Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:28:38 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tạp văn QĐND  (Đọc 32882 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #50 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2010, 09:48:43 pm »


CẠC-VI-DÍT CỦA ĐÀN ÔNG


“Cạc” là nôm na tiếng Việt theo nghĩa đen để gọi cái thẻ. Hồi chưa có những loại tối tân thời thượng như kiểu thẻ sim điện thoại di động, thẻ rút tiền ATM nhà băng… thì “cạc” là chữ vắn tắt được chuyên dùng nhằm chỉ tấm danh thiếp mà ở cái thuở vừa huênh hoang khai hóa vừa dã man thực dân nước ta, người Pháp đọc là carte de visite. Danh thiếp (người Ăng-lê ngắn gọn còn gọi là name card) đương nhiên lịch sự riêng tư thông tin về tên về chức danh nghề nghiệp về những địa chỉ liên lạc cần thiết của người có “cạc”. Cố nhiên, vì dính líu đến chữ “danh” nên hầu hết trên mặt của “cạc” người ta trân trọng nhất vẫn là những dòng thông tin về  chức vị. Ngay từ hồi mới xuất hiện, hiếm hoi lắm mới có người cầm được một cái “cạc” chỉ thuần trong trắng có tên và địa chỉ. Ở cuốn “Chi Chữ”, học giả sống từ thời Pháp thuộc là cụ Lãng Nhân đã khổ cứu “Chúng tôi xin đề cập đến một tấm danh thiếp khá gọi là kỳ quan: Trần Văn Có - tức Huyện Có - Láng giềng quận công Hoàng Cao Khải. Thì ra tên tuy là có mà chính thật là không. Không có gì hết nên buộc lòng phải lôi ông hàng xóm ra làm chứng để thơm lây”. (Sách đã dẫn - trang 340, NXB Văn học). Rồi có vẻ chưa hết bức xúc về thói dị hợm háo danh của đàn ông Việt, học giả minh họa thêm bằng mấy tấm “cạc” mang nội dung kinh hoàng. Đốc cử “Lý Văn Giầu - tức Huyện Giầu - tri huyện hàm được thưởng đệ ngũ đẳng bắc đẩu bội tinh do văn thư số 811 ngày 15/8/1927”. Ngày xưa ngây thơ ấu trĩ nên khi đàn ông khoe khoang trên “cạc” có đôi phần ngô nghê. Ngày nay văn minh tiến bộ, khoe khéo hơn nhiều “Giáo sư - Vũ sư - Giám đốc chưa hưu”.

Đã là đàn ông, không cứ người Việt, đa phần đều lành mạnh ham danh. Nhà Nho lãng tử cực kỳ mạnh là cụ kỳ nhân Nguyễn Công Trứ khẳng định “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”. Bởi thế, từ lừng lẫy đại quan thừa kế xe hơi nhà lầu đến đám đầu tắt mặt tối vất vả thương gia đều cố sức hùng hục kiếm danh. Với đàn ông đẫm đầy hoài bão chí khí, thì cái Danh lại càng to tát hơn hẳn cái Lợi, nên cho dù phi lê la chịu nhục nhịn đói nhịn khát bọn họ vẫn nghiến răng dành dụm “ba vạn để mua danh”. Thật ra chữ “danh” sâu xa vốn sạch, ví như núi mà cô ngạo tự nhiên ngất ngưởng hùng vĩ thì gọi là “danh sơn”. Người mà có chữ (thường thường không có chức) tài cao đức dày thì gọi là “danh sĩ”. Lời mà thẳng ngay minh chính, làm tất thẩy tâm phục khẩu phục thì gọi là “danh ngôn”. Và tất cả những thứ “có tiếng” này luôn được yêu mến gọi là “thanh danh”. Người hoặc vật đã “thanh danh” thì cho dù bị vùi dập nhúng bẩn cũng không thể mất danh. Và vì thế “danh sạch” là thứ đồng tiền vĩnh viễn không bao giờ mua nổi. Phi là kẻ ngu xuẩn tha hóa lắm thì sau khi chạy chức mới hoang tưởng liều lĩnh đi chạy danh.

Cạc-vi-dít thường là những tấm thiếp nho nhỏ xinh xinh, cốt để đàn ông cho vừa vào ví, vì vậy nếu danh vị mà quá dài thì khổ cho nó lắm. Danh hiệu dùng cho một người vào loại dài nhất nước ta thuộc về Lý Thái Tôn. Và sử gia lỗi lạc là Lê Văn Hưu đã nghiêm khắc bình luận “Đế vương đời sau thích khoe khoang mới có tôn hiệu đến hàng chục chữ. Thái Tôn nhận lời bề tôi… thì trong việc khoe khoang lại thô bỉ nữa. Thái Tôn không có học không biết, mà bọn nho thần dâng lên những chữ ấy để nịnh hót không thể bảo là không có tội”. (Đại Việt sử ký toàn thư - NXB Khoa học Xã hội, trang 216). Thế nhưng nghĩ cho cùng. Thái Tôn vẫn là một trong những vị vua kiệt hiệt anh hùng, nhỡ tôn hiệu có in tất vào “cạc” thì cũng là chuyện chính đáng “y phục xứng kỳ đức”. Đám đàn ông bây giờ có nhiều kẻ khoe “cạc” mới thực sự kệch cỡm. “Nhà văn-nhà thơ-nhạc sĩ-họa sĩ-nghệ sĩ ưu tú…”. Nhiều nhà chen chúc ở gần nhau như thế chắc chắn phi gọi là phố. Còn nhiều phố song song dài như thế thì phi gọi là quận. Thời phong kiến thối nát có chức “quận công”, nghĩa đen đại loại là “ông nhiều nhà”, cái chức này nên khôi phục lại để tiện lợi dành cho những quý ông là hội viên của không biết bao nhiêu hội.

So với đàn ông, đàn bà có vẻ ít dùng “cạc” hơn, nhưng  một khi đã dùng thì cực kỳ hoành tráng. Kẻ viết bài này từng đã nhận “cạc” của một bà luật sư rộng chừng gần nửa trang A4 in trên giấy quý chứa miên man những chức danh mà quý bà muốn kể. Đám đàn ông đang nhớn nhác trên hoạn lộ hoặc thương trường khi nhìn thấy đều rúng động kinh hãi khao khát.

Tóm lại, “cạc” là một bộ phận không thể thiếu ở những đàn ông sang trọng yêu giao tiếp. Trao “cạc” của mình cho người khác, nhất đấy lại là phụ nữ thì luôn là một hành vi văn hóa mang tính vừa tin tưởng vừa lịch sự. Vì thế, đàn ông đã có tiền và đã có danh, không thể nào lại không có “cạc”.


Trần Khôi Việt
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #51 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2011, 10:31:15 pm »


ĐÀN ÔNG BẦY TRẬN


Vào thời sơ kỳ trung đại, thậm chí cho đến ngấp nghé chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), khi đám đàn ông đã trưởng thành văn minh, thì lúc hoành tráng đánh nhau bọn họ rất hay sự dụng trận pháp. Đại loại, bọn họ thường rủ nhau ra những bình nguyên bát ngát cỏ mượt hoặc những cánh đồng phẳng phiu vừa gặt, dàn quân thành từng khối. Bộ binh riêng, kỵ đội riêng, tướng đứng riêng rồi cử mấy gã mồm to đanh đá được gọi là mạ thủ ra trước cửa trận gào thét chửi bới thách đấu. Xong xuôi những thủ tục “đét xe”, sau vài hồi trống hoặc kèn, hai đạo quân sầm sập sát khí lao vào nhau. Bên thua hầu hết là những bên bị vỡ trận, vì thế đám đàn ông thích thao lược ngày xưa bắt buộc phải rèn luyện cái tài bài binh bố trận.

Trong cuốn tiểu thuyết “Chiến tranh và Hòa bình” có một trường đoạn kể về công tước Andrey Bolkonsky (một nam quý tộc đặc biệt tinh hoa, kiểu đàn ông mà nay đã tuyệt hiếm) ở Bộ Tổng tham mưu Nga. Công tước chứng kiến hàng loạt các danh tướng tranh luận về cung cách bầy trận cho chiến dịch sắp tới nhằm chống lại đám đàn ông xâm lược Pháp. Tất cả các danh tướng đều lắm mẹo nhiều mưu, họ hùng biện, họ phản biện, họ tự biện, nhưng tất thẩy cuối cùng đều toát ra một nỗi thăm thẳm sợ hãi về Napoleon Bonaparte, kẻ đối địch được mặc định là thiên tài quân sự. Duy chỉ có một người, đại tướng Pful gốc Đức là được công tước Andrey  âm thầm kính trọng nhất. Tướng Pful chỉ tôn trọng những ai đánh nhau mà biết bầy trận. Với ông ta, Napoleon chỉ là cái đinh gỉ, bởi khi tả quân hình vuông tiến lên 200 mét thì hữu quân hình thoi phải đi chếch 300 mét. Nếu đàn ông đánh nhau mà không đi đúng trận pháp “và tách rời khỏi những quy luật chính xác của khoa học quân sự thì chỉ là bọn man rợ dốt nát và phản khoa học”. (Sách đã dẫn - tập 3, trang 58). Cái tinh thần lý thuyết đầy dũng cảm hiệp sĩ này tuy rất dở hơi nhưng sâu xa nó hun đúc cho các nam chiến binh một thiêng liêng danh dự. Đàn ông bước vào một cuộc chiến (chưa bàn chuyện đúng sai) mà vắng thiếu danh dự thì chỉ còn là lũ ô hợp. Ngày nay thiên hạ thái bình, thương trường đã thay chiến trường, và trong cái hỗn loạn thương trường ấy, đàn ông đánh nhau bất cần trận pháp nên cái gọi là danh dự đương nhiên là một thứ xa xỉ.

Lịch sử thao lược phương Đông thường xếp Gia Cát Khổng Minh là một tay đàn ông giỏi bầy trận vào loại đệ nhất. Theo lời đệ tử ruột, danh tướng Khương Duy toàn đánh thua, thì Gia Cát sư phụ “bầy trận có cả thẩy 365 phép biến theo độ số xung quanh mặt trời. Nên quân giặc thách đấu trận pháp thì chẳng khác nào múa rìu qua mắt thợ”. (Tam Quốc diễn nghĩa - Hồi 113). Lần đầu trận pháp hay nhất của Gia Cát Võ Hầu là lần đấu với Tư Mã Ý, đại tướng nhà Ngụy, người rồi đây tạo lập ra vương triều Tấn. Tư Mã Ý tuy đọc được vanh vách kết cấu trận pháp của Khổng Minh, nào là Trường xà quyển địa hình con rắn, nào là Bát môn kim to có cửa tử cửa sinh, nhưng do không thuộc cách biến hóa nên khi liều lĩnh xông vào trận liền lập tức thảm bại. Tóm lại, tài Tư Mã Ý giống tài các nhà phê bình văn học đương thời, thao thao chỉ ra nhan nhản những phép tu từ, những trường phái hiện đại, những chủ nghĩa hậu hiện đại nhưng thử cầm bút viết thật một truyện ngắn thì thối không thể ngửi.

Dã sử cho rằng Khổng Minh học trận pháp từ sách của Mã Viện rồi tự hoàn thiện nâng cao. Chẳng biết binh pháp của họ Mã có cao minh không, chỉ biết ông này khi đánh nhau với nhị vị vua bà họ Trưng của người Việt thì toàn bại, bèn dầy ra một trận pháp quái dị đến phản cảm. Biết quân của đối phương đa phần là phụ nữ, ông ta cho những hàng lính đứng đầu trăm phần trăm thoát y. Mã Viện kém quá, ông ta không biết rằng các nữ chiến binh Việt khi lâm trận thì bất cần biết đối phương ăn mặc kiểu gì, kẻ thù càng phong phanh càng dễ bị bắn trúng. Sau lần thua dại dột ấy, quân Hán rút kinh nghiệm toàn mặc áo giáp kín mít và những chỗ nhậy cảm luôn che chắn cận thận.

Khổng Minh bầy trận người đã giỏi, ông ta còn bầy “bát trận đồ” bằng đá (thạch trận) rất siêu. Trận chia thành tám cửa Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai nguy hiểm sánh ngang bằng mười vạn tinh binh. Đại tướng Đông Ngô bằng cấp đầy mình là Lục Tốn lạc vào mê trận đó suýt chết, may mà nhờ bố vợ Khổng Minh thương tình cứu ra. Theo tiểu thuyết gia võ hiệp Kim Dung thì “bát trận đồ” được truyền đến đảo chủ đảo Đào hoa là Hoàng Dược Sư thì tuyệt. Hoàng lão Đông Tà công phu bầy mê trận vì trót có một cô con gái xinh đẹp tới tuần cập kê. Công năng chủ yếu của bát trận đồ xếp bằng hoa đào là dùng để ngăn chặn mấy thằng cầu hôn vớ vẩn. Có lẽ vì thế mà Hoàng bố vợ bị gã con rể Quách Tỉnh đấm cho không biết bao lần.

Nói cho cùng, đàn ông biết bầy trận pháp cũng là việc vô cùng bất đắc dĩ bởi chuyện chiến tranh là chuyện chẳng ai muốn. Ngày nay, hòa bình kéo dài, đám đàn ông chỉ còn biết bày trò.


TRẦN KHÔI VIỆT
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #52 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 12:23:51 pm »


LÀM SẾP


Làm sếp chả dễ chút nào. Đừng có nghĩ đơn giản làm sếp tức là chỉ có ra lệnh. Không phải cứ ngồi vào vị trí sếp, chả cần động não gì cả mà bộ máy dưới quyền anh nó cứ thế mà tự động vận hành đều đều đâu. Phải động não đấy, động não từng ly từng tí một đấy. Chỉ đơn giản ở lĩnh vực quan niệm về vị trí của mình để đối xử với cấp dưới thôi, đã là cả một vấn đề rồi. Cấp dưới của anh không phải là con anh, rõ ràng rồi, lại càng không phải là một cỗ máy vô tri vô giác lắp ráp bằng sắt thép.

Cấp dưới của anh, trước tiên là một con người, một công dân, sau đó họ là cộng sự của anh, cuối cùng mới là cấp dưới hoặc nhân viên của anh. Quan hệ của anh với họ trước hết là quan hệ giữa một con người với một con người, một công dân với một công dân. Nếu anh làm sếp mà cứ luôn luôn đặt yếu tố trên dưới lên hàng đầu thì anh thực sự gặp vấn đề. Anh sẽ lấn át mọi người và tính dân chủ không còn. Nhân viên của anh sẽ trở thành công cụ, trở thành máy móc chứ không phải con người. Đã đến mức ấy thì nhân viên của anh cũng ắt hẳn sẽ phản ứng lại. Anh coi cấp dưới như máy móc thì họ sẽ làm như máy móc, đều đều, vô cảm. Nếu có trục trặc thì máy tự nó không giải quyết được. Có trục trặc gì thì nhân viên của anh sẽ không sốt sắng khắc phục mà họ sẽ ườn ra đấy chờ anh giải quyết. Vì máy là chỉ biết vận hành theo chỉ lệnh mà thôi. Anh sẽ phải tự giải quyết những trục trặc mà không có sự thông cảm, trợ giúp nảo từ cấp dưới.

Khi anh coi cấp dưới là máy thì hiển nhiên là anh sẽ cho mình quyền áp đặt cái đúng hay sai lên tất cả mọi thứ. Anh là chúa trời. Trong cuộc họp anh sẽ nói mà bất cần phản ứng của cấp dưới anh thế nào. Mà khi như thế đồng nghĩa với việc anh mãi mãi không thể biết mình đang ở đâu. Cấp dưới là tai mắt của sếp, là tay chân của sếp. Tóm lại, là toàn thể thân thể của sếp, xét trong sự vận động công việc. Anh coi trọng tai mắt thì gió bão đến lù lù ngay trước mũi anh chả biết. Làm sao anh có thể chuyển động khi anh coi thường cái chân cái tay của chính anh. Anh bước tới miệng hố thì cái chân nào cần báo cho anh vì vốn dĩ thường ngày anh coi khinh họ. Biết bao nhiêu tấm gương tày liếp về sự ngã ngựa trời giáng của những vị sếp vì không coi trọng nhân viên, cấp dưới mình.

Con người ta tồn tại trong quan hệ xã hội. Anh là sếp, anh coi trọng cấp dưới tức anh coi trọng chính anh. Anh khinh thường họ có nghĩa anh khinh thường chính anh. Thái độ của sếp với cấp dưới giống hệt bóng nước. Trên thế nào thì dưới ứng lại như thế.


NGUYỄN TÂN PHƯƠNG
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #53 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2011, 11:00:19 pm »


ĐỊNH NGHĨA ĐÀN BÀ


Theo từ điển thì khái niệm đàn bà là tương đối đơn giản. Từ điển ở ta cho rằng, đấy là nữ giới nói chung và phải là những người đã trưởng thành. Từ điển ở tây cũng hao hao như vậy, cuốn Petit Larousse (bằng tiếng Ăng-lê) đầy uy tín của người Pháp giải nghĩa:

1) A female human being – Distingguished from man. Đại loại, đàn bà là sinh vật giống cái cốt để phân biệt với nam giới.

2) An Adult female human being – Distingguished from girl. Đại khái vẫn là sinh vật giống cái, cốt để phân biệt với đám lóc nhóc thiếu nữ.

Nghĩa một thì dễ hiểu quá rồi, còn nghĩa hai hơi mang tính cơi nới nhưng kha khá nghiêm ngặt. Nếu tuân thủ theo đúng nghĩa (2) thì đàn bà không có ở tuổi teen, và hiển nhiên sẽ không được phép mặc đồng phục trung học vào nhà nghỉ. Bọn họ vẫn có thể mang vẻ ngây thơ nhưng không thể cùng một lúc nhuộm tóc hai màu xanh đỏ rồi nhí nhảnh kẹp ba phi xe đánh võng. Thêm nữa, quan chức đàn ông nếu nhỡ có thân thiết với đàn bà thì đạo đức mặc nhiên sẽ thăng hoa bởi không bao giờ mắc phải cái tội ngớ ngẩn, lạm dụng vị thành niên.

Từ điển học thuật rắc rối quá, dân gian quan niệm dịu dàng trong sáng hơn nhiều. Đàn bà đương nhiên chỉ giản dị hoặc là vất vả mẹ hoặc là tần tảo chị. Họ cũng có thể là cần mẫn vợ hoặc là bạc bẽo người tình. Họ đôi khi tài sắc vẹn toàn như Thúy Kiều, lại có lúc thỉnh thoảng xấu xí ít học như Thị Nở. Có người trong trắng thủy chung như tiểu thư Juliet trong kịch Shakespeare, lại có người dâm loạn điêu trác như Mã phu nhân trong trường thiên kiếm hiệp “Thiên long bát bộ”. Có người lại chót vót “phụ nữ của năm” như diễn viên Đỗ Hải Yến, lại có người là tột cùng tội phạm quốc gia như nữ lưu manh Phúc “bồ”. Nói chung, đàn bà giống như thơ, bởi có bao nhiêu người làm thơ là có bấy nhiêu định nghĩa.

Vì thế, nếu phải miễn cưỡng rốt ráo định nghĩa đàn bà thì vẫn đành dựa vào các trước tác kinh điển. Theo Kinh Thánh, sau khi đã sáng tạo ra mọi loài, Thiên Chúa phát chán bèn rút xương sườn của “đàn ông nông nổi giếng khơi” để rồi làm ra một thứ “đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Chắc là xót xa đau quá nên đàn ông đã hốt hoảng cảm thán “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi, người này sẽ được gọi là đàn bà vì đã được lấy ra bởi đàn ông”. (Sách Sáng thế 2; 23). Về sau, đàn bà bị con rắn quyến rũ xui nuốt táo phạm vào tội lê la ăn quà vặt nên Thiên Chúa đã mặc định bọn họ “Ta sẽ làm cho mày chịu nhiều đau khổ lúc thai nghén. Mày sẽ phải đau đớn khi sinh con, mày sẽ phải quỵ lụy chồng mày và chồng mày sẽ làm chủ mày”. (SSt 3; 16). Kinh Cựu ước được nhiều học giả lắm bằng ở ta cho là quá mang quan điểm thành kiến phương Tây. Ở phương Đông, kinh Phật của người Việt do minh quân thiền sư Trần Thái Tông khởi tác mang quan niệm về đàn bà có vẻ hay hơn. “Lưng ong tóc mượt hay khiến tính hoặc tâm mê, Sắc én mày ngài đưa đến hồn xiêu phách lạc. Kẻ mê say đoạn nghĩa thầy bạn, kẻ tham đắm đức mất đạo tan. Vậy có kệ rằng: Mặt trắng môi son điểm phấn đào. Long lanh đưa mắt gây lao đao. Chẳng qua một túi da nhơ bẩn. Cắt đứt ruột người không cần dao”. (Khóa hư lục – Văn giới sắc). Hình như hai quan niệm kể trên bị nhiều đàn bà hiện đại nhăn nhó không thích. Thôi đành dẫn Khổng Tử, một bậc Thánh của đạo Trung Dung. “Duy nữ tử dữ tiểu nhân, vị nan dưỡng dã. Cận chi tắc bất tốn, viễn dữ tắc oán” (Luận ngữ, thiên Dương Hóa). Nôm na ý của cụ Khổng là, đàn bà với tiểu nhân khó nuôi lắm. Ở gần thì bọn họ nhờn, ở xa thì họ oán. Có phải thế chăng mà rất đông nho sĩ thường để móng tay lá lan thật dài, chắc họ cẩn thận đề phòng những khi bắt buộc phải vuốt ve vợ.

Thế nhưng nói cho cùng, thì ở phía trong thăm thẳm sâu xa của đạo Thiên Chúa, đạo Phật hay đạo Nho, luôn đẫm đầy trân trọng tính nữ. Trên cuộc đời có nhiều cay đắng phiền muộn này, còn gì thiêng liêng trinh bạch hơn được Đức Mẹ Maria, còn gì từ bi cao cả hơn Đức Phật bà Quan thế âm bồ tát cứu khổ cứu nạn. Và đã biết bao nhiêu thế hệ nhà Nho rưng rưng tâm phục khẩu phục khi chợt nhắc đến bà Mạnh mẫu, người mẹ tần tảo nghiêm khắc hết mực yêu con của á Thánh Mạnh tử. Có thể nói, tất cả những giá trị đậm đặc tinh hoa nhất của đàn bà đều thăng hoa đọng lại trong hai từ vĩ đại “người mẹ”. Chẳng cần biết đàn bà có thể tệ đến đâu, chỉ cần họ trưởng thành làm mẹ là lập tức cái nhân loại khốn khổ này được cứu rỗi. Bởi cái đám đàn ông quen chật hẹp đố kỵ khoe khôn soi mói kia, có thể không có chị, có thể không có vợ, có thể không có bồ nhí nhưng vĩnh viễn chưa bao giờ bọn họ lại không có hiền mẫu. Chính ở đây, câu hỏi tưởng hoành tráng, “đàn bà là gì”, bỗng rơi rụng thành vớ vẩn.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày Quốc tế Phụ nữ mồng 8-3 lại được tất thẩy đàn ông, kể cả những tay đã bất hạnh ly hôn hay bị người tình bán rẻ, luôn nghẹn ngào nức nở gìn giữ.


TRẦN KHÔI VIỆT
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Ba, 2011, 11:07:24 pm gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #54 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2011, 08:09:44 pm »


XE ÔM SÀI GÒN


Từ trên chung cư cao nhìn xuống, anh xe ôm nhỏ bằng một cái hạt chôm chôm. Khi có khách, cái xe máy cũ đi từ từ dưới chiếc mũ bảo hiểm cũ. Thường anh đầu trần chờ khách đầu đường nội bộ, lạc lõng cạnh mấy bác tài xế taxi ăn mặc bảnh bao. Chung cư này có mấy người đi xe ôm.

Chủ nhà nào chả có ô tô, có khi không chỉ một chiếc, phải mua thêm chỗ đỗ trong tầng hầm của khối nhà bên. Nghèo nhất là những người thuê nhà, thì người thuê nhà sát vách tôi cũng chẳng bao giờ đi xe ôm. Cô có tài xế riêng, người đàn ông bao cô đã bao thêm cả khoản tài xế lẫn ô tô.

Tôi thường tránh giáp mặt cô, vì cô nhìn tôi với cái nhìn đồng lõa và dửng dưng.

Anh xe ôm dưới đường biết trước tôi sẽ ra cửa giờ nào, đi đâu, làm gì. Tôi chỉ rời nhà để đi tới Hồ Con Rùa từ sáng rất sớm và từ đó quay về mà thôi, khi đã xong việc. Ở quán cà phê Hồ Con Rùa, tôi cũng hầu như chỉ ngồi một chiếc ghế, và những người lần lượt đúng giờ hẹn sẽ tới ngồi đối diện, đạo diễn, diễn viên, biên kịch, nhà báo, người có tài, người vừa tài vừa có tiền, người vừa có tài vừa có tiền vừa đẹp trai, nói xong, dạy tôi xong, thương lượng với tôi xong, bật mí với tôi xong, tán phét với tôi xong, rồi đi. Anh xe ôm thì thuộc cả lịch khám thai định kỳ của tôi, vì tháng nào anh cũng nhắc tôi thời gian. Anh vô cùng ân cần và thân thiện, anh làm cả những việc mà không được trả tiền. Ví dụ như, đi book vé máy bay liên tục cho tôi bay đi bay về. Ví dụ như, chờ tôi trước cửa phòng khám, ngồi với những ông chồng đang chờ vợ ôm bụng lặc lè đợi siêu âm trong phòng sản khoa, ngồi và tán phét như thể được tôi trả tiền cho những giờ chờ đợi ấy.

Ví dụ như, đề nghị để anh mua đồ ăn mang lên phòng cho, khỏi xuống. Anh nói, anh ở một mình nên anh biết, ai cũng ngại nấu nướng. Và anh đoán nhiều bữa tôi nhịn đói khi không ra khỏi phòng. Những hôm tôi không đi ra đường, tức là tôi rất buồn.

Anh cũng chiều khách để lượn vòng vòng tìm quán cà phê nào đẹp, quán ăn Ý nào dễ thương, tôi mới xuống. Anh luôn bảo tôi là, cho bao nhiêu thì cho, nên tôi thường cho anh khoản thù lao gấp rưỡi so với đi xe ôm như thế tại Hà Nội.

Tôi chỉ có Hà Nội làm chỗ bấu víu, cái gì cũng phải lấy Hà Nội ra làm chuẩn mực, hoặc lấy chính mình ra làm chuẩn mực. Đấy là thói xấu của một người táo tợn nhưng tự ti.

Sự chờ đợi của anh xem ôm xa lạ đất Sài Gòn là thứ để lại ấn tượng sâu sắc cho tôi nhất là khi tôi rời thành phố này. Nếu nói về quần áo ăn mặc và hình thức chiếc xe, thì anh thua xa đồng nghiệp Hà Nội, nhưng nói về thái độ phục vụ cũng như sự thân thiện với khách hàng, anh xe ôm ăn đứt những người tôi từng quen.

Ăn đứt cả những người ban đầu tôi tưởng quen thuộc, thân thiết. Nhất là người mà vì họ, tôi đã quyết vào Sài Gòn. Để rồi thất vọng sâu sắc.

Một ngày, tôi nói với anh xe ôm dưới chiếc mũ bảo hiểm cũ kỹ, anh biết quanh đây có nhà nào cho thuê không, mách giúp, tôi muốn chuyển đi, vì nhiều lý do.

Nhưng tôi muốn thuê ở gần đây, vì tôi vẫn muốn đi xe ôm của anh.

Anh nói, không sao, nếu cô đi thuê nơi khác, cần cứ gọi điện, tôi chạy tới đón.

Bây giờ thì tôi đang viết những dòng này ở Hà Nội.

Tôi đã xóa số máy của anh xe ôm, vì sợ mình nhỡ tay gọi từ Hà Nội.


Trang Hạ
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM