới quay về Kiev. Tôi hỏi tỷ mỷ Paton về khả năng hàn, tôi nảy ra ý nghĩ dùng phương pháp này để hàn thân xe tăng hàng loạt. Tôi hỏi ông: - Liệu có thể hàn thép xe tăng? Ông suy nghĩ: - Phải nghiên cứu. Tôi không thể bây giờ trả lời ông được. Nhưng thép bọc có độ dày bao nhiêu? - Hình như gần 100 mm. - Khó đấy, nhưng chúng tôi sẽ thử. Tôi nghĩ, làm được. Tôi lại một lần nữa gặp Paton để biết thép nào, chi tiết nào, kim loại nào và độ dầy nào ông có thể hàn bằng phương pháp của mình. Tôi hy vọng, phương pháp của ông có thể có ích để hàn thân xe tăng. Chiến tranh đang đến gần. Khi tôi lại đặt vấn đề này, Paton nói cần biết thành phần. Tôi đề nghị ông đến nhà máy xe tăng Kharkov. Ban đầu đây là nhà máy, hình như, Gartman, còn sau đó được gọi là KhPZ (nhà máy sản xuất đầu tầu hoả Kharkov mang tên Quốc tế cộng sản), nhưng ở đó sản xuất cả những sản phẩm mới - xe tăng thành phẩm và động cơ diesel. Tôi nói: - Tôi đề nghị giám đốc nhà máy và bí thư Đảng uỷ (giám đốc là Maksaev, còn Đảng uỷ - Episev (bây giờ Tổng cục trưởng Tổng cục chính trị quân đội và hải quân Liên Xô), để ông tiếp xúc với sản xuất và các nhà thiết kế. Ông tự nghiên cứu sản xuất và sau đó nói cho tôi suy nghĩ của mình. Paton đến Kharkov, làm quen với sản xuất xe tăng, sau đó nói cần một thời gian suy nghĩ, nhưng tin rằng có thể tổ chức hàn tự động vỏ xe tăng dưới dung dịch trợ lực. Tôi nói với ông: - Đây là một thắng lợi to lớn đối với đất nước và đối với quân đội. Một công việc lớn. Paton làm việc cùng với các nhà thiết kế xe tăng và các đốc công của nhà máy, những người chịu trách nhiệm những chi tiết xe tăng mà họ hàn. Tôi muốn kết thúc kể về Paton và sự tham gia của ông trong sản xuất xe tăng, về đóng góp lớn của ông trong chiến thắng của Hồng quân, vì rằng xe tăng quả là bắt đầu được hàn, như miếng bánh tráng của lò do sự giúp đỡ của Paton. Khi chiến tranh lan rộng và những sự kiện dồn ép bất lợi cho chúng tôi, Hồng quân phải rút lui, nói riêng, Kharkov, chúng tôi bắt buộc phải sơ tán công nghiệp Kharkov về phía đông. Sản xuất xe tăng từ Kharkov chuyển đến Ural. Đảng uỷ thiết kế cũng đến đó. Cả Paton cũng đến đó. Ở đó nhanh chóng thu xếp sản xuất xe tăng ở chỗ mới. Paton đóng góp lớn vào tổ chức sản xuất xe quân sự. Đó là một người rất hay, lúc ấy không còn trẻ nữa và như đã nói, là sản phẩm của chế độ cũ về ý thức, được giáo dục trong thời Nga hoàng. Năm 1943 Stalin gọi tôi bay về Moskva. Stalin thường gọi tôi từ mặt trận về để nói chuyện. Thời kỳ này Paton ở Moskva. Ông đề nghị gặp tôi. Tôi tiếp ông, nghe, và ông trao cho tôi một bức thư cho Ban chấp hành Trung ương Đảng. Ông viết rằng cha ông phục vụ cho Nga hoàng, làm lãnh sự ở Italy, có lẽ ở Genue. “Khi cách mạng thành công - ông viết - tôi cũng đã trưởng thành và, đương nhiên, thuộc về cách mạng một cách không nghiêm túc. Tôi cho rằng điều này không lợi đất nước ta, vì đã chống lại cách mạng tháng Mười. Nhưng tôi không có một hành động chống đối và không tham gia vào bất kỳ các tổ chức nào chống xô viết. Nếu có thể được biểu thị như thế, tôi chờ đợi rằng chính quyền này không tồn tại lâu lâu, nó sẽ bị tan rã, vì rằng nó không có tương lai và không vững chắc. Thời gian trôi đi. Tôi thấy thời gian đã thử thách chính quyền và chính quyền vẫn tồn tại. Sau đó chính quyền trở nên vững chắc, tỏ rõ khả năng tổ chức của mình, tỏ rõ hướng hoạt động, cái đó làm tôi làm hài lòng. Tôi hài lòng về những gì mà chính quyền xô viết đã làm. Với hàng năm sự hoạt động hấp dẫn chính quyền Xô viết lớn dần và tràn ngập lòng tôi. Tôi bắt đầu làm việc tốt hơn và trở thành hoà nhập với thực chất, được chính quyền xô viết xây dựng. Nhưng dù sao chăng nữa tôi không quên, tôi và chính quyền xô viết trong những ngày đầu tiên cách mạng, và vì thế tôi cho rằng tôi không có quyền có sự ủng hộ nào từ phía chính quyền Xô viết hoặc sự tín nhiệm đặc biệt với tôi. Tôi tiếp tục làm việc trung thực ở mảnh đất nơi tôi làm việc. Lúc ấy chiến tranh bắt đầu, và tôi được đưa đến chế tạo xe tăng. Tôi cho rằng tôi có đóng góp lớn vào sự phòng thủ đất nước ta, tổ chức sản xuất hàng loạt vỏ xe tăng, đưa máy hàn tự động dưới dung dịch trợ giúp theo khả năng của mình. Từ lâu, tôi đứng về chính quyền xô viết. Giờ đây tôi cảm thấy rằng tôi có quyền về mặt tinh thần gửi tới Đảng đề nghị nhận tôi vào hàng ngũ của mình. Vì thế tôi viết bức thư này và chuyển nó đến Ban chấp hành Trung ương tuyên bố về chấp nhận tôi vào Đảng. Tôi đề nghị ủng hộ tôi, tôi ước gì ngay bây giờ là một Đảng viên”. Bức thư này làm tôi sung sướng, vì rằng Paton là người kiệm lời. Tôi cảm thấy lòng chân thật sâu sắc của ông thừa nhận chính quyền Xô viết là chính quyền nhân dân, thừa nhận Đảng cộng sản là nhà tổ chức chiến thắng kẻ thù. Tôi rất sung sướng về mong muốn của Paton- đăng ký chính trị để tham gia cuộc chiến tranh chống phát xít Đức, trở thành Đảng viên. Tôi nhận thư của ông và nói rằng tin tưởng ông sẽ được chấp nhận vào hàng ngũ Đảng cộng sản toàn Nga (b). - Tôi trình đồng chí Stalin, và ông sẽ biết quyết định của Ban chấp hành Trung ương. Tôi không nhớ, bao lâu sau, tôi gặp Stalin, kể hết tất cả với ông ta và trao cho ông bức thư này. Stalin cũng xúc động - ông hiếm khi thể hiện ý nguyện của mình - và nói: - Ừ được, cứ giải quyết cho Paton, ông xứng đáng được kính trọng. Và bây giờ tôi trình để ra quyết định: - Chấp nhận đồng chí Paton vào đảng không tính đến thời gian thử thách. Trong thời gian, chờ chấp nhận Paton vào Đảng, phải qua thủ tục, theo đó những người thành phần tư sản hoặc trí thức, nhất thiết phải qua thời gian thử thách kéo dài hai hoặc ba năm. Nhưng với Paton, thủ tục đó không cần, không được áp dụng. Có lẽ do công lao đặc biệt của ông trước tổ quốc và Đảng, ông được chấp nhận vào Đảng ngay lập tức. Tôi rất hài lòng. Thứ nhất, tôi vui mừng vì Paton và vì đất nước, vì công việc mà Paton đã cống hiến cho đất nước và quân đội. Thứ hai, tôi hài lòng rằng bằng trách nhiêkm của mình, tôi làm quen với ông, hiểu vai trò của ông và tuyển mộ một công việc lớn như thế: sản xuất xe tăng. Sau chiến tranh Paton quay về chúng tôi tại Viện hàn lâm Ukraina, trở thành phó chủ tịch Viện hàn lâm và tiếp tục công việc của mình một cách vững vàng như đã làm trong thời gian chiến tranh và trước chiến tranh. Khi chúng tôi gặp bất hạnh, bất hạnh cả đối với Ukraina, và đối với khoa học - chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Ukraina Bogomoles từ trần, ông được mọi người rất kính trọng, với đặt ra là sẽ là chủ tịch Viện hàn lâm? Người ta nói với rôi rằng các nhà khoa học Ukraina băn khoăn. Điều này là do nhiều người trong số họ nghĩ rằng Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản(b) Ukraina sẽ giới thiệu chính Paton. Họ biết tôi kính trọng Paton, nghĩ rằng ứng cử viên này, không còn nghi ngờ gì nữa, được nêu ra. Lúc ấy cần nói rằng trong Viện hàn lâm khoa học Ukraina có nhiều ý kiến khác nhau về Paton. Tôi cho rằng đa số tuyệt đối các nhà khoa học kính trọng ông rất cao như một nhà bác học. Nhưng mọi người rất sợ tính cách của ông và vì thế sợ rằng ông trở thành chủ tịch Viện hàn lâm. Mọi người biết suy nghĩ của ông, không chịu nổi tính ba hoa khoác lác, cụ thể trong công việc. Ông có ý chí kiên trì rất cao. Tin đồn đến tai tôi là nếu chủ tịch Viện hàn lâm là Paton, là do Khrusev ủng hộ ông, và ông sẽ đuổi người thứ hai, thứ ba… và biến Viện hàn lâm khoa học thành một xưởng thực nghiệm cao cấp. Nghĩa là buộc tội ông theo chủ nghĩa thực hành. Vâng, đây chính là một con người biết đặt kiến thức khoa học vào phục vụ sự nghiệp. Ông không chịu đựng nổi những cuộc bàn luận trừu tượng và những cãi vã vô bổ dưới mác học thuật. Quả là, với những người như thế, ông có thể là mối đe doạ. Chúng tôi biết tất cả những quan hệ như thế vớiông, và vì thế chúng tôi không nảy ra ý tưởng giới thiệu ông vào chức vụ chủ tịch Viện hàn lâm. Nếu phải “gây sức ép” khi bỏ phiếu, thì sẽ gặp những điều không tốt. Chính Paton cũng không thiên về điều này. Ông say mê công việc của mình và của viện mà ông lãnh đạo. Bây giờ viện này nổi tiếng không những ở nước ta, mà viện còn chiếm một vị trí tương đối cao trên thế giới về hàn kim loại. Sau khi Paton chết, lãnh đạo viện là con trai ông, Boris, bây giờ là chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Ukraina. Khi Paton chết, Tại Kiev, một chiếc cầu mới được xây xong qua sông Dnepr. Đó là chiếc cầu lớn nhất ở Kiev. Nó được hàn toàn bộ. Paton cố đạt được điều này, và tôi ủng hộ ông, để áp dụng cấu trúc hàn toàn bộ. Ông là nhà kỹ thuật, là người lãnh đạo hàn cầu. Trong thời gian tôi về công tác ở Ukraina. người Ukraina có ý định tặng tên tooi cho chiếc cầu. Điều này làm tôi ngạc nhiên, đặc biệt vì rằng trước đó chúng tôi đã quyết định cấm phong các xí nghiệp, cơ quan, nông trang và v.v… mang tên các nhà lãnh đạo Đảng và Chính phủ khi còn đang sống. Và thậm chí hàng loạt tên tặng thưởng được trước đây, chúng tôi bằng quyết định đặc biệt đã bỏ đi. Như tôi nói đùa, người ta tước đoạt hết quyền và vị thế của những người “khoắng” về mình những xí nghiệp, nhà máy và thành phố. Cuộc thi đấu như thế thậm chí là không lành mạnh, tên của họ được tặng cho một lượng lớn xí nghiệp và nông trang. Điều này là dã man! Khi Lenin còn sống điều này, theo tôi, chưa hề có. Sau đó có lúc tặng tên của Budienyi còn sống (anh hùng nội chiến). Cũng tặng tên những người đã chết để tưởng nhớ sự nghiệp mà họ thực hiện đối với Đảng và nhân dân. Tôi hỏi người Ukraina: - Vì cái gì các anh muốn tặng tên tôi cho chiếc cầu? Điều này vi phạm trắng trợn quyết định của Ban chấp hành Trung ương. Tôi chống, hơn nữa điều này vì chính tôi là người khởi xướng quyết định như thế. Các anh không hiểu đặt tôi vào tình thế như thế này? Tôi đề nghị các anh không mang cái đề nghị ấy đi đâu cả. Và chẳng cần tìm kiếm lâu ai xứng đáng hơn, để của nó được thưởng cho chiếc cầu này? Chẳng hạn, viện sỹ Paton. Tôi đề nghị, hãy đưa những đề nghị như thế, và Chính phủ chuẩn y nó. Thế là chiếc cầu mang tên Paton. Và bây giờ chiếc cầu này, như người ta nói, sống và khoẻ mạnh, còn mọi người đi lại qua nó. Tôi nhớ đến lời của người xây dựng nó - viện sỹ Paton.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 04:59:25 pm » |
|
Năm 1941 khó khănChiến tranh kề sát chúng tôi. Không phải chúng tôi gây ra chiến tranh, mà là nó kéo đến chúng tôi. Chúng tôi đã nói về điều này và người ta đã làm tất cả để kẻ thù làm chúng tôi bất ngờ, để quân ta ở mức cao về tổ chức, trang vị và khả năng chiến đấu, công nghiệp chúng tôi có mức tương xứng phát triển, đảm bảo mọi nhu cầu cần thiết trang bị và phương tiện quân sự, nếu nổ ra chiến tranh, nếu kẻ thù tấn công chúng tôi. Và thế là chiến tranh không thương xót ập đến chúng tôi. Cái gì được làm trong quân đội, cụ thể không thể nói được, vì rằng tôi không biết. Tôi không biết ai trong số các uỷ viên Bộ chính trị biết tình hình cụ thể, biết tình hình quân đội chúng tôi, vũ khí và công nghiệp quốc phòng. Tôi nghĩ rằng hoàn toàn, hình như không ai biết, trừ Stalin. Hoặc chỉ một số người trong vòng rất hẹp biết, vâng, và không phải biết tất cả các vấn đề. Sự điều động cán bộ, những người có hiểu biết nhiều để chuẩn bị chiến tranh, cũng do Stalin làm. Giữ “ghế” Ban tổ chức là Sadenko, một người, nổi tiếng với tính cách của mình. Ông là người có tính hung dữ trong quan hệ với mọi người. Sau đó “ngồi” ở Ban tổ chức là Golikov, từ tình báo chuyển về. Bây giờ chính xác không thể nhớ lại, nhưng ông cũng gần Stalin và tham gia những vấn đề này. Mekhlns có ảnh hưởng rất mạnh đến, nhưng chủ yếu trong vấn đề công việc chính trị. Ông là thủ trưởng Tổng cục chính trị, tuy nhiên ông thường vượt ra khỏi khuôn khổ chức năng của mình, vì rằng với tính kiên trì của mình, mà Stalin rất thích. Ông nhiều lần cho Stalin những lời khuyên, và ông được xem là Stalin. Hình như điều này không có lợi cho quân đội. Trước chiến tranh vệ quốc không lâu, Timosenko trở thành Dân uỷ viên quốc phòng. Tôi không biết, Timosenko triển khai công việc mới của mình ra sao, nhưng tôi nghĩ rằng công việc được tổ chức tốt hơn trước khi ông đến. Tôi không nói về Vorosilov biết công việc quân sự sâu đến chừng mực nào. Nhưng người ta nói ông là một người thích làm mẫu trước ống kính máy ảnh máy quay phim ở hoạ sỹ lão làng Gerasimov hơn là lãnh đạo vấn đề chiến tranh. Vì thế ông thường tham gia nhà hát opera và các diễn viên nghệ thuật, đặc biệt opera, và ông chiếm được vinh quang người am hiểu opera và cho ca sỹ nào đó những đặc tính độc đoán. Thậm chí vợ ông cũng nói điều này. Có lần tôi nghe thấy nói về một nghệ sỹ. Bà không ngẩng mắt và nói: - Kliment Efremovich không có ý đặc biệt cao về ca sỹ này. Điều này xem như là kết luận cuối cùng. Ông ta có những dữ liệu nào cho điều này và vì sao xuất hiện những phàn nàn như thế, khó giải thích. Sự thật Kliment Efremovich thích hát và đến những ngày cuối cùng của mình, khi tôi còn gặp ông, ông luôn luôn hát, mặc dù cũng đã khó nghe. Ông hát khá. Ông kể cho tôi, ông đã học trường dạy hát: cũng như Stalin, trong đời đã hát trong dàn đồng ca nhà thờ.  Năm 1940, tại Ukraina, Zukov chỉ huy quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev. Đầu 1941 người ta chuyển Zukov đi, và bổ nhiệm Kirponos. Theo tôi, trước Zukov và trước Mereskov, Tham mưu trưởng là Boris Mikhailovich Saponikov. Điều này - tuyệt đối uy tín đối với một quân nhân cao cấp. Trong thời gian ấy làm việc trong Bộ tổng tham mưu có cả Sokolovsky và Vasilevsky, hai nhà chuyên môn có năng lực. Nhưng thời ấy trong quân đội có tin đồn họ cựu sĩ quan quân đội cũ, và không tin tưởng họ. Trong thời gian đó, tôi còn chưa biết Sokolovsky, Vasilevsky và vì thế tôi không có ý kiến của mình về họ, nhưng lắng nghe những lời tốt đẹp về họ của các lão thành hồng quân, những người tham gia nội chiến cũng có lòng tin với họ. Từ khi chính tôi biết họ trong thời gian chiến tranh, tôi có sự không tin cậy về mặt chính trị đối với những người này, tất nhiên, và không bao giờ nảy sinh. Tôi rất tốt với Vasilevsky, và với Sokolovsky. Với Vasilevsky và tôi có xảy ra, tuy nhiên, một trường hợp năm 1942, không thể bị xoá nhoà khỏi óc tôi. Điều này liên quan tới chiến dịch, mà chúng tôi tiến hành đầu năm 1942 ở Kharkov, ở Barvenkovo. Tôi (sẽ nói riêng chiến dịch này) hoàn toàn không đả động cuộc nói chuyện của mình với Vasilevsky. Ông gây cho tôi thời ấy một ấn tượng rất nặng nề. Tôi cho rằng thảm hoạ, nổ ở Barvenkovo, lẽ ra có thể tránh được, nếu Vasilevsky giữ giữ vị trí, mà ông cần giữ. Ông có thể chiếm vị trí khác. Nhưng ông chiếm nó và chính điều này dẫn đến cái chết một nghìn chiến sĩ Hồng quân trong chiến dịch Kharkov. Về tướng Kirponos - Tư lệnh quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev, tôi hoàn toàn không biết ông ta trước khi ông được bổ nhiệm. Khi ông đến nhận việc, tôi với ông, tất nhiên, làm quen, vì rằng ông là uỷ viên hội đồng quân sự Quân khu đặc biệt Kiev. Nhưng tôi không thể nói một điều gì cả về ông, tốt hay xấu. Chỉ một điều làm tôi lo ngại - làm sao khi Timosenko ra đi, công việc quân đội không yếu đi. Tôi đánh giá rất cao những hoạt động của Timosenko, tư lệnh quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev. Ông là người có khí phách và có uy tín trong số các quân nhân có tính cách cứng rắn cần cho một một chỉ huy, đặc biệt là chỉ huy quân đội. Uy tín của ông rất lớn: anh hùng nội chiến, chỉ huy một trong những sư đoàn quân kỵ binh thứ nhất, lập vinh quang và có công trạng. Sau Timosenko, Zukov đến. Tôi hài lòng, thậm chí rất hài lòng với Zukov. Ông làm tôi vui bằng tài năng và kỹ xảo của mình giải quyết các vấn đề. Điều này tôi yên tâm: một chỉ huy giỏi, như tôi cảm nhận. Chiến tranh đã xác nhận rằng ông quả là một chỉ huy giỏi. Tôi cũng xem như thế, dù những bất đồng mạnh với ông trong thời kỳ sau này, khi ông trở thành Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô, mà tôi hết sức vất vả và cố gắng để bổ nhiệm ông. Nhưng ông không hiểu đúng vai trò của mình, và chúng tôi bắt buộc phải cách chức Bộ trưởng của ông và khép tội những âm mưu của ông, mà ông hoàn toàn có và chúng tôi chặn đứng chúng. Tuy nhiên là một người lãnh đạo chiến tranh, tôi đánh giá ông rất cao và bây giờ không thể phủ nhận sự đánh giá này. Tôi nói về điều này cho Stalin cả trong thời gian chiến tranh, cả sau chiến tranh, khi Stalin thay đổi mối quan hệ của mình với Zukov, khi Zukov bị thất sủng. Trước chiến tranh vệ quốc, tôi ở Moskva, rất lâu bị giữ ở đấy, đúng là bị hành hạ, nhưng đành chịu. Stalin luôn gợi ý tôi: - Anh còn phải ở lại, anh định bỏ chạy đấy à? Phải ở đây! Nhưng tôi thấy không có ý muốn ở Moskva: tôi cũng không nghe điều gì mới từ Stalin. Nhưng sau này lại ăn trưa, ăn tối, uống rượu… Các thứ đó với tôi đơn giản không có ích. Tuy nhiên tôi không thể làm được một cái gì cả. Tôi quan sát Stalin và ông gây cho tôi một ấn tượng xấu. Ông ở trạng thái không có sự tinh anh và tin tưởng rằng quân ta đường hoàng gặp quân thù. Ông có lần buông tay sau khi Pháp thua, và Hittler chiếm Pháp. Tôi ở chỗ ông trong thời gian Pháp đầu hàng. Lúc đó ông chửi rủa thậm tệ, bằng tiếng Nga: “Thấy chưa, người ta đụng chạm trước mặt chúng ta, Hittler thò tay ở phương Tây“. Ông không nói điều này trực tiếp, nhưng chúng tôi hiểu. Chúng tôi cũng hiểu cả tính cáu kỉnh của ông. Stalin biết rõ hơn chúng tôi tình trạng của Hồng quân và, hình như, ông đã kết luận rằng chúng tôi chưa chuẩn bị chiến tranh “lớn”. Cuộc chiến tranh “nhỏ” của chúng tôi với Phần Lan đã chứng minh điều này. Chiến tranh là rất đẫm máu, rất nặng nề đối với chúng tôi. Chúng tôi khó khăn mới đánh tan Phần Lan và cũng bị thiệt hại nặng. Tôi nói “khó khăn”. Điều đó, tất nhiên, ước lệ. Dù là nguồn dự trữ của chúng tôi ở mức nào đó không thể ngang với Phần Lan. Nhưng tôi cũng đánh giá như thế vì rằng nếu lấy Liên Xô và Phần Lan để so sánh số người chết, mà chúng tôi chịu trong cuộc chiến tranh ấy, điều này, tất nhiên, có thể gây ra chỉ do sự không thành thạo và thiếu chuẩn bị tổ chức hoạt động quân sự. Chúng tôi khó đánh tan Phần Lan, đưa ra số lượng người lớn. Nhưng chúng tôi lẽ ra, nếu quả là chiến đấu, giết những người Phần Lan và như thế biểu thị khả năng chiến đấu quân đội chúng tôi. Nhưng chúng tôi lại biểu thị vừa vặn ngược lại: khả năng nhỏ và tính nhu nhược của lực lượng đánh trả của chúng tôi… Tôi kiên trì cố đạt được quyết định ra đi, về Kiev và cuối cùng tôi trực tiếp nói với Stalin: - Vì sao mà tôi ngồi ở đây, đồng chí Stalin? Chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ giờ nào và sẽ rất dở, nếu tôi sẽ còn ngồi ở Moskva hoặc thậm chí trên đường. Tôi phải đi, tôi phải ở Kiev. Và ông đồng ý: - Đúng, đúng thế, anh đi đi! Câu trả lời như thế chứng minh rằng chính Stalin không biết, vì sao tôi bị bị giữ lại. Ông hiểu rằng tôi làm một cái gì đó, rằng chỗ của tôi ở Kiev, rằng tôi ở đó cần hơn ở đây - Moskva. Tựa như ông hoàn toàn đồng ý. Nhưng, ông hỏi ai giữ tôi? Điều này rằng ông cầm sự có mặt nhiều người trong số những người quanh mình. Nhu cầu về người thời ấy là như thế. Tôi bây giờ lợi dụng sự đồng ý của Stalin và đi về Kiev. Mùa hè nóng bức. Tôi đi đến Kiev buổi sáng, như thường lệ. Đó là ngày thứ bẩy. Lập tức tôi đến Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản(b) Ukraina, báo cho cán bộ về tình hình công việc và buổi chiều đi về nhà. Bỗng nhiên 10 hoặc 11 giờ đêm, ban tham mưu Quân khu đặc biệt Kiev gọi tôi đến Ban chấp hành Trung ương, vì có tài liệu từ Moskva gửi đến. Kèm với điều này là tài liệu này để Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản(b) Ukraina Khrusev biết. Tôi lại đi đến Ban chấp hành Trung ương. Đến đấy, tôi không nhớ chính xác ai: hoặc thủ trưởng ban tham mưu Quân khu đặc biệt Kiev Pukaev, hoặc phó của ông. Tôi tiếp xúc với Pukaev trong thời gian ở Kiev, vì rằng chỉ huy quân đoàn vài ngày trước đây dọn đến điểm chỉ huy ở Tarnopol. Ở đó bắt đầu xây dựng chỉ huy sở, và, mặc dù đó chưa phải là kết thúc, những phải rời đi, vì rằng cảm thấy chiến tranh sắp bùng nổ. Ở đó có cả bộ phận tham mưu ban tham mưu, thủ trưởng bộ phận tham mưu Bagramian và Tư lệnh quân đoàn Kirponos. Pukaev (hoặc phó của ông) đọc tài liệu. Tài liệu nói rằng, phải chờ đợi sự bắt đầu chiến tranh đúng ngày, người có thể là đúng giờ. Bây giờ chính xác tôi không nhớ nội dung tài liệu, tôi nhớ chỉ có một thứ - sự băn khoăn nội dung và sự cảnh báo. Lúc đó xem xét: tất cả những gì cần làm, chuẩn bị lực lượng, được làm. Cho đến lúc Tư lệnh ra về với bộ phận tham mưu về ban tham mưu. Tiếp theo, chúng tôi chuẩn bị chiến đấu. Sau đó người ta gọi từ ban tham mưu Tarnopol và nói rằng ở hướng của chúng tôi có một người lính Đức chạy sang. Người này nói rằng ông là một người cộng sản, và bây giờ cũng xem mình như một người cộng sản, rằng ông là người chống phát xit, что ông chống cuộc phiêu lưu chiến tranh, mà Hittler gây ra, và cảnh báo rằng sáng mai vào lúc 3 giờ sáng bắt đầu cuộc tấn công quân Đức. Điều này trùng với những bằng chứng, vừa mới được Moskva thông báo ở tài liệu nhắc đến. Tôi không nhớ gọi ngày, giờ. Hình như có gọi. Tóm lại, đây không phải là cái gì mới, chỉ là xác nhận nó một cách cụ thể.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 04:59:58 pm » |
|
Người lính chạy từ phía tiền duyên. Người ta thẩm vấn anh ta, và tất cả những dấu hiệu mà anh ta chỉ ra, dựa bào nó mà ông ta nói rằng sáng mai lúc 3 giờ giờ bắt đầu cuộc tấn công, được mô tả logic và đáng tin. Thứ nhất, vì sao chính sáng mai? Người lính nói rằng họ nhận khẩu phần lương khô 3 ngày. Nhưng vì sao chính vào lúc 3 giờ? Vì rằng quân Đức luôn luôn chọn giờ sớm trong những trường hợp như thế này. Tôi không nhớ, ông nói cái gì liên quan đến giờ sáng, hoặc họ biết điều này theo “radio của lính”, cái đó luôn luôn rất chính xác xác định bắt đầu cuộc tấn công. Chúng tôi phải làm gì? Tư lệnh ở Tarnopolе, ban tham mưu cũng nằm ở đó. Bộ đội ở tại chỗ, sẵn sàng bắn quân thù. Chúng tôi xuất phát từ điều này. Tôi không về nhà và ở lại Ban chấp hành Trung ương đến giờ. Và quả là, từ hửng sáng, khoảng 3 giờ, chúng tôi đã nhận thông báo, lính Đức nổ pháo và tiến hành những hành động tấn công, vượt qua tuyến phòng thủ phân giới thuỷ và bẻ gãy sự chống cự của chúng tôi. Bộ đội chúng tôi đánh lại và cản chúng. Tôi không nhớ, vào lúc nào, nhưng khi trời sáng, bỗng nhiên từ ban tham mưu Quân khu đặc biệt Kiev nói rằng máy bay Đức tiến gần Kiev. Lát sau, chúng trên bầu trời Kiev và ném bom xuống sân bay thành phố. Bom rơi vào hăngga, các đám cháy bắt đầu. Trong hăngga này có một số một số máy bay U-2. Sau đó trong thời gian chiến tranh máy bay U-2 được sử dụng làm máy bay liên lạc, còn thời ấy - dùng cho nông nghiệp. Máy bay chiến đấu trên sân bay không có, chúng được đưa đến biên giới, được phân tán và nguỵ trang. Quân Đức bằng những đợt bay đầu tiên không đạt được mục đích không thể loại ra khỏi đội ngũ sân bay và máy bay chúng tôi, không thể phá huỷ chúng. Máy bay của chúng tôi và xe tăng hoàn toàn không bị tiêu diệt từ đòn đánh đầu tiên. Tại Quân khu đặc biệt Kiev (mặc dù, có thể là, một họ còn che giấu một cái gì đó từ tôi, nhưng những báo cáo cho tôi thời ấy, nhưng tôi tin và bây giờ tôi tin, đó là thông tin đúng) ở các nơi quân Đức không thể hoàn toàn dùng sự bất ngờ để giáng đòn vào máy bay, xe tăng, pháo, kho tàng, vũ khí quân sự khác. Sau này người ta nói cho chúng tôi rằng không quân Đức ném bom Odessa, Sevastopol, và những thành phố phía nam nào đấy. Khi chúng tôi đã có những bằng chứng rằng quân Đức nổ súng, từ Moskva đưa ra chỉ dẫn không bắn trả. Đây là chỉ dẫn lạ lùng, người ta giải thích nó như thế này: có thể, đây là sự phá hoại nào đấy của chỉ huy địa phương quân Đức hoặc là một sự khiêu khích không thực hiện chỉ thị Hittler. Điều này nói rằng Stalin sợ chiến tranh đến đỗi kiềm chế bộ đội chúng tôi họ không bắn trả kẻ thù. Ông không tin Hittler bắt đầu chiến tranh, mặc dù bản thân ông không ít lần nói rằng Hittler, tất nhiên, sử dụng tình hình phức tạp ở phương Tây, và có thể tấn công chúng tôi. Điều này chứng minh Stalin không muốn chiến tranh và vì thế tự trấn an Hittler giữ lời và không tấn công Liên Xô. Khi chúng tôi nói cho Stalin rằng kẻ thù đã ném bom Kiev, Sevastopol và Odessa, rằng điều này không thể nói là vụ khiêu khích địa phương của quân Đức trong một vùng hẹp nào đó, rằng đây quả là bắt đầu chiến tranh, ngay lúc ấy đã nói: - Đúng, đây là chiến tranh, và quân đội phải chấp nhận biện pháp thích ứng. Vâng, nói khác đi, nhưng lần này quân ta bắt buộc bắn trả. Bắt đầu chiến tranh. Nhưng vẫn không có một tuyên bố nào của Chính phủ xô viết hoặc của đích thân của Stalin. Điều này tạo ra một ấn tượng xấu. Sau đó ngày chủ nhật, Molotov phát biểu. Ông tuyên bố chiến tranh bắt đầu, rằng Hittler tấn công Liên Xô. Nói về lời phát biểu này bây giờ chưa chắc cần, vì rằng tất cả đã được ghi lại và mọi người có thể làm quen với sự kiện trên báo chí thời ấy. Molotov phát biểu, sao không phải là Stalin phát biểu, vì sao có chuyện như thế? Stalin thời ấy không phát biểu. Ông hoàn toàn bị tê liệt trong những hoạt động của mình và đầu óc lung tung. Sau đó, sau chiến tranh, tôi biết rằng khi nổ ra chiến tranh, Stalin vẫn ở Kreml. Beria và Malenkov đã nói với tôi điều này. Beria kể: “Khi chiến tranh bắt đầu, các uỷ viên Bộ chính trị ở tụ tập ở Stalin. Tôi không biết, tất cả hoặc chỉ có một nhóm thường xuyên tụ họp ở chỗ Stalin. Stalin tinh thần hoàn toàn bị ức chế và tuyên bố như thế này: - Chiến tranh bắt đầu, nó phát triển một cách thảm hoạ. Lenin bỏ lại cho chúng tôi nhà nước Xô viết vô sản, còn chúng tôi… - Ngay đúng chỗ ấy ông biểu hiện. - Tôi từ bỏ khỏi vị trí lãnh đạo… Và ông bỏ đi. Ông ngồi vào xe và đi về một nhà nghỉ “gần”. - Chúng tôi - Beria kể - vẫn còn ở lại. Làm cái gì tiếp đây? Sau khi Stalin thể hiện mình như thế, qua một thời gian nào đấy, chúng tôi thảo luận với Molotov, Kaganovich, Vorosilov (mặc dù Vorosilov ở đấy, tôi không biết, vì rằng trong thời gian ông thất sủng ở Stalin do thất bại trong chiến dịch chống Phần Lan). Chúng tôi bàn bạc và quyết định chạy đến chỗ Stalin, kéo ông quay về hoạt động, dùng tên ông và khả năng để tổ chức phòng thủ đất nước. Khi chúng tôi đi đến gặp ông ở nhà nghỉ, thì tôi nhìn mặt ông thấy rằng Stalin rất khiếp sợ. Tôi cho rằng Stalin nghĩ, liệu chúng tôi đến bắt ông vì rằng ông từ chối vai trò của mình và không làm một cái gì cả để tổ chức chặn cuộc xâm lăng của Đức? Chúng tôi thuyết phục ông rằng chúng ta là một nước lớn, chúng ta có khả năng tổ chức, cơ động nền công nghiệp và mọi người, kêu gọi nhân dân đấu tranh, ngắn gọn, làm tất cả để nâng tinh thần chống Hittler. Stalin tựa như hồi tỉnh một chút. Chúng tôi chia nhau, ai làm gì, nhận gì để tổ chức phòng thủ, công nghiệp quốc phòng và v.v… Tôi không nghi ngờ rằng lời trên đây là đúng. Tất nhiên tôi không có năng hỏi Stalin có phải như thế không. Nhưng không có lý do gì để không tin điều này, vì rằng tôi thấy Stalin ngay trước lúc bắt đầu chiến tranh. Ông ở trạng thái sốc. Ở Quân khu đặc biệt Kiev trong những ngày đầu tiên chiến tranh tình hình rất nặng nề, nhưng hoàn toàn không phải tình thế thảm hoạ. Chúng tôi trong nguồn dự trữ có hai quân đoàn xe tăng, còn quân Konev cần phải bắt đầu chuyển đi. Theo chỉ dẫn của Tổng hành dinh chúng tôi quyết định phản kích quân Đức đang tấn công, tung vào đấy một quân đoàn cơ giới của chúng tôi. Tôi không biết, nhưng chúng tôi biết người chỉ huy quân đoàn xe tăng Đức, nhưng chúng tôi cho rằng quân đoàn cơ giới của chúng tôi ăn mừng với chúng và chúng tôi phục hồi tình thế. Trong thời gian này Konev bắt đầu chuyển đi. Tôi gọi cho Stalin để ông quyết định cho chúng tôi tuyển mộ bộ đội Konev tấn công vùng đất này. Ban đầu ông đồng ý, nhưng sau này gọi lại và ra lệnh: - Ngay lập tức chở quân Konev và chở thẳng đến Belorussia. Những quân đoàn cơ giới chúng tôi bị tiêu diệt và cả bộ đội nữa. Quân Đức có khả năng tiến vào Kiev, còn ban tham mưu chúng tôi lại đóng ở Tarnopolе. Stalin gọi chúng tôi và nói rằng ban tham mưu nên bỏ vị trí và rút lui. Phía sau có một hầm bê tông cho tư lệnh quân đoàn, nằm sau đường biên giới cũ của chúng tôi. Hầm này, có lẽ, do Yakir xây. Chúng tôi tới làng này gần Kamenes-Podosk khi hửng sáng và ở đó nhận chỉ thị: không xáo tung ban tham mưu, nhưng rút lui đến Kiev, ban tham mưu quay về Kiev và tổ chức phòng thủ. Chúng tôi ngạc nhiên: sao lại phải lập tức quay về Kiev? Nhưng lại lên đường. Vâng chúng tôi cũng không thể khi đó nói rằng nhanh chóng quét bọn Đức, chúng tôi không có bộ đội cần thiết. Trong khi rút lui chúng tôi về Kiev, thì quân Đức ngốn số bộ đội còn lại của quân chúng tôi. Chúng tôi mất pháo và xe tăng, chúng tôi cũng không còn súng máy. Lực lượng chính của chúng tôi - hai quân đoàn cơ giới - bị tiêu diệt chủ yếu bởi máy bay. Quân Đức bay mà không bị đánh trả, và chúng tôi không còn cái gì có thể được bảo vệ. Bộ đội của sư đoàn tập đoàn quân №6 và №12 khi bị quân Đức đuổi đằng sau, đã tháo chạy. Quân Đức luôn giữ họ một nửa sau, và họ không có tính cơ động. Nhưng đó lại là cái quan trọng nhất đối với bộ đội. Nhưng những tập đoàn quân này, tất nhiên, chưa bị tan rã. Họ tự bảo vệ và thậm chí còn tập kích địch theo hướng Broda. Họ rút lui về phía nam Kiev, vùng nam Umani. Họ đóng vây quanh chỗ đó. Gộp hai ban tham mưu: Ponedenin và tư lệnh tập đoàn quân №6. Người chỉ huy tập đoàn quân №12 bị thương. Khi quân Đức tiến gần, Ponedenin nhẩy ra khỏi vị trí và đầu hàng làm tù binh. Khi đó chúng tôi vẫn chưa biết phát xít và luôn luôn cố gắng tiến hành chiến tranh “bằng mọi cách”. Tất nhiên, thật là ngu ngốc, khởi xướng bỏ mặt khi sử dụng bộ đội theo sự xem xét này. Sự can thiệp của Bộ tổng tham mưu nhận được như thế như ở một người lính can đảm Sveyk: tất cả đều tốt, chừng nào Bộ tổng tham mưu không can thiệp. Bộ đội chúng tôi chết như thế đấy. Từng người một đi ra từ những người xung quanh ông tướng. Popel đến. Vlasov khét tiếng với cái roi đến, không có bộ đội. Popel quay về sau 2, 3 tuần lễ. Ông qua khu rừng Polesia, ở đó vẫn chưa có bọn Đức, họ đi bằng con đường lớn. Popel thậm chí còn chở một trung tá bị thương và dẫn một lượng nhỏ bộ đội rút khỏi vòng vây. Tháng bẩy hoặc tháng tám (có lẽ, tháng tám) tôi được gọi về Moskva. Tình thế ở mặt trận rất nặng nề. Tôi không thể thêm một cái gì nữa vào cái điều mà Stalin, Chính phủ và Bộ tổng tham mưu biết. Khi tôi đến, người ta nói cho tôi, rằng Stalin - đang ở Tổng hành dinh. Tổng hành dinh khi đó nằm ở ga xe điện ngầm cổng Kirovsky. Tôi đến đó. Có một chiếc đi văng. Stalin ngồi một mình trên đi văng. Tôi lại gần và chào ông. Ông hoàn toàn thay đổi. Ông trông có vẻ hờ hững, uể oải. Nhưng mắt ông, tiều tuỵ, van lơn. Tôi phác hoạ cho ông tình hình phức tạp ở chỗ chúng tôi. Nhân dân chịu đựng những việc đã xảy ra như thế nào, thiếu thốn những gì. Không đủ vũ khí, thậm chí không có cả súng trường, còn quân Đức tấn công chúng tôi. Dưới Kiev chúng tôi kìm chân bọn Đức. Tin tưởng rằng chúng tôi sẽ kìm được, tuy nhiên, cũng khó, vì rằng chúng tôi không có vũ khí, không còn cả bộ đội. Chúng tôi góp nhặt, như người ta nói, chổi cùn rế rách, thu nhặt mọi người, súng trường và tổ chức phòng thủ rất yếu ớt. Còn quân Đức, khi tiến đến Kiev, cũng đã yếu, và điều này giúp đỡ chúng tôi. Quân Đức dường như trao cho chúng tôi thời gian, chúng tôi sử dụng nó và cứ mỗi ngày lại mở rộng phòng thủ thành phố. Quân Đức còn không thể lấy chiếm được Kiev, mặc dù cũng tiến hành âm mưu khá năng động để chiếm nó. Tôi nhớ, khi đó tính cách của Stalin gây cho tôi một ấn tượng cực kỳ khó chịu. Tôi đứng, còn ông nhìn tôi và nói: - Hừ, sự tháo vát người Nga ở đâu? Người ta đã nói về sự tháo vát người Nga. Nhưng nó bây giờ ở đâu trong cuộc chiến tranh này? Tôi không nhớ, tôi trả lời ông hay không. Có thể trả lời thế nào vấn đề này trong tình hình như thế? Khi chiến tranh bắt đầu, người ta gửi đến chúng tôi những công nhân nhà máy “Những người thợ rèn Lenin” và những người của các nhà máy khác, đề nghị cho họ vũ khí. Họ muốn ra mặt trận, giúp đỡ Hồng quân. Chúng tôi không thể cho họ một cái gì cả. Tôi lại được gọi về Moskva. Người duy nhất, mà tôi khi đó có thể trao đổi, là Malenkov. Tôi gọi cho Malenkov: - Hãy nói cho tôi nhận súng trường ở đâu? Công nhân cần súng trường và muốn tham gia Hồng quân, đánh nhau chống quân Đức. Ông trả lời: - Tôi không thể nói với anh một điều gì cả. Ở đây hỗn loạn đến mức không thể thu xếp một cái gì cả. Tôi có thể nói với anh chỉ một điều rằng súng trường, có ở Moskva ở chỗ Osoaviakhima (nhưng đây là súng trường ổ đạn khoan, đã bị hư hỏng), chúng tôi ra lệnh làm lại thành súng chiến đấu, người ta đang gia công lỗ, và tất cả số súng trường này sẽ gửi đến Leningrad. Anh không thể nhận một cái gì đâu. Thế là rõ: súng trường - không, súng máy - không, máy bay hoàn toàn không còn. Chúng tôi còn không có cả pháo. Malenkov nói: - Theo chỉ thị, tự rèn vũ khí, làm giáo mác, làm dao. Đánh nhau với xe tăng bằng chai lọ, chai xăng, quăng chúng và thiêu huỷ xe tăng. Và tình hình như thế diễn ra một số tuần lễ! Chúng tôi không có vũ khí. Nếu khi đó nói điều này cho nhân dân, thì tôi không biết, ông phản ứng ra sao. Nhưng nhân dân không biết, tất nhiên, chúng tôi đang ở tình thế như vậy, mặc dù theo tình hình thực tế họ cũng đoán được. Hồng quân không đủ súng máy và pháo cần thiết, thậm chí không có cả súng trường. Đúng là, nói riêng, tình hình phức tạp như thế trong những tuần lễ đầu tiên của chiến tranh. Bây giờ tôi kể tỷ mỷ hơn. Tôi không nhớ, một hôm trong những ngày đầu chiến tranh, Stalin gọi tôi. Ông nói: - Zukov sẽ bay đến chỗ anh, và anh đi theo cùng với Zukov đến ban tham mưu. Tôi trả lời: - Được, tôi chờ Zukov. Zukov bay ngày hôm đó hoặc hôm sau. Tôi, tất nhiên, rất vui lòng. Tôi biết Zukov và rất tin tưởng tài năng quân sự của ông. Tôi quen ông, khi ông là tư lệnh quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev, và tôi hài lòng, ông đến. Khi ông bay đến Kiev, chúng tôi và ông quyết định, làm thế nào tốt hơn để đến ban tham mưu. Bay đến bằng máy bay? (không thể đi bằng tàu hoả vì máy bay Đức hoành hành). Hay là đi bằng ô tô? Và cách nào cũng cũng không an toàn, vì máy bay chúng tôi bay đúng tầm đạn và máy bay địch hoạt động tích cực. Tàu hoả - rất chậm, mà địch ném bom và diệt nó. Cách này, nói chung, bỏ qua. Ô tô? Khi đó rất nhiều đã nói rằng xung quanh đó lính dù địch đang hoạt động, rằng kẻ địch ùa ra, như thú dữ, và cắt nát mọi giao thông, liên lạc. Điều nguy hiểm chúng tôi có thể trở thành nạn nhân của bọn lính dù.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:00:36 pm » |
|
Nhưng đường lại xa. Từ Kiev đến Tarnopol mất một số giờ đi vất vả. Trong lúc thời vụ, luá mỳ và luá mạch mọc cao, kẻ địch trên cánh đồng dễ dàng ẩn nấp, vì thế lính dù và bọn khủng bố có thể, lợi cho chúng bao nhiêu, khi lợi dụng các lùm cây. Hơn nữa chúng tôi phải đi từ biên giới cũ đến Tarnopol, đi quanh khu vực về tay chúng tôi năm 1939 sau khi Ba Lan thất bại. Dân địa phương bị nhồi sọ nặng bởi những người Ukraina dân tộc chủ nghĩa, những người này đã cộng tác với Đức. Chúng tôi cũng biết điều này. Nhưng không còn sự lựa chọn khác, vì thế quyết định di bằng ô tô. Chúng tôi lên đường. Nhiều báo động, khi chúng tôi trên đường đi, chúng tôi dừng lại để nhận thông tin về tình hình công việc. Cuối cùng vào buổi chiều chúng tôi đến ban tham mưu. Nó nằm ở tây bắc Tarnopol, nhưng gần một làng nhỏ. Tôi nhìn, có phải đây là ban tham mưu? Nhiều hố lớn đã được đào và được phủ đầy đất. Không thể làm được gì nhiều hơn nữa. Các cán bộ ban tham mưu và văn phòng sống ở nhà nông dân. Người chỉ huy quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev nương thân trong một cái lán nhỏ. Ở đó có phương tiện liên lạc, mọi người kéo đến và báo cáo. Tình thế khi đó ở mặt trận là như sau. Hiện chưa phải là thảm hoạ! Nếu theo hướng Peremysl và phía nam, thì tình thế thậm chí lại là tốt. Nam Peremysl kẻ địch không tiến hành một cái gì cả. Ở đó trải dài biên giới với Hungary, tạm thời vẫn yên tĩnh. Nhưng chính tại Peremysl, địch tiến hành tán công tương đối kiên trì, nhưng bộ đội chúng tôi (ở đó có sư đoàn №99) đang chống cự, đánh bật kẻ địch khỏi những khu vực, mà địch đã chiếm do đòn phủ đầu, và chiếm những vị trí khác trong thành phố. Về sư đoàn này, sau này người ta đã viết nhiều, và vinh danh. Nó là sư đoàn đầu tiên trong số các sư đoàn tham chiến và được nhận huân chương Cờ Đỏ, vào đúng những ngày đầu tiên của chiến tranh. Tôi không thể im lặng và nói rằng người chỉ huy sư đoàn này trước khi chiến tranh là Vlasov, sau này ông trở thành kẻ bán nước, kẻ phản bội tổ quốc. Ông là một chỉ huy rất có khả năng. Trong các cuộc thi đấu quân sự, binh đoàn Hồng quân của sư đoàn của ông chiếm vị trí đầu tiên, còn từ trước chiến tranh Vlasov đã nhận quân đoàn, chỉ huy quân đoàn, còn ban tham mưu trao sư đoàn cho thủ trưởng của mình. Dưới sự chỉ huy của ông, sư đoàn cũng thể hiện chủ nghĩa anh hùng của mình và đi vào lịch sử chiến tranh là một sư đoàn chiến đấu giỏi nhất. Các trận đánh dằng dai dọc xa lộ hướng về Broda. Như bây giờ đã được biết theo các tài liệu của bộ chỉ huy Hittler, đây là hướng đánh chính của tập đoàn quân Đức nhóm “Nam”. Trên hướng này, quân Đức bà xuyên qua tới Kiev. Không thể nói rằng quân Hittler trong những cuộc chạm trán đầu tiên đã đánh tan bộ đội chúng tôi và dồn họ phải tháo chạy. Hoàn toàn không! Bộ đội chúng tôi kiên trì chiến đấu và bẻ gẫy nhiều cuộc tấn công. Tôi rất mừng khi chúng tôi đến đó. Zukov lập tức nhận “về mình” tin tức từ bộ đội và những báo cáo của lãnh đạo, rồi đưa ra những chỉ dẫn. Thật thú vị nhìn thấy ông đã khéo léo và có kiến thức công việc để thực hiện tất cả. Tình thế ấy, chúng tôi khi đó đánh giá thậm chí là tốt hơn cho rằng chúng tôi có thể đưa ra sự chống cự cần thiết với quân Đức. Tôi không nhớ, bao nhiêu lần Zukov có mặt ở chỗ chúng tôi: một, hai, hoặc ba ngày. Sau đó có chuông điện thoại từ Moskva. Zukov nói với tôi rằng Stalin gọi cho ông: - Ra lệnh cho tất cả dừng lại và cấp tốc chuyển về Moskva. Stalin đã cho chúng tôi những lời khuyên đúng. Cần phải nói rằng trong những ngày ấy, bộ dạng của Stalin khoẻ mạnh, tự tin. Ông còn nói với tôi khi đó, rằng người chỉ huy quân đoàn chỗ tôi là yếu kém. “Làm gì đây làm? Không có tốt hơn. Phải ủng hộ ông ta”. Tôi nói với ông một cách cởi mở: - Tôi rất tiếc rằng anh bỏ đi (chúng tôi với nhau xưng “anh”). Bây giờ tôi không biết, công việc chỗ tôi ra sao ở tình thế như thế này và sự chỉ huy như thế. Nhưng không còn lối thoát khác. Chúng tôi từ biẹt và ông đi. Chẳng bao lâu, chỗ chúng tôi có những sự kiện rất nặng nề, lại ở trong vùng Broda. Ở đó xe tăng Hittler tấn công. Ở hướng này chúng tôi điều động ngoài bộ đội, đóng ở đó từ trước chiến tranh, một quân đoàn cơ giới, do chỉ huy Riabysev. Tôi không nhớ số hiệu của nó. Riabysev có một quân đoàn tốt và những xe tăng mới KV, một số chiếc, và cũng có một số chiếc xe tăng T-34. Và còn thêm một quân đoàn cơ giới, mà tôi quên họ tên người chỉ huy quân đoàn này. Trong chiến đấu, ông bị thương, và tôi không biết, sau này ông có tham gia chiến đấu nữa không. Đó cũng là một chỉ huy quân đoàn tốt gương mẫu. Chúng tôi đưa đến đó hai quân đoàn cơ giới, cho rằng đủ sức bẻ gãy cuộc tấn công của địch và cản trở ngại đường di chuyển tiếp theo của chúng. Chúng tôi không biết sự tập trung thực sự của quân địch, không biết rằng đòn tấn công chính của địch ở miền nam, mặc dù nó tấn công ở đây bằng một số lực lượng nhỏ hơn so với trung tâm tiền tuyến ở Moskva. Điều này là đương nhiên. Quân khu đặc biệt Belarussia và bộ đội chúng tôi là lớn hơn ở Kiev. Đã xác định đúng là hướng chính, sự nguy hiểm chính - dọc con đường qua Minsk đến Moskva, mặc dù Stalin nghĩ khác. Quân Đức tập trung nhiều quân dù sao chăng nữa vào hướng Kiev. Chủ yếu, chúng khởi xướng. Tại hướng này chúng tôi đã đã có một tập đoàn quân dự trữ. Chỉ huy nó là Konev. Riêng tôi không biết ông, nhưng trước chiến tranh có một lần tôi gặp ông ở Moskva. Trước đây Konev phục vụ đâu đó ở ở Siberi. Giữa ông và Bí thư tỉnh uỷ địa phương có những quan hệ xấu. Quan hệ này căng thẳng đến mức Stalin gọi cả hai người về gặp mình và chính ông dàn xếp xung đột này, phát sinh bởi một vấn đề nào đó trong sinh hoạt. Lúc đó tôi cũng nhìn thấy Konev lần đầu tiên trong đời. Konev đến Quân khu đặc biệt Kiev, quân đội của ông được bố trí, chúng tôi rất vui lòng nhận nguồn dự trữ. Chúng tôi chĩa tập đoàn quân này vào hướng Broda. Nhưng, ngay khi quân đội chúng tôi gặp địch, lại có chuông điện thoại từ Stalin: - Nhanh chóng đưa tập đoàn quân Konev và tiến hành gửi cấp tốc những đoàn tầu này theo lệnh Moskva. Lúc ấy tôi phải vật nài để lại tập đoàn quân Konev ở lại cho chúng tôi - tình thế thật nặng nề - và tôi nói: - Nếu quân Konev ở lại, thì chúng tôi có lòng tin rằng chúng tôi ổn định tình thế theo hướng Broda và chủ yếu sẽ chặn quân địch đi đến phòng thủ. Nhưng có thể chúng tôi đánh tan được bọn địch. Đúng, chúng tôi tưởng tượng là chẳng bao lâu sẽ đánh tan bọn Đức. Đây là không phải là mong úoc đơn thuần, chúng tôi đã tin vào điều này mặc dù tương quan lực lượng ở vùng này và sự có mặt của tập đoàn quân Konev, hình như dù sao chăng nữa, vẫn có lợi cho kẻ địch. Stalin lắng nghe tôi và trả lời: - Được, chúng tôi để lại một tập đoàn quân dự trữ, nhưng chúng tôi để lại chính là để làm đòn tấn công. Nhưng sau một thời gian - lại có chuông gọi từ Stalin: - Chở ngay tập đoàn quân Konev. Tập đoàn quân đã vào chiến dịch, nhưng lệnh đã đưa ra, và nó phải đi. Chúng tôi, như thế, còn lại cái gì còn ở mình như khi bắt đầu chiến tranh. Nhưng cán cân rõ ràng có lợi cho địch, nảy ra mối đe doạ nặng nề vào hướng Brodaы và Rovno. Nhưng điều này nghĩa là - vào hướng Kiev. Như thế, sườn trái của chúng tôi còn lại phía sau quân thù. Thấy rõ quân Đức bị xé ra bởi mũi thọc sâu theo hướng nam, hướng Kiev, bằng cách bỏ lại nhóm Karpat đằng sau không đánh nhau với nó. Ở đó có tập đoàn quân №6, còn chiếm Karpat, hình như, tập đoàn quân №12. Vẫn còn lơ lửng mối đe doạ bao vây của kẻ thù đối với đội quân này. Nhưng tôi, về vấn đề này, không muốn phát biểu, tôi muốn làm rõ những tình tiết khó chịu đối với chúng tôi, xảy ra với một uỷ viên hội đồng quân sự Quân khu đặc biệt Kiev. Khi chúng tôi gặp điều kiện nặng nề trong vùng Brodaы, chúng tôi và tư lệnh quân đoàn áp dụng các biện pháp để tái tổ chức bộ đội và khẳng định hướng đánh trả kẻ địch tấn công vào Broda. Để lệnh này được trao kịp thời cho người chỉ huy quân đoàn cơ giới Riabysev và một chỉ huy quân đoàn khác, tôi quên họ tên của người này, chúng tôi quyết định cử một uỷ viên hội đồng quân sự Quân khu đặc biệt Kiev để tự tay ông trao lệnh, trong đó có trình bày hướng đánh. Ông uỷ viên hội đồng quân sự đến quân đoàn. Tôi ít biết người này. Ông đến với chúng tôi từ Leningrad trước chiến tranh và gây ấn tượng tốt, đúng thế, vẻ ngoài của ông biết nói thế nào nhỉ: một người còn trẻ, dáng thẳng, lịch sự, ăn mặc chải chuốt và thu hút sự chú ý. Và tính cách của ông có. Các quân nhân đã nói với tôi rằng ông là con người có điều tiếng. Người ta kể rằng ông đánh giá thấp tư lệnh quân đoàn Quân khu đặc biệt Kiev và cho rằng bản thân ông giỏi hơn ông tư lệnh và có thể có lợi hơn người đang giữ chức tư lệnh. Tất nhiên chưa chắc ông đã nói với ai đấy về điều này. Đây là sự kết tội của những người làm việc ở ban tham mưu. Đây chỉ là ý kiến cá nhân. Nhưng đương thời ông làm công việc của mình. Tôi xem xét ông: ông là con người không ngốc, vì thế tôi không có điều gì xấu chống ông ta, và không thể có.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:01:43 pm » |
|
Trước chuyến đi vào quân đoàn cơ giới ông rẽ vào chỗ tôi vào một buổi chiều. Bởi vì chỗ chúng tôi ở rất dở, chỗ làm việc và chỗ sinh hoạt chỉ ở một phòng, cùng với chỗ sĩ quan trực nhật. Chúng tôi ngủ trong lúc làm việc hoặc ngồi. Chúng tôi làm việc không theo lịch trình hàng ngày, chúng tôi vẫn còn không bị cuốn vào bầu không khí chiến tranh. Và khi ông uỷ viên hội đồng quân sự rẽ vào chỗ tôi, rồi đề nghị tôi ra ngoài, bởi vì khác đi không thể tiến hành cuộc nói chuyện tin cậy. Tôi ra ngoài. Ông nói với tôi: - Tôi xem rằng ông phải nhanh chóng viết cho đồng chí Stalin rằng cần phải thay tư lệnh quân đoàn quân khu Kiev. Kirponos hoàn toàn vô dụng với chức năng tư lệnh. Tôi kinh ngạc. Chiến tranh mới bắt đầu, mà một uỷ viên hội đồng quân sự, một chuyên gia quân sự, đặt vấn đề thay thế tư lệnh. Tôi trả lời: - Không thấy cơ sở để thay thế, hơn nữa chiến tranh mới được bắt đầu. - Ông ta yếu kém. Tôi nói: - Tính nhu nhược và sức lực được mọi người kiểm tra ở công việc. Vì thế tôi giả thiết rằng phải kiểm tra xem ông ta có yếu không”. Tôi cũng biết viên tư lệnh không nhiều hơn ông uỷ viên hội đồng quân sự. Biết họ tên và mặt mũi, nhưng về chất lượng công việc không thấy có biểu hiện gì. Một người mới đến và giữ một chức vụ lớn như vậy. Nhưng tôi không muốn ngay lập tức ở lần gặp đầu tiên lại đề cập việc thay đổi thành phần chỉ huy. Tôi nói tiếp: - Điều này gây ấn tượng rất xấu, tôi cũng không thấy có cơ sở, tôi không đồng ý. Sau đó tôi hỏi: - Ông xem ai làm tốt hơn? Ai có thể được bổ nhiệm thay thế Kirponos? Ông trả lời: - Tham mưu trưởng, tướng Pukaev. Tôi có ý nghĩ rất tốt về Pukaev, tuy nhiên tôi nói: - Tôi kính trọng Pukaev và tôi đánh giá cao, nhưng tôi không thấy có gì thay đổi, nếu chúng tôi thay Kirponos bằng Pukaev. Để lãnh đạo chiến đấu, cũng chẳng cần thêm một cái gì đấy, vì rằng Pukaev - tham mưu trưởng và cũng tham gia bàn bạc những quyết định được chấp nhận (tôi nhớ rằng tham mưu trưởng cũng nằm trong hội đồng quân sự Quân khu đặc biệt Kiev). Kiến thức và kinh nghiệm của tướng Pukaev chúng tôi cũng hoàn toàn dùng và sẽ dùng tiếp tục. Tôi không đồng ý. Ông uỷ viên hội đồng quân sự chạy về đơn vị, nhưng quay lại vào sáng sớm và gặp tôi. Bộ dạng ông xúc động một cách lạ lùng, một điều gì đó làm ông vô cùng to lớn xúc động. Ông đến đúng lúc, trong phòng không có ai cả, tất cả đã đi ra ngoài và ông nói với tôi rằng ông quyết định tự tử. Tôi nói: - Ông làm sao thế? Ông nói những điều ngốc nghếch ấy để làm gì? - Tôi có lỗi ở chỗ đã đưa một chỉ dẫn không đúng cho ban chỉ huy quân đoàn cơ giới. Tôi không muốn sống. Tôi tiếp tục: - Cái gì xảy ra thế? Ông trao mệnh lệnh cơ mà? - Đúng, tôi trao. - Chính là trong mệnh lệnh đã nói cách họ hoạt động và sử dụng quân đoàn cơ giới. Nhưng ông liên quan gì đến việc đó? - Không, tôi cho họ sau đó những chỉ thị miệng, mà cái đó ngược với mệnh lệnh này. Tôi nói: - Ông không có quyền làm điều này. Nhưng nếu ông cũng đã cho chỉ thị như thế, đằng nào cũng thế, ban chỉ huy quân đoàn không có quyền theo nó, mà cần phải thực hiện chỉ dẫn, được nêu trong mệnh lệnh và được ký bởi tư lệnh mặt trận và tất cả các uỷ viên hội đồng quân sự. Những chỉ thị khác không còn hiệu lực đối với ban chỉ huy quân đoàn. - Không, tôi ở đó… Ngắn gọn, tôi thấy rằng ông gây với tôi một cuộc tranh cãi, chẳng có chút gì lập luận, còn bản thân ông - trong trạng thái sốc. Tôi nghĩ rằng nếu không khuyên nhủ người này, mà xử lý với ông ta nghiêm khắc hơn, thì sẽ kéo ông ra khỏi trạng thái sốc, ông tìm thấy nội lực và quay về trạng thái bình thường. Vì thế tôi nói: - Ông nói cái gì ngu ngốc thế? Nếu quyết định tự bắn mình, thì còn chần chừ gì nữa? Tôi muốn kìm lại những lời nói xẵng của ông để ông cảm thấy rằng ông can dự tính tội ác trong quan hệ bản thân. Nhưng ông bỗng nhiên rút súng lục ra (chúng tôi và ông ta hai người đứng đối diện nhau), đặt vào thái dương của mình bóp cò và ngã xuống. Tôi bỏ chạy ra ngoài. Lính bảo vệ vây quanh nhà. Tôi gọi lính bảo vệ, ra lệnh lấy xe và chở ông ta vào bệnh viện. Ông vẫn còn có dấu hiệu sự sống. Người ta chở ông vào bệnh viện, nhưng chẳng bao lâu ông chết ở đó. Sau đó đã được nghe kể từ trợ lý của ông ta và những người, cùng với ông đến quân đoàn: khi quay về từ tiền tuyến, thì ông rất xúc động, không nghỉ, thường chạy vào nhà vệ sinh. Tôi giả thiết rằng ông làm điều này không phải do nhu cầu sinh hoạt, mà, hình như muốn tự sát ở đó. Có trời mà biết. Tôi không thể bấy giờ xác định sự lãng mạn của ông. Rõ ràng là ông luống cuống. Sau đó đến với tôi và tự bắn mình. Tuy nhiên trước đó, ông nói chuyện với những người, trực tiếp tiếp xúc với ông, và họ đã nghe lời ông nói. Ông cho rằng tất cả sẽ chết, chúng tôi rút lui, tất cả sẽ xảy ra như ở Pháp. “Chúng tôi chết!” - đó là nguyên văn lời ông ta. Tôi giả thiết rằng điều này cũng dãn ông vào ngõ cụt, và lối thoát duy nhất mà ông nhìn thấy - kết liễu cuộc sống bằng tự sát. Ông cũng xử sự như thế. Sau đó tôi viết điện mật gửi Stalin, viết về cuộc nói chuyện của chúng tôi. Có những tài liệu tôi bây giờ giữ trong trí nhớ. Tôi nghĩ rằng, tôi nói chính xác, kết luận có thể, trật tự của sự giãi bày. Tôi mô tả bản chất, như nó đã có trong đời. Thậm chí ông uỷ viên hội đồng quân sự, người giữ chức vụ cao, đã rét cóng. Không phải thể xác nhát gan, không, ông rét cóng về mặt tinh thần, mất tự tin về khả năng đánh lui cuộc xâm lăng của Hittler. Đáng tiếc, điều này khi đó không phải là trường hợp duy nhất. Cũng xảy ra những trường hợp như thế và với viên chỉ huy khác. Bầu không khí là như thế. Nhưng chúng tôi vẫn còn hàng chục ngày không ở trong trạng thái chiến tranh. Tôi quay về tình hình mà tôi nói trước đây bằng sự mô tả trường hợp với ông uỷ viên hội đồng quân sự. Như vậy, chúng tôi nhìn thấy rằng quân địch hầu như không tiến hành những hành động tích cực chống lại tập đoàn quân Muzychenko và tập đoàn quân №12 Ponedenin. Có sự phớt lờ rõ ràng sườn trái chúng tôi từ phía bọn Đức. Nhưng họ hy vọng sau khi quân đoàn xe tăng thọc sâu cánh phải, bao vây bộ đội chúng tôi và tiêu diệt hai tập đoàn quân này. Vì thế chúng tôi và tư lệnh quyết định rút tập đoàn quân №6, ban tham mưu của nó ở Lvov, còn bản thân quân đoàn đóng ở biên giới, bắc Peremyslя. Bộ đội của quân đoàn rút lui. Tôi không nhớ, họ rút lui bao nhiêu kilomet, nhưng kẻ địch thậm chí không đuổi theo họ. Và bỗng nhiên chúng tôi nhận chỉ thị từ Moskva - che giấu rằng bộ đội rút lui. Chấp hành lệnh - cho bộ đội quay lại để chiếm đường biên giới, như đã chiếm nó trước đây. Chúng tôi trả lời rằng: - Vì cái gì mà phải chiếm nó? Không tiến hành các hoạt động quân sự chống hai tập đoàn quân này. Kẻ địch tập trung sức mạnh chính theo hướng Broda, mưu đồ của chúng thấy rõ. Địch có thể bao vây bộ đội chúng tôi, nhưng họ sau này không thoát khỏi đòn đánh vào sườn. Nhưng người ta ra lệnh cho chúng tôi đưa tập đoàn quân quay lại, và chúng tôi đã làm điều này. Tôi rất giận và cay đắng chấp hành như thế. Trong tôi có ấn tượng rằng hai tập đoàn quân có thể chết. Họ sẽ đánh nhau trong vòng vây, nhưng họ không được sử dụng một cách hiệu quả như chúng tôi đưa họ về hướng đánh chính của quân thù. Tuy nhiên mệnh lệnh là mệnh lệnh và chúng tôi thực hiện nó. Tôi giả thiết rằng khi đó (bây giờ tôi không nhớ, có phải chính Zukov gọi điện từ Moskva về vấn đề này?), Zukov không đúng. Tôi mang trong mình ý nghĩ này suốt nhiều năm, và khi cách chức Zukov năm 1957, tôi phát biểu phê bình hoạt động của ông, quay về thời điểm những ngày đầu chiến tranh, cấm rút quân đội khỏi khu vực Peremyslя và Lvov. Do tập đoàn quân №6 bị tiêu diệt sau đó trong vòng vây, cũng như cả tập đoàn quân №12 cũng chết. Tôi nói: - Một người chỉ huy có khả năng như Zukov, mà cũng mắc sai lầm. Ông trả lời: - Đó không phải là sáng kiến của tôi, đó là chỉ thị của Stalin. Bây giờ tôi không thể tranh cãi với ông ấy, nếu như đó là chỉ thị của Stalin. Có thể, tất nhiên, có những cái như thế, nhưng trên cơ sở báo cáo của Zukov, vì rằng Zukov vừa mới từ mặt trận quay về Moskva, và, tôi nghĩ, trong vấn đề này ông là cố vấn chính. Nếu ông nói rằng lệnh của hội đồng quân sự Quân khu đặc biệt Kiev là đúng, thì Stalin, để tránh những tập đoàn quân này bị bao vây, có thể là, và không đưa chỉ thị của mình cho tập đoàn quân quay lại. Nhưng bây giờ tôi không biết cụ thể người khởi xướng mệnh lệnh này và, tiếp theo, người có tội thật về cái chết của hai tập đoàn quân, rơi vào thế bị bao vây sau đó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:02:44 pm » |
|
Bạn có thể hình dung thời kỳ nặng nề đối với chúng tôi, khi Hittler huy động những binh đoàn cơ giới hoá cao và sung sức đánh nhau với chúng tôi, chúng tôi bị tước đoạt sức mạnh của hai tập đoàn quân №6 và №12? Họ rút lui, quân Đức tấn công họ và cuối cùng bao vây họ trong vùng Umani. Cả hai tập đoàn quân cùng với ban tham mưu và chỉ huy bị bắt làm tù binh. Nếu chúng tôi có thể trước đây dùng tập đoàn quân №6, thì có thể lấy một phần của nó những sư đoàn, để tổ chức đánh vào sườn kẻ thù trong vùng Broda. Không biết, cái gì xảy ra. Nếu thậm chí chúng tôi không cầm giữ quân thù hoàn toàn và không đánh tan nhóm này, thì trong mọi trường hợp chúng tôi cũng làm kiệt sức quân Đức một cách đáng kể và cầm chân trong một thời gian nào đấy. Tại hướng chúng tôi, có một bầu không khí hoàn toàn khác. Nhưng chúng tôi bị loại bỏ bởi những khả năng như thế. Vì sao tôi nói điều này? Ít người tin chúng tôi. Sự can thiệp từ trên có một phần, và không phải luôn luôn nó là khôn ngoan, hợp lý. Sự can thiệp, đáng giá nhiều mạng sống và máu. Lúc ấy - trong đầu tiên, nhưng tiếp theo, tôi sẽ dẫn thêm nhiều trường hợp khác, cũng đáng giá hàng nghìn, hàng nghìn nạn nhân, mà những trường hợp này là hoàn toàn không cần thiết và có thể tránh được, nếu như có lòng tin vào chỉ huy mặt trận và hội đồng quân sự của họ. Sau một vài ngày, lại không phải theo sáng kiến của mình mà theo chỉ thị từ Moskva, chúng tôi rút lui từ chỉ huy sở. Họ ra lệnh cho chúng tôi chuyển ban tham mưu về Proskurov, có nghĩa là chúng tôi rút về sâu. Chúng tôi ngạc nhiên, bởi vì tại hướng chúng tôi, tình hình chưa đến nỗi xấu như thế, liệu có buộc phải áp dụng những biện pháp: rút lui và bố trí ban tham mưu vào sâu sau những quân đoàn chúng tôi. Nhưng đó là chỉ dẫn từ Moskva. Tôi không nhớ, gửi cho ai, nhưng tất cả cho rằng gọi từ Moskva, nghĩa là - chỉ thị của Stalin. Chúng tôi rút lui và di chuyển. Đó là một bức tranh khủng khiếp. Hàng trăm ô tô di chuyển từ tiền tuyến về phía sau cùng với các gia đình sĩ quan. Có nhiều gia đình sĩ quan ở Lvov, Drogobychе, Peremyslе. Cùng đi với họ là những người chạy nạn. Nhưng không có nông dân trong số này. Nông dân miền tây Ukraina không đi khỏi bọn Đức. Hình như điều này liên quan tới kết quả sự tuyên truyền những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina, những người chờ đợi bọn Đức với cảm tình hơn chúng tôi. Nông dân bị lừa bằng lời hứa rằng Hittler sẽ giải phóng Ukraina. Nọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina và bọn tuyên truyền lừa phỉnh nông dân như thế đấy. Ngay khi chúng tôi đến Proskurov và triển khai ban tham mưu, thì Stalin gọi. Tôi nói chuyện với ông. Stalin nói: - Anh bây giờ đi về Kiev và ở Kiev nhanh chóng tổ chức phòng thủ mó. Chúng tôi đã làm như thế, mặc dù không biết cái gì được làm ở sườn phải của mặt trận. Tình thế ở mặt trận phía Tây, chúng tôi cũng không biết. Chúng tôi về Kiev, còn quân địch di chuyển theo chúng tôi đúng theo dấu vết, nhưng theo con đường khác: chúng tôi - theo Tarnopolsk, còn địch, tiêu diệt lực lượng chúng tôi ở hướng Broda-Rovno-Korosten. Đi lên phía bắc với tốc độ lớn. Và dưới Kiev tình hình chính xác là không còn tin cậy. Bây giờ tôi không thể nói, ngày chiến tranh là như thế nào. Bộ đội thực tế không có, mặt trận bị vỡ. Kẻ địch vượt lên phía trước bằng quân đoàn cơ động, còn bộ đội chúng tôi nằm xa về phía sau lưng chúng và ở đó tiến hành chiến đấu. Kẻ địch tiến gần Kiev, vượt qua Irpen. Sông Irpen - không lớn, nhưng lầy lội. Trước con sông này, ngay từ năm 1928-1930 đã xây dựng một vùng phòng thủ vững chắc thuộc Kiev. Ở đó có hầm ngầm bê tông và phá, nhưng có trước đây thôi: chúng đã bị phá huỷ đề nghị của Mekhlix. Stalin ra lệnh tháo bỏ chúng, để sự chỉ huy chúng tôi không nhìn về phía sau, còn dồn sức củng cố sự vững mạnh biên giới mới, mà chúng tôi đã có được do sự thất bại chẳng Ba Lan trước Đức. Còn bây giờ, khi chúng tôi cần khu vực phòng thủ vững chắc như thế, thì nó lại bị phá huỷ. Công sự bê tông được giữ lại, nhưng vũ khí trong đó thì không có: không pháo, không súng máy và không có bộ đội. Vì thế chúng tôi bắt đầu thu nhặt đúng là tất cả những gì có thể: súng trường, pháo v.v… để phòng thủ. Người ta bổ nhiệm tướng Parusinov chỉ huy khu này. Bây giờ tôi không biết một tí gì về ông. Ông khi đó đã có tuổi. Tôi có ấn tượng tốt về ông. Nhưng ở thời điểm đó, ông nhận việc hậu cần. Tôi không nhớ, chức vụ của ông được gọi như thế nào khi đó. Theo tôi, thủ trưởng hậu cẩn mặt trận, nhưng không đúng lắm. Nhưng chúng tôi cũng không có người khác và chúng tôi bổ nhiệm ông. Ông có lần phân tích cái gì chúng tôi có và cái gì chúng tôi gom được xây dựng phòng thủ thành phố. Nhưng quân Đức bố trí bên bờ tây sông Irpen. Quân Đức không tiến hành một mưu toan nào cả vượt sông Irpen. Một chiếc cầu ở đó bằng gỗ ọp ẹp. Chúng tôi cho nổ nó, tất nhiên. Tôi nghĩ rằng quân Đức đột phá tất cả bằng một số xe tăng tiên tiến, nhưng bộ binh họ không có, và vượt qua trở ngại này (tôi đã nói, không phải là sông mà là bùn) họ không bắt đầu. Tình hình của chúng tôi là nặng nề nhất. Có người nói đùa rằng, địch đến Kiev, vượt qua sông Irpen! Trong thành phố được bắt đầu hoảng loạn. Điều này là đương nhiên. Tôi nhớ, vào ban đêm (tôi ngồi trên ghế băng) tướng Astakhov tư lệnh không quân Quân khu đặc biệt Kiev đến gặp tôi. Ông là một con người đứng đắn, tận tâm, vẻ bề ngoài chững chạc và mập mạp. Ông theo bề ngoài của mình dường như tượng trưng cho sự điềm tĩnh. Ông nói: - Chúng tôi đã bị gần như mất sạch máy bay trong các trận chiến đấu. Nhưng bây giờ quân địch không cho chúng tôi mũi hở ra nữa. Và khóc nức nở. Tôi bắt đầu an ủi ông, nhưng sau đó quát ông ta: - Hãy bình tĩnh, đồng chí Astakhov! Hãy nhìn, mọi người đi lại, nhìn thấy một viên tướng trong trạng thái như thế. Chúng ta phải chiến đấu phải và, tiếp theo, phải làm chủ bản thân. Đối với ông, điều này có tác dụng, nhưng mãi một lúc lâu, ông vẫn chưa bình tâm. Astakhov - một con người rất hiểu biết công việc. Nhưng trước đây ông là người tự tin, như những người khác, chúng tôi kênh kiệu rằng biên giới chúng tôi “bị khoá”, như lời bài hát, và rằng chúng tôi sẽ chiến đấu trên vùng đất lạ. Và bỗng nhiên chúng tôi chỉ sau một vài ngày bắt đầu chiến tranh lại dồn về Kiev. Trong tình thế bằng cách nào đó giữ Kiev, không có lực, không vũ khí, không bộ đội. Tất cả những gì, chúng tôi có thể, chúng tôi mang ra để tổ chức phòng thủ Kiev. Kiev không đầu hàng! Hãy chống cự kẻ thù! Chúng tôi xây dựng tuyến phòng thủ từ phía tây theo dòng chảy sông Dnepr, bên phải Kiev, có sườn phải cao hơn thành phố. Nhưng từ phía nam đến bờ nam của Kiev có một khoảng không tương đối lớn, mà bộ đội chúng tôi chiếm giữ. Trước hết, theo hướng này rút lui tập đoàn quân №6 và №12. Họ bị bao vây, nhưng vẫn đánh nhau và gây cho địch tổn thất tương đối lớn. Chúng tôi tổ chức công việc sao cho từ phía đông xé tung vòng vây và giúp những tập đoàn quân này thoát khỏi khỏi vòng vây. Trong quá trình rút lui, ban tham mưu của hai tập đoàn quân được sát nhập. Để bảo vệ Kiev chúng tôi quyết định xây dựng tập đoàn quân mới và đặt tên nó là №37. Chúng tôi bắt đầu tìm kiếm tư lệnh. Chúng tôi cùng với Kirponos đề nghị một loạt tướng, những người đã mất quân của mình và ở trong sự sắp xếp. Trong số đó, gây ấn tượng rất tốt là Vlasov. Và chúng tôi quyết định bổ nhiệm chính Vlasov làm tư lệnh. Ban cán bộ của Quân khu đặc biệt Kiev cũng giới thiệu ông và đưa ra tính cách có ưu thế hơn người khác. Tôi không biết Vlasov, không biết các tướng “tự do” khác, thậm chí tôi không nhớ họ tên của họ nữa. Nếu yêu cầu bằng chứng, thì tôi có người làm chứng, bây giờ vẫn còn sống, khoẻ mạnh, và tôi mong ông sống đến nghìn tuổi - Ivan Christoforovich Bagramian. Ông là khi đó theo chức danh là trung tá trưởng bộ phận tác chiến thuộc ban tham mưu mặt trận Tây Nam. Một người rất đứng đắn, một cán bộ quân sự tốt, và tác chiến giỏi, có vai trò lớn trong việc tổ chức chống cự cuộc xâm lăng của Hittler trên khu vực ông được trao làm việc này. Và dù sao chăng nữa tôi quyết định hỏi Moskva. Chúng tôi khi đó có một ấn tượng là ở khắp mọi nơi đều có kẻ thù nhân dân, đặc biệt trong hồng quân. Và tôi quyết định hỏi Moskva, xem có tài liệu nào về Vlasov, tính cách ông ta ra sao, có thể tin Vlasov được không và bổ nhiệm làm tư lệnh tập đoàn quân bảo vệ Kiev. Bộ đội - không có, phải gom nhặt họ, và tất cả phải làm ban chỉ huy mới. Tôi gọi điện cho Malenkov, gọi mãi mà không có ai. Bởi vì Malenkov làm về tổ chức cán bộ Ban chấp hành Trung ương, câu hỏi này cũng phải tới ông. Sự thật ông cũng chẳng biết gì về Vlasov, nhưng những người trong Bộ tổng tham mưu làm về tổ chức cán bộ cần phải nói cho ông suy nghĩ của mình. Tôi hỏi Malenkov: - Có thể, nhận ra Vlasov có tính cách gì? Malenkov trả lời: - Anh đơn giản không giới thiệu cái gì ở đây được làm. Không thể biết ai và cái gì cả. Vì thế hãy nhận về mình hoàn toàn trách nhiệm và hãy làm nếu anh xem là cần thiết. Ở tình thế công việc như thế, mặc dù tôi không có số liệu nào về Vlasov, chúng tôi biết rằng quân đội giới thiệu chính ông. Vì thế chúng tôi và Kirponos quyết định bổ nhiệm Vlasov chỉ huy tập đoàn quân №37. Ông bắt đầu tiếp nhận casc chiến sĩ từ các bộ phận rút lui hoặc thoát khỏi vòng vây. Sau đó nhận sự bổ xung nhận nào đấy. Chẳng bao lâu, có mặt một quân đoàn bộ binh nguyên vẹn dưới sự chỉ huy của tướng Kylesov. Quân đoàn này đến từ bắc Kavkaz. Quân đoàn là tốt, nhưng thiếu chuẩn bị. Về mặt tinh thần quân đoàn chưa được chuẩn bị, chưa từng trải, điều này đương nhiên, thì chiến tranh bắt đầu. Chúng tôi đưa nó vào vùng phòng thủ vững chắc Kiev và đặt vào vùng xung yếu nhất - bảo vệ rừng Goloseevsky, đường tiến trực tiếp đến Kiev từ phía nam. Chúng tôi chờ đợi cuộc tấn công không phải từ phía bắc. Ở đó điều kiện thiên nhiên khó khăn, chúng tôi được che chở bởi Irpen. Sau đó ở đây có tập đoàn quân №5 trong trạng thái tương đối đầy đủ. Chỉ huy viên nó là tướng Potapop.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:03:51 pm » |
|
Láng giềng của ông tại tiền tuyến là tư lệnh Muzychenko. Trước chiến tranh, người ta nghi ngờ Muzychenko: phải chăng ông là kẻ phản bội trong hàng ngũ Hồng quân? Vì sao mà người ta nghĩ như thế? Trước chiến tranh ông vào bộ đội, để rèn luyện, hay thuần tuý kiểm tra ở biên giới. Ban tham mưu tập đoàn quân №6 đóng ở Lvov. Ở nhà, ông có một người vợ. Nhưng ông còn lại còn có một phụ nữ - nội trợ. Một thanh niên như thế này mà theo đuổi cô ta, và cũng chẳng có gì trái với quy luật tự nhiên. Hình như Muzychenko và vợ lại liên quan tới điều này. Nhưng, như được thấy, việc theo đuổi này không đơn giản chỉ là sự hào hứng. Ở đây sự theo đuổi lại vì mục đích chính trị, tình báo. “Người theo đuổi” này đã chọn thời điểm, khi Muzychenko đi bộ đội (trước đó ông có cho mình cái quyền vào nhà và làm quen những người trong gia đình liên quan tới sự xuất hiện của ông), và xuất hiện vào ban đêm. Vợ của Muzychenko đang ngủ. Bỗng nhiên cửa mở, ông đi vào giường ngủ và hỏi chìa khoá két sắt. Bà khiếp sợ. Sau đó bà nhớ lại thế này: - Tôi đang ngủ. Không quần áo. Ông đến, láo xược ngồi lên giường và giọng khá lễ độ, bắt đầu nói chuyện. Ông không thể hiện một ý đồ đén danh dự của tôi và nói chuyện nhã nhặn nhưng đòi chìa khoá. Tôi nói với ông, rằng tôi không có chìa khoá. Người chỉ huy không bao giờ bỏ quên chìa khoá, nữa là tôi, ông luôn luôn mang chúng theo người hoặc gửi đâu, tôi không biết. Tôi cũng không có liên quan gì đến chìa khoá và chẳng thể nào thực hiện yêu cầu của ông. Ông vẫn kiên trì đòi chìa khoá, mặc dù ông đã pha trò để không doạ, có thể là, tôi bình tâm, để tôi trả ông chìa khoá. Sự việc kết thúc, ông ra đi. Điều này được mô tả tương tự, hình như trong lưu trữ của cơ quan an ninh: vợ Muzychenko đưa chứng cớ. Cô gái ô-sin bỏ chạy. Lúc đó rõ ràng là cô gái này được bọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina mật phái đến. Cô ta cũng dẫn dắt điệp viên này của tình báo Đức, kẻ muốn chiếm chùm chìa khoá nhưng không nhận được nó. Khi Stalin biết về trường hợp này, thì ông hỏi tôi về việc Muzychenko. Tôi trả lời rằng chúng tôi tuyệt đối không có dữ liệu nào để nghi ngờ vị tướng. Tôi đã dò hỏi nhiều người, và tất cả đều đánh giá ông ta có tư cách tốt ở vị trí quân nhân, vị trí con người và vị trí Đảng viên. Ở đây, hình như hiện diện một cách đơn giản sự trơ trẽn của tình báo nước ngoài. Vợ ông cũng không thể là điệp viên. Không có tư liệu gì cả về điều này. Những người biết bà, cũng nói rằng bà là một phụ nữ đứng đắn. Vấn đề Muzychenko đứng trước một con dao sắc: dùng ông hoặc cách chức chỉ huy tập đoàn quân? Người ta suy nghĩ khá lâu và dù sao chăng nữa quyết định giữ ông lại. Muzychenko tiếp tục chỉ huy tập đoàn quân №6. Ông có được sự tín nhiệm hoàn toàn, dù có sự cố này, hoàn toàn, bỏ lại dấu tích, nhưng trong công việc, tôi nghĩ, cũng chưa bị cắt hết. Sau vụ này tôi tin tưởng ông như trước kia. Bây giờ tập đoàn quân của ông tác chiến ở nam Kiev. Nguy hiểm chủ yếu đối với Kiev chính là từ phía nam, từ phía Nhà thờ trắng. Việc xây dựng phòng thủ được triển khai cả ở đấy. Sau một thời gian quân Đức kéo quân và khởi đầu trực tiếp chiến dịch chiếm Kiev. Tôi nhớ rằng khi đó tình hình khó khăn theo hướng Nhà thờ trắng, chúng tôi và Kirponos quyết định đến chỗ bộ đội, đánh giá tình hình và áp dụng các biện pháp bộ đội chúng tôi không bỏ chạy. Trong thời gian này ban chỉ huy mặt trận nằm ở Brovar, bên bờ đông sông Dnepr, cách Kiev 25 km theo hướng Chernigov. chỉ huy sở bằng bê tông, được xây dựng cơ bản trong thời gian hoà bình dành cho ban tham mưu Quân khu đặc biệt Kiev trong Sviatosino, bây giờ là chỗ ban tham mưu tập đoàn quân №37. Tôi không nhớ tên tham mưu trưởng tập đoàn quân, nhưng ông cũng gây ấn tượng tốt với tôi. Chúng tôi tới ban tham mưu tập đoàn quân cùng với Kirponos và trước tiên gặp tham mưu trưởng. Vì lý do gì không có mặt người chỉ huy tập đoàn quân. Sau đó ông cũng đến. Vlasov trình bày tình hình, nói tương đối bình tĩnh, và tôi thích. Giọng ông tự tin và ông nó với sự hiểu biết công việc. Chúng tôi đề nghị đi đến khu rừng Goloseevsk, nơi bố trí một quân đoàn bộ binh gồm 3 sư đoàn. Trước đó, chúng tôi đã đến quân đoàn Kylesov. Tại lần chạm trán đầu tiên với quân địch, các chiến sĩ của quân đoàn này thể hiện mình rất kém. Khi hoảng loạn, quân đoàn rút lui. Phát sinh sự nguy hiểm là mọi người chạy tán loạn. Lúc chúng tôi đến đó để vãn hồi trật tự. Một toà án quân sự được lập ra. Đội quân đánh chặn được mang ra. Tất cả các biện pháp được chấp nhận trong trường hợp như thế để phục hồi trật tưh và kỷ cương, kỷ luật đã được sử dụng. Biện pháp cứng rắn! Phiên toà diễn ra trên chiến trường. Lúc ấy những nghiệt ngã bản án được thi hành, những bản án đó là cần thiết chỉ trong những tình thế khó khăn như vậy. Chúng tôi nhận thấy Kylesov chỉ huy kém quân đoàn. Có thể khi đó chúng tôi nóng nảy, vì rằng ông không có kinh nghiệm, cũng như quân lính của ông. Ông cũng là một người chưa từng trải. Chúng tôi cách chức ông và bổ nhiệm người chỉ huy mới quân đoàn. Bây giờ tôi không nhớ họ tên của ông, về dân tộc ông là người Do Thái. Khi chúng tôi đi đến đó lần thứ hai, thì chỉ huy quân đoàn là một chỉ huy mới. Vlasov cùng đi với chúng tôi. Tình hình thế này: quân Đức bắn pháo cối và dùng máy bay ném bom khu vực này. Khi chúng tôi đến gặp viên chỉ huy, ông ngồi trên một cái ghế dã chiến, còn chiếc bàn trước mặt ông phủ vải điều. Có một chiếc điện để trên. Có một chiếc hầm được đào. Có một số người ở đó với ông. Ông báo cáo tình hình cho chúng tôi. Trong thời gian này quân Đức bắn chúng tôi bằng súng cối và súng máy, nhưng không nhìn thấy chúng, chỉ nghe tiếng ầm ầm trong rừng. Vlasov giữ bình tĩnh (tôi nhìn quanh ông ta). Ông ta có một chiếc ba toong cắt ra gỗ cây phi tử. Ông dùng ba toong này gõ nhè nhẹ ủng. Sau đó ông đề nghị chui vào hầm để tránh những điều rủi ro. Một mảnh đạn bất kỳ có thể đâm vào chúng tôi. Chúng tôi nghe lời khuyên của ông, leo vào hầm. Ở đó chúng tôi nghe báo cáo. Người chỉ huy quân đoàn gây cho tôi một ấn tượng rất tốt bằng sự bình tĩnh, tự tin và hiểu biết tình hình. Chúng tôi ra đi, chúc ông thành công. Budienyi đến gặp chúng tôi trong khi cuộc chiến đấu phòng thủ Kiev. Tôi hỏi: - Cái gì đã được làm ở mặt trận khác? Tôi không biết một cái gì cả, không nhận được thông tin gì cả. Ông, Semen Mikhailovich, từ Moskva. Liệu ông biết chứ? - Đúng, tôi biết và tôi sẽ kể cho anh. Và ông từng chuyện một kể cho tôi rằng mặt trận phía tây đúng gục trong trận đọ súng đầu tiên và bị băm nhỏ ra. Ở đó không thể tổ chức những sự chống cự cần thiết đối với địch. Địch lợi dụng sự ngơ ngá của chúng ta và đã tiêu diệt không quân tiền tuyến của chúng ta bay ở nhiều, cũng còn gây ra những tổn thất lớn cho bộ đội mặt đất từ 22 tháng sáu, ngày tấn công đầu tiên. Mặt trận tan vỡ. Stalin cử Kulik đến đó để giúp bổ xung quân số. Nhưng tôi không có một tin tức gì cả về nguyên soái Kulik. Cái gì xảy ra với ông, tôi không biết. Tôi thương xót: - Tiếc quá, Kulik bị giết. Budienyi nói: - Nhưng anh đừng thương xót ông ta. Và điều này được nói bằng giọng như thế để hiểu rằng ở Moskva người coi Kulik là kẻ phản bội, rằng ông, hình như bán mình cho kẻ địch. Tôi biết Kulik, coi ông là một người tự trọng và vì thế tôi nói rằng tôi thương ông ta. - Này, anh đừng thương ông ta, đừng thương ông ta - Budienyi nhắc lại. Tôi hiểu rằng, hình như ông có một cuộc nói chuyện nào đấy về điều này với Stalin. Vì cái gì Budienyi đến, khó nói. Ông lưu trú ở chúng tôi ngắn ngủi. Nhưng một buổi chiều ông hỏi: - Chúng ta sẽ nghỉ ngơi ở đâu nhỉ? Thôi chúng ta cùng nhau ngủ. Tôi đồng ý. - Nhưng ở đâu? Chỗ anh à? Anh nghỉ ở đâu? Tôi nói: - Chỗ đấy chỗ nọ tôi thường nghỉ. Chúng tôi đi khỏi nhà. Nhìn bề ngoài đây là một cái lều dã chiến và bên trong chất cỏ khô. - Ở đây tôi cũng hay ngủ trong lều. - Anh ở thế này ư? Tôi giải thích cho ông: ở đây, nơi đóng ban tham mưu của chúng tôi, bùn lầy, không thể đào hầm, vì có nước. Vì thế tôi ngủ trong một trong lều dưới hầm tránh bom. Budienyi nói: - Thôi được. Nếu anh ở đây, tôi cũng ở cùng với anh. Và chúng tôi ngủ một vài giờ, nghỉ ngơi. Sáng sớm, chúng tôi bị đánh thức bởi không quân Đức. Máy bay lượn trên làng mạc và ném bom. Phòng không chúng tôi bắn trả. Chẳng thấy trúng viên nào vào máy bay cả. Còn máy bay của chúng tôi không xuất hiện. Tôi giận và nổi khùng về điều này. Tôi hỏi Astakhov: - Thế này là thế nào? Vì sao bọn chúng bay và ném bom mà không bị đánh trả, chúng ta không thể làm một cái gì được à? Quân Đức ném bom xong và bay đi. Astakhov báo cáo: - Chừng này máy bay bị bắn rơi. Tôi hỏi: - Rơi ở đâu? Tôi không thấy chúng bị rơi. - Chúng rơi ngoài sông Dnepr. - Hừ, nếu chúng rơi sau sông Dnepr, thì có thể báo cáo, chúng bị rơi thậm chí nhiều hơn. Tôi nghĩ rằng Astakhov đã có lỗi. Có thể tiêu diệt được một cái gì đó, nhưng tôi rất thất vọng về lời nói của ông ta, và tôi nói: - Các chiến sĩ nhìn thấy quân Đức bay mà không bị đánh trả như thế nào, còn chúng ta không gây cho địch tổn thất. Chẳng bao lâu sau, Budienyi ra về. Ông không thăm bộ đội, mà quay về Moskva. Ông đến đây với nhiệm vụ gì (không thể đây là chuyến tham quan), tôi không biết, còn ông không nói gì với tôi về điều này. Đơn thuần người ta nói chuyện với ông. Ông nghe tình hình, nghe tư lệnh quân đoàn và trong ban tác chiến Bagramian. Cuộc nói chuyện của ông với Bagramian gây cho tôi ấn tượng nặng nề. Tôi nhớ rất rõ không thể nào quên. Việc xảy ra sau bữa ăn. Budienyi nghe Bagramian báo cáo tình hình. Bagramian - một người rất trung thực, trình bày tất cả, những gì về bộ đội chúng tôi khi đó: mối thiện cảm của họ, tình hình. Lúc ấy Budienyi ép Bagramian. Cớ gì, tôi không biết cụ thể. Tôi đặc biệt khi đó, không thêm ý nghĩa của cuộc nói chuyện này. Theo cách nói quân sự điều này có nghĩa là: am hiểu tình hình. Trưởng ban tác chiến báo cáo tình hình cho nguyên soái Liên Xô, được Moskva cử đến. Tôi chỉ nhớ việc xem xét tình hình được kết thúc bằng những lời thế này: - Các anh thế này ư? Các anh không biết bộ đội của mình. - Tôi không biết trình bày với đồng chí như thế nào, đồng chí nguyên soái - Bagramian trả lời. - Đấy, tôi nghe anh, tôi nhìn anh và tôi cho rằng - phải bắn anh. Phải bắn vì những việc như thế này - Semen Mikhailovich nói bằng cái giọng the thé như thế. Bagramia nói: - Vì cái gì ạ, thưa Semen Mikhailovich, bắn tôi? Nếu tôi không có khả năng làm trưởng ban tác chiến, ông cứ cho tôi một sư đoàn. Tôi là trung tá, tôi có thể chỉ huy sư đoàn. Nhưng vì cớ gì lại bắn tôi? Budienyi vẫn theo cách thô lỗ thuyết phục Bagramian để người ông chấp nhận bị đem bắn. Tất nhiên, Bagramian không thể nào đồng ý. Tôi thậm chí ngạc nhiên, vì sao Semen Mikhailovich cứ khăng khăng như thế để đạt được “sự đồng ý” của Bagramian. Tất nhiên phải tính rằng cuộc nói chuyện “nhã nhặn” giữa nguyên soái Liên Xô và ông trung tá xảy ra sau rất bữa ăn sang trọng có rượu cô-nhắc. Và dù sao chăng nữa, dù tình tiết thế nào đi nữa, kiểu đàm phán không chấp nhận được. Ông là đại diện Tổng hành dinh và, tất nhiên, không phải chịu bài toán đang đứng trước và không thể giúp đỡ công việc và cả cho quân đội chúng tôi. Điều này cũng chứng minh rằng có một trạng thái nào đấy ở mọi người. Semen Mikhailovich khi đó hoàn toàn vượt qua giới hạn cho phép. Nhưng chúng tôi đơn giản và nhìn cuộc nói chuyện này một cách không nghiêm túc. Mặc dù ông cũng đụng chạm cuộc sống của một con người, tuy nhiên không gây hậu quả. Semen Mikhailovich đi khỏi, còn chúng tôi ở lại trong tình thế nặng nề như trước đây, sau khi ông đến, cũng chẳng xấu hơn mà cũng chẳng tốt hơn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:05:01 pm » |
|
Bước ngoặt Stalingrad
Trước khi bắt đầu cuộc phản công, tâm trạng chúng tôi nâng lên rất cao. Chúng tôi từ giã, chúc mừng nhau thành công và lên đường. Tôi ngồi vào xe cùng Popop, Vasilevsky đi tới Tolbukhin. Chúng tôi quay về lúc hửng sáng. Đường tốt, phẳng. Thảo nguyên. Xe chúng tôi đi vùn vụt với tốc độ lớn. Chúng tôi đến Trufanov. Tất cả đã sẵn sàng, được sắp xếp nghiêm ngặt, mọi người ở tại chỗ, các bộ phận nhận nhiệm vụ của mình. Chờ đợi thời gian bắt đầu chiến dịch. Chúng tôi quyết định hạn chế pháo bắn mở màn. Không thể dùng không quân, vì rằng buổi sáng mây mù và không thể bay được. Chúng tôi sợ không quân ném bom nhầm vào bộ đội ta. Chúng tôi, tất nhiên, bị thiệt lớn là không quân chúng tôi không thể giáng đòn tiền duyên của địch. Điều này còn gây cho địch rối loạn lớn, gây hoảng loạn trong quân đội Rumani và làm dễ dàng việc đột phá tuyến phòng thủ của chúng. Nhưng lại không có khả năng như thế. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng dùng pháo chúng tôi có khả năng đột phá tuyến phòng thủ, sau đó ngay lập tức dùng bộ đội xe tăng đột phá nó, sau xe tăng, khi chúng bị tung ra, dùng kỵ binh - đưa quân đoàn kỵ binh vòng sau lưng địch để làm rối loạn hậu phương của nó. Đến ngày 20 tháng 11. Chúng tôi và tư lệnh tập đoàn quân ngồi ở sở chỉ huy của nó. Tất cả đã sẵn sàng. Pháo binh, như người ta nói, chia thành trung đội, bộ binh, quân đoàn cơ giới và quân đoàn kỵ binh chiếm lĩnh vị trí. Đây rồi, tín hiệu được phát ra bằng đạn tên lửa và pháo binh nhả đạn. Tôi có ấn tượng rằng mặt đất rung lên. Chúng tôi bắn rất mạnh. Nhưng tôi không nhớ bao nhiêu cỗ pháo trên một kilomet trên trận tuyến. Sau này, khi đánh nhau dưới Kiev, chúng tôi đặt ở hướng chính 370 họng súng trên một kilomet. Sau đó cũng một số lượng này vượt hơn. Lúc ấy không có đến một nửa. Nhưng vào thời gian này như thế là nhiều vì đây là sức mạnh pháo lớn. Và quả là, kẻ địch bị hoảng loạn. Cuộc mở màn bằng pháo kết thúc và chúng tôi ra lệnh bộ binh chiếm công sự địch. Bộ binh, bây giờ tiến lên, không gặp một kháng cự đáng kể từ phía quân Rumani. Quân Rumani dóng ở một vị trí tương đối thuận lợi. Thứ nhất, họ đào công sự kịp thời. Thứ hai, ở trên đất cao. Vùng đất tuy không lớn, nhưng dù sao chăng nữa, họ quan sát địa hình phía trước tốt hơn chúng tôi, quân đội chúng tôi cần khắc phục ban đầu sự đi lến trên để chiếm vị trí của chúng. Lợi thế về địa hình thuộc về phía địch, và nó có khả năng lựa chọn, khi phòng thủ. Bộ đội chúng tôi bị vùi trong công sự và đánh giáp lá cà. Kẻ địch rút lui. Chúng tôi ra lệnh Volkovsk đưa quân đoàn cơ giới vào để đột phá. Chúng tôi chờ, xe tăng chẳng còn nữa. Chúng tôi у lo lắng. Thế nào đây? chúng tôi có lẽ mất thời gian. Kẻ thù có thể tập hợp lại và xây dựng phòng thủ mới ở chỗ xa phía sau, bỏ lại khu vực đằng trước. Chúng tôi giả thiết rằng địch có ở đấy những vị trí được trang bị trước đó. Nhưng xe tăng không còn. Cái gì thế? Trời sáng. Mặt trời lên dần. Cũng khó quan sát, vì sương mù, nhưng tất cả báo hiệu rằng sương mù sẽ nhanh chóng tan đi. Nhưng quân đoàn cơ giới không cách nào đột phá! Chúng tôi và Popop quyết định: ngồi vào xe và tới gặp Volsky. Chúng tôi biết ông ở đâu. Chúng tôi theo lữ đoàn của ông và đúng, như người ta nói, chúng tôi sẽ huých chúng vào lưng hoặc vào chỗ khác để đẩy nhanh cuộc xuất phát. Khi chúng tôi và Popop đến chỗ đóng quân bộ đội xe tăng, thì cách tổ chức của họ gây cho tôi ấn tượng không hay, căn cứ mà như thế này ư. Tất cả được nhìn thấy rõ, trên cánh đồng chẳng có lấy một bụi cây nhỏ, và tăng, và ô tô, và người đều phơi ra. Chúng tôi gặp may, thời tiết không phải mùa hè và máy bay địch không xuất kích. Nếu máy bay địch đến, thì tôi không biết là nó có ném bom vào quân đoàn xe tăng không, còn về kỵ binh cũng nói một cái gì đó. Tất nhiên kẻ địch không làm hỏng cuộc tấn công của chúng tôi và nhiệm vụ, đằng nào cũng được giải quyết, nhưng tổn thất địch gây ra cho chúng tôi là không nhỏ. Ở đó cỉ có một cái chợ Sorochin, một cái chợ như vậy. Ngựa và đoàn xe ngựa đứng trơ trụi trên cánh đồng. Hình ảnh như thế, có thể nói, ghê sợ. chúng tôi thới gặp Volsky, Volsky còn đi với tư lệnh lữ đoàn, trao nhiệm vụ cho anh ta. Chúng tôi bắt đầu thúc giục Volsky - đã đến lúc kết thúc, nhiệm vụ tiếp tục đặt nhiệm vụ sớm hơn. Chúng tôi đi đến từng bộ phận, đưa ra trong cuộc tấn công quân đoàn cơ giới. Tôi cho rằng đây là sự không quán xuyến của Volsky, rằng ông không đào tạo các tư lệnh lữ đoàn. Sau này tôi hiểu rằng, hình như sj việc đã được kết luận theo hướng khác, các lữ đoàn trưởng đã được hướng dẫn và từng vị tư lệnh lữ đoàn đã nhận nhiệm vụ của mình kịp thời. Sau này phát hiện như thế không những ở Volsky, mà còn ở những tư lệnh khác của bộ đội xe tăng. Họ cố tình chần chừ, chờ đợi, khi bộ binh dọn sạch đường, không phải đưa xe tăng dưới làn đạn và không bị mất mất chúng khi phải đánh đột phá. Họ chờ đến khi chỗ thủng tung ra và làm dễ dàng cho lính xe tăng tiến vào. Đáng tiếc, sự bàn luận này, sau đó tôi đã nghe thường xuyên, vâng và không những đã nghe, còn va chạm với họ ở nhiều lính xe tăng. Tôi sẽ không nói họ tên ra. Bây giờ những người này có vị trí tương đối cao. Họ đã chiến đấu một cách tuyệt đẹp và kết thúc chiến tranh một cách tốt đẹp. Cuối cùng Volsky cũng đến. Chúng tôi đi quanh cánh đồng, quanh căn cứ của ông. Tôi xem, hai máy bay bay trên vùng tiền tuyến của địch và ném bom chúng. Tôi nói: - Hãy xem, đồng chí Popop, cái gì thế kia? Máy bay của ai thế? Có vẻ như của chúng ta. Vâng, có lẽ chỗ đó bây giờ không còn địch, nó bị đánh bật rằng, như thế phải không? Hay là kẻ địch lại ném bom bộ đội chúng ta? Tôi không hiểu, Popop cũng vậy. Tất nhiên chúng tôi vui mừng. Tâm trạng tốt hơn cái gì mà chúng tôi nắm được. Chúng tôi đột phá tuyến đầu, bộ binh tiến đến. Nhưng chúng tôi vẫn lo ngại hai máy bay. này Sau đó, chúng tôi nhìn thấy hai máy bay này lượn vòng vào hướng chúng tôi và bay là là mặt đất trên căn cứ này, trên xe tăng và ngựa. Nhưng tất cả rõ như lòng bàn tay. Những máy bay nhận thấy “Willy” của chúng tôi và bay thẳng đến đến nó. Tựa như máy bay của chúng tôi? Popop: - Chạy đi, tản ra. Nhưng có trời mới biết nó, cái gì xảy ra. Chúng tôi nhảy ra khỏi “Willy”, ông ta một hướng, còn tôi hướng khác. Máy bay bắn quanh chúng tôi bằng súng máy. Popop sau này nói rằng có một loạt đạn sát ngay ông. Quanh tôi - cũng thế, nhưng không gần trực tiếp, vì rằng tôi không nghe chùm đạn chạm землю. Máy bay bay khỏi. Tôi nói: - Dù sao chăng nữa dó là máy bay của chúng ta. Vì sao họ bắn chúng tôi? Họ có thể bối rối? Vùng này được đánh dấu trên tất cả các bản đồ, mà phi công chúng ta có thể sử dụng, khu vực này tập trung bộ đội xe tăng và kỵ binh để chuẩn bị đột phá. Chúng tôi thúc giục quân đoàn tiến lên và quay về ban chỉ huy, chỗ Trufanov. Và ông làm chúng tôi vui sướng bở những tù binh đầu tiên. Lúc đầu tóm được hai chục, sau đó nhiều hơn. Trong số tù binh, tôi nhớ, một người có họ Chaikovsky, dân tộc Nga, như ông nói với tôi, từ Kisinev. Lại một tù binh nữa - một người Rumani rất đáng chú ý. Tôi thẩm vấn anh ta. Vì một lẽ gì đó, anh ta sống sót. Anh ta tự hiểu hiểu, tình thế quân Rumani chừng mực nào là bị lừa dối, rằng chiến tranh không phải vì lợi ích của Rumani, mà vì lợi ích của Đức, rằng Antonesku đem nước mình thành nạn nhân của Đức. Tôi không tuyên truyền anh ta. Anh ta nói là con trai mục sư và tâm trạng của anh ta - không những của cá nhân anh, cũng là tâm trạng của nhiều chỉ huy, mà ông giao thiệp. Tôi nói với anh ta: - Anh, có thể, đồng ý viết một lá thư cho những viên chỉ huy này, để họ không kháng cự quân đội xô viết, ra hàng làm tù binh và giúp đỡ chính Rumani trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, chống Hittler? - Đúng, vui lòng đồng ý. Cho tôi giấy, và tôi sẽ làm điều này. Chaikovsky không làm tôi chú ý theo một phần tờ truyền đơn. Ông này là dân tộc Nga, cho nên cái họ Chaikovsky không gây cho người Rumani một ấn tượng, nếu ông thậm chí kêu gọi họ ra hàng. Nhưng đây người Rumani chính gốc, một sĩ quan quân đội Rumani, hình như, đại đội chỉ huy, con trai mục sư. Nói chung đối với người Rumani, đặc biệt đối với giáo dân, điều này có thể gây một ấn tượng. Nhưng tôi nói Chaikovsky: - Anh làm nhục một dòng họ lớn thế? - Vâng tôi hiểu, tôi biết bản tính dòng họ mà tôi mang. Nhưng ông cũng nên hiểu: không những tôi, mà cả những người Nga khác cũng bị động viên vào lính. Chúng tôi không muốn đánh nhau, chứng cớ là - chúng tôi là tù binh đầu tiên của các ông ngay từ khi đánh nhau. Điều này có nghĩa rằng tôi không muốn đánh nhau và trước hết làm tất cả để bị bắt làm tù binh. Những người khác cũng hành động như thế này. Sau đó tù binh được đưa đến tình báo, còn chúng tôi đi theo bộ đội. Phải không những tiến lên phía trước, mà còn làm tất cả để tăng tốc tiến lên. Chúng tôi trước hết quan tâm bộ đội cơ động Volsky, và chúng tôi đến đó. Giờ đây kể theo ngày hoặc theo trình tự sự kiện là không thể (tôi nghĩ mọi người hiểu vị trí của tôi). Tôi nhớ chỉ bức tranh tổng quát hoặc những sự kiện riêng rẽ, rõ ràng. Chẳng hạn, những trường hợp thú vị nào đấy. Trong thảm hoạ, cũng như trong chiến tranh cũng xảy ra những hiện tượng hài hước. Volsky di chuyển xe tăng. Sự chống cự của địch tỏ ra yếu ớt. Có thể nói rằng nói chung không có sự kháng cự có tổ chức. Tại trận địa, nơi lực lượng chủ lực của chúng tôi hoạt động, Volsky tóm nhiều tù binh, giết được nhiều quân địch, rất nhiều. Chúng tôi cảnh báo Volsky, rằng trong bất cứ trường hợp nào không được dùng sức mạnh đối với tù binh. Thứ nhất, đây là không đạo đức. Thứ hai, nguy hiểm, vì rằng kẻ thù dùng điều này để tuyên truyền chống chúng tôi: không thể ra hàng làm tù binh quân đội xô viết, vì họ bắn tù binh! Tuy nhiên, khi chúng tôi tiến lên, tôi đã thấy nhiều nhóm người bị bắn. Quân lính ta đứng bên cạnh. Tôi nói với Volsky: - Sự việc quá đáng. Tôi quan sát hình ảnh những người bị bắn nằm chồng chất. - Không, Volsky nói - họ bị giết trong đánh nhau”. Tôi không loại trừ có thể là, ở đâu đó xảy ra vi phạm chỉ thị của chúng tôi do ảnh hưởng của sự căm thù và sự tức giận. nguyên nhân của điều này rất lớn, cả ở mỗi người lính chúng tôi. Khi rút lui, chúng tôi nhìn thấy cái gì chúng tôi bỏ lại cho kẻ thù. Có những những bằng chứng cho điều này, khi quân thù hoành hành trên những lãnh thổ mà họ chiếm đóng. Tại Ukraina, Liên bang Nga, Belorussia và ở Bắc Kavkaz - khắp mọi chỗ, ở đâu xã hội kẻ thù, thì nó thẳng tay giết tất cả những người “không cần thiết” và không thừa nhận những yếu tố đạo đức nào cả. Hittler nhạo báng những yếu tố này, người chiến thắng được phép làm tất cả. Phải tiêu diệt người Nga, lung lạc tinh thần họ, đe doạ. Những người lính của chúng tôi hiểu điều này. Và nếu ở đâu đó có sự lạm quyền và vi phạm lệnh, thì, như người ta nói, hãy tha thứ cho những người này. Lúc ấy không xã hội tính chất có tổ chức nào đấy của những người chúng tôi. Đó là do cuộc chiến tranh trói buộc chúng tôi, cuộc chiến tranh làm căng thẳng sự nhạy cảm của con người. Hiểu điều này, tất nhiên, là những người đã chiến đấu và muốn bằng sự hiểu biết đúng đắn đi đến hành động, được áp dụng ở những ngày ấy. Tôi nhớ, một lần sau khi cuộc tấn công được tiến hành, chúng tôi đi lúc đêm khuia. Thảo nguyên. Không có đường. Việc đi lại là nguy hiểm, vì rằng luôn luôn có thể đụng phải mìn nhỏ, chôn ở chỗ không ngờ. Chúng tôi đi và không tin tưởng rằng đi đúng hướng. Không có một sự định hướng nào cả, không có lấy một bụi cây nhỏ, không có làng mạc. Thảo nguyên hoang vắng. Phải định hướng bằng những ngôi sao. Nhưng bằng những ngôi sao, cũng không thể chiến đấu thậm chí ở thảo nguyên. Chúng tôi nhìn thấy một ngọn lửa nhỏ nào đấy lập loè. Bấy giờ chúng tôi trên chiếc xe “Willy” của mình nhằm hướng ngọn lửa này. Popop nhảy vọt ra khỏi xe. Ông là một người yêu đời và muốn tất cả mọi thứ dễ dàng: - Đồng chí Khrusev, lại đây, thoáng nhìn, hãy nhìn những con quỷ sống. Tôi nhảy qua chiếc “Willy”, tiến đến gần. Những người lính của chúng tôi đang ngồi, đang nhóm một đống lửa. Đống lửa lớn ở đó tàn, không còn củi khô. Họ thu lượm tất cả mọi thứ để có thể đốt sưởi ở thảo nguyên. Họ lấy một chút nước ở đâu đó và đun trà, trên đống lửa. Họ bị ám khói - một sự sợ hãi thuần tuý. Trông họ như những người da đen, chỉ nhìn thấy độc răng và mắt. Quả là, những con quỷ, lại còn về ban đêm nữa chứ! Một vài người trẻ còn mỉm cười, nhìn những vị tướng đi đến gần họ. Khi đó, tôi không có kiến thức quân sự, nhưng mặc quân phục. Họ lập tức nhìn thấy rằng một “ông lớn” quân đội đến. Chúng tôi hỏi họ. Một cái gì đó ở họ khi xe bị phá và cháy. “Vâng, chúng tôi chờ, họ giúp chúng tôi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:05:57 pm » |
|
Họ là lính pháo chống tăng - một hoặc hai khẩu. Chúng tôi nói đùa với họ vài câu. Họ không thể kể cho chúng tôi một điều gì lý giải, bản thân họ cũng không biết những tình hình, họ trả lời chỉ từ đơn vị chiến đấu. Hôm sau, chúng tôi lại đi khắp mặt trận và gặp một bức tranh thú vị khác. Tôi nhiều lần kể cho Stalin về họ. Chiếc xe gỗ nghiêng ngả. Năm sáu người lính Rumani ngồi trên đó, một người phi ngựa. Họ đi về phía đông. Popop hỏi: - Các anh đi đâu? Các anh là ai thế? Một người lính Rumani chìa cho chúng tôi một miếng giấy nhỏ trong tay, Popop cầm lấy và đọc: - Hãy để cho đi theo chừng này lính Rumani, ngựa và chiếc xe gỗ. Họ đi về phía đông, đến sông Volga, để vào trại tù binh”. Ký tên: thiếu tá một đơn vị nào đó. Chúng tôi buồn cười. Những người lính Rumani nhìn thất rằng chúng tôi không có vẻ độc ác, và họ cũng được khích lệь. Popop trả lại họ mảnh giấy và nói: - Hãy di theo hướng, mà các anh đang đi - và vẫy tay. Và họ lại lên đường. Chúng tôi đến Plodovit. Đây là một làng. Ở đó khắp mọi chỗ đều có những tên gọi của sự tồn tại cuộc sống của một điểm cư dân. Hình như trong quá khứ có sự tiến dần của vùng đất nửa hoang dã của thảo nguyên, những người đến đây, cho những chỗ mới này một những cái tên gọi đẹp. Một thiếu tá tiến đến và hỏi tôi: - Tôi muốn hỏi, tôi phải làm gì với tù binh? - Thế chỗ anh có bao nhiêu tù binh? - Ba trăm. - Họ ở đâu? - Ở gần đây thôi! Chúng tôi và Popop đến đó. Chúng tôi thấy một đám đông tù binh đứng ở đấy. Chúng tôi nói chuyện với họ qua phiên dịch. Cũng trong lúc ấy, lại một thiếu tá phi ngựa đến: - Hãy quyết định đi? Tôi phải làm gì và giải tù binh đi đâu? - Chỗ anh có bao nhiêu? - Khoảng ba nghìn, có lẽ thế. - Thế những tù binh này đâu? - Kia kìa, ở đằng sau nhà thờ. Chúng tôi đến. Ở đó một hàng dài người xếp hàng ngang, theo một trật tự nào đó. Thiếu tá báo cáo rằng tại đây có trung đoàn pháo binh cỡ lớn của Rumani. Viên chỉ huy trung đoàn bị bắt làm tù binh. Tôi nghĩ: có trời mới biết nó, toàn bộ trung đoàn pháo nằm sau lưng chúng tôi, nó có thể gây cho chúng tôi những thiệt hại. Tôi nói: - Hãy ra lệnh cho tất cả các sĩ quan đứng lên phía trước. Phải tách các sĩ quan ra khỏi lính và đưa riêng họ vào sâu trong nước, đến trại tiếp nhận. Trên cánh đồng, ngổn ngang vũ khí, từ súng trường đến đại bác. Họ có thể gây cho chúng tôi thiệt hại, không có trong tay những cỗ pháo sẵn sàng nhả đạn. Phía sau chúng tôi không có gì cả. chúng tôi đi đến trước mặt các sĩ quan của họ. Ông thiếu tá mời viên chỉ huy trung đoàn đi đến chỗ tôi. Viên chỉ huy, đứng tuổi bình tĩnh trình bày: - Tôi là một chỉ huy trung đoàn. Thậm chí tôi không ra lệnh tháo vỏ bọc đầu nòng pháo, không nổ súng và quyết định ra hàng làm tù binh cả với trung đoàn thành phần đày đủ cả vũ khí và lính. Vậy là tôi cũng đã đầu hàng các ông tất cả: cả sĩ quan, cả lính, cả pháo. Tôi nói ông ta: - Ngài trung đoàn trưởng, Liệu ngài có đồng ý ra lời kêu gọi lính và sĩ quan Rumani để họ ngừng chống cự và ra hàng làm tù binh? Nếu ông làm được như thế thì ông hiểu đúng rằng chiến tranh chống chúng tôi trói buộc các ông với Hittler. Ông không muốn chiến tranh tiếp diễn và đối với ông, thì nó đã kết thúc. Hãy giúp đỡ những ai còn ở bên kia chiến tuyến, hãy để họ noi gương ông. Ông trả lời: - Rất hay! Cho tôi cơ hội, tôi sẽ viết một bức thư. Sau khi hỏi kỹ ông ta, tôi nói với ông ta về việc một sĩ quan, mà chúng tôi bàn bạc với anh ta trước đây và anh cũng viết một tờ truyền đơn tương tự. Ông ta, té ra, lại biết viên sĩ quan này. Trong tờ truyền đơn của mình, người sĩ quan này (như tôi biết sau này) gửi đúng tới viên trung đoàn trưởng. Quả là, khi tôi đọc truyền đơn của viên sĩ quan này, con trai một cha đạo, mà chúng tôi bàn bạc với anh ta trước đây, ông thông báo đích danh ông trung đoàn trưởng này: - Đừng băn khoăn là anh đang chống lời khuyên của mình! Tôi biết tâm trạng của anh. Phải kết thúc chiến tranh!” Nhưng khi tôi quay về ban tham mưu, người ta đưa cho tôi truyền đơn để tôi ra lệnh in nó. Nhưng trong truyền đơn không có sự đòi hỏi: đơn vị, mà truyền đơn nhắm tới, đã đầu hàng làm tù binh. Chúng tôi chỉ ra rằng các sĩ quan Rumani riêng chở riêng, lính chở riêng. Chiến dịch tiếp tục thành công. Bộ đội chúng tôi tiến lên phía trước, và chúng tôi nếm những quả ngọt của những chiến thắng lớn đầu tiên. Khó mà tả thành lời, sự vui mừng khi đó như thế nào và nỗi hân hoan ra sao. Lần đầu tiên sau chiến đấu trên hướng của mình, chúng tôi thành công đột phá phòng tuyến kẻ thù và thúc đẩy cuộc tấn công, làm thất bại tất cả những gì đứng trước chúng tôi, và hầu như không gặp kháng cự. Sự thật chúng tôi hiểu rằng trước mặt chúng tôi không phải là quân Đức, mà là quân Rumani. Họ không phải là những người kiên tâm, biết cuộc chiến tranh này không vì lợi ích cho Rumani. Nhưng dù sao chăng nữa, đây là kẻ thù. Như người ta nói, người Rumani và người Rumani. Cũng hoàn toàn khác. Chúng tôi biết họ tấn công như thế nào, nhạo báng những người hoạt động hoà bình ra sao, giết nhân dân chúng tôi. Họ đesn cùng với Quân đoàn Hittler và cũng gây ra những việc làm tàn bạo với các chiến sĩ xô viết. Vì thế phải đúng hiểu rằng sự hân hoan của chúng tôi, sự vui mừng của người lính chúng tôi và các sĩ quan, rạng rỡ thực sự. Tôi không nhớ, ngày tấn công, ngày thứ ba hoặc thứ bốn, chúng tôi tấn công và quyết định nhiệm vụ đặt trước chúng tôi. Bộ đội xe tăng đến Sovietsky, đến sông Đông, còn bộ đội Vatutin tiến dọc theo sông Đông đến Kalach. Ở đó chúng tôi cần phải tổ chức một cuộc gặp gỡ, nên chúng tôi và Popop đi đến đó. Tôi nói ở đó là chưa chính xác. Các tướng khác, những người tham gia chiến dịch này, trong các hồi ký của mình chính xác hơn, vì rằng họ, khi viết, sử dụng tư liệu của Bộ tổng tham mưu, các tài liệu chính thức, qua đó có thể phục hồi tất cả đúng thời gian, sự kiện tiến triển cụ thể. Tôi không có khả năng như thế. Như vậy, chúng tôi và Popop tới chỗ tư lệnh quân đoàn xe tăng mặt trận Tây Nam. Chỉ huy nó là viên tướng người quen của tôi, Kravchenko. Sau này, tôi không lần nào gặp ông ta cả trong thời gian, và sau chiến tranh. Bây giờ ông đã khuất. Kravchenko là một nhưng đàn ông rất khoẻ mạnh. Sức khoẻ của ông không hao mòn, thế mà ông chết. Khi đó ông là người hoạt động tốt. Khi chúng tôi rẽ đến chỗ ông, ông nói rằng ông không được khoẻ, bị ốm. Ông bị cúm, hay một chứng bệnh gì đó, nhưng ông gạt bệnh tật sang bên. Chúng tôi chúc mừng nhau và cùng nhau hân hoan rằng mặt trận của chúng tôi khép chặt. Chà cuộc gặp đầu tiên! Kravchenko đề nghị: - Vì sự vui mừng cuộc gặp mặt của chúng ta, hãy uống một chai sâm-panh. Tôi có một chai sâm-panh Pháp, chiến lợi phẩm đấy. - Ừ, uống thôi. Chúng tôi mở sâm-panh, uống bằng cốc vại, ăn mừng binh đoàn Stalingrad và mặt trận Tây Nam. Kravchenko đề nghị tôi: - Đồng chí Khrusev, xin hãy nhận từ tôi một món quà nhỏ kỷ niệm cuộc gặp mặt hôm nay, một dao con của Đức. Thật ra, nó có cả phù hiệu cơ, nhưng phù hiệu bây giờ bị đập vỡ mất rồi. Món quà kỷ niệm này sẽ ghi nhớ cuộc gặp gỡ của chúng tôi. Tôi nói: - Được, tôi nhận. Tôi có thằng con trai nhỏ, tôi sẽ cho nó. Đây sẽ là bằng chứng rằng bộ đội chúng ta đánh nhau với bọn Đức, và là món quà tốt. Chúng tôi ở lại chỗ Kravchenko ngắn ngủi, thông báo cho nhau về tình hình công việc. Tình thế là rất tốt. Chúng tôi không cảm thấy mối đe doạ nào đấy của quân thù, chúng tôi đã thắng kẻ thù của mình và không biết rằng kẻ thù vẫn còn kéo đến và chúng tôi sẽ phải đối mặt với điều này. Nhưng đó là việc sau này. Trong trường hợp đã kể trên, chúng tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Kravchenko nói rằng ông, như người ta nói, hành quân dọc theo hữu ngạn sông sông Đông và không gặp phải sự kháng cự lớn. Phía sau kẻ địch tương đối lỏng lẻo và quân lính không đảm bảo Chúng tôi mừng về việc đó, khi dự liệu chiến dịch, chúng tôi gửi thư cho Stalin giải trình kế hoạch một cách cẩn thận, dự kiến rằng có khả năng tiến hành chiến dịch như thế, nhưng chúng tôi không biết dự trữ của chúng tôi, nếu Tổng hành dinh phân bố nó, không có dự trữ của cẻ địch. chúng tôi được giải thích rằng lời khuyên của chúng tôi không đi ngược với bước đi thực tế của những sự kiện, và những lời đề nghị của các tư lệnh khác. Vấn đề chính không phải là ở chỗ ai nói đầu tiên “A”, mà là ở chỗ thực hiện nhiệm vụ đặt trước chúng ta. Kẻ thù đang bị thất bại, quân Đức đang bị bao vây ở Stalingrad. Giờ đây phải kìm chúng lại ở đó đánh tan nó. Sau đó chúng tôi gặp những khó khăn. Về những khó khăn này, tôi nói với Zukov, khi ông đến chỗ tôi và báo cáo dự án của Tổng hành dinh về kế hoạch chiến dịch. Tôi nói với ông khi đó nói rằng chúng tôi có thể giải quyết nhiệm vụ của mình, vì cảm thấy rằng, kẻ địch ở thế yếu. Nhưng nếu các anh không trợ sức chúng tôi, thì chúng tôi bằng sức sẵn có của mình không thể kìm lại được quân Đức đang bị vây hãm: kẻ thù sẽ đè bẹp chúng tôi và chạy thoát khỏi Stalingrad. Tôi nói, Zukov trả lời tôi: hãy để kẻ thù thoát khỏi Stalingrad đi đến đâu đó; đây sẽ là một thắng lợi lớn - đuổi cổ bỏ bọn Đức khỏi Volga. Tôi không đồng ý với Zukov, nhưng muốn hơn. Vả lại, tôi nghĩ rằng ở đây chúng tôi không thể có sự bất đồng: với Zukov đó là nguyện vọng. Nhưng bây giờ đặt nhiệm vụ kìm chân và đánh tan quân thù. Và trong chiều đó chúng tôi và Popop quyết định quay về ban tham mưu tập đoàn quân №51, mà về ban tham mưu Tolbukhin. Ông ở gần Sovỉetsky. Với tập đoàn quân №51 thì nhiệm vụ đã được giải quyết, quan địch thất bại, bắt được nhiều tù binh và phía trước không có mấy nguy hiểm trực tiếp. Nhưng ở Stalingrad còn chủ lực kẻ địch. Giờ đây hướng chính lại là chỗ Tolbukhinе, không phải tập đoàn quân №51, mà là №57, một tập đoàn quân yếu nhất trong tất cả các tập đoàn quân tại mặt trận Stalingrad, ít quân nhất. Vì thế chúng tôi và quyết định đến Tolbukhin và ở đó có được thông tin sâu sát hơn. Chúng tôi cũng biết rằng Tolbukhin chuyển ban chỉ huy vào hẻm cạnh Nariman, gần sông Đông. Chúng tôi đến đó. Đêm mùa xuân ở phương Nam. Trời tối như hũ nút, chẳng thể định hướng được. Chúng tôi cố tìm được cái hẻm. Tôi nghi ngờ nói với Popop: - Markian Mikhailovich, theo tôi, chúng ta không tìm thấy hẻm, mà lại không có đường, chúng ta không biết đang ở đâu, không biết định hướng, rất khó đến đó được. Nhưng ông tỉnh táo trả lời: - Chà, đồng chí Khrusev, đối với chủ yếu phải có bản đồ, la bàn và máy đo tốc độ để tính toán con đường mà xe đã đi qua. Cứ tìm đi! Chúng tôi lại tìm kiếm. Về sau, trong này trở thành chuyện tiếu lâm. Tôi nhiều lần nhớ lại nó, khi gặp Popop. Ông cũng cười… Tại một điểm dân cư, chúng tôi gặp hình ảnh thế này: hai xác lính Đức nằm trần truồng. Về đêm rất dễ nhìn thấy họ. chúng tôi đi, lại xác con ngựa nâu. Đây không phải là người định hướng. Nhưng kìa, một bảng chỉ dẫn bằng tiếng Đức. Chúng tôi đọc. Popop có hai trợ lý, và một trong hai người này biết tiếng Đức. Nhưng thực là gì? Chúng tôi chẳng đến đây cả, lại quay lại chỗ những cái xác. Thực là rơi vào chỗ lẩn quẩn! Không thấy chỗ thoát đâu cả, chúng tôi lại gặp hai xác lính trần truồng và con ngựa xám. Bọn tà quỷ dẫn chúng tôi quanh chỗ này. Cuối cùng chúng tôi nghe thấy có tiếng nói chuyện. Một ai đấy đi đến. Chúng tôi cũng cất giọng. Một ô tô tiến lại. Một người nhảy ra khỏi xe và nói: - Tôi trung tá, chỉ huy đơn vị xe tăng. Ông biết tôi và hỏi: - Các ông đi đâu đấy? - Chúng tôi đi vào hẻm Nariman. - Đồng chí Khrusev, đồng chí không tìm được hẻm Nariman đâu. Thảo nguyên mà. Vâng tại sao các ông lại đi? Mặt trận ở trước mặt, nhìn thấy rõ pháo sáng Đức vụt lên (quân Đức chiếu sáng rất mạnh mặt trận của mình). Lúc ấy có thể vướng phải mìn. Tôi đề nghị các ông, chúng ta đi cùng với nhau. Tôi đến chỗ đóng quân tập đoàn quân №57, tôi biết đường và dẫn các ông. Tôi đi đến trạm quân y, bị thương ở tay, ban đầu đau, còn bây giờ cảm thấy vết thương bắt đầu ổn rồi. Tôi muốn rằng ở đó người ta sẽ băng bó đúng chuyên môn và tất cả những gì cần thiết với vết thương. Tôi đồng ý, nhưng Popop nói: - Không, chúng tôi dù sao chăng nữa tự đi được. Chúng tôi từ giã, lại đi tiếp. Lại nghe thấy tiếng nói rì rầm. Một ô tô đi vòng đến, chúng tôi dừng lại, ra khỏi xe. Té ra đây là người đại diện Tổng hành dinh, một vị tướng, phụ trách liên lạc. Ông nói: - Tôi đến ban tham mưu Tolbukhin, sông Volga. Tôi cũng cần vào thung lũng Nariman, nhưng tôi bây giờ không đi đến đó, vì không tìm thấy nó, và các ông cũng không tìm thấy. Hãy đi cùng với nhau?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:06:34 pm » |
|
Chúng tôi lại từ chối. Hy vọng rằng chúng tôi tìm thấy cái hẻm này. Chúng tôi tìm kiếm và luôn vòng quanh những cái xác này. Hình như chúng tôi đã đi xa theo hướng nào đó, còn sau đó bỗng nhiên té ngửa rằng chúng tôi đã “lượn vòng tròn” một chỗ nào đấy và mới đây lại rơi vào chỗ cũ. Tôi run lên vì lạnh trong chiếc áo dạ và Popop cũng thế. Sự tức giận đã bùng nổ. chúng tôi tiến gần đến một ngã ba đường, nhìn thấy một số bảng chỉ đường bằng tiếng Đức. Sĩ quan phụ tá dịch cho biết đường đi đâu, đi hướng nào. Popop lạnh cóng đến nỗi không thể chờ được nữa, nói với sĩ quan trợ lý: - Kéo cái biển ấy lại đây! Sĩ quan trợ lý giật lấy và mang lại. Nhưng thực chất là gì đây? Kim này dẫn đến đâu, bây giờ không hiểu, hướng bị mất hút. Rồi rất lâu chúng tôi cũng đến được ban tham mưu Tolbukhin ở Volga. Chúng tôi biết ở đó có thể sử dụng nhà tắm. Và bạnnghĩ gì về điều này? Ngay lập tức chúng tôi đi đến. Như vậy, sự thống nhất các mặt trận của chúng ta, bao vây quân Đức ở Stalingrad đã cho kẻ thù đứng trước sự thất bại. Đây là sự vui mừng. Sự hân hoan này, chúng tôi chịu khổ sở trong suốt chiến tranh, bằng sự rút lui khốc hại, bằng sự kinh ngạc, và những đau lòng khác. Mặt trận sông Đông do Rokossovsky chỉ huy, cũng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tôi không nói gì về điều này vì rằng tôi không nhớ cụ thể, nhiệm vụ nào đặt trước ông. Như thế, mặt trận sông Đông từ phía bắc bây giờ đảm bảo vị trí chống quân Đức. Mặt trận Stalingrad phải hướng sức lực của mình vào hướng nam để củng cố phòng thủ trong trường hợp địch đột phá. Chúng tôi của biết lần này quân Đức bị vây không cố gắng thoát ra khỏi vòng, nghĩa là, có chỉ thị từ Berlin không bỏ Stalingrad, mà chờ sự giúp đỡ và sẽ khôi phục tình thế trước đây. Theo hoạt động của địch, chúng tôi hiểu giải quyết như thế nào đối với chúng. Tiếp theo, cần chờ cuộc phản công của nó từ phía nam và phía tây. Nhưng từ phía tây thì có thể đi đến đây qua sông Đông. Nhiệm vụ kìm chân lực lượng này đặt lên sườn tây mặt trận Tây Nam dưới sự chỉ huy của Vatutin. Nhất thiết phải được bảo vệ ở từ hướng nam để quân tiếp viện Paulus, không thể đột phá. Mặt trận Rokossovsky (thuộc sông Đông) với sự tham gia của các đơn vị chúng tôi đã giữ vòng vây. Trên mặt trận hướng Kotenikovsky, tham gia hoạt động là tập đoàn quân №51, quân đoàn kỵ binh Sapkin, quân đoàn cơ giới Volsky và các binh đoàn khác. Tôi đôi lần đến những nhóm này, vì rằng ở đó tình hình nặng nề. Theo tin tình báo, chúng tôi biết thống chế Đức Manstein chỉ huy quân tiến đến giải thoát đám quân bị chúng tôi đang bao vây. Ông ta bắt đầu tiến gần chúng tôi. Quân của Manstein ở cách khoảng chừng 50 kilomet từ tiền tuyến của quân Paulus. Ban tham mưu tập đoàn quân Tolbukhin, nơi tôi đang ở đó (ở ban tham mưu mặt trận, tôi ít ở đó), được bố trí dưới Verkh Sarisynsky, vừa đúng ở giữa quân đoàn Manstein, đang tiếp cậnsông Myskov, và quân đoàn Paulus. Trong những ngày đầu tiên sau khi vây Paulus, Tolbukhin còn ít quân đến nỗi có những đoạn hoàn toàn trống đến sáu hoặc bẩy kilomet. Ở đó nói chung chẳng có một cái gì cả. Nhưng do chỉ thị, do Hittler đưa ra và bắt đám quân bị vây ngừng hoạt động, đợi tiếp viện, kẻ địch bỏ lỡ khả năng đột phá. Nếu Paulus muốn làm điều này, tấn côngvề phía nam thò ông ta hoàn toàn có khả năng đột pháс. Chúng tôi không thể kìm chân Paulus. Tuy nhiên, như người ta nói, không có sự may mắn, sự ngu ngốc Hittler đã giúp. Hittler bắt quân Paulus ngừng hoạt động, mà quân của Paulus khi đó mạnh về vũ khí, và đông người. Thế mà đội quân Paulus ngồi chờ, còn trong thời gian này chúng tôi áp dụng các biện pháp để củng cố vòng vây. Sau khi thực hiện vây hãm, quân đội Liên Xô quyết định cố gắng đột phá tuyến phòng thủ của đám quân Đức đang bị bao vây và tiêu diệt chúng. Lực lượng của chúng tôi không đủ, mà ý đồ lại lớn. Vì thế chúng tôi cố gắng thực hiện điều này bằng tập đoàn quân¬ Tolbukhin, bằng cách tăng viện cho nó. Trong vùng sông Chevlena, địa hình tương đối bằng phẳng, chúng tôi cũng muốn đột phá phòng thủ Paulus. Chúng tôi và Popop đến chỉ huy sở Tolbukhin. Chỉ huy sở đặt ở vị trí rất thuận lợi: từ đây có thể nhìn thất tất cả như lòng bàn tay. Đất cao, nhìn xuống dưới thung lũng và lại nhìn lên trên. Chúng tôi nhìn địch phía trước - như lòng bàn tayи, và kẻ địch cũng nhìn chúng tôi như lòng bàn tay. thậm chí tôi thấy quân Đức đi quanh cánh đồng ra sao và bỗng nhiên biến mất, hình như trong một cái hầm nào đấy. Tại hướng này chúng tôi đặt tăng. Tôi không nhớ ai chỉ huy những xe tăng này. Tanachisin, chỉ huy quân đoàn cơ giới №13, trước đó được bổ xung cho quân đoàn cơ giới Volsky ở miền nam, thuộc Kotenikovsky. Chúng tôi sử dụng tất cả khả năng của mình, nhưng không thành công. Và cuối ngày chúng tôi nhận thấy không thể ngày hôm sau tiếp tục đánh nhau mạnh như thế này và cũng chưa thể bẻ gãy sự chống cự của địch. Quân địch có cả xe tăng, lẫn pháo lớn. Máy bay địch, thật ra, không hoạt động. Phía chúng tôi chỉ có một ít máy bay tiêm kích hoạt động. Những máy bay này không thể yểm trợ lực lượng mặt đất. Bóng đêm xuống, chúng tôi ngừng tấn công, hơn nữa điều này sẽ mang tổn thất, đặc biệt ở xe tăng. Chúng tôi còn rất ít xe tăng. Nếu so sánh số lượng xe tăng mất đi với số chúng tôi đang có, thì sự mất mát này cảm nhận được. Và tất cả chúng tôi không mất hy vọng đột phá phòng thủ quân thù và xông vào chỗ đóng quân của quân Paulus. Chúng tôi cho rằng cứ mỗi ngày trôi đi lại làm hao mòn sức lực địch, làm mệt mỏi thể xác chúng, thực phẩm trong vòng vây không đủ, mặc dù chúng tôi không có những bằng chứng cụ thể. Chúng tôi đơn giản tính như thế này, và, bây giờ rõ ràng thấy được từ những tài liệu được công bố về Paulus, cũng như trong những hoạt động. chúng tôi phải thực hiện cuộc đột phá thứ hai. Và cũng không thành công. Tôi nhớ những tình tiết như thế. Chúng tôi ở sở chỉ huy - ở một chỗ được đào sâu, che bằng một ụ đất được nguỵ trang. Ở đây có tư lệnh tập đoàn quân Tolbukhin và chúng tôi và Popop - đại diện mặt trận. Bỗng nhiên chúng tôi nhìn thấy một máy bay hạ thấp xà thấp hướng chúng tôi. Chúng tôi cũng đề phòng trước nó sẽ tấn công thẳng vào chỉ huy sở và phá huỷ tất cả những gì có ở đó. Máy bay của ai? Khó biết được. Cuối cùng chiếc máy bay chạm đất (bây giờ thậm chí có lần không tin được) cách sở chỉ huy khoảng 10 mét, và có thể ít hơn. Điều này giải thích rằng không phải phi công giỏi, mà đơn giản chỉ là một trường hợp. Cũng có những trường hợp không tưởng tượng được như thế trong chiến tranh. Tôi vọt ra khỏi công sự. Máy bay té ra là của Liên Xô. Phi công ngồi trong buồng lái, nhưng ở trạng thái sốc. Người ta lôi anh ta ra và anh ta tỉnh lại. Phi công này được đưa vào bệnh biện, còn máy bay nằm lại đó. Tôi quay về căn hầm. Nhưng khi sau một lúc, máy bay đã bị trấn lột. Lính “của chúng tôi” làm điều này. Họ lấy tất cả những gì có giá trị đối với lính: đồng, kính và v.v… Sau đó họ làm tất cả những đồ giả và để đánh lừa. Lính tráng đã sử dụng tất cả để làm điều này. Khi đó tôi ngạc nhiên và tức giận. Máy bay vẫn có thể phục hồi được! Tôi rất lưu tâm tới quan hệ như thế với tài sản quân đội, nhưng không có ai chú ý đến điều này. Từ khi tấn công lúc hoàng hôn, chúng tôi quan sát máy bay vận tải Đức chở hàng cho quân Paulus. Chúng bay lượn như là diễu binh. Pháo phòng không của chúng tôi nhả đạn, nhưng rất kém hiệu quả. Ngày đầu tiên ở phần đát chúng tôi chỉ bắn rơi được hai máy bay địch, ngày sau cũng bắn rơi rất ít. Chúng tôi thẩm vấn tù binh, tôi chú ý, chở gì đến, hàng gì? Thực phẩm cho lính? Vũ khí? Nhiên liệu? đạn được? Như được biết, chúng chở đến không được nhiều. Sau đó, khi bộ đội chúng tôi áp sát vòng vây, máy bay không thể hạ cánh, mà phải thả dù. Nhưng cũng không đáng kể. Như thế, những cố gắng đầu tiên của chúng tôi để đánh quân Đức bị vây không thành công. Tướng Sumilov, người chỉ huy tập đoàn quân №64, ở hướng của mình có nhiệm vụ tấn công từ phía nam. Ở đó tất cả đã bị phá huỷ. Lính của Sumilov chiếm cứ điểm như thế. Chúng tôi chúc mừng ông. Sau đó chúng tôi nghĩ rằng phải trao đổi những suy nghĩ với Eremenko và gọi Sumilov: - Ông, dù sao chăng nữa, kiểm tra lại đi, liệu báo cáo này có sai không? - Không! - ông cam đoan. Sumilov hẳn phải biết điều đó. Đây là một con người rất trung thực và tận tâm. Và hôm sau, từ sáng sớm, ông kiểm tra lại, té ra là ông bị nhầm. Ông giải thích cho chúng tôi rằng sau khi ông gửi báo cáo, kẻ địch đã phản công và chiếm lại vị trí của mình. Sau này, tôi không một lần đùa với ông theo lý do này: dường như, để biện bạch điều này, người ta phải lừa bịp bằng cách tưởng tượng là kẻ địch phản công, đây là lời giải thích điển hình, khi họ không làm đúng việc chiếm một cứ điểm nào đấy, rồi sau đó nói rằng kẻ thù đã phản công và cướp lại nó từ tay chúng ta. Nhưng không có một sự giả mạo nào cả. Đơn thuần những người này nghĩ rằng sớm muộn thì cũng chiếm được cứ điểm, nhưng lại không đạt được. Suốt thời gian ấy, địch tăng sức ép từ Kotelnikovsky vào hướng Stalingrad. Bộ đội chúng tôi kiên trì chiến đấu và chúng tôi không bị thiệt hại lớn. Tôi đôi lần đến đó. Chúng tôi gửi đến khu vực này Zakharov, người thống nhất sức mạnh của mọi người. Hướng này, chúng tôi trở nên lo ngại, vì rằng chúng tôi đã thụt lùi và thụt lùi về Stalingrad. Có một mối đe doạ thật sự, là Manstein có thể chọc thủng. Đồng thời chúng tôi đã nhận thông báo rằng tập đoàn quân cận vệ №2 dưới sự chỉ huy Malinovsky được chuyển cho chúng tôi. Tôi biết Malinovsky và đánh giá cao về ông. Chúng tôi và Eremenko rất vui lòng về tin này và chờ đợi tập đoàn quân cận vệ №2 tới. Chẳng bao lâu tập đoàn quân này đến chỗ đóng quân của chúng tôi, và chúng tôi đưa nó đánh nhay với quân Manstein. Đây là một một lực lượng giải cứu - gồm những thanh niên sung sức, mạnh mẽ, được huấn luyện và trang bị tốt. Tập đoàn quân cận vệ №2 có 3 quân đoàn bộ binh, mỗi quân đoàn - 3 sư đoàn và một trung đoàn xe tăng, với 22 hoặc 24 xe tăng mỗi trung đoàn, trong thời gian ấy- một lực lượng mạnh. Tóm lại, một tập đoàn quân đầy đủ. Phó tư lệnh tập đoàn quân là tướng Kreyzer, anh hùng Liên Xô. Là một tướng trẻ, ông đem cho tôi ấn tượng rất tốt. Trưởng ban tham mưu tập đoàn quân là Biryuzov. Một tướng cũng trẻ và tốt. Tóm lại, ban chỉ huy, lính là chọn lựa. Tập đoàn quân này đến vào tháng 12 chạm trán với quân địch ở sông Myskov. Đánh nhau nảy lửa, và quân địch bị nằm lại. Chúng tôi lại xiết chặt nó. Khi đó Vasilevsky bay đến gặp chúng tôi. Chúng tôi và ông lên tiền tuyến thấy những trận giao chiến ác liệt như thế nào. Chúng tôi liên tục bị thiệt hại lớn. Đôi lúc chúng tôi và Vasilevsky “thử” đến chỗ xác định và trong tầm nhìn thấy, xem bao nhiêu người chết. Than ôi, có rất nhiều xác lính bên chúng tôi, chủ yếy là thanh niên. Tôi nhặt ở xác một người chết được một cái thẻ đoàn viên thanh niên cộng sản, chiếc thẻ đã bị đạn xuyên qua: chùm đạn trúng ngực anh ấy. Rồi nhanh chóng, chúng tôi đã được tiếp viện một quân đoàn xe tăng bổ xung do Rotmistrov chỉ huy. Đây là một quân đoàn tốt, gồm những người “mũi nhọn”, biết sử dụng xe tăng tuyệt vời. Điều này cũng tăng thêm sức mạnh đáng kể cho mặt trận. Tôi khi đó ở chỗ Tolbukhin, tại Verkh Sarisynsky. Malinovsky đặt ban tham mưu của mình cũng ở Verkh Sarisynsky. Như thế, ở đây có hai ban tham mưu tập đoàn quân: Tolbukhin, giữ vòng vây quân Paulus từ phía nam, và Malinovsky, hoạt động hướng tây nam, kiềm chế quân Manstein. Đôi lần tôi đến chỗ Sapkin. Có lần khi tới chỗ ông, nhìn thấy cảnh tượng nặng nề: cạnh một điển dân cư, nơi Sapkin và ban tham mưu đóng, ngổn ngang nhiều xác kỵ binh và ngựa. Tôi đi qua một chiếc cầu nhỏ, bên cạnh cầu là xác một sĩ quan, và bọn trộm cướp (ở nơi chiến sự) cũng đã lột bộ ủng từ xác này. Tôi kể cho Sapkin điều này, ông xác nhận: - Đúng, đây là một chỉ huy đại đội kỵ binh. - Thế nào? Các anh không lấy các thứ từ người chết chứ? Trấn lột cả người chết! Nhìn người chết, dù sao chăng nữa cũng thương tiếc, và chẳng đễ chịu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|