Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:57:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Yamamoto và những trận đánh lịch sử trên Thái Bình Dương (Quyển 1 + 2)  (Đọc 127629 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #70 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 09:15:40 pm »


Khi các oanh tạc cơ bay đi, sương mù bổng trùm lấp mặt biển. Chúng tôi bắt tay vào công việc tiếp cứu. Nhờ trời chiếc Ryujo vẫn chưa chìm, nhưng hoàn toàn bất động. Có lẽ chúng tôi phải kéo nó về Truk để sửa chữa. Lửa cháy xém khắp nơi, tất cả vũ khí và vật dụng khác đều bị thiêu hủy. Xác chết rãi rác khắp nơi trên tàu. Chiếc tàu nghiêng về hữu mạn khoảng 40 độ, và có thể chìm bất cứ lúc nào.


Một nhân viên giải cứu gởi tín hiệu bằng cờ: “chúng tôi bỏ chiếc tàu sắp chìm. Các tàu khác hãy đến tiếp tay giải cứu thủy thủ đoàn.” Lúc ấy tàu của tôi chay đến bên tả mạn còn nổi của chiếc Ryujo. Nếu chiếc tàu chìm, việc nầy không biết xảy ra lúc nào, chiếc Amatsukaze có thể bị lôi cuốn và chôn vùi theo với nó. Không thể chần chờ được nữa, tôi quyết định bắt tay vào việc lập tức.

Đại dương lúc đó đang yên tỉnh, nhưng thỉnh thoảng các luồng sóng dài bổ đến, khiến cột cờ của chiếc Ryujo chao đi chao lại, có khi chạm cả vào đài chỉ huy của khu trục hạm nhỏ bé của tôi. Mồ hôi lạnh ướt đẩm lưng tôi. Hàng chục thủy thủ khỏe mạnh dung sào dài để chống đở cột cờ của chiếc Ryujo. Khi chiếc cầu được bắt nối người bị thương được di tản trước, kể đó là những xác chết và tài liệu quan trọng còn sót lại. Cuộc tiếp cứu nhanh chóng và gọn ghẻ. Hơn 300 người sống sót được đưa sang chiếc Amatsukaze.

Độ nghiêng của Ryujo thình lình gia tăng. Bây giờ nó đang chìm “Chấm dứt di tản” tôi la lên. Một sĩ quan đứng phía bên kia cầu gật đầu và đáp: “Đúng, thưa Trung tá! Phải chấm dứt ngay. Nguy hiểm lắm rồi.”

Máy của Amatsukaze vẫn chạy đều, nó lập tức dang ra xa chiếc Ryujo, và không đầy 350 thước, chúng tôi nhìn lại thấy hàng không mẫu hạm đã biến mất trong làn sóng. Sức chìm của chiếc tàu đã tạo ra một vực nước xoáy khổng lồ, ghì chặt lấy chiếc Amatsukaze và cuốn chạy như một mảnh rác. Nhưng rất may là vực nước đó không đủ sức nhận chìm tàu của tôi. Tôi còn đang thở muốn đứt hơi thì một giọng nói thật nhỏ phía sau lưng tôi : “Trung tá Hara. Tôi … tôi không biết nói gì để cảm ơn ông…”

Tôi bổng thấy buồn cho vị sĩ quan nầy, ông ta không phải là một chuyên viên hàng không mẫu hạm, và tôi thấy tức giận Đô Đốc Yamamoto đã chọn một người như thế nầy để thi hành kế hoạch “chim mồi” của ông. “Ông không cần phải cảm ơn tôi, Đại tá Kato,” tôi nói. “Xem ông không được khỏe! ông có bị thương không?”

“Không, Hara, tôi không bị một vết trầy nào cả. nhưng … nhiều thuộc cấp của tôi đã chết, và cả chiếc tàu!.” Ông ta đưa tay ôm lấy mặt, khóc nức nở như một đứa trẻ. Tôi sợ ông ta có hành động nông nổi nên lên tiếng gọi: “Y ta, mau lên dìu Đại tá Kato vào ca bin của tôi.”
Kato phản đối: “Ồ! Không, Hara! Hãy để tôi ở chung với thủy thủ của tôi, nếu việc nầy không làm ngăn trở nhiệm vụ của ông.”

Tôi để ông ta làm theo ý thích. Trên tàu của tôi lúc ấy không có chổ nào là không có thủy thủ của chiếc Ryujo. Tôi xúc động khi nhìn vị Đại tá già lê bước về phía cầu thang để rời khỏi đài chỉ huy. Tôi gọi: “Đại tá Kato, xin chờ một chút. Tôi muốn hỏi người bạn thân của tôi là Kashi, phụ tá Đại tá, hắn ta có được bình yên không?”

Kato xoay lại, không thốt nên lời nào, khuôn mặt của ông ta đau khổ tột cùng. Tôi hiểu và gật đầu. Kato cúi đầu và bước xuống cầu thang.
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #71 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 09:16:57 pm »


Tôi đứng lặng. Anh bạn tôi của tôi đã chết. Kashi, một chuyên viên hàng không đã gặt hái được nhiều thành tích sáng chói. Anh ta từng đỡ tay cho viên hạm trưởng ngù ngờ nầy biết bao. Tôi lắc đầu. Tôi còn nhiều việc phải làm, đau buồn hãy chờ sau khi nhiệm vụ hoàn tất.


Tàu của tôi kết hợp với khu trục hạm Tokitsukaze và soái hạm Tone, và tôi vui mừng khi thấy hai chiếc tàu nầy, như chiếc Amatsukaze của tôi, không bị tổn hại gì cả. Cả hai cũng đang bận rộn cứu vớt một số thủy thủ của Ryujo đã nhảy xuống biển để thoát thân. Trong lúc đó, 14 phi cơ của hàng không mẫu hạm trở về sau nhiệm vụ ở Guadalcanal và đang bay quần trên trời. Bảy chiếc, trong số có một chiếc duy nhứt trang bị hệ thống liên lạc bị địch quân bắn rơi, thành thử các chiếc còn lại không nhận được lịnh đáp xuống Buka. Số còn lại nầy bây giờ bắt buộc phải đáp xuông biển, các chiến hạm cứu vớt hết phi hành đoàn nhưng tất cả các phi cơ đều vùi sâu dưới đáy biển.

Ba chiến hạm còn lại của chúng tôi được lịnh Phó Đô Đốc Nagumo chạy về hướng Tây để kết hợp với lực lượng chánh của ông. Ngày nầy, 24 tháng 8 năm 1942, mặt trận trên các đảo phía Đông Salomn vẫn còn tiếp diễn. Sau khi vượt 50 dậm về điểm hẹn, chúng tôi nhìn thấy một số chiến hạm Nhựt tất cả đều mở đèn chạy chầm chậm về phía Nam. Các chiến hạm nầy đang tìm kiếm một số phi công bắt buộc phải hạ cánh trên mặt biển.

(Hàng Không Mẫu Hạm Ryujo, theo thiết kế ban đầu là một tàu chở thủy phi cơ nhưng sau đó sửa đổi thành một hàng không mẫu hạm nhẹ trọng tải dưới 10.000 tấn tuân theo các điều khoản của Hiệp Ước năm 1922 của Nhật và Đồng Minh. Nó được đóng năm 1922 và hoàn tất trang bị vào năm 1931, trọng tải tối đa có thể lên đến 13.000 tấn nhưng thông thường nó chỉ mang đến 10.600 tấn. Nó được mang ra sử dụng trong cuộc chiến Hoa Nhật năm vào năm 1937 với nhiệm vụ yểm trợ cho Lục Quân, lúc nầy nó trang bị 12 chiến đấu cơ Nakajima A4N và 17 oanh tạc cơ Aichi D1A cả hai loại đều là phi cơ hai lớp cảnh cổ lổ. Năm 1940 nó được tái trang bị các phi cơ và sửa chửa nâng cấp để mang được tối đa 37 phi cơ hiện đại. Khi đệ nhị thế chiến bắt đầu Ryujo hoạt động ở Philippine cung cấp cây dù không quân cho các đoàn chuyện vận đổ bộ lên Davao. Và sau đó nó hoạt động suốt từ Philippine cho đến tận vịnh Bengal. Tháng sáu năm 1942, Ryujo tham gia cuộc hành quân Midway nhưng trong thành phần lực lượng tấn công quần đảo Aleutian, trong suốt cuộc hành quân này một chiến đấu cơ A6M Zero do hạ sỹ Tadahito Koga lái đã rơi xuống quần đảo nầy, Koga thiệt mạng nhưng chiếc Zero còn nguyên vẹn, đây là chiếc Zero đầu tiên lọt vào tay của Đồng Minh, nhờ vào đó mà Đồng Minh cho ra đời một loạt chiến đấu cơ mới để chọi lại chiếc chiến đấu cơ đáng sợ nầy. Ngày 24 tháng 8 năm 1942, Ryujo tham dự trận đánh ở Guadalcanal trong thành phần dụ địch và bị các oanh tạc cơ SBD và Avenger của hàng không mẫu hạm Saratoga đánh chìm, trong số 924 thủy thủ đoàn chỉ có 127 người thiệt mạng số còn lại được cứu sống.

Hàng không mẫu hạm Sarotoga của Hoa Kỳ, cùng loại với chiếc Lexington đã bị chìm ở trận San Hô, trọng tải 38.500 tấn chở được 90 phi cơ các loại, thủy thủ đoàn 2.200 sĩ quan và binh sỹ, chiếc nầy cũng là một thiết giáp tuần dương hạm biến cải thành hàng không mẫu hạm nên vẫn còn mang theo những khẩu đại bác lớn 8 khẩu 200 ly, và trang bị các loại phòng không từ 76 ly đến 12,7 ly. Nó đã tham chiến suốt từ đầu đệ nhị thế chiến cho đến hết chiến tranh, có thể nói đây là hàng không mẫu hạm lì đòn nhất của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Nó bị đánh chìm ngày 25 tháng 7 năm 1946 bởi cuộc thử bom A của Mĩ, chung số phận với nhiều tàu chiến khác như Prinz Eugen của Đức và Nagato của Nhựt).
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #72 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 11:44:14 pm »


Đêm tối như bưng. Nhiều giờ trôi qua, tiếng bom và tiếng súng không còn nghe vọng đến.


Tôi bắt đầu cảm thấy rã rời trong suốt một ngày một đêm chiến đấu không ngừng nghỉ. Tôi định đi nằm thì sĩ quan truyền tin của tôi cho biết hàng không mẫu hạm Shokaku (tức soái hạm của Nagumo) gởi một công điện đến Amatsukaze: “Phó Đô Đốc Nagumo chỉ thị cho Trung tá Hara giải cứu hai phi công của hàng không mẫu hạm Zuikaku bắt buộc phải đáp xuống biển. Thi hành lập tức tại vị trí KIN.21.”

Tôi vội vã trả lời: “Trung tá Hara gởi Đô Đốc Nagumo. Amatsukaze sẽ tiến ngay đến KIN.21 và giải cứu các phi công của Zuikaku.”

Quay sang hải đồ, tôi ghi tọa độ được cho là KIN.21 cách 98 dậm chánh Bắc vị trị hiện thời của tôi, và tọa độ nầy nằm sâu trong khu vực của lực lượng đặc nhiệm địch 60 dậm. Sở dĩ tôi biết được khu vực của địch quân là do tin tức đưa đén vào lúc chiếc Ryujo đang chìm. Nhưng lịnh là lịnh, và nhiệm vụ quá cấp bách không thể chần chờ. Cơn buồn ngủ tiêu tan, tôi triệu tập ngay bộ tham mưu để bàn thảo.

Chúng tôi không thể nào dám để cho một sai lầm nhỏ nào xảy ra trong nhiệm vụ nầy. Tôi không dám chắc tọa độ được cho có chánh xác hay không, nhưng nếu co một sai chạy nào thì công việc giải cứu của chúng tôi vô hy vọng.

Phó Đô Đốc Nagumo đã đặt biệt chọn tôi thi hành nhiệm vụ nầy, tôi biết ông đã đặt nhiều hi vọng vào tôi. Tôi quyết định không để ông thất vọng. Chúng tôi đang hút đầu vào miệng cọp, nhưng thuộc cấp của tôi lại tỏ ra thích thú và hăng hái khiến tôi cũng phấn khởi.
Chạy với tốc độ 24 hải lý, bốn tiếng đồng hồ sau chúng tôi có mặt trên khu vực phỏng định. Tôi ra lịnh chiếc tàu giảm tốc độ xuống chỉ còn 6 hải lý. Khi thiếu úy Hideo Shoji báo cáo chúng tôi đang ở ngay trên vị trí đã được cho, tôi gọi tất cả thủy thủ nào không bận việc lên boong tàu để quan sát, và tôi tuyên bố là ai phát hiện hai viên phi công trước tiên, người đó sẽ được thưởng. Mọi người hưởng ứng nồng nhiệt.

Tôi nghĩ nếu hai phi công Nhựt rơi xuống khu vực nầy thì phi công địch cũng có thể rơi xuống, và họ cũng đang được đồng bọn tìm kiếm. Do đó, dù trời tối đen như mực, tôi cũng không cho sử dụng đèn rọi, vì khu trục hạm lúc đó chỉ chạy có 6 hải lý một giờ, tiềm thủy đỉnh địch có thể phát hiện ánh đèn và tấn công chúng tôi.

Sau hơn một giờ tìm kiếm vô vọng, tôi lo ngại thiếu nhiên liệu. Hơn nữa, Amatsukaze của tôi đã tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu trong nhiệm vụ chim mồi vừa qua và cần phải dự trữ để quay về Rabaul cách xa đây 500 dậm. Để cho công tác mau lẹ, tôi ra lịnh bật đèn rọi nhỏ. Vài phút sau, một thủy thủ bổng la lên: “Một vật nổi ở hữu mạn, giống như một cái chai.” Tôi nghiêng mình ra ngoài đài chỉ huy và nhìn thấy cái chai loáng thoáng qua ánh đèn, tôi nói: “Đúng rồi, họ ở gần đây chứ không xa!” tôi cho bật đèn hiệu tên chiếc tàu của hai viên phi công: “Zuikaku! Zuikaku!”

Nửa giờ trôi qua, bình minh sắp đến, và lúc hy vọng sắp tan, tôi bổng thấy một đóm sáng thật nhỏ chợt lóe lên ở phía trái chiếc tàu cách khoảng 2.000 thước. Đóm sáng lại lóe lên một lần nữa rồi tắt hẳn, nhưng tôi đã xác định được vị trí. Chiếc tàu tiến thẳng đến, và tôi cho thả một chiếc xuồng xuống khi nhìn thấy hai người đang bám vào một cái phao. Thiếu úy Hideo Shoji cầm đầu xuồng giải cứu. Khi chiếc xuồng còn cách cái phao 50 thước, anh ta báo cáo rằng hai người đeo cái phao nầy giống người Mỹ.
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #73 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 11:45:18 pm »


Tôi quan sát bằng ống dòm và thấy đúng như lời Shoji, nhưng tôi ra lịnh: “người gì cũng mặc, hãy cứu cái đã.”

Tôi nao núng, nếu đây là hai người Mỹ thì công cuộc tìm kiếm của phe họ cũng quanh quẩn đâu đây. Nhưng tôi đã quyết tâm thi hành nhiệm vụ, cho dù kéo dài đến bình minh đi nữa. Khi xuồng cấp cứu vớt hai người dưới nước lên và báo cáo cho biết đây là hai phi công mà chúng tôi tìm kiếm, bấy giờ tôi mới thở phào nhẹ nhỏm.

Sau khi tất cả lên tàu, chúng tôi hướng về phía Bắc với tốc độ 24 hải lý, và tôi thoải mái lần đầu tiên sau nhiều giờ căng thẳng. Công cuộc giải cứu hoàn toàn thành công.

Mặt khác, cuộc hành quân chim mồi của chúng tôi dù gặp vận xấu ở phút cuối cùng, nhưng chưa hẳn là một thất bại. Sự hi sinh của Ryujo đã đánh lạc hướng địch quân, không chú tâm vào lực lượng chánh của Nhật Bản, và cho phép Phó Đô Đốc Nagumo tập trung đầy đủ sức mạnh không quân của ông để chống lại hàng không mẫu hạm Enterprise của Hoa Kỳ. Nhưng chiếc Enterprise chỉ bị hư hại, nó được sửa chửa và hoạt động lại trong vòng hai tháng, trong khi đó hàng không mẫu hạm Ryujo bị đánh chìm hẳn. Nếu có thất bại là thất bại ở điểm nầy.

Mặt khác, các phi thuộc hải quân Hoa Kỳ đã oanh tạc các tàu chuyển vận trung đoàn của Đại tá Ichiki và gây hư hại cho tuần dương hạm Jintsu, soái hạm của phân đội khu trục hạm hộ tống. Sáu khu trục hạm Nhựt tiến sát vào Guadalcanal và pháo kích dữ dội lên đảo nầy suốt đêm, nhưng sáng hôm sau các oanh tạc cơ B.17 của Hoa Kỳ bay đến và gây xáo trộn cho các chiến hạm Nhựt nhiều tiếng đồng hồ. Đoàn tàu chuyển vận thoát được đến Bougainville, nhưng khu trục hạm Mutsuki và tàu chuyển vận Kinryu Maru bị đánh chìm. Trong lúc đó, đoàn tàu chuyển quân của tướng Kawaguchi nhận thấy kho đi suông sẽ nên đã quay về Truk.

Vì vậy, toàn thể cuộc phản công lần thứ nhì của Nhựt ở quần đảo Solomon kết thúc với sự thất bại trên cả hai phương diện chiến thuật và chiến lược. Và việc nầy đã chứng minh quyết định của Yamamoto là sai lầm.

Hai ngày sau cuộc hành quân, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia đưa ra một thông cáo chung. Theo đó, trận đánh kéo dài từ 23 đến 25 tháng 8, Nhật Bản đã gây thiệt hại nặng nề cho địch quân, với một hàng không mẫu hạm lớn và một hàng không mẫu hạm trung, cùng với một thiết giáp hạm của Hoa Kỳ. Phía Nhựt chỉ bị đánh chìm một khu trục hạm và một hàng không mẫu hạm nhỏ hư hại nặng.

Về phía Hoa Kỳ, một công bố cho biết các phi cơ của họ đánh chìm một hàng không mẫu hạm, gây thiệt hại cho một tuần dương hạm và một khu trục hạm Nhựt. Công bố cũng nói đến việc hàng không mẫu hạm Enterprise bị hư hại, nhưng bù lại phi cơ của hải quân Hoa Kỳ cũng đã đánh chìm một thiết giáp hạm và hai khu trục hạm nhỏ của Nhựt.

Chiếc Ryujo đã chìm ngay trước mắt tôi, nhưng không còn chiếc tàu nào khác thuộc lực lượng chim mồi của chúng tôi bị đánh chìm, ngay cả một vết đạn cũng không. Có lẽ phi công Hoa Kỳ đã báo cáo lầm chiếc tàu chuyển vận Kinryu Maru thành ra một thiết giáp hạm và khu trục hạm Mutsuki thành ra một tuần dương hạm.

Từ đó trở về sau tôi không còn tin vào các công bố liên quân đến cuộc chiến, kể cả hai phía Nhật Bản và Đồng Minh.

Khi khu trục hạm Amatsukaze kết hợp với lực lượng đặc nhiệm của Nagumo, ngày 25 tháng 8, tôi nhận được một mạng lịnh mới đầy thích thú, gởi đến từ hàng không mẫu hạm Shokaku.

“Đô Đốc Nagumo thành thật ngọi khen Trung Tá Hara đã hoàn thành nhiệm vụ một cách hoàn hảo, và chỉ thị cho ông di chuyển lập tức đến Truk để đưa những người được giải cứu lên bờ.”

Một lần nữa, Amatsukaze lại tách rời khỏi lực lượng đặc nhiệm và đơn thân độc mã đến Truk. Ngày hôm sau, chúng tôi tiến vào hòn đảo san hô nầy.

Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #74 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 11:53:00 pm »


3
Lưu Bang đánh Đông dẹp Bắc và khai sáng triều đại nhà Hán vào năm 102 (trước Thiên Chúa Giáng Sinh). Sau khi lên ngôi, một hôm Lưu Bang hỏi nguyên soái của ông là Hàn Tín: “Nhà ngươi nghĩ sức trẫm có thể cầm được bao nhiêu quân?” Hàn Tín đáp: “Theo hạ thần nghĩ, bệ hạ chỉ có thể điều động một đạo quân vài ba chục ngàn người mà thôi.” Lưu Bang hỏi: “Còn sức của nhà ngươi thì sao?” Hàn Tín đáp: “Nhiều quân chừng nào hạ thần càng điều động hữu hiệu nhiều chừng nầy.” Lưu Bang cười: “Vậy tạo sao trẫm làm Hoàng Đế còn nhà ngươi chỉ là một vị tướng dưới trướng?” Hàn Tín đáp: “Đó là do mạng trời, bệ hạ sanh ra là để chỉ huy những người chỉ huy.”


Lưu Bang là một trong những vị vua vĩ đại nhứt, còn Hàn Tín là một trong những vị tướng tài ba và nổi tiếng nhứt lịch sử Trung Hoa. Trong thời đệ nhị thế chiến nhiều vị Đô Đốc cũng tài ba và gây được tiếng tăm như thế. Đô Đốc Isoroky Yamamoto của Nhựt là một. Ông là nhân vật tài ba, nhưng tôi nhận thấy tiếng tăm của ông có vẽ phóng đại hơn là những gì mà ông đáng được hưởng thực sự. Tôi không có ý so sánh ông với Lưu Bang, nhưng với sự kính trọng khả năng có thật của họ, tôi bắt buộc phải so sánh.

Mặc dù cuộc chiến Thái Bình Dương, Nhựt bại trận một cách đau thương, quốc gia vẫn xem Yamamoto như là một vị anh hùng. Sau chiến tranh, biết bao nhiêu chỉ trích nhắm vào các nhà lãnh đạo Hải Quân và Lục Quân Nhựt, nhưng riêng Yamamoto không hè được đá động tới. Nếu những nhận xét của tôi về Yamamoto có vẻ nghiêm khắc, thì chẳng qua tôi chỉ nhận xét theo công tâm. Đây có lẽ là lần đầu tiên một quân nhân Nhựt viết ra sự thật tất cả những gì mà người khác đã tránh né.

Đối với tôi, Đô Đốc Yamamoto là một người sanh ra để chỉ huy những người chỉ huy, và trên phương diện nầy sự kính trọng phải được dành cho ông. Nhưng ông, như Lưu Bang, không có khả năng điều động hàng mấy ngàn chiếc tàu và hàng mấy trăm ngàn thủy thủ dưới tay một cách hữu hiệu. Chọn ông để cầm đầu Hạm Đội Hổn Hợp, nghĩa là cầm đầu toàn thể lực lượng tham chiến của Nhựt trên mặt trận Thái Bình Dương, đó là một sự lựa chọn bi thảm.

Nhiều đồng nghiệp của tôi đều tin rằng Yamamoto là một vị Bộ Trưởng Hải Quân lý tưởng nhứt, và có nhiều cuộc vận động trong hàng ngũ sĩ quan Hải Quân Nhựt để đưa ông lên chức vụ nầy. Và theo ý kiến họ, Đô Đốc Mitsumasa Yonai mới xứng hợp với chức vụ Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp. Nhưng cuộc vận động nầy thất bại, vì Mitsumasa Yonai, một nhân vật chống đối chiến tranh mạnh mẽ, đã từ chối. Ông đã nói: “Tôi không phải là một Đô Đốc chiến đấu, do đó tôi sẽ gây “nguy hại” cho những gì mà Lục Quân đang theo đuổi. Hơn nữa, nếu một người cứng đầu như Yamamoto mà trở thành Bộ Trưởng Hải Quân, không sớm thì muộn ông ta sẽ bị Bộ binh cuồng tín sát hại.”

Lục Quân Nhựt là binh chủng gây rắc rối nhiều nhứt. Khi chiến tranh bắt đầu, Nội Các Nhựt dưới quyền lãnh đạo của Đại Tướng Hedeki Tojo, Bộ Trưởng Hải Quân là Đô Đốc Shigetaro Shimada chỉ là một anh hề của Tojo. Tổng Tham Mưu Trưởng Hải Quân, Đô Đốc Osami Nagano, lại không đủ mạnh để chống đối các kế hoạch của Lục Quân. Nếu muốn chỉ trích những gì mà Yamamoto đã làm hoặc không làm, các yếu tố vừa nêu cần phải được xét đến, vì các yếu tố nầy đã bó tay ông phần nào.

Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, Yamamoto nổi tiếng là một tay “đỏ đen” vào hàng siêu đẳng. Bất cứ trò chơi nào, ông cũng đều vượt trội, nhứt là đánh xì phé. Quyết định tấn công Trân Châu Cảng là một ván bài vĩ đại nhứt của ông, gây tối tăm mặt mủi cho một đối thủ tiền rừng bạc biển. Tuy nhiên có một điều lạ, là khác với một tay đỏ đen thật sự, Yamamoto không bao giờ lập lại “canh bạc xã láng Trân Châu Cảng” một lần nào nữa. Các bài học ở biển San Hô cũng không được ông mang ra áp dụng lại ở trận Midway, trận đánh mà Yamamoto đã hành động một cách sai lầm, là chia lực lượng của ông ra nhiều mục tiêu nhỏ mà không dồn hết nổ lực vào mục tiêu quyết định. Sau nầy, Yamamoto lại cứ mãi bận tâm với vấn đề bảo toàn lực lượng.
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #75 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 11:53:36 pm »


Khu trục hạm Amatsukaze, chở đầy những người còn sống sót, lặng lẽ tiến vào hải cảng Truk vào ngày 25 tháng 8 năm 1942. Tôi chắc chắn sẽ nhận được lịnh trở lại nhiệm vụ ngay khi đổ xong người. Nhưng, không một ai trong chúng tôi ngờ rằng Amatsukaze phải đậu ở Truk một tháng trời, trong lúc trận chiến nằm trong giai đoạn ác liệt nhứt. Ở đây, tôi đã thâu thập được nhiều chi tiết về trận hải chiến ở biển San Hô ngày 7 và 8 tháng 5 trước đây, tức là trong thời gian tôi đi phép.

Trận hải chiến nầy bùng nổ là do hậu quả kế hoạch đổ bộ của Nhựt nhằm chiếm giữ hải cảng Moresby, một cứ điểm then chốt của Đồng Minh nằm trên bờ biển phía Nam New Guinea. Trận đánh đã làm Nhựt chìm một hàng không mẫu hạm hạng nhẹ Shoho, và hai hàng không mẫu hạm hạng nặng là Shokaku và Zuikaku bị hư hại đến nỗi không thể tham dự và trận đánh ở Midway xảy ra một tháng sau đó. Qua công bố, Hải Quân Hoàng Gia không đề cập đến sự thiệt hại của Nhựt, chỉ cho biết là Nhựt đã đạt được chiến thắng qua việc đánh chìm được ba hàng không mẫu hạm địch trong trận đánh nầy. Nhưng mất mát thật sự của địch quân gồm có: hàng không mẫu hạm Lexington CV2 36.000 tấn, hàng không mẫu hạm Yorktown bị thiệt hại nhẹ, tàu dầu Neosho và khu trục hạm Soins bị đánh chìm. Mặc dầu các công bố đều nói đến hai tiếng chiến thắng, nhưng rõ ràng Nhựt đang bắt đầu thoái bộ.

Một tháng sau, Nhựt bị đánh tơi bời ở Midway, thiệt mất các hàng không mẫu hạm Akagi, Kaga, Hiryu và Soryu cùng với tuần dương hạm hạng nặng Mikuma, và với sự tham chiến của hàng không mẫu hạm Yorktown của Hoa Kỳ (hư hại trong trận đánh biển San Hô được sữa chữa lại) đã khiến cho Nhật Bản ngẩn ngơ, nhưng cuối cùng nó cùng với khu trục hạm Hammann bị Nhựt đánh chìm trong trận nầy.

Vào thàng 7, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhật Bản lại vấp thêm một lỗi lầm nữa qua cuộc đổ bộ một sư đoàn bộ binh vào Buna, nằm ở bờ biển Đông Papua. Sư đoàn nầy sau khi đổ bộ đã vượt qua dãy nũi Owen Stanley, mưu tấn công hải cảng Moresby. Nhưng con số binh sĩ thiệt mạng do núi non, rừng rậm hiểm trở và khí hậu độc địa gây ra dọc lộ trình di chuyển nhiều hơn là do địch quân gây ra.

Một việc có ý nghĩa là Đồng Minh đã đổ bộ lên đảo Guadalcanal vào ngày 7 tháng 8, đúng ngày lực lượng Nhựt sa lầy ở Papua. Yamamoto đã đánh giá một cách sai lầm các cuộc hành quân ở Papua và Guadalcanal. Hồi ở Midway ông đã phân chia lực lượng của ông để tấn công cùng một lượt vào các hòn đảo vô giá trị Aleutian, ở Guadalcanal ông cũng chia jai lực lượng, một tấn công hòn đảo nầy và một vào bán đảo Papua. Các cuộc tấn công phân tán đã không kết quả mà còn đưa đến hậu quả tàn khốc.

Vào đêm 24 tháng 8. trong lúc chiếc Amatsukaze đang giải cứu hai phi công, 7 khu trục hạm Nhựt đã đột kích Guadalcanal một cách gần như phí công. Vào hai ngày kế, các phi cơ Nhựt lại tấn công hòn đảo nầy, nhưng cũng không đạt được kết quả là bao. Trong khi đó thành phần chánh của Hạm Đội Hổn Hợp dàn quanh các đảo Solomon, nhưng lại không nhắm vào một mục đích nào hết. Sự do dự của Yamamoto hiển nhiên ai cũng thấy.

Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #76 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 11:54:12 pm »


Bốn ngày sau đó, đoàn tàu vận chuyển quân của Đại tá Ichiki một lần nữa cố gắng tiến về Guadalcanal.


Hai mươi khu trục hạm hộ tống đoàn tầu nầy bị phi cơ Đồng Minh tấn công, đánh chìm chiếc Asagiri và gây thiệt hại nặng cho ba khu trục hạm khác là Shirakumo, Yugiri, Amagiri. Yamamoto chần chờ khá lâu mới tung 30 chiến đấu cơ và 30 oanh tạc cơ của hai hàng không mẫu hạm Shokaku và Zuikaku để yểm trợ đoàn tàu bị tấn công. Nhưng khi các phi cơ nầy đến nơi thì đoàn tàu đã xuôi hướng trở về quần đảo Shortland. Trong khi đó, tiền quân thuộc trung đoàn của Ichiki, nằm kẹt cứng ở một góc đảo Guadalcanal đã lên tiếng kêu cứu. Do đó, sáng ngày 29 tháng 8, binh sĩ lại được đưa xuống 6 khu trục hạm để lên đường tăng viện. Lực lượng 1.000 người nầy đã đổ bộ thành công lên mũi Taivu, nằm giữa bờ biển phía Bắc Guadalcanal, ngay trong đêm.

Lữ đoàn của Trung tướng Seiken Kawaguchi, thoạt đầu dự định đổ bộ lên Papua, đã khởi hành từ Truk để tăng cường thêm cho cánh quân của Ichiki. Trên đường, Lữ đoàn ghé Bougainville, và ngày 30, tiểu đoàn đầu tiên thuộc Lữ đoàn nầy được 3 khu trục hạm vận chuyển đến đảo Guadalcanal. Tiếp theo đó, vào ngày 31. tám khu trục hạm khác đã vận chuyển thêm 1.200 quân nữa. Và vào ngày 1 tháng 9, đơn vị thứ ba của Lữ đoàn xuống 4 khu trục hạm và sau đó đổ bộ lên phía Nam hòn đảo. Ngày kế, 20 chiến đấu cơ và 18 oanh tạc cơ Nhựt tấn công Guadalcanal. Cuộc đổ bộ của toàn thể Lữ đoàn Kawaguchi hoàn tất và ngày 4 và 7 tháng 9.

Trong suốt giai đoạn xảy ra các hoạt động tăng viện nầy, chiếc Amatsukaze của tôi nằm bất động ở Truk, nhưng tôi cũng hình dung được mọi diễn tiến. Tôi biết lực lượng được các khu trục hạm đổ lên bờ chỉ có thể mang các vũ khí nhẹ, và điều nầy khiến cho tôi lo ngại. Bởi vì, cho dù lực lượng Nhựt đông đảo đi nữa, ho cũng không thể nào chịu đựng nổi trước sức đề kháng của lực lượng Hoa Kỳ, được trang bị vũ khí nặng, đã nằm sẵn trên đảo.

Truk hoàn toàn yên tỉnh, sau khi đoàn tàu chở lữ đoàn của Kawaguchi ra đi. Mặt nước hải cảng lặng như tờ. Khung cảnh bình an làm tiêu tan cơn mệt mõi của thủy thủ đoàn Amatsukaze.

Quanh hòn đảo san hô nầy đầy dẫy mọi loại hải sản. Mỗi ngày thuyền chài đều mang cá tươi về. Đó là một cơ hội tốt để đổi món ăn cho những kẻ quanh năm chỉ biết đồ hộp như chúng tôi.

Trong lúc đó, thành phần chánh của Hạm Đội Hổn Hợp chấm dứt mười ngày “lang thang” vô ích và tiến vào hải cảng Truk ngày 5 tháng 9. Hải cảng rộng lớn nầy bổng nhiên hẹp lại khi 50 chiến hạm, với thiết giáp hạm Yamato, 69.100 tấn dẫn đầu lần lượt ùa vào.

Suốt ba ngày liền thay phiên trên các soái hạm đơn vị, toàn thể hạm trưởng và sĩ quan chỉ huy hội họp để bàn thảo các chi tiết chiến thuật. Cuộc họp cuối cùng mở ra trên soái hạm Yamato, dưới sự chủ tọa của Yamamoto. Các cuộc bàn thảo sơ khởi trước đó đều xoay quanh các phương cách đối phó với những vấn đề không quan trọng. Không thấy ai đề cập đến những khiếm khuyết đã gặp phải trong các cuộc hành quân trước đây. Sự thật, nếu ai mang các vấn đề nầy ra bàn thảo thì không tránh khỏi đụng chạm đến thượng cấp. Do đó, các cuộc bàn thảo sơ khởi không đi đến đâu.
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #77 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 11:54:45 pm »


Chủ tọa buổi họp cuối cùng nầy, Đô Đốc Yamamoto ngồi im lặng nghe, và sau cùng để kết thúc buổi họp, ông lên tiếng cảnh cáo sự khinh thường khả năng chiến đấu của Hoa Kỳ và đưa ra chỉ thị đơn giản:


- Phải che đậy hành tung của các hàng không mẫu hạm Nhựt

- Ưu tiên tận dụng sức mạnh không lực để chống lại địch quân

Tôi trở về tàu với tâm hồn trống rỗng, cảm thấy các buổi họp hoàn toàn vô bổ. Gặp Đại úy Shimizu, thấy mặt ông bí xị tôi hỏi: “Gặp rắc rối gì rồi, phải không?”

“Chúng tôi vừa để xẩy một con cá. Ba ngày nay, hạm đội siêu đẳng của chúng ta đã làm lũ cá quanh hòn đảo san hô nầy khiếp đảm.”

Vào ngày 9 tháng 9, Hạm Đội Hổn Hợp rời khỏi Truk, và khu trục hạm Amatsukaze gia nhập trở lại lực lượng đặc nhiệm Nagumo. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ tiến công xả láng Guadalcanal vào ngày 12 tháng 9, đồng lúc với cuộc tấn công của tướng Kawaguchi trên bộ. Tuy nhiên, chúng tôi phải nằm chờ qua đêm 12 để đợi tin tức dứt khoát xem có phải các phi trường ở Guadalcanal hiện nằm trong tay quân Nhựt hay không. Ngày kế đó, chúng tôi lại tiếp tục kiên nhẫn chờ đợi, cho đến quá nửa đêm, Tổng Hành Dinh Hải Quân ở Rabaul gọi vô tuyến báo tin: “Theo các phi cơ thám thính, các phi trường ở Guadalcanal dường như nằm trong tay các lực lượng của chúng ta.”

Sáng sớm ngày hôm sau, bảy phi cơ thám thính của chúng tôi trở về với đầy đủ các báo cáo trái ngược hẳn với tin tức của Rabaul. Cuối cùng, vào ngày 15, công điện mong đợi cũng đã đến tay chúng tôi, do Kawaguchi gởi. Theo đó lực lượng của ông đã gặp sức chống cự dũng mãnh của địch quân, chịu đựng thiệt hại nặng nề, và bắt buộc phải bỏ rơi các phi trường.

Buổi chiều cùng ngày, phi cơ tuần thám và các tiềm thủy đỉnh của chúng tôi báo cáo một lực lượng đặc nhiệm hùng hậu của địch quân, gồm nhiều hàng không mẫu hạm và thiết giáp hạm, ở cách Đông Nam Guadalcanal 260 dậm. Thiếu tá Takaichi Kinashi, hạm trưởng của tiềm thủy đỉnh I.19, qua một “công điện vui vẻ đầu tiên” trong tuần lễ đầy đen tối nầy, cho biết tàu của ông đã phóng thủy lôi đánh chìm hàng không mẫu hạm Wasp của Hoa Kỳ. (Wasp bị trúng 3 trái thủy lôi của I.19 vào ngày 16 tháng 9, hư hại trầm trọng, nên sau khi di tản thủy thủ đoàn, chiếc tàu được khu trục hạm Lansdowne của Hoa Kỳ ban thêm nhiều phát thủy lôi “ân huệ” để nhận chìm hẳn).

Lực lượng của chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng và nôn nóng chờ đợi thử sức với hạm đội của địch quân. Nhưng sau một tuần chạy lang thang, tất cả chiến hạm Nhựt đều gần cạn nhiên liệu. Chúng tôi phải lấy thêm nhiên liệu từ các tàu chở dầu ở một hải vực cách phía Bắc Guadalcanal 200 dậm. Công việc nầy đã mất hết ba ngày, vì vậy hi vọng đụng độ với địch quân của chúng tôi tiêu tan.

Trong lúc đó, Đô Đốc Yamamoto cuối cùng cũng quyết định cần phải có một sư đoàn đầy đủ quân số để tăng viện cho các lực lượng Nhựt bị kẹt ở Guadalcanal. Do đó, sau khi tiêu thụ một số nhiên liệu khổng lồ mà không thâu hoạch được một lợi lộc gì cả, Hạm Đội Hổn Hợp quay trở lại Truk để chờ đợi quân.

Cũng trong thời gian nầy, Yamamoto ra lịnh cho Đề Đốc Kakuji Kakuta, hiện đang đảm trách về việc huấn luyện 3 hàng không mẫu hạm mới trong hải phận Nhựt, đem các tàu của ông đến Truk càng sớm càng tốt. Yamamoto cũng quyết định ngưng các cuộc hành quân để chờ đợi Đệ Nhị Hạm Đội của Kakuta. Cho mãi đến ngày 9 tháng 10, hạm đội nầy mới đến được Truk. Do đó, sau khi địch quân đổ bộ lên Guadalcanal, Nhật Bản mất hai tháng tròn mới chuẩn bị được một lực lượng phản công đầy đủ.

(Hàng Không Mẫu Hạm Hiyo và Junyo, cả hai chiếc đều biến cải từ tàu vận tải lớn vào năm 1940, sau khi hoàn tất trang bị và thử nghiệm nó được đưa sang tham gia chiến dịch ở Guadalcanal, chiếc Hiyo hư máy phải về Nhật sửa chữa và hoạt động động lại vào đầu năm 1943, chiếc nầy bị đánh chìm trong trận Leyte, nó thuộc hạm đội “chim mồi” của Đô Đốc Ozawa. Junyo thì may mắn hơn, tham gia trận đánh Santa Cruz sau Guadalcanal và các chiến dịch lớn khác, và ngoạn mục nhất là sống sót qua trận Leyte trong khi các mẫu hạm hiện đại nhất Taiho và hai mẫu hạm vinh quang Zuikaku và Shokaku cùng các tiểu mẫu hạm khác đều bị đánh chìm. Cả hai chiếc Hiyo và Junyo đều được trang bị pháo khẩu 130 ly để tự về và hơn 80 khẩu phòng không 25 ly, sang năm 1944 nó còn được trang bị các dàn rocket 130 ly và có khả năng mang theo 53 máy bay các loại, thông thường là 12 Zero, 18 Val và 18 Kate. Hàng không mẫu hạm Zuiho, đây là mẫu hạm nhẹ cùng loại với chiếc Shoho bị đánh chìm ở trận hải chiến biển San Hô, 14.200 tấn, nguyên thủy là một tàu dầu hạ thủy năm 1934 đến năm 1940 được sửa đổi thành một tàu chở tiềm thủy đỉnh tốc độ cao, nhưng sau đó vì mục đích xây dựng lực lượng hàng không mẫu hạm quan trọng hơn nên nó được chuyển đổi một lần nữa thành mẫu hạm hộ tống hạng nhẹ mang được 30 máy bay, trang bị súng 130 ly và 56 khẩu phòng không 25 ly. Zuiho tham chiến ở các chiến dịch tấn công Phi Luật Tân và cuộc hành quân Midway nhưng không đụng độ với Mỹ nhiệm vụ của Zuiho là hộ tống. Tháng 10 năm 1942, Zuiho tham gia trận đánh Santa Cruz và bị trúng bom từ các oanh tạc cơ SBD, sức nổ phá tan gần như đường băng sân bay và nó bị loại khỏi vòng chiến, tuy nhiên sau khi sửa chưa tháng 1 năm 1943 Zuiho quay lại Guadalcanal một lần nữa kết hợp với Zuikaku và Junyo tấn công Guadalcanal. Sau chiến dịch ở Guadalcanal, Zuiho bị đánh chìm trong trận đánh ở vịnh Leyte.)

Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #78 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 11:56:26 pm »


4
Một nhà quân sự tài ba của Trung Hoa đã viết: “Một chiến thuật gia khôn khéo có thể ví như một con rắn: đầu bị đánh thì đuôi sẽ dậy, còn đuôi bị đánh thì đầu sẽ dậy. Còn nếu bị đánh ở giữa thì đầu và đuôi của nó đều dậy.”


Tháng 10 năm 1942, Hạm Đội Hổn Hợp của Đô Đốc Yamamoto lần đầu tiên áp dụng “xà trận” nầy. Đầu của con rắn là Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo, thân con rắn là phân đội riêng của Yamamoto, và đuôi của con rắn là các chiến hạm mới đến, dưới quyền chỉ huy của Đề Đốc Kakuta.

Hàm răng sắt của Nagumo là hai hàng không mẫu hạm Zuikaku và Shokaku (29.800 tấn mỗi chiếc và tổng số trang bị và chuyên chở lên đến 40.000 tấn). Đây là hai hàng không mẫu hạm tối tân nhất của Nhựt Bản thời ấy, gồm toàn thủy thủ đoàn và phi công chọn lọc. Thêm vào đó còn các hàng không mẫu hạm biến bải Hiyo, Junyo (mỗi chiếc 27.500 tấn) và Zuiho (13.100 tấn) của Đề Đốc Kakuta. Các chiếc tàu sau gồm thủy thủ đoàn và phi công mới huấn luyện, nhưng dưới bàn tay trui rèn của Kakuta, sự thiếu kinh nghiệm của họ cũng được bù đắp phần nào. Kakuta là một vị Đề Đốc trẻ tuổi nhứt dưới quyền của Yamamoto, và là một tay chiến đấu chưa hề biết lùi bước. Ông đến Truk với ý định phục thù cho hàng không mẫu hạm Ryujo, chiếc tàu mà ông từng chỉ huy trước đây. Theo Kakuta, Ryujo sở dĩ bị đánh chìm trong trận hải chiến ở Đông Solomon là do sự cẩu thả của giới chỉ huy cao cấp của Hải Quân Nhựt. Ông cũng tỏ ra tức tối cuộc đại bại ở Midway. Lúc đó ông đang bận chỉ huy lực lượng 2 xung kích tấn công các đảo Aleutian, nên không rảnh tay để nhảy vào tham chiến. Trong trường hợp nầy ông không khác nào cái đuôi con rắn bị kéo đi quá xa, nên không thể nào quật được khi cái đầu của nó bị đánh.

Vào tháng 9 năm 1942, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia ở Đông Kinh ý thức được tình thế nghiêm trọng nên đã cho phép Yamamoto tập trung nổ lực vào cuộc hành quân Guadalcanal và “bỏ rơi” cuộc hành quân ở Palau. Do đó, ông có cơ hội trở thành “một chiến thuật khôn khéo” như lời của nhà quân sự tài ba Trung Hoa, nhưng ông không thực sự tự do để khai thác đầy đủ cơ hội nầy. Lục Quân vẫn giữ các quyết định tối hậu.

Lục Quân đã chuyrn sư đoàn 2 Bộ Binh của họ đóng ở Java đến Rabaul và đòi hỏi “một cuộc hành quân phối hợp Hải Lục ở Guadalcanal”. “Hành quân phối hợp Hải Lục” có nghĩa là lục quân cung cấp binh sĩ và vũ khí, còn hải quân chỉ có nhiệm vụ chuyển vận và yểm trợ mà thôi. Lục quân có trong tay phân nửa tổng số phi cơ chiến đấu của Nhật Bản, nhưng họ không cung cấp một chiếc nào cho cuộc hành quân nầy. Như vậy, ý niệm về một cuộc “hành quân phối hợp” của Nhựt khác xa của Hoa Kỳ.

Khi cuộc hành quân đổ bộ Guadalcanal được chuẩn bị, các chiến hạm được mang danh là “Chuyến xe lửa tốc hành Đông Kinh”(tức các khu trục hạm) lãnh nhiệm vụ chuyên chở sư đoàn 2 Bộ Binh. Đây là các khu trục hạm thuộc Đệ Bát Hạm Đội của Đề Đốc Gunichi Mikawa ở Rabaul.

Lực Lượng Đặc Nhiệm của Đề Đốc Kakuji Kakuta rời khỏi Truk vào ngày trước đó để bắn phá đảo Ndeni, thuộc nhóm phía Bắc Satan Cruz, vì chúng tôi cho rằng các thủy phi cơ của Hoa Kỳ hiện đóng tại đây. Nhưng trước khi chúng tôi đến địch quân đã rút đi hết. Chúng tôi quay lại phía Bắc quần đảo Solomon vào ngày 15 tháng 10, để kết hợp với lực lượng đặc nhiệm Nagumo đã rời Truk ngày 11.
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #79 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 11:57:10 pm »



Các “chuyến xe lửa tốc hành Đông Kinh” của Đề Đốc Mikawa, qua tám chuyến chuyên chở vào những ngày từ 2 đến 11 tháng 10, đã đổ 10.000 binh sĩ của Sư Đoàn 2 lên Guadalcanal một cách suông sẽ và thành công đến nỗi gây kinh ngạc cho Đồng Minh.


Trong thời gian nầy chỉ có một cuộc đụng độ nhỏ vào ngày 11 giữa hải đội 6 tuần dương hạm của Đề Đốc Aritomo Goto và Lực Lượng Đặc Nhiệm 64 của Đề Đốc Hoa Kỳ Norman Scott. Nhóm chiến hạm hộ tống bị lực lượng của Scott phục kích ở eo biển nằm giữa Savo và nhóm đảo Guadalcanal, và trận đánh nầy thường gọi là trận đánh Cape Esperance. Lực lượng Hoa Kỳ gồm 4 tuần dương hạm và 5 khu trục hạm trong khi Nhựt chỉ có 3 tuần dương hạm và 2 khu trục hạm. Cuộc quần thảo dữ dội kết thúc với hai chiến hạm Nhạt là Furutaka bị đánh chìm và tuần dương hạm Aoba bị hư hại nặng, phía Hoa Kỳ có khu trục hạm Duncan chìm, khu trục hạm Farenholt và hai tuần dương hạm Salt Lake City và Boise hư hại nặng. Sự thiệt hại to tát của Nhật Bản trong trận đánh nầy là cái chết của Đề Đốc Goto, nhưng cũng có cái lợi là đuổi sạch tàu chiến của Hoa Kỳ trong hải vực nầy. Do đó, phó Đô Đốc Takeo Kurita có thể đưa hai thiết giáp hạm Kongo và Haruna của ông tiến sát vào bờ biển Guadalcanal vào đêm 13 thán 10 để mở các cuộc pháo kích và cánh sườn của địch quân.

Đây là bước đầu phế bỏ chánh sách “cất giữ” thiết giáp hạm do Yamamoto chủ trương trước đây. Trong các cuộc hành quân đã qua, ông luôn luôn từ chối đưa các thiết giáp hạm đến gần các khu vực chiến đấu. Và trong cuộc hành quân nầy, Yamamoto cũng tận dụng không yểm, phát xuất từ một phi trường ở Bougainville, cho thấy là bài quyết định đã được ông đánh xuống.

Lúc 23 giờ ngày 13 tháng 10, hai thiết giáp hạm, mỗi chiếc 27.500 tấn, tiến vào cách bờ biển trong vòng một dậm, với vận tốc trung bình 18 hải lý, và cả 16 khẩu trọng pháo đồng loạt nả 918 trái đạn và phi trường của địch quân. Phi trường bốc cháy suốt 24 tiếng đồng hồ. Trước màn ngoạn mục nầy, tất cả binh sĩ đã đổ bộ lên Guadalcanal đều phấn khởi và thúc giục Yamamoto “trình diễn” một lần nữa. Yamamoto đồng ý, và đêm sau hai tuần dương hạm Chokai và Kinugasa của Đề Đốc Mikawa chạy dọc theo bờ biển, dập phi trường địch thêm 753 trái đại pháo nữa.

(Thiết Giáp Hạm Kongo và Haruna cùng lớp, trọng tải 27.500 tấn, hạ thủy năm 1915, lớp thiết giáp hạm nầy gồm 4 chiếc Kongo, Hiei, Haruna và Kirishima, nguyên thủy được xem là thiết giáp tuần dương hạm, trang bị 8 đại pháo 350 ly, 16 đại pháo 150 ly và nhiều loại vũ khí khác, nó đạt tốc độ 30 hải lý (sau khi cải tiến lại trong thập niên 30), thủy thủ đoàn 1437 người, cả 4 chiếc đều bị đánh chìm trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Hiei và Kirishima bị đánh chìm ở Guadalcanal, Kongo mất trong trận Leyte còn Haruna sau khi đào thoát được về quân cảng Kure và buông neo trốn trong quân cảng cũng không thoát các phi cơ của Lực Lượng Đặc Nhiệm 58 của Hoa Kỳ, nó bị đánh chìm vào ngày 28 tháng 7 năm 1945, chưa đầy một tháng sau Nhật đầu hàng).

Trong các ngày nầy hải quân đảm trách những công việc nhẹ nhàng, và chỉ có một nhiệm vụ được xem là quan trọng, đó là nhiệm vụ tải võ khí nặng để trang bị cho quân đổ bộ. Trong khi đó, lực lượng của Hoa Kỳ đã bắt đầu phản công. Vào ngày 15 tháng 10, phi cơ Hoa Kỳ đã đánh chìm hoặc gây hư hại cho 6 tàu chuyển vận của Nhật Bản. Và sáng sớm ngày 17, hai khu trục hạm Hoa Kỳ đã pháo kích cháy nhiều tàu tiếp tế của Nhựt, và buổi trưa cùng ngày, 7 oanh tạc cơ trở lại “dọn dẹp” thêm một lần nữa.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM