Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:20:14 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi ký Khrusev  (Đọc 71617 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #70 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:47:24 pm »

Sáng sớm hôm ấy, tôi ở nhà nghỉ cuối tuần. Tôi gọi cho Mikoyan và mời ông rẽ qua tôi, đi cùng tôi cùng tới phiên họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Mikoyan đến, và ở đó tôi tiến hành hội đàm. Cuộc hội đàm rất dài. Tôi nhớ rằng chúng tôi nói chuyện khoảng hai tiếng đồng hồ, nói hết và tỷ mỷ, còn sau đó lại hai ba lần đôi lần quay lại những chuyện đã bàn rồi. Vị thế của Mikoyan là thế này: Beria quả là có tư cách xấu, nhưng ông không tuyệt vọng, trong thành phần tập thể có thể làm được việc. Đó là một vị trí hoàn toàn đặc biệt, không phải ai trong số chúng tôi có thể giữ được. Tạm thời kết thúc đàm phán, thời gian còn lại chỉ kịp có mặt tại phiên họp. Tôi ngồi chung xe với nhau và đi vào Kreml. Trước đó Malenkov cũng nói chuyện với Vorosilov.
- Thế nào? Ông ta vẫn như trước đây khen ngợi Beria à?
- Khi tôi vừa mới lắp bắp vài lời về dự định của chúng tôi, Klim (tên gọi thân mật của Vorosilov) ôm quàng lấy tôi, hôn và khóc.
Thật thế không, tôi không biết. Nhưng tôi nghĩ rằng Malenkov nói dối chẳng để làm gì.
Sau đó nảy sinh sinh vấn đề thảo luận bắt giữ Beria. Nhưng ai là người bắt Beria? Đội bảo vệ của chúng tôi lại dưới quyền cá nhân Beria. Trong thời gian họp uỷ viên Đoàn chủ tịch, đội bảo vệ ngồi ở phòng bên cạnh. Ngay khi chúng tôi đưa ra vấn đề này, Beria sẽ ra lệnh cho đội bảo vệ bắt chính chúng tôi. Lúc đó chúng tôi thoả thuận gọi các tướng lĩnh. Chúng tôi quy ước là tôi nhận trách nhiệm đi mời các tướng lĩnh. Thế là tôi làm như thế, mời Moskalenko và những người khác, tất cả là năm người. Sau đó Malenkov với Bulganin nới rộng vòng của họ và mời thêm cả Zukov. Do vậy chúng tôi có 11 nguyên soái và tướng. Chúng tôi thoả thuận rằng các tướng lĩnh sẽ chờ đợi ở phòng riêng, còn khi nào Malenkov báo cho biết biết, thì họ đi vào gian phòng đang diễn ra phiên họp, và sẽ bắt Beria.
Và thế là phiên họp khai mạc. Vorosilov với tư cách Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô, đương nhiên, không thể có mặt tại phiên họp Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Vì thế sự xuất hiện của ông tựa như khó hiểu. Và Malenkov, khai mạc phiên họp, lập tức đặt vấn đề:
- Chúng ta thảo luận công tác Đảng. Có những vấn đề cần phải thảo luận ngay, trong Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương.
Tất cả đồng ý. Như đã thoả thuận từ trước, tôi xin phép Malenkov được nói và đề nghị thảo luận vấn đề Beria. Beria ngồi bên phải. Beria giật mình, cầm lấy tay tôi, nhìn vào tôi và nói:
- Anh nói gì thế, Nikita? Anh định giở trò gì?
Tôi nói với Beria:
- Thì anh cứ nghe đã, ngay đây tôi muốn nói hết với anh.
Thế là tôi nói.
Tại phiên họp toàn thể Ban chấp hành Trung ương trước chiến tranh, khi thảo luận tình hình công việc trong Đảng, có lời phát biểu của Kaminsky, Dân uỷ y tế Liên Xô. Ông lên diễn đàn và tuyên bố:
- Tôi muốn nói rằng khi tôi làm việc ở Baku, có tin đồn dai dẳng lan đi trong số những người cộng sản rằng Beria làm việc trong cơ quan phản gián Musavist. Tôi muốn nói về điều này, để Đảng biết và kiểm tra điều này. Phiên họp khi đó kết thúc, và không ai phát biểu thêm nữa về vấn đề đã nêu, bản thân Beria cũng không cải chính, mặc dù có mặt. Sau đó nghỉ ăn trưa. Sau bữa ăn phiên họp toàn thể tiếp tục, nhưng Kaminsky không đến, và không ai biết vì sao. Lúc đó điều này là đúng luật. Nhiều uỷ viên Ban chấp hành Trung ương, có mặt tại một phiên họp, người phiên không đến, bị rơi vào “kẻ thù nhân dân” và bị bắt. Số phận đã rơi vào Kaminsky.
Tôi biết Kaminsky, khi tôi là bí thư Bauman, sau đó Kraskaya Presnia, thành uỷ Moskva và đặc biệtgần gũi với ông khi ông được bầu bí thư đảng uỷ Moskva đầu 1932. Kaminsky chơi thân với Mikhain Mikhailovich, một cán bộ triển vọng. Tôi rất kính trọng ông và cũng đánh bạn với ông. Đương nhiên, tôi xây dựng tình hữu nghị với Kaminsky. Vì thế tôi tin rằng Grisa - là người đứng đắn. Ông là người đặc biệt trong sạch và có đạo đức. Tuy nhiên, mặc dù không ai tại phiên họp toàn thể cho một lời giải thích nào cả về việc số phận Kaminsky, ông như chìm vào nước. Bị chìm không chỉ Kaminsky. Hàng trăm, hàng nghìn người mất tích. Sau đó người ta tuyên bố rằng họ là “kẻ thù nhân dân”, vâng tôi đã nói không phải về mỗi người. Từ lâu, trong đầu tôi lẩn quẩn ý nghĩ: Vì sao, khi Kaminsky tuyên bố như thế, không ai có lời giải thích xem ông nói đúng hoặc không đúng, điều này có hay không có - không biết…
Sau đó tôi kể và những hoạt động gần đây của Beria, từ sau khi Stalin qua đời, trong quan hệ các tổ chức Đảng - Ukraina, Belarussia và những nước khác. Trong các thư của mình Beria đặt các vấn đề (thư này còn nằm trong lưu trữ) về mối quan hệ tương hỗ trong việc lãnh đạo các nước cộng hoà dân tộc, đặc biệt trong sự lãnh đạo của các cơ quan Cheka, và đề nghị điều động các cán bộ dân tộc. Điều này đúng, đường lối như thế luôn luôn rồn tại trong Đảng. Nhưng Beria đặt vấn đề này theo hướng bài Nga trong việc bồi dưỡng, điều động và lựa chọn cán bộ. Ông muốn cột chặt các dân tộc và tập hợp họ chống người Nga. Luôn luôn tất cả các kẻ thù Đảng cộng sản luôn luôn tính đến cuộc đấu tranh giữa các dân tộc, và Beria cũng bắt đầu từ điều này.
Sau đó tôi kể về đề nghị cuối cùng của Beria - về việc từ bỏ xây dựng CNXH ở CHDC Đức - và đề nghị đối với những người bị kết án bị trừng phạt biệt xứ, khi Beria đề nghị không cho phép họ quay về chỗ cư trú, mà quyền quyết định nơi ở của họ do Bộ nội vụ làm, nghĩa là do bản thân Beria. Lúc ấy sự chuyên quyền về luật pháp! Tôi nói cả về đề nghị và Beria thay bằng giải quyết tận gố vấn đề việc bắt người và kết án họ dưới thời Stalinе, giảm thời hạn cực đại những người bị kết ăn bởi cơ quan Bộ Nội vụ từ 20 xuống 10 năm. Thoáng nhìn, đề nghị này tựa như tự do, còn theo thực chất là họp pháp hoá những gì đang tồn tại. Khép tội 20 năm hoặc 10 năm, tình thế vẫn không thay đổi. Tới 10 năm, và, nếu cần, Beria cho thêm 10 năm, còn sau đó lại 10 năm, chừng nào người ta còn chưa chết. Và tôi kết thúc:
- Do những theo dõi những hoạt động của Beria tôi có ấn tượng rằng ông ta nói chung không phải là một người cộng sản, mà làm kẻ hám lợi, chui vào đảng vì động cơ hám lợi¬. Ông làm những việc để đề cao mình và không thể chấp nhận được. Không tưởng tượng được một người trung thực có thể làm việc vì mình.
Sau tôi, Bulganin tiếp lời. Tôi và ông từ khi Stalin còn sống đã có cùng một ý kiến về Beria. Ông cũng phát biểu trong tinh thần như thế. Và những người khác thể hiện tính nguyên tắc, trừ Mikoyan. Mikoyan phát biểu cuối cùng. Ông phát biểu (tôi không còn nhớ chi tiết lời của ông): lặp lại cái điều đã nói với tôi, khi tôi và ông bàn bạc trước phiên họp, tuyên bố rằng Beria có thể tính đến sự phê bình, rằng ông không mất tuyệt vọng, trong một tập thể ông có khả năng ích lợi.
Khi tất cả phát biểu hết, Malenkov, với tư cách Chủ tịch phải tổng kết và làm văn bản quyết định. Nhưng ông lúng túng, và phiên họp chấm dứt ở diễn giả cuối cùng. Phiên họp ngừng lại ít phút.
Tôi thấy vấn đề như thế đã chất đống lên rồi, và đề nghị Malenkov để ông chuyển lời của tôi vào bản dự thảo. Như chúng tôi đã quy ước với nhau, tôi đề nghị phiên họp toàn thể quyết định vấn đề cách chức Beria (Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương làm điều này) khỏi tất cả các chức vụ mà ông giữ. Malenkov vẫn còn bối rối và thậm chí không đưa đề nghị của tôi ra bỏ phiếu, mà lập tức ấn nút bí mật gọi các tướng lĩnh. Người đầu tiên vào là Zukov, sau ông là Moskalenko và những người khác. Zukov khi đó thứ trưởng Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô. Lúc ấy giữa tôi và Zukov còn tồn tại mối quan hệ tốt, mặc dù ông trong thời kỳ đầu không được tính trong số tướng lĩnh giúp đỡ chúng tôi xử lý Beria.
Vì sao chúng tôi lôi kéo các tướng lĩnh. Cũng có những suy tính được nêu ra, nếu chúng tôi quyết định giữ Beria, ai dám chắc Beria không gọi các Chekist, bảo vệ, những người này đang dưới quyền ông, và ông ra lệnh cho họ cô lập chúng tôi? Chúng tôi không có lực lượng, vì rằng ở Kreml có một lượng lớn người của Beria được vũ trang và huấn luyện kỹ càng. Vì thế chúng tôi quyết định lấy các tướng lĩnh quân đội vào việc.
Đầu tiên, chúng tôi trao lệnh cho Moskalenko và 5 tướng bắt Beria. Moskalenko cùng các đồng chí của mình có vũ khí, mà họ cùng vũ khí đó được Bulganin chở vào Kreml. Khi các tướng lĩnh vào Kreml, đã trao vũ khí cho trực ban. Ngay trước phiên họp phiên họp, nhóm Moskalenko được bổ xung thêm nguyên soái Zukov và một số người khác. Và tiến vào phòng họp khoảng 10 người hoặc hơn. Malenkov nói nhẹ nhàng, đề nghị với Zukov:
- Tôi đề nghị ông, thay mặt Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô giữ Beria.
Zukov ra lệnh cho Beria:
- Giơ tay lên!
Moskalenko và những người khác lột vũ khí, cho là Beria có thể gây khiêu khích. Beria kéo mạnh về phía mình chiếc cặp đang nằm ở bậu cửa sổ, sau lưng ông ta. Tôi tóm tay Beria để ông không thể sử dụng súng, nếu súng nằm trong cặp. Sau đó kiểm tra: không có súng trong túi, cũng như trong cặp. Beria đơn giản có phản xạ thôi.
Beria bị tống giam vào một gian phòng nhỏ, cạnh văn phòng làm việc Malenkov của trong dinh Hội đồng Bộ trưởng. Và chúng tôi quyết định, sáng mai hoặc sang ngày kia, càng nhanh càng tốt, triệu tập phiên họp toàn thể Ban chấp hành Trung ương Đảng, xử lý vấn đề Beria. Đồng thời cách chức Viện trưởng Viện Kiểm sát Liên Xô, vì rằng ông không được chúng tôi tin cậy, và chúng tôi nghi ngờ, liệu ông có tiến hành điều tra một cách khách quan không. Viện trưởng Viện kiểm sát mới được bổ nhiệm là Rudenko và được trao quyền tiến hành điều tra vụ Beria. Như vậy, Beria bị bắt. Nhưng đư hắn đi đâu? Chúng tôi không thể tin đội bảo vệ của Bộ nội vụ, vì rằng đây là cơ quan của Beria, với tay chân của Beria. Lúc đó thứ trưởng Bộ nội vụ Kruglov và, hình như, Serov. Tôi ít biết về Kruglov, còn Serov tôi biết rõ hơn và tin ông. Tôi cho rằng Serov là một người trung thực. Nếu có một cái gì đấy làm ông thay đổi, cũng mọi nhân viên Cheka khác, thì ông cũng là nạn nhân của cùng một chính sách chung do Stalin tiến hành. Vì thế tôi đề nghị trao quyền giữ Beria cho chính Serov. Nhưng các đồng chí khác suy nghĩ rằng dù sao chăng nữa phải thận trọng hơn - tất cả chúng tôi không ai tin Kruglov cả. Rồi chúng tôi thoả thuận rằng tốt nhất là trao vụ này tư lệnh quân đoàn phòng không, quân khu Moskva Moskalenko. Moskalenko nhận Beria, cho người của mình vây quanh và giải Beria về chỉ huy sở của mình, trong một cái hầm chống bom. Tôi thấy ông làm tất cả những gì cần thiết. Phiên họp này kết thúc.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #71 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:47:41 pm »

Ngay khi phiên họp kết thúc, Bulganin đến gặp tôi:
- Anh hãy nghe tay đội trưởng bảo vệ của tôi kể.
Viên đội trưởng này đến chỗ tôi, kể:
- Tôi biết vừa mới bắt Beria, và tôi muốn nói với ông Beria hiếp đứa cháu gái của tôi, học sinh lớp 7. Hơn một năm trước đây bà của nó đã chết, còn vợ tôi vì đột quỵ và nằm ở bệnh viện. Cô bé ở nhà một mình. Một lần vào buổi chiều nó chạy đi mua bánh mỳ thì qua đúng ngôi nhà mà Beria ở. Ở đó, cháu gặp một người đàn ông già đang nhìn chăm chăm vào nó. Cháu khiếp sợ. Sau đó, một nhân viên Cheka gọi cháu và dẫn cháu vào nhà Beria. Beria ngồi ăn cơm chiều cùng với cháu, đề nghị uống rượu chúc Stalin. Cháu từ chối, nhưng ông ta cứ nài nỉ phải uống vì Stalin. Cháu đồng ý, rồi uống, còn sau đó cháu thiếp đi và ông ta hiếp cháu.
Tôi trả lời người này:
- Tất cả những gì ông kể, công tố viên sẽ điều tra”.
Sau đó người ta đưa chúng tôi một danh sách trong đó có họ tên hơn 100 phụ nữ. Tay chân của Beria dẫn họ tới Beria. Nhưng việc tiếp khách ở chỗ Beria tất cả mọi người đều theo một cách: tất cả những ai vào nhà Beria lần đầu tiên, ông đều mời ăn và đề nghị uống rượu vì sức khoẻ của Stalin. Trong rượu vang ông bỏ sẵn thuốc ngủ. Sau đó ông làm với họ cái gì mà ông muốn. Khi Beria bị cách ly, ông xin bút và giấy. Chúng tôi bàn bạc và quyết định cứ đưa cho ông: biết đâu trong lòng ông thức tỉnh một khát vọng chân thật để ông nó những gì ông ấy biết là chúng tôi buộc tội ông. Và ông bắt đầu viết. Ban đầu, thư cho Malenkov:
- Egor, anh thật đáng khinh, tôi biết anh, chúng ta là bạn nhau, sao anh lại tin Khrusev? Ông ta xúi giục anh làm điều này… và vân vân.
Với tôi ông cũng có một bức thư, trong đó viết rằng ông là một người trung thực. Ông gửi một số thư như thế: Malenkov băn khoăn khi đọc những thư này. Sau đó Malenkov bắt đầu lo lắng rằng ông và Beria cùng đưa ra ý tưởng từ bỏ xây dựng CNXH ở Đông Đức, và ông sợ rằng vụ việc nhằm chống Beria, xoay sang chống ông. Nhưng chúng tôi nói với ông rằng bây giờ chưa phán xét vấn đề này. Vấn đề Beria còn sâu rộng hơn nhiều so với vấn đề Đức.
Khi Rudenko bắt đầu thẩm vấn Beria, thì chúng tôi ngỡ ngàng thấy một con người tàn ác, khốn nạn, không có một cái gì thiêng liêng cả. Ở Beria không hề có chủ nghĩa cộng sản, và nói chung không có bộ mặt đạo đức con người. Nhưng quả là về tội ác của Beria khu vựcc gì để nói, vì ông làm chết bao nhiêu người lương thiện!
Sau khi bắt Beria được một thời gian, lại có vấn đề về Merkulov, từng là Thanh tra nhà nước Liên Xô. Tôi, thú thực rằng, trước đây tôi kính trọng Merkulov và coi ông là người của Đảng. Ông là con người có văn hoá và nói chung tôi quý ông. Vì thế tôi nói các đồng chí của mình:
- Có một sự kiện, Merkulov là trợ lý của Beria ở Gruzia, còn chưa đủ chứng minh rằng ông là đồng bọn của Beria. Có thể dù sao đi nữa, điều này không phải thế? Chính Beria giữ rất chức vụ cao và chính hắn chọn người cho mình, mà không phải ngược lại. Người ta tin Beria và làm việc với ông ta. Vì thế không thể coi những ai làm việc làm việc với Beria, như là những cộng sự gây những tội ác. Chúng ta gọi Merkulov, nói chuyện với ông. Có thể, ông thậm chí giúp đỡ chúng ta tốt hơn trong việc phán xét Beria.
Và chúng tôi quy ước rằng tôi gọi ông đến Ban chấp hành Trung ương Đảng. Tôi gọi Merkulov, nói rằng Beria bị bắt, rằng đang tiến hành điều tra.
- Ông nhiều năm làm việc với Beria, liệu có thể giúp đỡ Ban chấp hành Trung ương.
- Tôi sẵn sàng làm tất cả những gì có thể.
Và tôi đề nghị Merkulov:
- Hãy trình bằng văn bản tất cả những gì cần thu thập.
Sau bao nhiêu ngày trời, ông mới viết một bức thư dày, tất nhiên, vẫn nằm ở lưu trữ. Nhưng bức thư này chẳng giúp chúng tôi một cái gì cả. Ở đó chỉ là những ấn tượng chung chung, suy lý, tựa như tác phẩm nào đó. Merkulov viết một cái gì đó, kể cả bài hát, và thói quen sáng tác. Khi tôi gửi tài liệu này cho Rudenko, thì ông nói thẳng rằng phải bắt Merkulov, vì rằng điều tra vụ Beria mà không bắt Merkulov thì sẽ công việc sẽ bị cản trở và không làm đày đủ.
Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết định bắt Merkulov. Tôi đau lòng, thấy rõ rằng mình phí công tin ông. Merkulov có liên quan với Beria trong những tội ác như thế, và chính ông phải ngồi trên ghế bị cáo và cùng trách nhiệm với Beria. Trong lời nói cuối cùng, khi bị kết án trước toà, Merkulov nguyền rủa cái ngày giờ, khi gặp với Beria. Ông nói rằng Beria đã đưa ông tới toà.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #72 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:48:40 pm »

 Từ Đại hội 19 đến Đại hội 20 ĐCSLX

Ngay sau khi kết thúc Đại hội 19 ĐCSLX, nảy sinh việc thay thế Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng trước đây bằng một cái tên gọi mới - Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương ĐCSLX, Stalin đã hình thành những hội đồng rộng rãi gồm nhiều thành viên về các lĩnh vực khác nhau. Trên thực tế té ra là những hội đồng này chẳng có khả năng làm việc, mặc dù tôi xem rằng nếu có sự lãnh đạo thích đáng lãnh đạo thì nó cũng giải quyết nhiệm vụ cụ thể mà quyền hạn chủ yếu - hội đồng này đưa ra những dự thảo, thì họ đóng một vai trò tích cực. Nhưng họ không thể làm nổi vai trò đó, vì rằng nó được trình cho chính họ, và không hề có một kế hoạch nào cả để lãnh đạo những hội đồng này, và các vấn đề đặt ra trước đây với họ vẫn không giải nghĩa được. Các vấn đề đang được suy nghĩ. Tóm lại, một người có dụng cụ của mình thích dùng lúc nào thì dùng. Không có ai lãnh đạo cả.
Rồi Stalin qua đời. Tôi rất trải qua nặng nề về cái chết của ông. Nếu nói chân thật, thì tôi chịu đựng không phải vì tôi có mối ràng buộc với Stalin, mặc dù nói chung tôi cũng ràng buộc với ông. Đơn giản là ông đã già, và không tránh khỏi cái chết luôn cặp kè với ông. Đối với tôi dó là quy luật bi thảm của tự nhiên: mọi người sinh ra và chết đi, phải coi trọng điều này. Stalin ở độ tuổi như thế, không thể tránh khỏi cái chết. Nôi lo lắng trước tiên của tôi là thành phần Đoàn chủ tịch vẫn tồn tại sau khi Stalin qua đời, và vai trò đặc biệt của nó đang nằm trong tay Beria và được ông ta củng cố: vai trò này đang báo trước, theo đánh giá của tôi, có một công việc lớn và là một bất ngờ lớn, tôi thậm chí nói rằng hậu quả thảm khốc. Vì thế tôi than khóc Stalin như một lực lượng duy nhất hiện thực đoàn kết. Mặc dù lực lượng này thường được sử dụng rất lung tung và không phải luôn luôn đi theo hướng cần thist, nhưng tất cả sức lực của Stalin là nhằm đến sự vững mạnh và phát triển sự nghiệp CNXH, sự vững mạnh thành quả của cách mạng tháng Mười. Điều này tôi không nghi ngờ. Ông đã thi hành cách thức dã man trong hành động, nhưng khi đó tôi còn chưa biết, sự xấu xa của ông là hoàn toàn vô căn cứ đến nhường nào, từ quan điểm của những người bị bắt và bị tử hình một cách vô cớ.
Tất nhiên ở tôi, cũng như mọi người khác thoáng hiện một ngờ vực:
- Thế này là thế nào? Trong số những người bị bắt hoặc bị tù hầu như không có ai quay lại và hầu như họ không đúng?
Trong cuộc sống không cần phải có như thế. Những nghi ngờ phát sinh đều có căn cứ, như phải theo chuẩn mực đúng trong ý nghĩ. Nhưng Stalin - là Stalin. Uy tín của ông rất lớn, và tôi không nghĩ rằng con người này về nguyên tắc có khả năng cố ý lạm dụng quyền lực.
Beria, khi Stalin qua đời, lại vào đúng chỗ đó. Ông thay đổi hẳn, trẻ ra, ăn nói thô lỗ, vui vẻ lên, đứng ở thi hài Stalin đặt trong quan tài chưa đến giờ chôn. Beria cho rằng thời của ông đã đến. Bây giờ không còn thế lực nào có thể kiềm chế ông, mà thế lực đó ông cần tính đến. Giờ đây ông có thể làm tất cả những gì ông xem là cần thiết.
Malenkov?
Malenkov không bao giờ giữ vị trí riêng, ông không có vai trò đặc biệt. Ông luôn luôn là người đầu sai. Stalin trong các cuộc nói chuyện hẹp đã nói một cách tương đối hình ảnh về Malenkov:
- Đây là một thợ viết. Ông ta viết nghị quyết rất nhanh, không phải luôn luôn một mình mà con tổ chức mọi người. Điều này ông làm nhanh hơn và tốt hơn những người khác, nhưng ông không có khả năng suy nghĩ và sáng kiến độc lập.
Đúng, Malenkov, theo tôi, cũng không có tham vọng trực tiếp cho điều này. Năm năm trước khi Stalin mất, tôi có mặt ở Sochi theo lời mời của Stalin, tôi có một lần nói với Malenkov, nhắc ông nên lưu tâm rằng ông có chỗ đứng của mình và không phải là dường cột trong quan hệ Beria, còn Beria nhạo báng ông. Lúc đó Malenkov nói với tôi là ông biết điều này, nhưng ông có khả năng để làm đúng công việc và thoát khỏi điều này. Ông cho rằng ông cùng với Beria là có lợi cho cá nhân ông. Vả lại, quả là đúng như vậy. Ông ủng hộ Beria, còn Beria ủng hộ Malenkov. Vì thế Stalin đánh giá cao hoạt động của Malenkov, mặc dù ông phê phán mạnh về khả năng của Malenkov trong lãnh đạo.
Bulganin?
Bulganin rất thận trọng với Beria, và khi tôi với ông nói về vấn đề này, thì ông phát biểu nhận xét tiêu cực đối với Beria, ông đồng ý với tôi.
Với ý nghĩ như thế, tôi đứng cạnh thi hài Stalin. Trước đây tôi đã kể về hoạt động của chúng tôi sau khi Stalin qua đời và về việc bắt Beria và tôi không bây giờ không lặp lại nữa. Nhưng sau khi bắt Beria và điều tra thì khám phá được những thôi thúc bí mật che dấu chúng tôi, những thôi thúc này trước đây đẻ ra sự lạm quyền lớn biết nhường nào dẫn đến cái chết của nhiều người lương thiện. Đối với tôi, nói riêng, ấn tượng mạnh nhất là cái chết Kedrov, cha của viện sỹ triết học Kedrov. Cá nhân tôi không biết Kedrov cha. Ông là một chính khách lớn, một trong những nhà lãnh đạo bộ đội Liên Xô ở miền Bắc, trong những năm nội chiến ông là người tổ chức phòng thủ chống bọn can thiệp ở đó. Và tôi có nhu cầu phải vén bức rèm để biết, dù cuộc điều tra đang làm, tại sao xảy ra các vụ bắt bớ, tất cả bao nhiêu người bắt, tài liệu gốc về việc bắt giam và điều tra về các vụ bắt giam này như thế nào? Tôi đặt vấn đề này tại cuộc họp Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương và đề nghị được phân xử rõ ràng. Các vấn đề này đặc biệt làm tôi lo lắng vì rằng chúng tôi cũng bắt đầu nghĩ về tiến hành Đại hội 20.
Tất nhiên chúng tôi cùng Vorosilov, Molotov, Kaganovich không bỏ cuộc đấu tranh để mở toang những thôi thúc bí mật. Tôi còn nhớ chính xác quan điểm của Mikoyan. Hình như, Mikoyan không tích cực, nhưng không cản trở quá trình phanh phui sự bất công. Tóm lại, dần dần tất cả đều đồng ý rằng cần phải tiến hành phanh phui vụ việc. Một Uỷ ban điều tra được thành lập, đứng đầu là Pospelov.
Trước đó, tôi mời Viện trưởng Viện Kiểm sát Liên Xô Rudenko (là Viện trưởng Viện kiểm sát đã xem xét nhiều và kiểm tra các tài liệu này) và hỏi ông:
- Đồng chí Rudenko, theo những bản án công khai thập niên 30 những điều buộc tội là căn cứ, thì mang chúng trình cho Bukharinу, Rykov, Syrsov, Lominadze, Krestinsky và những người khác, trong BCH TƯ, các uỷ viên Ban tổ chức và Bộ chính trị? Có bao nhiêu những tài liệu có căn cứ?
Rudenko nói rằng từ quan điểm chuẩn mực luật pháp thì chẳng có một số liệu nào cả để buộc tội những người này. Tất cả chỉ dựa trên những lời thú nhận có tính cá nhân, mà những lời thú nhận đó có được bằng cách đánh đập và hành hạ người ta về tinh thần và thể xác, cho nên không thể là cơ sở để kết án người ta.
Khi đó đặt trước tôi một vấn đề: điều này có thể xảy ra không? Mọi người biết về vai trò của Stalin, cá nhân ông, quá trình hoạt động cách mạng của ông, công lao của ông trước đất nước và những phẩm chất mà Đảng ghi nhận. Ông có đầy đủ cơ sở để có vai trò đặc biệt, vì rằng ông thực tế đã tách khỏi những người gần mình và biết tổ chức công việc, và thông minh. Ông quả là đứng cao hơn người khác. Và thậm chí bây giờ, dù tôi không khoan nhượng những phương pháp hành động của ông, sự lạm quyền của ông, tôi cũng phải thừa nhận điều này. Tuy nhiên, nếu như bây giờ, chẳng hạn, ông vẫn còn sống và tiến hành bỏ phiếu về vấn đề trách nhiệm của ông vì hành vi ấy, thì tôi vẫn có quân điểm là phải xử ông. Nhưng cần phải đánh giá ông. Con người này không đơn giản đến với chúng tôi bằng gươm và chiếm được trái tim khối óc chúng tôi. Không, ông trong cuộc sống ông thể hiện sự lấn át của mình, tài năng lãnh đạo đất nước, kỹ năng cai trị mọi người, cho họ những phẩn cách vững chắc, cần thiết cho người lãnh đạo ở quy mô lớn.
Tất cả những gì liên quan tới cá nhân của Stalin, có cái xấu, cái tốt, cái đúng, và dã man, không để hết vào đâu. Phải xem xét tất cả các mặt của con người phức tạp này. Tôi nói nhiều ở đây phía tối đơn giản vì rằng mặt tâng bốc ông là quá đủ rồi. Điều chủ yếu - có những kết luận cần thiết và để những sự việc tương tự không lặp lại trong tương lai. Ở đây bao gồm tất cả các thư của tôi. Bất cứ việc nghiên cứu nào về quá khứ cần phải phục vụ cho hiện tại và tương lai.
Mở rộng một hướng song song. Những người lứa tuổi tôi nhớ lại việc ca tụng Stalin dần dần tăng lên, và mọi người đều biết sự tụng ca này được rót hết cỡ. Stalin thông minh! Stalin thiên tài! Tôi cũng chưa nói về những từ văn vẻ khác: nào là bố để nhân dân, và vân vân. Tất cả điều này hiện nay vang lên tại Trung Quốc người ta nói và viết về Mao. Tôi xem phim Trung Quốc. Tôi thấy chúng không hiếm trên TV. Tất cả các buổi tiếp khách được Mao nhân bản từ Stalin. Hãy mở mắt và nghe những lời phát biểu của người Trung Quốc về Mao Trạch Đông. Nếu thay thế “Mao” bằng “Stalin”, thì nhận được quá khứ. Đúng là những “màn kịch” tương xứng đã từng được tổ chức ở chúng ta. Tôi xem đó là hiện diện tính nhu nhược của Stalin. Nhưng, hình như sự việc không những chỉ ở tính nhu nhược. Hình như những người này, Stalin và Mao Trạch Đông, trong vấn đề này về nguyên tắc rất giống nhau. Họ coi điều này là cần thiết để giữ uy tín của họ được trên cao và không những bắt mọi người chịu mình, mà còn bắt họ phải sợ hãi.
Và dù sao chăng nữa có vấn đề: Vì sao điều này lại xảy ra? Nhiều người mà tôi tiếp xúc, hỏi: “Tại sao Stalin, một người thông minh, có thể làm thế?“
Tôi không ít lần, khi quay lại vấn đề này, tìm câu trả lời cho mình. Và tôi có câu câu trả lời duy nhất, tôi nghĩ rằng ông đúng. Để hiểu căn nguyên sự lạm quyền, giết người sai trái, tính tàn bạo của Stalin, phải quay về chúc thư của Lenin. Lenin, khi ông viết chúc thư, rõ ràng đã thấy trước, Stalin có thể đưa Đảng đến điều đó, nếu Stalin còn nằm trong ban lãnh đạo sẽ chiếm chức vụ Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương. Lenin viết rằng phải loại bỏ Stalin khỏi chức vụ này, mặc dù Stalin cũng có những phẩm chất để làm lãnh đạo. Nhưng ông thô lỗ và có khả năng lạm dụng quyền lực, vì thế ông không thể giữ được. Lenin đề nghị thay thế Stalin bằng một người chan hoà hơn, biết lắng nghe hơn, kiên nhẫn hơn đối với đồng chí trong Đảng và không lạm dụng chức vụ cao của mình. Tôi cho rằng đây là nhận xét chính xác. Cuộc sống đã hoàn toàn xác nhận tư tưởng của Lenin. Ban chấp hành Trung ương Đảng không đi theo lời Lenin, không rút ra những kết luận thích hợp và bị thất bại. Không những Ban chấp hành Trung ương, mà toàn Đảng đã vị Stalin lạm quyền trừng phạt, giết Đảng viên và cốt cán ngoài Đảng. Trong những hoạt động này của Stalin, thấy được một con người bệnh hoạn. Đã xảy ra thảm hoạ với Đảng và tất cả nhân dân chúng tôi.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #73 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:49:08 pm »

Tài liệu của Uỷ ban Pospelov mà chúng tôi lập trước ngưỡng cửa Đại hội 20 ĐCSLX, đối với nhiều người trong chúng ta là hoàn toàn bất ngờ. Tôi nói về ban thân tôi, ở mức độ nào đấy và về Malenkov, Bulganin, Pervukhin, Saburov, và các đồng chí khác. Đồng thời tôi xem rằng Mikoyan trong thâm tâm phải rất sẵn sàng có thể bóc trần các sự thật dạng này được soi sáng trong thư của Pospelov. Tôi không cả quyết Mikoyan biết tất cả! Dù sao chăng nữa thời gian dài Mikoyan gần Stalin hơn tất cả chúng ta, và nhiều người làm việc với ông, được ông tin và được ông kính trọng, cũng đã bị giết. Anastas Ivanovich là người thông minh sắc sảo, biết cách thông báo Sự Thật, tôi nghĩ rằng nếu ông không biết tất cả, thì tôi dự đoán cho rằng vẫn còn ít chứng cớ về các vụ bắt bớ giam cầm và đặc biệt là các vụ hành quyết, được tiến hành trong thời gian Stalin cầm quyền. Tôi có cơ sở nghĩ như vậy, nói riêng, cuộc mạn đàm của tôi với Anastas Ivanovich, khi ông kể cho tôi nghe về buổi nói chuyện của ông với Ordzonikidze ngay đêm hôm trước cái chết của ông ta.
Khi đó tôi là uỷ viên Ban lễ tang Sergo, Chủ tịch Ban lễ tang là Avel Safronovich Enukidze giải thích rằng Sergo chết đột ngột do vỡ tim. Tất nhiên ông giải thích rằng Stalin ra lệnh như thế. Sau này, có lần tôi ở văn phòng của Stalin và hoàn toàn ngẫu nhiên khen ngợi Sergo. Điều này gây ra một ấn tượng xấu, không ai phản đối tôi, nhưng tất cả lặng thinh, im lặng một lúc. Sau đó Malenkov giải thích cho tôi rằng Sergo bị bắn. Tất nhiên khi Sergo chết, Malenkov cũng không biết gì cả về điều này, bởi vì khi đó ông còn chưa gần Stalin bằng tôi. Nhưng trong thời gian chiến tranh vệ quốc ông biết về điều này trong một lần nói chuyện ngẫu nhiên ở Stalin. Sau khi Stalin qua đời, Mikoyan cũng kể rằng Ordzonikidze bị bắn hôm chủ nhật, nhưng đêm thứ bẩy, họ còn đi bộ quanh Kreml và nói chuyện. Trong cuộc hội đàm ấy, Sergo nhận xét rằng không thể tiếp tục sống: chiến đấu với Stalin thì ông không thể, mà chịu đựng thì ông đã làm, không còn sức.
Vì sao chúng tôi xây dựng Uỷ ban của Pospelov? Tôi lập luận như thế này: chúng tôi đang chuẩn bị Đại hội Đảng, Đại hội Đảng đầu tiên sau khi Stalin qua đời. Tại Đại hội này chúng tôi cần phải nhận trách nhiệm về lãnh đạo Đảng và đất nước. Để làm việc này phải biết chính xác cái gì được làm trước đây và bằng cái gì mà Stalin đưa ra những quyết định về vấn đề này khác. Đặc biệt điều này can hệ tớ những người bị bắt. Vấn đề đặt ra là: họ bị tù vì cái gì? Và cái gì tiếp theo đến với họ? Khi đó trong các trại cải tạo có đến hàng triệu người. Đấy là con số 3 năm sau khi Stalin qua đời. Trong năm này chúng tôi không thể cắt đứt với quá khứ, không thể có đủ lòng dũng cảm, tìm thấy nhu cầu nội tại hé mở bức màn che và nhìn vào cái gì đằng sau bức bình phong? Cái gì ẩn sau bức màn này, cái gì xảy ra dưới thời Stalinе? Điều này nghĩa là các vụ bắt bớ vô tận, xét xử, độc đoán, bắn giết? Chúng tôi cảm thấy ngượng bởi hoạt động của mình dưới sự lãnh đạo của Stalin và mà vẫn chưa thoát khỏi áp lực này sau khi ông chết, mặc dù cũng không thể hình dung rằng các xử bắn lại có thể tỏ ra là vô căn, nói theo ngôn ngữ luật, tội ác chồng chất. Nhưng chính là như thế!
Stalin đã thực hiện những tội ác hình sự, loại tội ác này bị trừng phạt tại bất cứ quốc gia, trừ những quốc gia chẳng có luật pháp nào cả. Tình hình có hai mặt: Stalin qua đời, chúng tôi chôn cất ông, còn những người vô tội vẫn đi đày trong các trại tập trung… Tiếp theo, mọi lại trở lại bình thường? Tiếp tục chính sách cũ và tất cả những gì được làm dưới thời Stalinе, lại được hoan nghênh? Thậm chí các vụ bắt bớ không đúng và hành quyết? Những người đã bị giết với cái mác “kẻ thù nhân dân”, không ai nghĩ đến minh oan.
Tôi cho rằng Molotov, Vorosilov và Kaganovich là nguồn thông tin lớn nhất về quy mô thực và nguyên nhân các vụ đàn áp dưới thời Stalin. Tôi cho rằng Stalin trao đổi ý kiến với họ về con số này. Mặc dù Kaganovich, có lẽ, chưa biết hết cặn kẽ tất cả. Chưa gì Stalin chia sẻ với ông một cách cởi mở. Nịnh bợ đến như thế, là Kaganovich, ông có thể phanh thây cha đẻ của mình nếu như Stalin chỉ trong nháy mắt nói là điều này là cần thiết cho lợi ích của sự nghiệp Stalin. Stalin cũng không cần lôi kéo Kaganovich: chính con người này hơn ai hết gào to lên rằng cần phải làm ở đâu, không cần phải làm ở đâu, bò rách đầu gối quỵ luỵ trước Stalin, bằng cách bắt người bên phải bên trái và vạch mặt “kẻ thù”.
Khi ông vào Dân uỷ, thì triển khai ngay ở đó một lực lượng đầy đủ.
Sau một cơn điên dài săn lùng “kẻ thù nhân dân” chúng tôi cũng không thể quẳng được gánh nặng tinh thần của những những việc làm từ trước đó cho đến 1956, tất cả đã vẫn còn tin vào cái giả thiết mà Stalin dựng lên, rằng trong nước chúng tôi bị bao vây bởi “kẻ thù nhân dân” và phải chiến đấu với họ, bảo vệ cách mạng. Chúng tôi vẫn như trước đây nằm ở quan điểm nặng nề đấu tranh giai cấp, như là được dựa trên học thuyết và được Stalin thực thi. Nhưng khi chúng tôi đi đến quyết định thành lập Uỷ ban kiểm tra và Uỷ ban này cung cấp những tài liệu của mình, những tài liệu này đã được làm một cách bí mật. Sau đó, tại Đại hội 20, báo cáo của tôi được lãnh đạo theo tài liệu của Uỷ ban này. Bản báo cáo được copy gửi cho toàn bộ các cơ sở Đảng và thi hành những biện pháp, để các tài liệu sau khi đọc xong được thu hồi về.
Chúng tôi phân phát chúng cho các Đảng cộng sản anh em để biết. Trong số này, có Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Ở Ba Lan đúng lúc đó người lãnh đạo đảng là Berut chết. Sau khi ông chết, ở Ba Lan nổi lên một làn sóng, và tài liệu nói trên rơi vào tay những người Ba Lan không ưa Liên Xô. Họ sử dụng tài liệu này vào mục đích của mình và nhân bản nó. Người ta thậm chí nói với tôi rằng những người Ba Lan đã bán rẻ những tài liệu này. Báo cáo của Khrusev, làm trong phiên họp kín Đại hội 20 ĐCSLX, được đánh giá là không đắt. Đơn giản người ta có thể mua nó ở chợ trời, kể cả những người từ khắp các nước trên thế giới. Như thế tài liệu này đã được lưu hành. Tôi nhớ, các nhà báo phỏng vấn tôi rằng tôi có thể nói theo lý do này được không? Tôi trả lời tôi không biết những tài liệu như thế và cứ để tình báo Mỹ trả lời vấn đề này. Nhưng tôi phải trả lời thế nào, nếu phải nói ra bí mật?
Như vậy, chúng tôi sát Đại hội thường kỳ của Đảng. Tôi từ chối báo cáo tổng kết và cho rằng lần này chúng tôi làm lãnh đạo tập thể, nên báo cáo tổng kết không nhất thiết là bí thư Ban chấp hành Trung ương phải làm. Vì thế tại phiên họp thường kỳ Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương tôi đề nghị quyết định ai sẽ làm báo cáo tổng kết. Tất cả mọi người, trong số này có cả Molotov (ông là người nhiều tuổi nhất trong số chúng tôi và có nhiều cơ sở hợp với vai trò người báo cáo), đồng thanh cử tôi làm báo cáo. Hình như về theo suy nghĩ hình thức, thì thường Bí thứ thứ nhất Ban chấp hành Trung ương đóng vai trò báo cáo tổng kết. Nếu để người khác báo cáo, thì có thể gây ra phức tạp. Sau khi Stalin qua đời trong số chúng tôi không có ai được coi là người lãnh đạo sáng giá. Có nhiều người cũng muốn đứng lên phất cờ, nhưng chưa có một người nào vượt trội cả. Vì thế người ta trao việc làm báo cáo cho tôi. Nhưng khi ấy một số người, trong số này có Vorosilov và Kaganovich, phản đối việc nói ra trên Đại hội điều gì đấy về sự đàn áp phi pháp dưới thời Stalin.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #74 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:49:39 pm »

Tôi chuẩn bị báo cáo. Bản báo cáo tổng kết được thảo luận tại phiên họp toàn thể Ban chấp hành Trung ương và được tán thành. Bản báo cáo là thành quả của sáng tạo tập thể, tập hợp các sức lực của Ban chấp hành Trung ương, của các viện nghiên cứu khoa học và một loạt các cơ quan khác, và cả những nhân vật cuốn hút vào việc hình thành báo cáo tổng kết. Đại hội khai mạc. Báo cáo đã sẵn sàng. Triển khai các tranh luận. Đại hội tiến hành tốt đẹp. đối với chúng tôi, tất nhiên, là một thử thách. Đại hội sẽ ra sao sau khi Stalin qua đời? Nhưng tất cả các phát biểu đều hoan nghênh đường lối Ban chấp hành Trung ương, không cảm thấy một sự đối lập nào cả, không thấy những dấu hiệu của cơn bão tố nào cả. Tôi cũng luôn lo lắng, dù rằng Đại hội tiến hành trôi chảy, báo cáo được hoan nghênh. Tuy nhiên tôi cũng chưa bằng lòng. Một ý nghĩ dày vò tôi:
- Rồi Đại hội bế mạc, sẽ phải ra, và đây là hình thức thôi. Nhưng cái gì tiếp? Trong lương tri chúng tôi vẫn đọng lại hàng trăm người bị giết oan, kể cả hai phần ba uỷ viên Ban chấp hành Trung ương được bầu tại Đại hội 17. Ít ai còn nguyên vẹn, hầu như tất cả các cốt cán chẳng đã bị bắn hoặc bị đàn áp. Hiếm có ai gặp may để còn sống. Làm gì bây giờ?
Tài liệu của Uỷ ban của Pospelov nhói óc tôi. Cuối cùng tôi thu hết sức lực và trong một lần nghỉ giải lao, trong gian phòng Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương chỉ có một số uỷ viên, lại đặt vấn đề:
- Thưa đồng chí, tài liệu của Pospelov ra sao đây? Làm gì với những người bị bắt và bị giết từ quá khứ? Đại hội bế mạc, và chúng tôi ra về, mà không nói được lời của mình? Chính vì chúng tôi cũng biết rằng những người bị sự đàn áp là oan uổng, không phải là “kẻ thù nhân dân”.
Đây là những người lương thiện, trung thành với Đảng, cách mạng, sự nghiệp Lenin xây dựng CNXH ở Liên Xô. Họ sẽ từ nơi bị đầy ải trở về. Chúng tôi đâm ra không giữ họ ở chỗ đó nữa Phải nghĩ xem làm thế nào để họ quay về một cách danh dự.
Chúng tôi trước đó vẫn chưa thông qua quyết định xem xét việc này và việc thả những người bị kết tội oan về nhà.
Ngay khi tôi nói xong, mọi người lập tức quẳng vào mặt tôi. Đặc biệt Vorosilov:
- Anh làm gì thế? Chẳng lẽ thế này ư? Chẳng có lẽ có thể nói hết điều này tại Đại hội? Điều này làm hỏng uy tín của Đảng ta, đất nước ta như thế nào? Anh phải giữ bí mật về điều này chứ. Và khi đó người ta sẽ khiếu kiện chúng tôi. Chúng tôi sẽ nói gì về vai trò cá nhân của chúng tôi?
Cả Kaganovich rất bực tức, và cùng một quan điểm như thế. Đó là quan điểm không có tính Đảng sâu sắc mà là ích kỷ. Đây là sự phủi trách nhiệm và nếu tội các còn sờ sờ ra đó thì phải ỉm đi, che giấu đi.
Tôi nói với họ:
- Điều này là không thể, thậm chí nếu lập luận từ quan điểm của các ông. Không thể ỉm đi được. Người ta phải ra khỏi nhà tù, về nơi chôn rau cắt rốn, kể lại cho họ hàng, người thân và bạn bè, đồng chí, cho toàn quốc và toàn Đảng, biết rằng những người vẫn còn sống từng bị đàn áp oan uổng. Những người ngồi tù 15 năm, có ai đó còn bị hơn nhiều, hoàn toàn chưa là gì. Tất cả những điều buộc tội họ chỉ là chuyện bịa đặt. Không thể im được. Sau đó tôi đề nghị suy nghĩ: tiến hành Đại hội đầu tiên sau khi Stalin qua đời. Tôi cho rằng chính trên Đại hội chúng tôi cần thành tâm nói hết tất cả sự thật về đời sống và hoạt động của Đảng và của Ban chấp hành Trung ương trong thời gian tổng kết. Chúng tôi bây giờ tổng kết từ thời kỳ sau khi Stalin qua đời, nhưng các uỷ viên Ban chấp hành Trung ương phải nói như thế nào trong thời kỳ Stalin. Chúng tôi đã lãnh đạo đất nước cùng với Stalin. Khi Đảng biết sự thật từ những người bị kết tội oan trước đây, họ nói với chúng tôi: Hãy cho biết điều này là như thế nào? Đại hội 20 họp, và ở đó người ta chẳng kể cho chúng ta cả. Và chúng tôi không có khả năng trả lời. Chả lẽ nói rằng chúng tôi không biết gì hết, sé là lừa dối: chính là chúng bây giờ biết tất cả sự thật, về sự đàn áp vô căn cứ, sự chuyên quyền của Stalin.
Những phản ứng quật lại cũng rất mãnh liệt. Vorosilov và Kaganovich lặp lại bất tận:
- Người ta buộc chúng tôi phải chịu trách nhiệm. Đảng có quyền buộc chúng tôi phải chịu trách nhiệm. Chúng tôi ở trong ban lãnh đạo, và nếu chúng tôi không biết tất cả sự thật, đấy là tai hoạ của chúng tôi, nhưng chúng tôi chịu trách nhiệm tất cả.
Tôi nói với họ:
- Nếu xem xét Đảng ta những một Đảng dựa trên tập trung dân chủ, thì chúng ta, những người những người lãnh đạo Đảng, không có quyền không biết. Tôi, và nhiều người khác nằm trong tình thế là, tất nhiên, không biết nhiều, vì rằng được đặt trong một chế độ, lúc đó anh chỉ biết người ta giao cho anh cái gì, còn những cái khác anh không được nói, và đừng thọc mũi tiếp điều này. Chúng tôi không chọc mũi. Nhưng không phải tất cả ở trong tình thế như vậy. Một số trong chúng ta biết, một số thậm chí chấp nhận tham gia giải quyết vấn đề này. Vì thế ở đây mức độ trách nhiệm cũng khác nhau. Cá nhân tôi sẵn sàng là uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng từ Đại hội 17 và uỷ viên Bộ chính trị từ Đại hội 18 chịu phần trách nhiệm của mình, nếu Đảng thấy cần phải truy cứu trách nhiệm của ai lãnh đạo trong thời Stalin, khi sự chuyên quyền hoành hành.
Họ là không đồng ý với tôi. Họ phản đối:
- Anh biết cái gì sẽ xảy ra không?
Lời đối đáp Vorosilov và Molotov đặc biệt the thé. Vorosilov chứng minh rằng nói chung không cần làm điều này:
- Hừ, ai hỏi chúng ta cơ chứ? - ông lặp lại.
Tôi hỏi lại:
- Những tội ác có không? Chính chúng ta chứ không đợi ai khác, phải nói rằng có. Khi nào người ta hỏi chúng ta, thì mới bắt đầu phán xét. Tôi không muốn điều này và tôi không chịu trách nhiệm như thế.
Nhưng chẳng thể nào thống nhất ý kiến được, và tôi đã thấy rằng không đạt được đúng quyết định từ các uỷ viên. Trong Đoàn chủ tịch của Đại hội chúng tôi chưa đặt vấn đề này, chừng nào thoả thuận được nội bộ Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương. Lúc đó tôi đưa một đề nghị như sau:
- Đại hội Đảng cứ họp. Kỷ luật nội bộ Đảng cần có sự nhất quán của lãnh đạo trong các uỷ viên Ban chấp hành Trung ương và uỷ viên Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương, sẽ không tác dụng trong thời gian Đại hội, bởi vì Đại hội có ý nghĩa cao nhất. Bây giờ mỗi uỷ viên Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương và uỷ viên Ban chấp hành Trung ương, trong số này và tôi phải làm báo cáo tổng kết, từng người có quyền phát biểu tại Đại hội và trình bày quan điểm của mình, thậm chí nếu quan điểm này không phù hợp với quan điểm báo cáo.
Tôi không nói rằng tôi sẽ thông báo về tài liệu của Uỷ ban điều tra. Nhưng, hình như có ai phản đối, cho rằng tôi có thể phát biểu và trình bày quan điểm của tôi động chạm đến việc bắt bớ, bắn giết. Bây giờ tôi không nhớ sau đó những ai ủng hộ ủng hộ tôi. Tôi nghĩ rằng đây là Bulganin, Pervukhin và Saburov. Tôi không chắc lắm, nhưng tôi nghĩ rằng, có thể, Malenkov cũng ủng hộ tôi. Ông là bí thư Ban chấp hành Trung ương phụ trách nhân sự, vai trò của ông trong việc này là khá tích cực. Ông, nói riêng, cũng giúp đỡ Stalin điều động cất nhắc cán bộ, rồi sau đó tiêu diệt họ. Tôi không dám chắc cá nhân ông khởi xướng đàn áp. Chưa chắc. Nhưng tại những vùng, khu vực, mà Stalin cử Malenkov đến đó để chỉnh đốn hàng ngũ, thì hàng nghìn người bị đàn áp và nhiều người trong số này bị xử tử. Tuy nhiên Malenkov có thể bây giờ ủng hộ tôi.
Có ai đấy nảy ra sáng kiến:
- Vấn đề đặt ra thế này, hình như tốt hơn là làm thêm một bản báo cáo.
Lúc ấy mọi người miễn cưỡng đồng ý. Tôi nói với họ:
- Thậm chí ở những ai thực hiện những tội ác, lần này đến lúc họ có thể thú nhận, và họ cũng được khoan hồng, không phải biện minh. Nếu thậm chí từ quan điểm xem xét vấn đề báo cáo sự lạm quyền mà Stalin thực hiện, thì có thể làm được ngay bây giờ, tại Đại hội 20. Để đến Đại hội 21 thì sẽ muộn, nếu chúng ta còn kịp sống đến lúc đó và đòi hỏi những vấn đề trước đây thì chẳng cần nữa. Vì thế tốt nhất làm bản báo cáo thứ hai từ bây giờ.
Khi đó nảy sinh vấn đề ai phải làm báo cáo. Tôi đề nghị Pospelov, và lập luận đề nghị của mình là ở chỗ Pospelov nghiên cứu vấn đề này với tư cách Chủ tịch Uỷ ban và viết tài liệu để chúng tôi sử dụng nó. Vì thế ông không phải mất thời gian chuẩn bị: ông có thể chuyển các tài liệu này vào báo cáo và đọc nó tại Đại hội. Những người khác (tôi không nhớ là ai) phản đối và đề nghị là tôi làm luôn báo cáo này. Đối với tôi là bất tiện: vì trong báo cáo tổng kết tôi không nói một lời nào về điều này, còn sau đó tôi lại làm thêm báo cáo thứ hai? Và tôi từ chối. Nhưng họ phản đối tôi:
- Nếu bây giờ không phải là anh phát biểu, mà là Pospelov, cũng là một trong những bí thư Ban chấp hành Trung ương, thì phát sinh vấn đề: Vì sao Khrusev trong báo cáo tổng kết không nói tý gì về điều này, mà Pospelov lại phát biểu một vấn đề quan trọng để tranh luận? Không thể Khrusev không biết tài liệu của Pospelov hoặc không coi trọng sự cần thiết của vấn đề. Nghĩa là, về vấn đề này có sự bất đồng trong lãnh đạo? Mà Pospelov phát biểu chỉ với ý kiến riêng?
Luận cứ này cứ lằng nhằng mãi, cuối cùng tôi phải đồng ý. Quyết định rằng tôi sẽ phát biểu tài liệu của Uỷ ban cùng với báo cáo. Chúng tôi tổ chức phiên họp kín trong thời gian tranh luận về tổng kết của Ban chấp hành Trung ương, ở đó tôi cũng làm bản báo cáo thứ hai.
Đại hội nghe tôi một cách im lặng. Như người ta nói có thể nghe được tiếng ruồi bay. Mọi người đều quá bất ngờ. Cần, tất nhiên, biết rằng các đại biểu đã sửng sốt về những câu chuyện về sự độc ác được thực hiện đối với những người từng có công lao, những bolsevich lão thành và những người trẻ. Bao nhiêu người lương thiện từng được điều động đến khác nhau của đất nước đã bị giết! Đây là một thảm khốc cho Đảng và cho các đại biểu tham dự Đại hội. Báo cáo tại Đại hội 20 ĐCSLX về sự lạm quyền của Stalin đã ra đời như thế.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #75 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:50:07 pm »

Tôi xem rằng vấn đề được đưa ra hoàn toàn đúng lúc và kịp thời. Không những không hối hận, những một số người nghĩ, mà còn thoải mái trong lòng rằng đã chộp đứng thời điểm và đã cố làm để bản báo cáo này được làm. Tất cả việc này có thể đưa đến hướng khác, mọi người còn bị sốc là còn nhiều người cũng bị giam cầm nhe trước đây trong các nhà tù và trại cải tạo. Năm 1953 chúng tôi đã có giả thiết về vai trò Beria dường như, Beria hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự lạm quyền thực hiện thời Stalinе. Điều này cũng gây sốc. Chúng khi đó tôi không cách nào gột khỏi ý nghĩ Stalin - người bạn của mọi người, bố đẻ nhân dân, thiên tài và vân vân… Không thể ngay lập tức hình dung rằng Stalin - kẻ sát nhân và tên hung đồ. Vì thế sau bản án cho Beria chúng tôi lại luẩn quẩn trong giả thiết mà chúng tôi xây dựng nên có lợi minh oan cho Stalin: Ông Trời không có lỗi, mà lỗi ở kẻ nịnh bợ, kẻ báo cáo sai cho Trời, vì vậy Trời mới giáng mưa đá, sấm sét và các tai hoạ khác. Nhân dân bị khổ sở không phải vì Trời muốn thế, mà do tên nịnh nọt Nicolai, Ilia Prosok, Beria và vân vân… Và bây giờ có lần có người đặt câu hỏi:
- Liệu có cần phải kể về Stalin không?
Đây hoàn toàn không phải là những người đồng phạm của Stalin trong tội ác, mà thực chất họ là những người quen thói sợ Stalin, và bây giờ họ khó xử. Thông thường các vị lão thành đặt các vấn đề như thế. Họ đã sống với quá khứ, họ khó từ bỏ nổi những hiểu biết trước đây và luận cứ của thời Stalin. Đây cũng một trong những khuyết điểm giáo dục Đảng viên. Tất cả các phương pháp giáo dục trong Đảng, Stalin làm nó thích ứng với mình, với hoạt động của mình: sự tuân lệnh không bàn cãi, sự tín nhiệm tuyệt đối. Trong thời gian chiến tranh có chết chóc mà không nghi ngờ, tất nhiên, nhưng sau này luôn luôn quay ngoắt theo hướng ngược lại, vì rằng một người tin anh mà không bàn luận, khi biết, sự tín nhiệm của anh ta bị lừa, họ sẽ là kẻ thù của anh. Điều này rất nguy hiểm. Tôi luôn luôn đã đứng, hơn nữa bây giờ tôi đang đứng vì sự thật, vì sự đúng đắn tuyệt đối trước Đảng, Đoàn thanh niên và tất cả nhân dân. Có một kết luận là chỉ có nguồn gốc bất tận sức mạnh của Đảng mới có thể chiếm được sự tín nhiệm nhân dân. Người ta biết rằng Đảng đã lừa quần chúng đông đảo, Đảng đến đường cùng.
Bây giờ tôi thường nghe đài. Radio - đó là người bạn đồng hành của tôi trong thời gian dạo chơi. Từ radio tôi nhận cả thông tin, cả sự thoả mãn. Tôi yêu âm nhạc, yêu dân ca. Nhạc hiện đại cũng làm tôi thích. Nhưng, tôi cảm thấy, hình như con người độ tôi có xu hướng sống lại tời trai trẻ. Đặc biệt trong tâm trạng tốt, tôi vừa đi bộ, nghe giọng hát của Ludmina Zykina, ca sĩ mà tôi yêu thích, và nghe cả những buổi truyền khác. Các buổi truyền thanh rất nhiều, đa phần là tốt, nhưng cũng gặp cả những những chuyện nhảm nhí, chỉ có làm bẩn chương trình phát sóng thôi.
Một lần tôi nghe đọc một trong các chương cuối tiểu thuyết “Họ chiến đấu vì tổ quốc” của Solokhov. Mikhail Aleksandrоvich tin bởi sự sáng tác của mình: chuyện thời Stalin lạm quyền, ông trấn áp những cán bộ lương thiện, được Lenin giáo dục, Solokhov tả về cuộc nói chuyện của hai ông đánh cá. Họ ngồi và chuyện trò. Người này hỏi người kia:
- Nên hiểu đồng chí của Stalin như thế nào nhỉ? Nghe nói ông bỏ sót. Nhưng bao nhiêu người bị tội, bao nhiêu người bị hành quyết! Có thể Stalin phạm vào điều này không?
- Đúng, khó hiểu - người kia trả lời.
Lúc đó người đầu tiên lại hỏi:
- Thế không phải Beria chính là người có lỗi à? Chính ông báo cáo tất cả cho Stalin?
Và câu trả lời:
- Đúng, tất cả là do Beria.
Mikhail Aleksandrоvich - một người thông minh và nhà văn giỏi. Sự thật việc ông lại bám vào cách hiểu biết tương tự theo truyền thống của chẳng và nhân dân, trong khi bao nhiêu người chết bởi tay Stalin, tất nhiên, không tô hồng cho ông. Lúc ấy cốt lõi là thế này: Beria không dựng Yezov, mà từ trước đây, dựng Yagoda. Tất cả bọn họ tiếp theo chân nhau vào màn kịch. Một “nhân vật”, được Stalin dựng lên, sẽ được thay thế bằng nhân vật khác, và đây cũng là logic đối với Stalin. Stalin dùng tay người khác để giết những người lương thiện và ông biết rằng họ là những người trong sạch trước nhân dân và trước Đảng. Những người chết chỉ vì rằng ông ông sợ họ và không tin họ. Sau đó, phải dần dần loại bỏ một đồ tể và thay bằng một đồ thứ hai. Cứ như thế ba thê đội tiễu phạt: trước tiên Yagoda, sau đó Yezov, sau đó Beria.
Đến Beria, thì điều này chấm dứt. Nói đúng ra, không phải chính Beria, mà do cái chết của Stalin. Beria đứng trước toà án nhân dân như một tội phạm. Nhưng khi đó chúng tôi vẫn còn lẩn quẩn về cái chết Stalin, thậm chí khi mọi người biết rõ nhiều sau phiên toà xử Beria, vẫn còn đưa cho Đảng và nhân dân những lời giải thích không đúng, tất cả đổ bớt sang đầu Beria. Đối với chúng tôi, Beria tỏ là tiện lợi cho hình ảnh này. Chúng ta đã làm tất cả để bào chữa cho Stalin, dù chúng ta che chở được tên tội phạm, tên giết người, vì chúng tôi vẫn chưa thoát khỏi sự ngưỡng mộ Stalin.
Lần đầu tiên tôi thực sự cảm thấy sự dối trá, khi tôi đến Nam Tư và hội đàm và Tito và đồng chí khác. Khi chúng tôi đụng chạm vấn đề này và đổ cho Beria, họ cười và đáp lại một cách nhạo báng. Điều này làm chúng tôi ức, và chúng tôi, để bảo vệ Stalin, đã cãi nhau rất to, thậm chí suýt đến đổ vỡ to. Sau đó tôi công khai phát biểu bảo vệ Stalin và chống Nam Tư. Bây giờ tất cả rõ ràng là không đúng, lúc ấy tôi ở quan điểm của một người chưa nhận thức được cần vạch mặt đến cùng những tội ác của Stalin, sao cho các phương pháp hành xử tương tự không bao giờ có thể quay về Đảng ta nữa. Người, quả là muốn thiết lập kỷ luật của Lenin trong Đảng ta, mình không phải kỷ luật của Stalin, phải làm hết sức lực để phanh phui Stalin và sự kết án các phương pháp Stalin. Cần phải minh oan những người lương thiện trong số những người chưa được minh oan, và phanh phui những sự phi pháp được tạo ra trước đây, để thậm chí bóng ma của những phương pháp như thế không thể đội mồ sống lại.
Tôi sửng sốt bởi một số tướng lĩnh lớn quân đội trong hồi lý của mình muốn minh oan cho Stalin và cho ông là người cha nhân dân, đã chứng minh rằng nếu không có ông thì chúng tôi không chiến thắng và rơi vào ách phát xít. Đây là lý luận ngu ngốc, mù quáng. Ngay bây giờ, khi không có Stalin, chúng tôi vẫn bị rơi vào ảnh hưởng của Đức, Anh, Mỹ hay sao? Không, không bao giờ. Nhân dân đưa ra những người lãnh đạo mới và có khả năng bảo vệ mình như từng có trong quá khứ. Sự phi lý của những bàn luận như thế không cần thiết trong những bằng chứng riêng.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #76 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:50:27 pm »

Tôi nhớ, tại một hội nghị, một chỉ huy quân sự, nhân ca ngợi Stalin, cũng tôn vinh cả Blyukher. Những người khác, tuy ca ngợi Stalin, cũng tôn vinh Tukhachevsky. Đồng chí, phải ăn nói có trước có sau! Không thể đặt kẻ giết người và nạn nhân lên một bệ. Blyukher là ai? Anh hùng nội chiến, có bẩm sinh quân sự, thợ nguội, nằm trong hàng ngũ tướng lĩnh lớn. Ông đã nhận huân chương Cờ Đỏ №1. Blyukher là số một. Sau đó, là một trong số những chỉ huy quân sự tốt nhất của Liên Xô được cử sang Trung Quốc làm cố vấn quân sự cho Tôn Trung Sơn. Và bỗng nhiên ông bị bắn! Không thể nói cùng một lúc về Stalin và Blyukher, mà lờ đi nguyên nhân cái chết Blyukher. Không thể nhắm mắt cho rằng chẳng ai nhìn thấy gì cả. Sự xấu xa tương tự có thể chỉ gây ra mất lòng tin.
Tôi có lần ở Bulgary, một trong những bài phát biểu tôi dẫn lời của Puskyn, trong tác phẩm của ông có nói về cuộc nói chuyện giữa Mozart và Salere. Mozart không hề nghi ngờ rằng Salere chuẩn bị đầu độc mình, nói:
- Thiên tài và tội ác không thể là một.
Đúng vậy! Với Stalin cũng vậy. Không thể ghép thiên tài và sát nhân vào cùng một bộ mặt. Không thể gắn hàng nghìn nạn nhân với những kẻ sát nhân, mà không có sự giải thích về vụ việc Stalin. Không thể trên một bệ đặt hai bức tượng. Tội ác do Stalin gây ra!
Theo lối nghĩ như thế - có câu hỏi khác. Một số người tranh luận như thế này: điều này được làm không phải nhằm mục đích vụ lợi cá nhân, mà là lo cho dân. Thật mọi rợ! Lo cho dân, thế mà lại giết những đứa con tốt nhất của họ! Logic khá ngu đần. Sự thật, tìm những luận cứ để biện bạch cho kẻ giết người, luôn luôn là phức tạp.
Trong báo cáo của tôi tại Đại hội 20, không nói gì iên quan tới những vụ án công khai thập niên 30, trong đó có mặt đại diện Đảng cộng sản anh em. Lúc đó người ta kết án Rykov, Bukharin, những lãnh tụ khác của nhân dân. Họ xứng đáng để được gọi là lãnh tụ. Chẳng hạn, Rykov. Sau khi Lenin qua đời, ông trở thành Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ Liên Xô, có công lao to trước Đảng, trước nhân dân và xứng đáng lãnh đạo Chính quyền xô viết. Nhưng người ta kết án và bắn ông. Còn Bukharin? Bukharin là trong những yêu quý Đảng. Thế hệ Đảng viên lão thành ĐCS(b) từng học theo cuốn sách của ông Khoa học Mác Lênnin. Bukharin nhiều năm là chủ bút báo Sự Thật. Lenin gọi ông thân mật là “Bukhrik của chúng ta”. Hoặc Zinoviev và Kamenov. Trong cách mạng tháng Mười 1917 họ có sai lầm. Điều này ai cũng biết, nhưng những cái khác cũng nên biết. Zinoviev và Kamenov được Lenin đưa vào Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng và ngang hàng các vị lãnh đạo khác Khi Chính phủ xô viết chuyển về Moskva, Zinoviev còn ở Petrograd. Ông được tin tưởng giao lãnh đạo cái nôi cách mạng và đã nâng ngọn cờ khởi nghĩa tháng Mười năm 1917. Kamenov được Moskva tin tưởng. Ông là, nói riêng, là Chủ tịch Mossoviet. Lenin vc quan hệ với ông sau những sai lầm người ta đã tha thứ cho ông.
Có lần tôi nghe đài nói là: Lenin trao một cái gì đó cho Lomov. Nhưng Lomov ở đâu nhỉ? Tôi biết rõ Lomov, không ít lần tiếp xúc với ông, khi làm việc tại Donbass, từ sau nội chiến. Lúc đó ông lãnh đạo khai thác than tại Donbass. Tôi thường có mặt tại các buổi họp của ông, hoặc ở Kharkov, nơi trụ sở chính của ông. Đó là một người rất được kính trọng trong Đảng с thâm niên bí mật trước cách mạng. Lomov đâu rồi? Ông bị bắn, không còn Lomov nữa. Tôi nói về Kedrovе, Tukhachevsky, Egorov, Blyukher, và những người khác. Có thể lập một quyển sách dày thống kê chỉ những họ tên những tướng lĩnh, Các nhà lãnh đạo Đảng, Đoàn thanh niên, kinh tế, ngoại giao, khoa học. Tất cả đều là những người lương thiện. Họ là nạn nhân của Stalin, nạn nhân sự chuyên quyền.
Vấn đề những vụ án công khai thập niên 30 cũng cũng có hai mặt. Chúng tôi lại sợ nói đến tận cùng, mặc dù không gây ra nghi ngờ nào, rằng những người này không có tội, họ là nạn nhân sự chuyên quyền. Tại các vụ án xử công khai, có mặt những người lãnh đạo đảng anh em, mà chính họ sau này đã chứng minh tại nước họ đây là những bản án chính đáng. Chúng tôi không muốn làm mất uy tín về những tuyên bố của họ, và hoãn lại việc minh oan cho Bukharin, Zinoviev, Rykov và những người khác đồng chí trong một thời hạn chưa định được. Tôi nghĩ rằng đúng là cần phải nói đến cùng. Cái kim trong bọc cũng phải lòi ra.! Thành công chủ yếu Đại hội 20 - là nó bắt đầu quá trình làm trong sạch Đảng và đưa Đảng trở lại chuẩn mực sinh hoạt, mà Lenin và những đứa con thân yêu nhất của đất nước đã làm vì nó.
Một phần những người bị kết án sai đã được tha, ngay khi Stalin qua đời. Beria khi đặt vấn đề này, điều chỉnh nó, đưa ra một đề nghị thích hợp, và chúng tôi đồng ý với ông. Nhưng té ra là những người được tha lại là tội phạm hình sự: giết người, trấn lột, bọn vô lại và đểu cáng. Khi bọn này quay về nơi ở cũ, thì tái diễn những cảnh trộm cắp, cướp giật và giết người. Nhân dân ca thán rằng người ta thả bọn trộm cắp và giết người và họ làm bẩn sự nghiệp của mình. Trước đó Beria bị vạch mặt và kết án. Vì thế chính chúng tôi phải đưa cho nhân dân những chỉ thị. Bản thân chúng tôi cũng thấy đây là việc làm không đúng, mặc dù thông qua đề nghị của Beria, nhưng quyết định lại do Chính phủ và Ban chấp hành Trung ương thông qua, như vậy tất cả chúng tôi chịu trách nhiệm về việc này. Bao nhiêu đối tượng này được thả, tôi khó nói được, tuy nhiên trong mọi trường hợp cũng là một đội quân lớn.
Những người bị kết án về chính trị và những người bị lưu đày vẫn còn nằm trong các nhà tù và các trại tập trung. Beria thậm chí đề nghị thông qua luật trao quyền cho Bộ nội vụ, nghĩa là Beria, có quyền xem xét là thả ai cho ai sau khi hết thời hạn trừng phạt. Như tôi đã kể, tôi đã thẳng cánh phản đối như thế nào, và mọi người ủng hộ tôi. Do đó, Beria rút đề nghị này. Số phận tất cả những người tù chính trị ra sao, khi Viện trưởng Viện Kiểm sát Rudenko trình tôi về sự vô tội của họ, tôi hỏi ông:
- Sao lại thế? Chính tôi đã nghe, họ thú nhận tội mình người ta buộc cho họ cơ mà.
Rudenko cười:
- Đó là nghệ thuật của người điều tra và người xử. Hình như những con người này bị dồn đến trạng thái, chỉ có một cách duy nhất để kết thúc sớm những đau khổ và nhục nhã - là tự thú nhận, bước sau đó là cái chết”.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #77 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:53:13 pm »

Sau Đại hội 20 ĐCSLX

Ngay sau Đại hội 20, trong tất cả các Đảng cộng sản, đặc biệt Pháp và Ý bắt đầu xúc động. Cũng dễ hiểu rằng đó là những Đảng vô sản, đông quần chúng, mà tại những phiên toà xử “kẻ thù nhân dân” lại có mặt Thorez và Toliatti, hai ông này về sau làm nhân chứng cho nước họ rằng những người bị khép tội là đúng luật. Thế mà bây giờ tất cả xoay ngược lại! Tình tiết này cũng ngăn họ không công bố tư liệu phiên toà công khai, mặc dù cũng chẳng có tội ác nào cả và các bản án chỉ có tính ý nguyện và không chứng minh được tội ác của những bị cáo “tự thú nhận”.
 Bắt đầu mây đen ở Ba Lan. Sau Ba Lan, lan sang Hungary. Sau khi người lãnh đạo Ba Lan là Berut qua đời, tôi, đại diện toàn quyền Ban chấp hành Trung ương ĐCSLX, đến Warsawa, tham dự phiên họp toàn thể Ban chấp hành Trung ương Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Tôi không có mặt tại các phiên họp này để người ta không buộc tội Liên Xô can thiệp vào nội bộ Đảng anh em. Các phiên họp tiến hành rất sóng gió, các uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng công nhân thống nhất Ba Lan bày tỏ không hài lòng với Liên Xô. Những người trong Ban chấp hành Trung ương Đảng Ba Lan, thân với chúng tôi, đã kể như thế. Điều này làm chúng tôi không sung sướng gì, nhưng chúng tôi cho rằng đây là thể hiện dân chủ - một yếu tố tích cực. Tuy nhiên, sau một thời gian, ở đấy xảy ra những sự kiện làm chúng tôi lo ngại.
Tại phiên họp toàn thể, Okhab được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Chúng tôi cũng có những quan hệ cá nhân tốt với Okhab. Tôi kính trọng ông, theo tư liệu, ông hoàn toàn xứng đáng điều này. Một người cộng sản lão thành, trải qua trường học cách mạng trong tù. Và thoạt đầu, chúng tôi cho rằng ông xứng đáng tin cậy. Sau khi ông được bầu làm Bí thư thứ nhất, chúng tôi hội đàm với ông, và tôi đặt vấn đề:
- Tại sao Gomumka lại ngồi ngồi tù ở Ba Lan?
Khi tôi nói điều này với Berut, thì ông ta trả lời tôi như thế này:
- Tôi và chính tôi cũng không biết, tại sao Gomumka ngồi tù và ông bị buộc tội gì.
- Ông nghĩ xem, có thể tha ông ấy được không?
Thế là Okhab bắt đầu chứng minh với tôi rằng không thể tha được. Ngồi tù không chỉ một mình Gomumka: mà còn cả Slykhansky, cả Loga-Sovinsky, Klisko và nhiều người khác. Điều này làm tôi lo ngại, và tôi không thể nào hiểu, vì sao họ bị giữ trong tù. Tôi thảo luận hầu như với tất cả các vị lãnh đạo Đảng công nhân thống nhất Ba Lan, và họ đều chứng minh rằng không thể làm một cái gì cả, không thể tha những người này.
Sau một thời gian, Okhab dẫn đầu Đoàn đại biểu đến Trung Quốc. Khi họ quay về nước, ghé qua Moskva, tôi lại bàn bạc với Okhab. Trước đó Gomumka được tha, và tôi hỏi Okhab:
- Liệu chúng tôi chúng tôi có thể mời Gomumka đến Liên Xô, nghỉ ở Hắc hải, ở Krym hoặc Kavkaz, nơi có khí hậu tốt lành để nghỉ hơn là ở Ba Lan.
Ông trả lời không rõ ràng và quay về Warsawa. Điều này làm tôi lo ngại, thậm chí còn băn khoăn. Và đúng sau một vài ngày đại sứ của chúng tôi ở Ba Lan cho biết ở Ba Lan bùng ra sự kiện là nhiều người Ba Lan phỉ báng Liên Xô và suýt nữa thì đảo chính, do những người chống Liên Xô tiến hành. Phát sinh mối đe doạ tuyến giao thông, liên lạc của chúng tôi ở CHDC Đức, qua Ba Lan. Nhưng sự kiện ở Ba Lan chúng tôi rất lo ngại và có những nguyên nhân khác nhau, và chúng tôi quyết định áp dụng các biện pháp để đảm bảo cho chúng tôi tự do qua lại Ba Lan và đảm bảo liên lạc với quyết định Liên Xô ở CHDC Đức. Chúng tôi dự định cử một Đoàn đại biểu đến Ba Lan, nhưng trước khi đi, chúng tôi gọi điện cho phía Ba Lan. Tình hình ở đó tiếp tục nóng bỏng. Báo chí Ba Lan mạnh mẽ phê bình Liên Xô, dường như Liên Xô cướp bóc Ba Lan, mua than của họ theo giá rẻ và bán cho họ quặng sắt theo giá cao. Những việc này quả thật xảy ra thời Stalinе, khi chúng tôi mua bán với các nước dân chủ nhân dân không theo giá thế giới, mà là áp đặt. Lãnh đạo Ba Lan khuyên chúng tôi không đến vào lúc này. Nhưng điều này lại càng làm chúng tôi lo ngại hơn, vì lẽ những người Ba Lan rõ ràng chứng minh rằng họ không muốn gặp chúng tôi Và chúng tôi quyết định nhanh chóng cử một Đoàn đại biểu đến đó gồm: Khrusev, Mikoyan, Bulganin và một số người khác.
Chúng tôi bay đến Warsawa. Ở đó chúng tôi gặp Okhab, Gomumka, những đồng chí khác. Cuộc gặp rất lạnh lùng. Khuôn mặt của Okhab lộ rõ vẻ lo âu. Tất cả kéo đến dinh thự, cung điện ở Larenka nơi bắt đầu đàm phán ở mức gay gắt. Chúng tôi cảnh cáo về việc làn sóng chống xô viết tăng lên ở Ba Lan và tuyên bố rằng chúng tôi kiên quyết đảm bảo giao thông, liên lạc của mình với quân đội xô viết ở CHDC Đức. Đó là áp lực thẳng thừng từ phía chúng tôi. Okhab nổi khùng:
- Ông đưa yêu sách cho tôi phải không? Bây giờ tôi không phải là bí thư Ban chấp hành Trung ương. Ông đi mà hỏi người khác.
Và ông ta chỉ sang Gomumka. Lời nói của Okhab lộ ra vẻ không hài lòng. Chúng tôi khi ấy có một ấn tượng nặng nề về tình hình trong ban lãnh đạo Ba Lan. Chúng tôi không biết thực chất tình hình và sợ rằng chính quyền rơi vào tay những người đang tiến hành chính sách chống Liên Xô. Nhưng chúng tôi không muốn trở lại những quan hệ của chúng tôi với Ba Lan như trước chiến tranh, mà chúng tôi vẫn chưa phai trong đầu.
Gomumka cố gắng xua tan nghi ngờ của chúng tôi. Ông đồng ý rằng tình thế ở Ba Lan là phức tạp và làn sóng chống xô viết tăng lên. Nhưng ông cam đoan tình hữu nghị với Liên Xô cần thiết sống còn đối với Ba Lan và mối quan hệ của chúng tôi không bị phá huỷ. Tôi tin rằng trong một thời gian ngắn, thì làn sóng không hài lòng sẽ bị bớt đi và tình hình trở lại bình thường. Tuy nhiên sau này bắt đầu thên sự kiện ở Hungary. Lúc đó, theo tôi, có hai Đảng cộng sản, mà lãnh đạo không yên ổn. Ở Hungary thời Stalin cũng nhiều người bị bắt bắt, tôi cho rằng không phải Stalin khởi xướng bao nhiêu thì Rakosi làm bấy nhiêu. Điều này được làm thông qua cố vấn của chúng tôi do Stalin cử đến ngồi ở Ba Lan, Hungary, và các nước anh em khác. Qua những người này, Stalin hành xử ở đó với cùng một phương pháp hành xử ở Liên Xô. Sau các cuộc thương thuyết ở Warsawa chúng tôi quay về Moskva dưới một ấn tượng lời tuyên bố căng thẳng nhưng chân thật của Gomumka rằng tình hữu nghị của Ba Lan với Liên Xô cần hơn tình hữu nghị của Liên Xô với Ba Lan. Ông nói:
- Chẳng có lẽ chúng tôi không hiểu tình thế mà chính chúng tôi không có Liên Xô không giữ được biên giới phía tây của mình. Chúng tôi tự xem lại các vấn đề nội bộ, những quan hệ với Liên Xô vẫn là, vẫn là tình hữu nghị không thay đổi và liên minh.
Mặc dù ông nói điều này hơi cao giọng, nhưng không đến nỗi khó để tin. Và tôi tin ông, nói với các đồng chí của mình:
- Tôi nghĩ rằng chúng tôi không có cơ sở để không tin Gomumka. Ông được bầu Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng công nhân thống nhất Ba Lan. Phần đông các đồng chí Ba Lan tin ông. Tôi cảm thấy rằng lời tuyên bố của Gomumka được những người khác ủng hộ. Chính ông nói điều này không phải là bí mật, mà là công khai, tại cuộc họp lãnh đạo. Tất cả mọi người đã nghe thấy. Phải cho rằng lần này không ai, tất cả đều đồng ý.
Tuy nhiên một thời gian dài tình hình ở Ba Lan vẫn căng thẳng và làm chúng tôi rất lo ngại.
Trước mắt chúng tôi còn có cả những mối quan hệ với các nước làng giềng. Thời kỳ đó, vấn đề nghiêm trọng nhất - chất lượng sản phẩm của chúng tôi. Đáng tiếc, chúng tôi không cách nào đuổi kịp các nước tư bản. Nhưng để thi đua thành công với họ, để chủ nghĩa xã hội lôi cuốn mọi người, chúng tôi cần làm tốt nhất. Chúng tôi phải ngả mũ kính chào chủ nghĩa tư bản. Điều này thật xấu hổ. Đáng tiếc, anh hãy dùng radio, ô tô, máy ghi âm của chúng ta sản xuất. Chất lượng ra sao? Chúng tôi ghi nhận 50 năm cách mạng tháng Mười bằng việc mua ở “chủ nghĩa tư bản thối nát” nhà máy ô tô mác “Fiat”.
Chắc chắn những ô tô này ở đó là lỗi thời, mà những người tư bản không phải là ngu: họ bán cho chúng ta model thải ra khỏi sản xuất, chính họ lại lắp model mới. Đáng tiếc, chúng tôi vẫn còn không thể làm việc chúng tôi mong muốn. Tôi nói rằng chúng ta vẫn còn lạc hậu. Nhưng những người lạc hậu, từng có một lúc nào đó sống ở Nga, đã chết từ lâu rồi. Hãy lấy Nhật Bản làm thí dụ: Nhật Bản hoàn toàn tiêu điều sau chiến tranh, bây giờ chiếm vị trí hàng đầu trên thế giới. Nhật Bản cũng đọ sức trong vấn đề tiến bộ kỹ thuật với Mỹ và Tây Đức cũng một phần nào nằm trong đống đổ nát.
Thật ra trong một số lĩnh vực khoa học và kỹ thuật chúng tôi đang ở phía trước. Chẳng hạn, chúng tôi phát minh ra phương pháp rót thép nóng chảy thép liên tục. Chúng thậm chí chúng tôi đã bán hát minh cho Mỹ. Nhưng những thí dụ như thế chỉ là nhỏ so sánh với cái chúng tôi mua từ họ. Khi chúng tôi cố sức mở rộng khai thác dầu mỏ, chúng tôi cần chất chỉ thị buryl. Chúng tôi làm được những chất chỉ thị tốt, tuy nhiên chất chỉ thị của Mỹ không thể so sánh được với chúng ta. Lúc ấy Mỹ vượt xa Liên Xô. Chất chỉ thị buryl tốt nhất này được sản xuất ở Rumani. Tôi hỏi Georgy-Degia về điều này. Ông mỉa mai: người ta nói chúng tôi là ở Mỹ có một nhà tư bản người Rumani trong ngành công nghiệp dầu mỏ. Ông ta giúp đỡ chúng tôi đánh cắp bản thiết kế của Mỹ. Các thiết bị của Rumani làm theo bản thiết kế của Mỹ. Chúng tôi muốn mua của Rumani bản thiết kế này. Tôi nói Georgy-Degia:
- Cho chúng tôi bản thiết kế nhé!
Ông nói:
- Cầm lấy đi.
Cầm lấy đi… với người Rumani giữa từ “cầm lấy đi” và “nhận đi” - một khoảng cách rất xa.
Nói chung lãnh đạo Rumani còn trẻ. Họ thúc đẩy nhanh nền công nghiệp của mình, xây dựng nông trang nhanh và tốt. Rumani về văn hoá trước đây đứng dưới các nước Đông Âu, bây giờ thì cao hơn, chẳng hạn, nông dân mù chữ. Nhưng, dù thế, Rumani chẳng bao lâu nữa sẽ đi lên. Tất nhiên Rumani có điều kiện thiên nhiên thuận lợi hơn các nước xã hội chủ nghĩa khác. Họ, nói riêng, có nhiều dầu mỏ, khí đốt, rừng, bánh mỳ. Các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng chưa phải có đủ lương thực, còn Rumani xuất khẩu bột mỳ. Chúng tôi thường giận Rumani rằng họ bán bột mỳ cho thế giới tư bản, mà không bán cho các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng nếu lấy thí dụ Ba Lan có thừa ngũ cốc, họ có lẽ, khôn hơn Rumani. Họ có thể bán lúa mỳ cho CHDC Đức bằng hàng hoá giá trị. Nhưng chính là mỗi quốc gia đều muốn có ngoại tệ và chạy ra thị trường thế giới. Vì thế không thể giận Rumani.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #78 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:53:51 pm »

Nhân đây, tôi nhớ lại có lần Gomumka đến Moskva và đề nghị bán cho Ba Lan lúa mạch ngoài kế hoạch, mà cái đó chính lại là bánh mỳ của chúng ta. Tôi thấy Gomumka khôn lỏi, không nói thật, và tôi nhận xét:
- Ông muốn mua lúa mỳ, nhưng tôi biết rằng Ba Lan tự cung cấp được lúa mạch. Ông muốn mua ngũ cốc của chúng tôi để nuôi lợn ¬và bán thịt thăn hun khói cho Mỹ.
Gomumka luống cuống, sau đó trả lời:
- Đúng.
- Và ông nghĩ rằng chỉ có người Ba Lan biết làm điều đó, còn người Nga - là những người ngu sao? Ông mua ngũ cốc ở Canada bao nhiêu cũng được, biến thành thịt và bán thịt đi.
- Nhưng ở đó phải trả ngoại tệ.
Vấn đề thế đấy. Mối quan hệ tương hỗ giữa các nước xã hội chủ nghĩa cũng có thể rất phức tạp, và có những lý do khác nhau. Sau cuộc đàm phán này với Gomumka tất cả chúng tôi cung cấp ngũ cốc cho Ba Lan. Nhưng chẳng có lẽ đây là một một trường hợp duy nhất, khi Liên Xô bớt miệng để giúp đỡ những người bạn?
Bao nhiêu lần, đôi khi, chúng tôi đồng ý kế hoạch, nhưng sau đó Gomumka hoặc lại có ai đấy gọi:
- Đồng chí Khrusev, tôi đề nghị tiếp tôi, chúng tôi có vấn đề hóc búa.
Người ta đến.
- Đồng chí Khrusev, ông cung cấp cho chúng tôi chừng này quặng với hàm lượng sắt chừng này, chúng tôi không hoàn thành kế hoạch. Hãy giúp chúng tôi, cho chúng tôi nhiều quặng hơn, hàm lượng sắt cao hơn.
Nhưng cái đó nghĩa là gì? Chúng tôi cho họ số quặng, mà để có được điều này chúng tôi phải chế biến từ quặng sắt hàm lượng thấp. Lại chuyện cà chua Bulgary. Chúng tôi nhận những thứ không ra gì. Người Bulgary quen nghic rằng người Nga ăn mọi thứ rác rưởi, xin lỗi vì cách nói này, thế là họ hái cà chua còn xanh, và làm chín đỏ chúng khi vân chuyển. Đó là những thứ kém phẩm chất! Họ cũng chở cà chua đến Tây Đức, nhưng không phải loại cà chua như thế, vì rằng sẽ không ai mua, ở đó là sự cạnh tranh. Nhưng họ bán để người tiêu dùng nước ta ăn. Đấy là cà chua kỳ diệu. Bulgary - nước trồng trọt tốt nhất thế giới. Nhưng cà chua ngon, chỉ khi hái chúng vào buổi chiều, còn buổi sáng thì mang lên bàn.
Nhiều vấn đề khác nhau nảy sinh quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Nếu không đề cập và giải quyết, thậm chí có thể gây ra xích mích. Chúng tôi giận là nhiều nước xã hội chủ nghĩa nhìn Liên Xô như con bò sữa. Nhưng chính chúng tôi còn sống khổ hơn nước nước mà chúng tôi giúp đỡ. Mức sống được xác định bằng sự tiêu thụ trên một đầu người dân. Thí dụ tiêu thụ thịt. Năm 1964 ở CHDC Đức 75 kg đầu người một năm, ở Tiệp Khắc là 65, Ba Lan - dưới 50, sau đó là Hungary, sau đó chỉ có - Liên Xô, và thấp hơn là Bulgary - 26 kilogam. Có lần nói với Ulbrich:
- Walter, tôi không cần bình quân đâu, nhưng phải hiểu tình thế chúng tôi. Chúng tôi chiến thắng, chúng tôi đánh tan Đức Hittler, và chúng tôi cho CHDC Đức ngũ cốc và hàng hoá giá trị ngoại tệ, để ông có thể bán cho nước ngoài, mua về thịt và đảm bảo tiêu thụ trên đầu người là 75 kg. Nhưng ông có lo cho chúng tôi không?
Những tư duy chính trị, đặc biệt trong quan hệ CHDC Đức cũng ảnh hưởng đến các vấn đề như thế. Người ta muốn mức sống Đông Đức phải hơn Tây Đức. Chỉ riêng điều đó có thể lôi kéo tất cả người Đức chạy về phía chúng ta. Nhưng hiện thời chưa có thế.
Vấn đề bồi thường chiến tranh cũng đáng quan tâm. Các nước phương tây bỏ khoản bồi thường chiến tranh, mà Tây Đức phải trả cho họ, còn CHDC Đức tiếp tục trả chúng ta những cái gì có thể. Khi Stalin qua đời, chúng tôi một lần nữa đặt vấn đề này: nếu chúng tôi muốn Đông Đức có thể chạy đua về mức sống với phương Tây, cần cho họ khả năng nâng cao kinh tế mạnh hơn. Nếu tiếp tục trả bồi thường chiến tranh và nuôi quân đội Liên Xô ở CHDC Đức bằng tiền của họ, thì không thể làm được điều này. Và chúng tôi bỏ khoản bồi thường chiến tranh, và chúng tôi nhận về mình khoản nuôi quân đội. Người Ba Lan cũng thích điều này, và họ cũng vặt lông và kiếm lợi ở chỗ bộ đội chúng tôi vì lợi ích của chính Ba Lan đóng trên lãnh thổ Ba Lan. Nhiều vấn đề phức tạp tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ giữa các nước dân chủ nhân dân, như người ta gọi sau chiến tranh. Ba Lan có than cốc. Một lần người Tiệp yêu cầu Ba Lan cung cáp than cho họ. Người Ba Lan đề nghị chúng tôi cung cấp dầu mỏ bổ xung cho họ, và chúng tôi vạch ra điều kiện: chúng tôi đưa cho các ông dầu mỏ theo tương đương với lượng than cốc các ông cho Tiệp Khắc. Những người Ba Lan khi đó đúng là nắm yết hầu người Tiệp. Nếu chúng tôi cũng làm như vậy, thì chúng tôi bóp cổ Ba Lan, nền công nghiệp của họ thấp kém, họ không thể bước ra thuộc trường thế giới và cạnh tranh với tư bản, lập tức mức sống của họ giảm đi, và điều này làm bùng nổ không hài lòng của dân chúng Ba Lan. Chính những người Ba Lan - mà không phải người Nga, không thích chịu đựng.
Nhớ về Tiệp khắc - nhớ ngay về nền công nghiệp phát triển cao của họ. Khi chúng tôi còn cởi truồng chui bàn, thì người Tiệp đã làm được những thứ làm sửng sốt thế giới. Chẳng hạn, những cỗ pháo phòng không của họ cùng chúng tôi trải qua chiến tranh. Trước chiến tranh, người Tiệp đã bán cho chúng tôi nhà máy Skoda nổi danh, chúng tôi sử dụng chúng trong sản xuất đến tận 1945. Có lần năm 1948 Gotwald nghỉ ở Krym với Stalin. Stalin gọi cho tôi:
- Gotwald ở đây, ông đến đi.
Hôm sau tôi bay đến. Mọi người tụ họp ăn cơm ở chỗ Stalin. Gotwald uống say (ông có nhược điểm này) và nói:
- Đồng chí Stalin, tại sao các ông lại cho người ăn cắp bản quyền sáng chế của chúng tôi? Ông cứ nói với chúng tôi, và chúng tôi tặng tất cả không lấy tiền đâu. Khi người của các ông ăn cắp, mà người dân chúng tôi nhìn thấy các ông ăn cắp như thế, họ phật ý đấy. Chúng tôi có thể cho các ông không những bản quyền phát minh. Hãy nhận chúng tôi gia nhập Liên Xô, chúng tôi hài lòng gia nhập Liên Xô, và tất cả những gì chúng tôi có, sẽ là của chung.
Stalin từ chối, nổi giận bởi chữ ăn cắp. Nhưng trên lời nói, bởi vì chúng tôi tiếp tục ăn cắp, thỉnh thoảng cũng theo thói quen cũ, như người Digan được được hỏi:
- Nếu anh là Sa hoàng, thì anh làm gì?
Người Digan trả lời:
- Tôi lập tức ăn cắp đàn ngựa và chạy biến đi.
Lại còn một vấn đề phức tạp - chi phí phòng thủ khối xã hội chủ nghĩa. Đúng ra thì phải chia đều, hết bao nhiêu, chia đều cho đầu người. Tôi nghĩ rằng chúng tôi có lẽ bớt đi được một nửa chi phí quân sự của Liên Xô. Nhưng việc ra sao? Chúng tôi có lần trong khuôn khổ khối Warsawa thoả thuận rằng mỗi nước cần phải tăng cường khả năng phòng thủ của mình. Rumani nhận bao nhiêu xe tăng, và nó phải đóng bao nhiêu tàu ở Hắc hải. Sau đó Bộ trưởng quốc phòng báo cáo tôi rằng người Rumani chẳng làm gì cả, không thực hiện giao ước. Lúc ấy người Tiệp hỏi tôi: Chúng tôi đã làm xe tăng cho Rumani, nhưng họ không mua chúng, nói rằng không có tiền. Tôi nói với người Tiệp:
- Thế ai còn dư tiền để tiêu chi phí phòng thủ cho họ? không có ai cả. Đây là sự cần thiết bắt buộc.
Suy nghĩ của người Rumani rất đơn giản: Liên Xô bảo vệ chúng tôi, chẳng ai tấn công chúng tôi, họ sợ Liên Xô, cứ để người Nga tốn tiền phòng thủ, còn chúng tôi sẽ nâng cao mức sống của mình. Nhưng đây là chủ nghĩa dân tộc thuần tuý. Đáng tiếc, nó lại xảy ra trong mối quan hệ tương hỗ giữa các nước xã hội chủ nghĩa.
Tôi nhớ một trường hợp tiêu biểu. Chúng tôi năm 1943 đứng trước bức tường Stalingrad. Chúng tôi đã bao vây quân Paulus, còn Ulbrich bằng loa điện yêu cầu quân Đức đầu hàng. Ông làm việc đó suốt đêm, khi chúng tôi ăn cơm với ông, tôi nói với ông bao nhiêu lính Đức ra hàng. Đôi lúc đùa:
- Hôm nay không có ăn đâu nhé.
- Vì sao?
- Chẳng có thằng lính Đức nào ra hàng cả.
Một lần ông đến và nói:
- Hôm nay tôi có bữa ăn rồi.
Nhưng tôi trả lời:
- Đúng đấy, có ăn. có một lính ra hàng, nhưng lại là lính Ba Lan.
Tôi đích thân thẩm vấn người lính Ba Lan. Anh ta nói rằng anh ta ra hàng vì không muốn đánh nhau. Và tôi đề nghị anh ta:
- Chúng tôi xây dựng quân đội Ba Lan, anh tham gia nhé?
- Không, tôi vào trại tù binh.
- Thế ai sẽ giải phóng Ba Lan?
- Người Nga.
Anh ta bình tĩnh trả lời như thế. Và tôi ra lệnh:
- Tống cổ mẹ nó đi!
Luôn luôn người Nga, lại người Nga… Nếu tâm trạng ỷ lại như vậy được thúc đẩy tiếp tục, nếu mọi người hy vọng rằng người Nga đem cho, người Nga bảo vệ, thì có thể kết thúc thảm hại phexã hội chủ nghĩa.
Lại còn một hòn đá cản đường - vấn đề biên giới. Bây giờ, chúng ta công khai xung độ với Trung Quốc, lại nổi lên vấn đề biên giới giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Vấn đề này luôn luôn có. Nhưng lần đầu tiên trong lịch sử xô viết phát sinh xung đột quốc tế với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Thông thường luôn luôn đạt được giải quyết vấn đề, bằng cách nhượng bộ lẫn nhau và làm rạch ròi biên giới. Lúc bắt đầu xung độ với Trung Quốc, chúng tôi tìm cách giải quyết vấn đề, cũng nghĩ nhượng bộ Trung Quốc chỗ đất nào đó đổi lấy chỗ đất ngang bằng Trung Quốc trong các vùng dàn quân cả hai phía. Trung Quốc đưa yêu sách cho chúng tôi, đông viên người Trung Quốc. Malinovsky, Gromyko và tôi họp nhau. Chúng tôi nghĩ rằng lập tức chúng tôi giải quyết tất cả. Tôi lấy bút chì và vạch một đường, kéo dài dường như chia đôi theo đề nghị. Biên giới được thẳng hơn.
Chúng tôi không chờ đợi những phức tạp hơn nữa, vì rằng phần lớn vùng đất này là bỏ hoang: chẳng có người dân của chúng tôi, chẳng dân Trung Quốc sống ở đó. Đôi lúc, có thể là, những người thợ săn và người chăn thả súc vật đến đó. Tóm lại, là tranh cãi vô bổ. Nhưng người Trung Quốc chính muốn tạo ra xung đột, từ chối tham gia đàm phán và áp đặt Liên Xô những đòi hỏi phi lý, tư bản chủ quyền của họ ở Vladivostok, Pamir vân vân… Giờ đây, sau năm năm chúng tôi lại gặp nhau. Thứ trưởng Bộ trưởng Bộ ngoại giao Vasili Kuznesov đến Bắc Kinh. Có thể lại sau năm năm gặp người Trung Quốc. Lúc ấy cuộc xung đột thực chất không phải là vấn đề biên giới, mà “chính sách lớn” quốc tế. Ai chịu đựng được.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #79 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2010, 05:54:32 pm »

Nếu vụ việc chi là về biên giới, có thể dễ dàng thu xếp được. Với Iran chúng tôi vẫn chưa có một đường biên giới xác định rõ ràng từ thời Sa hoàng. Chúng tôi vạch ra ở đó đường biên giới năm 1955, có nhượng bộ một số vùng, gần như sa mạc. Nhưng thỉnh thoảng vẫn tranh cãi! Với Iran phát sinh chỉ có một vấn đề nguyên tắc: số phận làng Firyuza ở Turmenia. Khi Sa hoàng vạch biên giới với Iran, làng Firyuza cần phải đưa về Iranу. Tôi không biết, vì sao Sa hoàng không nhường ngôi làng Firyuza. Trong thời kỳ xô viết, người Turmenia xây một nhà nghỉ ở đó. Và khi Iran đặt vấn đề làng Firyuza, chúng tôi nói cho họ:
- Hãy giải quyết trên tinh thần anh em. Chúng tôi bây giờ khó trả lại làng Firyuzaу, ở đó có nhiều nhà nghỉ của chúng tôi, chúng tôi đã phát triển khác chỗ này so với lúc vấn đề phát sinh lần đầu tiên vấn đề. Chúng tôi sẵn sàng đổi làng Firyuza, nhường một làng khác cho các ông?
Họ đồng ý, ký một hiệp ước, và bây giờ không còn cãi nhau nữa. Với láng giềng không còn vấn đề gì tranh cãi về biên giới nữa, trừ Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc đòi hỏi cái gì?
Bắc Kinh nói:
- Chúng tôi yêu cầu ký một hiệp định về biên giới, những đường biên giới trước đây được hình thành trước đây tại thời điểm có hiệp ước không bình đẳng ký với Sa hoàng.
Chẳng có một người thông minh nào ký cả. Hiệp ước không bình đẳng nghĩa là gì? Nếu tôi ký theo lời của họ, thì tiếp theo cũng phải từ bỏ những cái gì mà chúng tôi làm chủ trên cơ sở những hiệp ước tương tự. Nhưng tất cả các nước xã hội chủ nghĩa chấp nhận biên giới của mình từ thời Sa hoàng, đế quốc và Nữ hoàng xa xưa. Nếu từ quan điểm này chúng tôi có thể tạo ra mối quan hệ tương hỗ của mình và điều này sẽ đi xa hơn nữa! Nói chung trong vấn đề biên giới tồn tại nhiều khía cạnh có thể lý giải một cách khác nhau, đặc biệt ở châu Âu. Chúng tôi không có biên giới với Hungary, không có tranh cãi về biên giới nhưng ở vùng Zakarpat sống 120 nghìn người Hung. Janos Cadar không tham vọng vùng đất này. Vì sao? Người Hung có thời lợi dụng Zakarpat (Ukraina) gia nhập đế quốc Áo-Hung, và đẩy người Ukraina kên núi, chiếm vùng đất phì nhiêu Tise. Nếu bây giờ đòi Cadrar vùng đất này?
Tuy nhiên Hungary và Nam Tư có cãi nhau lớn về biên giới. Tại Nam Tư có hai triệu người Hung sinh sống. Hung và Rumani cãi nhau về vùng Transivania. Người Rumani sùi bọt mép chứng minh rằng đây là tỉnh xa xưa của Rumani, còn người Hung nói rằng Transivania luôn luôn là của Hung, ở đó có văn hoá Hungary và tiếng Hung. Người Rumani đảo ngược lại tất cả từ trên xuống dưới, làm cỏ sạch tất cả người Hung. Tranh cãi to về biên giới giữa Albania và Nam Tư. Tôi nghĩ rằng người Albania sống ở Nam Tư nhiều hơn tại chính Albania, nhưng Enver Hodga rất sợ Nam Tư. Nhưng những người Albania sinh sống ở Nam Tư, xem mình hoàn toàn không phải là người Albania và họ không về Albania. Ở Nam Tư sống tốt hơn. Đúng là Tito làm chính trị thông minh hơn.
Hodga - đây là một tên kẻ cướp thực thụ. Chẳng có lẽ đây là chính khách? Ông ta có một phương pháp: tròng thòng lọng vào cổ và treo lên. Chính sách điển hình của Stalin. Hodga có những sát thủ bí mật, đâm những người đối lập: lùng họ trên đường và đâm. Hoặc đột nhập vào nhà và đâm. Còn Mehmet Sehu? Mehmet Sehu trước kia là Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng, một công nhân, người rất thông minh. Ông là người sáng lập Đảng cộng sản Albania, còn Hodga đích thân bóp cổ Sehu. Vì sao? Sehu có quan điểm xây dựng liên minh Albania với Nam Tư. Đó là ý tưởng của Stalin. Trong thời kỳ nào đấy, có thể, đây là khôn ngoan, hợp lý, sau đó - thì không phải. Nhưng nếu điều này làm phật ý ai đó, sao lại bóp cổ người ta?
Ngoài biên giới, còn phát sinh nhiều vấn đề khác. Chủ nghĩa xã hội là gì, có phải giữ con người trong vòng không? Đội ngũ công minh là thế nào? Thiên đường là gì? Tất cả mọi người đều muốn rơi vào thiên đường. Đấy không phải là thiên đường, vì người ta muốn chạy khỏi thiên đường mà cửa thì sập lại. Nếu Thượng đế cho tôi tiếp tục hoạt động, có lẽ tôi mở cửa, mở toang cả cửa ra vào, cả cửa sổ. Và tất cả bỗng nhiên chạy đi Lenin từng mở biên giới Liên Xô sau nội chiến. Một số bỏ đi. Saliapin, Andreev, Kuprin, những người nổi tiếng khác. Nhưng sau này có người quay về, người khác lâu lâu xin quay lại. Chẳng có lẽ có thể tất cả nhân dân bỏ đi? Có bao nhiêu người nước ngoài chạy sang chúng ta và không quay về nước mình… Vì sao chúng tôi phải sợ điều này?
Ở Ba Lan ai thích đi, cứ đi. Và sao? Nhiều người sau đó quay về. Đại sứ chúng ta, gửi bức điện từ Israel nói rằng một số người bỏ Liên Xô đến Israel, đã yêu cầu dứt khoát quay về. Tôi có một phụ nữ quen (bà là người bất hạnh, bản thân bà hai lần ngồi tù thời Stalinе, chồng bị bắn, em bị bắn và em rể bị bắn, trong chiến tranh, quân Đức thiêu bố mẹ bà, còn cái gì có thể tệ hơn?), và bà kể cho tôi một người họ hàng ruột thịt của bà sang Israel, khách mời, nhìn thấy ở đó người ta sống như thế nào và nói rằng nói chung người Do Thái sống không tồi, nhưng những người già hình thành cá tính dưới chính quyền Xô viết, cũng buồn. Bà cũng muốn quay về, nhưng những vẫn còn sống chẳng để làm gì. Thanh niên, thật ra, không không muốn quay lại. Vì lẽ gì? Giải thích:
- Chúng tôi đã chán ngấy nghe người ta gọi tôi là bọn ăn bám.
Nói chung chúng tôi khó đặt quan hệ với Israel. Israelе tiến hành nhiều vách để cải thiện mối quan hệ này, nhưng chúng tôi không thể đi đến dùng vì tình hữu nghị với thế giới Ả-rập. Bao nhiêu lần, đại sứ Israel đề nghị tôi tiếp. Bản thân tôi cũng muốn tiếp ông, nhưng tôi không thể làm vì làm những người Ẩ rập nổi khùng. Khi Israel đóng vai trò gián điệp của đế quốc Mỹ ở Trung Đông, chúng tôi không muốn những người Ả rập xa rời chúng tôi, mà muốn lôi kéo họ, và thế là phải giữ một khoảng cách với Israel. Nếu xem xét bộ mặt chính trị của Israel, thì hộ không những không tồi, mà thậm chí còn tốt hơn những nước tư bản chủ nghĩa khác, và với Israel có thể dàn xếp những quan hệ bình thường. Ở Israel, nông nghiệp được tập thể hoá không kém gì Ba Lan. Ở Ba Lan cũng không có nông trang, chỉ xây dựng tổ đổi công như cấp đầu tiên của tập thể hoá nông nghiệp. Đất đai ở Ba Lan thuộc về tư nhân, còn thu nhập trong tổ đổi công phụ thuộc vào lượng đất đóng góp.
Tôi không bao giờ là người bài Do Thái. Tôi từng sống ở Yuzovk, và làm việc cùng với những người Do Thái. Tôi cũng có nhiều bạn người Do Thái. Từ hồi còn trẻ con, tôi làm việc ở nhà máy với một người Do Thái, Yakov Issakovich Kutikov - một người tốt. Ông là thợ nguội và nhận 2 rúp một ngàyь, nhưng tôi nhận cao hơn và giúp đỡ ông 25 cô pếch một ngày. Những kẻ đểu giả ở đâu đâu cũng có - cả người Nga, cả người Do Thái, và người nào cũng được. Thậm chí không có cái gì có thể so sánh Ả rập và Israel, ở Israel người ta sống giàu hơn. Trong nông nghiệp đã có hệ thống thuỷ nông tự hành - một phương pháp tiến bộ nhất đối với cây trồng. Mối quan hệ tương hỗ của Israel với thế giới Ả rập rất nặng nề. Nếu như cứ tiếp tục, thì kết thúc xấu cho Israel. Israel luôn lo ngại các nước Ả rập. Nhưng thực lực thì hai bên ngang nhau. Cuộc chiến tranh sáu ngày, năm 1967 cần phải dạy cho những người Ả rập một bài học. Tôi nhớ Petro I. Khi quân Thuỵ Điểm đánh tập hậu ông ở Narva, ông hiểu: cám ơn bài học, sau đó ông đánh tan quân Thuỵ Điển ở Poltava. Thời gian sẽ trôi đi, và nếu người Israel không chịu hiểu, thì người Ẩ rập sẽ đánh tan họ.
Vả lại, nếu anh ai tổ chức công việc tốt thì không sợ ai, mà người khác sợ anh. 2,5 triệu người Do Thái tổ chức như thế này để trong sáu ngày đánh tan hàng chục triệu người ở Ai Cập, Syri, và các nước đồng minh. Chỉ huy quân sự của Israel là Daian từng là sĩ quan quân đội Anh. Nhưng ở đó còn bao nhiêu người, từng phục vụ trong quân đội chúng tôi? Đó cũng là một lực lượng của họ. Người Ả rập đặc biệt không biết đánh nhau, chỉ cưỡi lạc đà, còn người Do Thái chiến đấu khắp các cuộc во всех chiến tranh. Israel xuất hiện như thế nào? Đây là ý tưởng của những người Sionit. Hai năm trước đó, có một người già, thành lập đảng Sionit. Nước Anh kiểm soát Trung Đông, đồng ý chia một vùng cho Israel, bằng cách cắt đất của những người Ả rập. Chúng tôi lúc đó thời gian không biểu quyết vấn đề này ở Liên Hiệp Quốc, còn sau đó cũng cho chỉ thị đồng ý thành lập Israel. Bây giờ thủ tướng Israel là Golda Mayer. Bà là đại sứ đầu tiên của Israel tại Liên Xô. Bà sinh ra ở Odessa, lúc bà sáu tuổi, bố mẹ đưa bà sang Mỹ. Bà biết tiếng Nga giỏi. Khi bà đến Nga, thì phát triển mạnh những hoạt động của những người Do Thái xô viết, và Stalin đuổi bà đi. Lúc đó những quan hệ của chúng tôi cũng xấu đi.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM