Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:49:59 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940  (Đọc 107201 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #120 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:47:56 am »

Tình trạng chết trong nhà tù

Bị đánh đập tra tấn, lại bị cầm giữ trong những điều kiện nói trên, tất nhiên dẫn đến nhiều người bị chết trong tù. Nhưng chết bao nhiêu? Câu trả lời thật khó khăn, bởi vì chúng tôi đã cốt hết sức truy cứu tài liệu, mất khá nhiều thời gian, thâm chí cộng từng ngày khi có một tài liệu đến nay.

Ở đây chúng tôi cũng không nói đến số đồng chí đã bị chết ở Côn Đảo và các nhà tù tỉnh, ở các căng lao động đặc biệt… Mà chỉ nói tới mấy nhà tù ở thành phố là Khám lớn, kho Rondon, Lazaret Nhà Bè và Chợ Quán. Từ đó có thể hình dung được những nghĩa quân trong cuộc nổi dậy tháng 11-1940 đã bị hy sinh như thế nào trong lúc bị cầm giữ.

Tại Khám Lớn, trong tháng 1-1941, có 18 người tù bị chết trong đó có 16 người bị ho lao. Tháng 2 diến ra bình thường như thế. Đột nhiên chỉ trong 5 ngày từ ngày 26 đến 31-3, chết 12 người, trong đó 8 người do hoại thư, 4 người nhiễm khuẩn máu (septicémie).

Cùng ngày 31-3, ở kho Rondon, 18 người bị hoại thư chuyển đến Chợ Quán thì chết(1).

Căn cứ vào báo cáo hàng tuần, thống kê số tù nhân bị chết trong tháng 4-41 của 4 nhà tù: Khám lớn, Rondon, Chợ Quán và Lazaret Nhà Bè là 105 người trung bình 3 người rưỡi một ngày. Ngày chết cao nhất trong tháng, ngày 1-4-41: 16 người: Chợ Quán 4, Lazaret Nhà Bè 12 người. Sang tháng 5, từ ngày 1 đến 17, chết: 52 người(2)

Chúng tôi chỉ xin lấy số liệu 1 tháng rưỡi để phán ánh tình hình chết của những người khởi nghĩa bị giam trong nhà tù. Từ đó chúng ta có thể suy ra việc giam giữ của đế quốc Pháp kéo dài hàng mấy tháng trời ròng rã thì số người chết là bao nhiêu. Thật là tàn bạo!


(1) Báo cáo số 546 ngày 5-4-41 của thống đốc Nam kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. Hồ sơ: Như trên.
(2) Cộng số liệu tù chính trị chết hàng ngày trong các nhà tù tại thành phố Sài Gón, căn cứ vào số liệu báo cáo hàng tuần của chúng. Hồ sơ IIA.45/222 (2d) TT.LT2.TPHCM.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #121 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:53:06 am »

4. Dùng Tòa án để trấn áp những người nổi dây.

Kể từ tháng 1 năm 1941 trở đi, Đế quốc Pháp mới thực sự đưa những người bị chúng bắt trong các cuộc nổi dậy ra xét xử trước các tòa án.

Cho đến hết năm 1941, đế quốc Pháp đã kết án những người tham gia khởi nghĩa như sau:



20 năm khổ sai và 20 năm quản thúc: 221 người

15 năm khổ sai và 15 năm quản thúc: 331 người

12 năm khổ sai và 12 năm quản thúc: 23 người

11 năm khổ sai và 11 năm quản thúc: 13 nười

10 năm khổ sai và 10 năm quản thúc: 469 người

9 năm khổ sai và 9 năm quản thúc: 2 người

8 năm khổ sai và 8 năm quản thúc: 34 người

7 năm khổ sai và 7 năm quản thúc: 80 người

6 năm khổ sai và 6 năm quản thúc: 25 người

5 năm khổ sai và 6 nam quản thúc: 722 người

Cộng: 1920 người

Tử hình: 158 người

Chung thân: 180 người

Tổng cộng: 2258

Để so sánh tính khốc liệt của sự đàn áp tàn bạo của đế quốc Pháp từ đầu thế kỷ 20 cho đến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chúng tôi xin nên lên vài số liệu.

Trong vụ đầu độc Hà thành có liên hệ với phong trào Hoàng Hoa Thám và Phan Bội Châu, đế quốc Pháp đã xử tử 13 người(2)

Trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Phú Thọ, Hải Dương, đế quốc Pháp đã kết án tử hinh: 80 người, chung thân khổ sai: 102 người và đưa đi đày các loại năm 289 người(3).

Đối với cuộc khởi nghĩa Đô Lương của ông Đội Cung, đế quốc Pháp kết án tử hình 10 người.

Có thể nói từ khi Pháp sang thống trị nước ta, chưa có cuộc nổi dậy chống đối nào bị đế quốc Pháp xử tử hình, tù chung thân và các loại tù khác nhiều như cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940: 158 người bị tử hình, 180 người bị chung thân.

Đây là con số cụ thể bị Pháp dùng tòa án để trị, không kể hàng trăm, hàng trăm người bị chúng bắn trong các cuộc càn quét và ném bom, hoặc bị đánh chết, thủ tiêu ngầm trong tù, chặt đầu bêu ở chợ…

Cùng với việc bắt và đưa ra xử án những người nổi dậy, chúng ta cũng cần nói tới đế quốc Pháp dùng sắc lệnh ngày 20 tháng 1 năm 1940, để bắt bớ giam cầm những người cộng sản và cách mạng, cho đến hết năm 1941, chúng đã:

- Đưa 521 người đi các căng đặc biệt của những người lao động, như Bà Rá, Bạc Liêu, Tây Ninh…

Trong số này có 49 phụ nữ.

- 252 người bị quản thúc tại nơi cư trú.

- 88 người bị buộc phải ở một trung tâm nhất định xa nơi cư trú.

Và trong số những người trên dây đã có biết bao nhiêu bị bỏ mạng trong các nhà tù, các căng, ngoài đảo…?


(1) Mới tính hết năm 1941, chưa kể số ngời bị địch xử năm 1942
(2) Patrice Morlat: La répression coloniale au Việt Nam (1908-1940). Recherches asitiques. Harmanthan. Paris : 1990 P.17.
(3) Như trên, P.122.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #122 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:56:53 am »

PHẦN THỨ BẢY

Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC
CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ

I. Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ

Từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta và đặt ách thống trị, bóc lột lên đầu lên cổ dân ta, thì chưa bao giờ, nhân dân ta ngừng tiếng súng đấu tranh chống lại chúng

Tuy nhiên, rõ ràng là, từ sau cuộc khởi nghĩa Trương Định cho đến tháng 11 năm 1940, chưa có cuộc nổi dậy nào vừa mạnh, vừa rộng như cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.

Đây là cuộc nổi dậy do Xứ ủy phát động và lãnh đạo, là sự kiện chói lọi bùng lên ngay khi phong trào cách mạng của nước ta bước vào thời kỳ mới: Thời kỳ Đảng ta có sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nêu cao ngọn cờ chống đế quốc giải phóng dân tộc, do Hội nghị Trung ương tháng 11 năm 1939 tại Bà Điểm (Gia Định) đề ra và được các hội nghị Trung ương tiếp theo (tháng 11 năm 1940 và tháng 5-1941) hoàn chỉnh.

Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ với khí thế “tiến công trời” (lời của K.Marx đánh giá các chiến sĩ Công xã Paris) phất cao ngọn cờ đỏ sao vàng đã làm rung chuyển chính quyền thống trị của đế quốc Pháp và của bọn phong kiến tay sai, làm tan rã bộ máy cai trị của địch ở một số vùng nông thôn Nam Kỳ và nắm lấy quyền làm chủ ở những nơi đó.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã bó trần mâu thuẫn vô cùng sâu sắc giữa toàn dân tộc ta với bọn thống trị cướp nước, đã vạch rõ bọ mặt tàn ác của bọn đế quốc cầm quyền và lũ tay sai phản động. Đúng như Trung ương Đảng ta đã đánh giá cùng với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tháng 9-1940) cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ là “những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương”(1)

Cuộc khởi nghĩa cho thấy, khi Đảng cộng sản ra lời kêu gọi, hạ lệnh khởi nghĩa thì quần chúng nhân dân nhất là công nhân, nông dân và các tầng lớp yêu nước khác, đã biểu lộ sức mạnh của mình sẵn sàng nổi dậy đấu tranh, dù có phải hy sinh đổ máu, để giành lấy quyền sống, giành độc lập tự do. Bởi vì qua thực tế chiến tranh của hai cao trào cách mạng 1930-1931 và 1936-1939, quần chúng nhân dân thấy rằng: chỉ có Đảng cộng sản mới vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn: đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành lại độc lập cho dân tộc, xóa bỏ giai cấp địa chủ đem lại ruộng đất cho nông dân, đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội. Đảng là người trung thành nhất với quyền lợi sống còn của dân tộc và nhân dân lao động. Khi Đảng phất cờ, thì nhân dân nổi dậy hành động và khi cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu, thì nhân dân vẫn thực sự gắn bó với Đảng, vẫn bảo vệ Đảng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng chờ lệnh phát động một cuộc khởi nghĩa sắp tới.

Tinh thần của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ là tinh thần quật khởi của dân tộc ta, tinh thần cách mạng sẵn sàng chiến đấu chống đế quốc, phong kiến, không sợ hy sinh, vì độc lập tự do của Tổ quốc và vì một xã hội công bằng, văn minh và hạnh phúc.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là một cuộc nổi dậy kế tục và phát triển truyền thống yêu nước của tổ tiên ta, chiến đấu dưới ngọn cờ của chủ nghĩa MácLê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Do những du kích khách quan và chủ quan, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chưa thành công và bị đàn áp vô cùng tàn bạo, nhưng cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã đê lại nhiều bài học vô cùng quý báu.

Chính trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, lần đâu tiên trong lịch sử tnước ta, ngọn cờ đỏ sao vàng 5 cánh phấp phới tung bay, biểu tượng của tinh thần yêu nước, tinh thần yêu quý độc lập tự do. Chỉ sau đó nửa năm, Hội nghị lân thứ Tám của Trung ương Đảng (tháng 5-1941) tại Pắc bó, Cao Bằng đã lấy ngọn cờ đỏ làm quốc kỳ cho cả nước, lá cờ hiệu triệu, tập hợp toàn dân tộc nổi dậy, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại năm 1945.

Tinh thần chiến đấu anh dũng của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ mãi mãi sống trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta.

Ngày 14 tháng 4 năm 1948, thay mặt Đảng và chính phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng thưởng HUÂN CHƯƠNG QUÂN CÔNG HẠNG NHẤT, huân chương cao quý nhất lúc bấy giờ, cho cuộc KHỞI NGHĨA NAM KỲ năm 1940, do “đã nổi lên lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc”.


(1) Văn kiện Đảng, Tập III, 1939-1945, NXB Sự thật Hà Nội 1963, tr.189
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #123 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:58:23 am »

II. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ

Ngay sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bị thất bại, khoảng nửa năm sau, ngày 6-6-19412, trong bức thư gửi đồng bào cả nước, Bác Hồ với danh nghĩa lão đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã viết về nguyên nhân chưa thành công của mấy cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tiếp.

“… Gần đây cuộc khởi nghĩa ở Nam kỳ, Đô Lương, Bắc Sơn đã chứng tỏ rằng đồng bào ta quyết noi theo dấu máu vinh quang của người trước mà mạnh mẽ ra giết quân thù.

Nhưng việc lớn chưa thành được, đó thực chẳng phải vì sức mạnh của bọn Pháp, mà chính vì cơ hội thuận tiện chưa đến và đồng bào toàn quốc chưa một lòng một dạ để lo việc lớn”.

Đi tìm nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chính là rút những bài học khởi nghĩa để góp phần đưa cách mạng đến thắng lợi. Thời kỳ đó, Đảng ta đã làm tốt việc này, do đó đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công.

Bài học khởi nghĩa của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ có nhiều, ở đây, chúng tôi xin nêu lên 4 bài học chủ yếu:
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #124 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:00:56 am »

Bài học kinh nghiệm thứ nhất

CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KỲ ĐÃ NỔ RA KHI TÌNH THẾ CÁCH MẠNG ĐÃ XUẤT HIỆN, CÓ CÓ KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, XÃ HỘI, NHƯNG CHƯA ĐỦ CHÍN MUỒI CHO MỘT CUỘC TỔNG KHỞI NGHĨA.


Cuộc khởi nghĩa nổ ra vào lúc tình thế cách mạng đã xuất hiện;

Về điều kiện khách quan, thực dân Pháp, kẻ thống trực tiếp nước ta, từ khi nhảy vào vòng chiến, gặp nhiều khó khăn, đặc biệt từ khi bị phát xít Đức đánh bại và phải lập chính quyền tay sai Đức ngay tại chính quốc, thì sức mạnh, uy tín vốn có của bọn Pháp trước nhân dân ta suy sụp một cách thảm hại, chính quốc Pháp không còn gì để can thiệp và giúp đỡ cho cấp dưới đang cầm quyền cai trị ở Đông Dương nữa.

Nhân cơ hội Pháp thua Đức - đồng minh của Nhật, phát xít Nhật đang mở rộng cuộc xâm lược ra các nước Đông Nam Á, vội nhảy vào Đông Dương buộc Pháp phải nhả bớt quyền lợi để rồi nắm lấy Đông Dương. Phát xít Nhật chơi trò sức mạnh, cho quân đánh biên giới Lạng Sơn, phía Bắc, đồng thời xúi giục Thái Lan mang quân gây chuyện với Pháp, ở biên giới Tây nam, đòi đất. Chủ trương của Nhật lúc đó chưa phải là lật ngay quyên cai trị của Pháp ở Đông Dương, mà chỉ coi làm áp lực đòi quyền lợi hơn, nhằm mở rộng cuộc chiến tranh đại Á.

Mâu thuẫn giữa hai tên đế quốc tranh nhau việc cướp bóc, vơ vét và thống trị thuộc địa, dẫn đến sự khủng hoảng trong bộ máy thống trị của Pháp từ trên xuống dưới. Tuy nhiên, bộ máy thống trị đó chưa hoang mang giao động đến cực điểm, chưa hoàn toàn suy ụp, vì bọn Pháp biết thân, biết phận, chấp nhân chịu lép vế, nhân nhượng đòi hỏi của Nhật, để cố gắng duy trì địa vị thống trị Đông Dương của chúng.

Về điều kiện chủ quan, chiến tranh và chính sách khủng bố, đàn áp kinh tế chỉ huy, tổng động viên của đế quốc pháp nhằm vơ vét tài sản của nhân dân ta làm cho đời sống của nhân dân đến chỗ cùng cực, quần chúng vô cùng căm phẫn, những biểu hiện của cuộc khủng hoảng chính trị kinh tế, xã hội đã xuất hiện.

Phong trào cách mạng ở Nam Kỳ, tuy bị khủng bố, nhưng từ sau Hội nghị lần thứ Sáu của Trung ương (tháng 11-1939), vẫn có một bước phát triển khá mạnh. Cơ sở quần chúng cách mạng trong Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế lan hầu khắp các tỉnh, đang thống nhất trên toàn Xứ. Đảng cũng phát triển mạnh, từ tháng 6 đến tháng 10-1940 tăng 60%. Nhiều tỉnh đã thành lập đội tự vệ, du kích tổ chức luyện tập, sắm sửa vũ khí.

Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình tuần hành diễn ra…

Trong quân đội của đế quốc Pháp, có chỗ ta đã xây dựng được chi bộ đảng, nhiều trại ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh, ta đã có nhân mối, có chỗ nắm được một số cấp chỉ huy cai đội. Quần chúng trong quân đội địch được tuyên truyền về lòng yêu nước và cảnh khổ đi làm bia đỡ đạn cho bọn đế quốc và bảo vệ quyền lợi cho chúng.

Khi quân Thái gây chuyện, cuộc chiến tranh Pháp - Thái sắp nổ ra, Pháp điều quân người Bắc, Trung Kỳ vào Nam và điều lính Nam Kỳ ra mặt trận Tây Nam. Lính người Việt trong quân đội Pháp không muốn ra mặt trận, và nhất là các đồng chí đảng viên và quần chúng của Đảng trong quân đội Pháp lại càng thôi thúc việc nổi dậy để chống việc ra trận. “Thà chết cho cách mạng còn hơn làm bia đỡ đạn cho kẻ thù” là ý nghĩ của một số người có cảm tình hoặc ngả theo cách mạng, được sự tuyên truyền giác ngộ của cách mạng, nằm trong quân đội địch.

Trong tình hình đó, một số khá lớn các đồng chí Trung ương Đảng và Xứ ủy Nam kỳ đóng tại Sài Gòn bị địch bắt. Xứ ủy đã họp nhiều lần để bàn chuẩn bị và đi đến quyết định hạ lệnh cho tất cả các tỉnh Nam Kỳ nổi dậy khởi nghĩa.

Tình hình kể trên là những biểu hiện của một tình thế cách mạng đã xuất hiện ở Nam Kỳ, nhưng chưa đủ cho một thời cơ cách mạng hoàn toàn chín muồi, dẫn đến bùng nổ một cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước.

Về vấn đề này V. Lê nin đã tổng kết như sau:

“Quy luật cơ bản của cách mạng, đã được tất cả các cuộc cách mạng và nhất là ba cuộc cách mạng Nga trong trong thế kỷ 20 xác minh là: muốn có cách mạng thì riêng việc quần chúng bị áp bức và bóc lột nhận thức được rằng không thể sống như trươc nữa và đòi hỏi phải có sự thay đổi cũng chưa đủ; muốn có cách mạng, còn phải có tình hình là những kẻ bóc lột cũng không thể sống và thống trị như trươc được nữa. Chỉ khi nào “những người bên dưới” không muốn tiếp tục sống như trước nữa và “những kẻ bên trên” cũng không thể tiếp tục sống như trước nữa, thì cách mạng mới có hể thắng lợi”(1)

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã để lại bài học kinh nghiệm vô cùng sinh động, trả giá bằng bao nhiêu xương máu là, khi tình thế cách mạng xuất hiện, dù chưa đủ chín muồi cho một cuộc tổng khởi nghĩa toàn quốc, tùy theo đối sánh lực lượng ta và địch, có thể có khởi nghĩa địa phương, ở những nơi xa trung tâm đầu não và bộ máy đàn áp tập trung của địch với điều kiện có đường lối cách mạng đúng đắn, có phương pháp đấu tranh linh hoạt, biết cách duy trì và phát triển lực lượng, tạo thuận lợi từng bước cho tổng khởi nghĩa.

Từ thực tiễn của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, cùng với thực tiễn Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930-1931 và cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tháng 9 năm 1940, đã tạo cơ sở cho Đảng ta khi vận dụng nguyên lý khởi nghĩa vũ trang của chủ nghĩa Mác Lê nin vào điều kiện cụ thể của ước ta; khi những điều kiện khánh quan và chủ quan chưa hoàn toàn chín muồi tạo thời cơ cách mạng thì bất cứ trong hoàn cảnh nào cũng không được tiến hành tổng khởi nghĩa ở trung tâm đô thị giành thắng lợi quyết định, tuy nhiên vẫn có thể từ khởi nghĩa từng phần ở từng địa phương tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước.

Chỉ chưa đầy nửa năm sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ và trong lúc nghĩa quân còn duy trì cuộc chiến đấu tại hai trung tâm Mộc Hóa và Mớp Xanh - Bo bo, hội nghị lần thứ Tám của Trung ương (tháng 5-1941) đã vạch ra những điều kiện chủ quan và khách quan cho một cuộc tổng khởi nghĩa và nói rõ rằng: “tình hình cách mạng Đông Dương bước những bước vĩ đại để dọn đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa mạnh mẽ. Nói thế không phải ta ngồi mà ỷ lại đâu đâu. Trái lại ta phải luôn luôn chuẩn bị lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù, nghĩa là nay mai đây cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Tàu xoay ra hoàn toàn có lợi cho cuộc cách mạng Đông Dương, thì lúc đó với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”(2)

Với tinh thần đó, Trung ương Đảng chỉ đạo các địa phương chuẩn bị lực lượng tiến hành đấu tranh, đặc biệt từ sau ngày 9 tháng Ba năm 1945, ngày Nhật làm đảo chính lật đổ Pháp, hàng loạt cuộc khởi nghĩa từng phần nổ ra và dẫn đến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, ta đã vận dụng và phát triển kinh nghiệm khởi nghĩa từng phần một cách sáng tạo vào cuộc đồng khởi năm 1960 và những năm tiếp theo dẫn tới giải phóng hoàn toàn miền Nam nước ta ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Tóm lại, vào cuối năm 1940, ở Nam kỳ đã có khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội, đã có tình thế cách mạng, nhưng thời cơ cho một cuộc tổng khởi nghĩa chưa hoàn toàn chín muồi để cuộc tổng khởi nghĩa có thể nổ ra và giành thắng lợi, cho nên lúc đó Xứ ủy chọn thành phố Sài Gòn làm nơi nổ súng phát lệnh và giành thắng lợi quyết định của một cuộc tổng khởi nghĩa là sai lầm.


(1) V. Lê nin: Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản. NXB Sự thật, Hà Nội, 1970 tr.96.
(2) Văn kiện đảng tập III, 1936-1945 NXB Sự Thật, Hà Nội 1963, tr.213.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #125 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:05:33 am »

Bài học kinh nghiệm thứ hai

CÔNG TÁC CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG CHƯA ĐẦY ĐỦ, LẤY BINH LÍNH ĐỊCH LÀM ĐỘI QUÂN XUNG KÍCH LÀ SAI LẦM, CHƯA CÓ MỘT CAO TRÀO CÁCH MẠNG DẪN TỚI MỘT CUỘC TỔNG KHỞI NGHĨA, TRONG THỰC TẾ CUỘC KHỞI NGHĨA MỚI CHỈ NỔ RA Ở NÔNG THÔN


Xứ ủy Nam Kỳ lựa chọn thành phố Sài Gòn có vai trò quyết định cho cuộc Tổng khởi nghĩa ở đúng, nhưng việc chuẩn bị lực lượng lại chưa đầy đủ.

Về tổ chức lực lượng, lúc đó cách mạng mới chủ yếu dựa vào công nông, mà chưa tập trung được đông đảo các tầng lớp khác như những người lao động tự do, tiểu thương tiểu chủ, nhất là trí thức học sinh, họ chưa thực sự tham gia, chưa có một cao trào cách mạng quần chúng xuống đường bãi công, bãi thị, bãi khóa… tạo ra cuộc khủng hoảng xã hội chín muồi, tức là chưa tập hợp được thật đông đảo lực lượng quần chúng thành thị đứng về phía cách mạng. không có cao trào cách mạng thì không thể dẫn tới tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Bất cứ một cuộc cách mạng chân chính nào cũng thực sự là ngày Hội của quần chúng. Đại đa số quần chúng nhân dân chưa xuống đường chưa thể thành ngày Hội cách mạng được.

Trong công tác chuẩn bị lực lượng cho cuộc khởi nghĩa, Xứ ủy chủ trương đẩy mạnh và chú trọng dùng các Hội phản đế nhằm tập hợp đông đảo quần chúng trên cơ sở đó tổ chức các đội tự vệ, du kích, đồng thời tiến hành công tác vận động binh lính địch kéo họ về phía cách mạng là chủ trương đúng. Nhưng trong chỉ đạo cuổi nổi dậy, Xứ ủy lấy binh lính địch làm đội quân xung kích ở nơi trọng yếu bậc nhất (Sài Gòn) và một số tỉnh lỵ là “một sai lầm có tính chiến lược”(1)

Trong bất kỳ một cuộc cách mạng nào công tác vận động binh lính địch đều rất quan trọng. Nhưng dù quan trọng đến đâu cũng không thể coi đây là đội quân nòng cốt, đội quân xung kích của cuộc khởi nghĩa. Quyết định thắng lợi của một cuộc tổng khởi nghĩa bao giờ cũng là đội quân chính trị quần chúng trong đó lực lượng công nông là nòng cốt và lu vũ trang cách mạng là mũi mác của đột quân chính trị quần chúng.

Kinh nghiệm của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, Cách mạng Tháng Tám Việt Nam 1945, Cách mạng Cuba… cho thấy khi đã xuất hiện những điều kiện khách quan và chủ quan cho một thời cơ cách mạng chín muồi, quần chúng đã xuống đường giành chính quyền thì một phần quân đội địch ngả hẳn về phe cách mạng, đứng về phía nhân dân.

Chủ trương đánh chiếm Sài Gòn của Ban khởi nghĩa là dựa vào binh lính địch nổi dậy chiếm đồn, phá kho lấy súng phân phát triển cho nghĩa quân đánh chiếm những nơi quan trọng gặp trường hợp chưa hề tính đến, kế hoạch bị lộ, địch cấm tại, khóa kho súng, thế là mọi việc đảo lộn, cuộc nổi dậy không thành ở ngay nơi được chọn làm trọng điểm.

Cũng cần nhắc lại, tư tưởng chỉ đạo của Xứ ủy Nam Kỳ là tiến hành khởi nghĩa đồng loạt cùng giờ, cùng ngày ở Sài Gòn và các tỉnh, mà trọng điểm là thành phố Sài Gòn, các tỉnh lân cận có nhiệm vụ đưa lực lượng tới hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn, tạo điều kiện cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi nhanh chóng. Đồng thời Xứ ủy cũng phổ biến, các nơi trông chờ sự thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn, quân khởi nghĩa sẻ tỏa về, cố nhiên mang theo súng ống, xe cơ giới, giúp các địa phương, kể cả những nơi xa xôi như các tỉnh miền Tây.

Thực tiễn diễn ra hoàn toàn khác. Vì địch biết trước cho nên chúng đã chặn được cuộc khởi nghĩa ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh lỵ, nhưng ở vùng nông thôn nhiều tỉnh, mặc dù kẻ địch được báo động, đã tung lực lượng đi tuần tra, canh gác, ngăn chặn, tức là cuộc khởi nghĩa đã bị mất yếu tố bất ngờ, song khởi nghĩa vẫn nổ ra rất mạnh. Thật vậy, trong hàng chục ngày đầu của cuộc nổi dậy, ở một số vùng nông thôn, chính bản thân kể địch cũng phải thừa nhận chúng chỉ chiếm giữ được một mảnh đất trên đó có quân của chúng đóng, còn nghĩa quân vẫn làm chủ. Rồi dần dần địch mới nằm lại được bọn tề ngụy tổng, xã. Khi cuộc nổi dậy phải chuyển sang chiến đấu du kích để bảo vệ và duy trì lực lượng thì cũng phải dựa vào vùng nông thôn hẻo lánh, cụ thể là vùng Đồng Tháp Mười, mời có thể kéo dài.

Quá trình đấu tranh giành độc lập do Đảng ta lãnh đạo từ năm 1930 cho thấy, những cuộc nổi dậy của nhân dân ta trong cao trào 1930-1931, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và tất cả các cuộc khởi nghĩa từng phần trong cao trào kháng Nhật cứu nước sau ngày 9-3-1945, đều diễn ra ở nông thôn.

Điều đó cho thấy, bọn thống trị nắm được thành thị, nhưng bộ máy cai trị của chúng ở nông thôn lại tương đối yếu, chúng không thể khống chế nông thôn một các chặt chẽ. Cách mạng có thể dựa vào nông thôn bí mật tích trữ lực lượng vận động quần chúng đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang.

Khi có tình thế cách mạng, nông thôn là nơi yếu nhất và sơ hở nhất của địch, là nơi bộ máy cai trị tề ngụy của địch bị lung lay và khủng hoảng sớm nhất, do đó, với lực lượng cách mạng đã được chuẩn bị, ta có thể tiến hành khởi nghĩa từng phần, thành lập chính quyền cách mạng địa phương xây dựng căn cứ địa, chủ động đẩy nhanh việc chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước.

Tất nhiên, trong khi xây dựng lực lượng ở nông thôn, phải tích cực duy trì và phát triển phong trào đấu tranh chính trị dưới nhiều hình thức và biện pháp trong công nhân và các tầng lớp nhân dân khác ở thành thị, nhất là tầng lớp trí thức học sinh, để khi thời cơ tổng khởi nghĩa đến, thì có thể kịp thời phát động nổi dậy đánh đòn quyết định ngay tại sào huyệt của địch, ngay tại cơ quan đầu não cao nhất của địch, giành chính quyền từ thành thị đến nông thôn.


(1) Trần Văn Giàu; Thành công của chủ nghĩa Mác - Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh. NXB Thành phố Hồ Chí Minh - 1993, tr.501.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #126 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:06:25 am »

Bài học kinh nghiệm thứ ba

QUYẾT TÂM PHÁT LỆNH KHỞI NGHĨA, NHƯNG THIẾU ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH ĐÚNG ĐẮN, KHÔNG BẢO TOÀN ĐƯỢC LỰC LƯỢNG, DUY TRÌ CUỘC ĐẤU TRANH LÂU DÀI ĐÓN THỜI CƠ SẮP TỚI


Khi bàn phát động khởi nghĩa, trong Hội nghị Xứ ủy đã có ý kiến, nếu không thành công thì rút về một số nơi, nhưng vì sao rút về đó? Ở đó cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng ra sao? Rút về đó sẽ tiên hành tiếp tục đấu tranh như thế nào? Làm thế nào để có thể tồn tại nếu địch khủng bố? Lực lượng của Xứ ủy ở Sài Gòn rút hay các tỉnh rút?… Tất cả những vấn đề đó hầu như không được bàn.

Nhân thấy cuộc khởi nghĩa không thành công, Xứ ủy đã có chủ trương rút, nhưng hầu như để các nơi tự động. Còn Xứ ủy tập trung dựa vào một vài nơi như U Minh, chủ yếu sản xuất vũ khí để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tiếp theo.

Nghĩa quân Gia Định - Đức Hòa và có cả một số của Chợ Lớn rút về Truông Mít rồi định tiến theo dọc dãy Trường Sơn ra Bác, chủ trương này khó thực hiện. Nghĩa quân lại phải trở về địa phương và vùng Đồng Tháp Mười.

Nghĩa quân Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Gia Định, từ thực tiễn đấu tranh để duy trì lực lượng dần dần phải rút về Đồng Tháp Mười, có địa thế giao thông đi lại khó khăn, tránh đòn truy kích của quân đội địch. Mặc dù gặp biết bao nhiêu khó khăn, nhưng căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo có tổ chức lãnh đạo kéo dài đến cuối năm 1941, còn trung tâm Mộc Hóa, Phú Mỹ đến giữa năm 1942.

Ngay trên đất Nam Kỳ, cuối thế kỷ trước, Trương Công Định đã chống lại bọn xâm lược Pháp lâu 5 năm và Thủ Khoa Huân tới 15 năm. Tất nhiên, lúc đó là buổi đầu mới đặt chân lên nước ta, thực dân Pháp chưa ổn định được bộ máy cai trị, chúng còn gặp nhiều khó khăn.

Hai tháng trước cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổi ra đúng thời cơ thuận lợi, tuy chỉ trong phạm vi địa phương hẹp, nhưng thời có đó quá ngắn, thực dân Pháp quay lại đàn áp và có nguy cơ bị diệt vong. May thay, có sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng, cho rút và thành lập các đôi vũ trang tuyên truyền, tỏa đi cá nơi vận động giữ vững tinh thần quần chúng, củng cố và phát triển cơ sở, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, xây dựng vùng đó thành căn cứ địa cách mạng, trở thành trung tâm của Khu giải phóng sau này, làm bàn đạp cho cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở quá xa sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, hầu hết các đồng chí Trung ương, Xứ ủy và các Tỉnh ủy địa phương đều bị bắt, cho nên nghĩa quân phải tự lực đấu tranh để duy trì sự sống còn của mình.

Vì chưa có kinh nghiệm, không giữ được cơ sở quần chúng, mà không có cơ sở quần chúng thì không thể nào chiến đấu du kích được, lại thiếu sự hỗ trợ của chung quanh và nhất là chưa tìm được một phương pháp đấu tranh thích hợp, đúng đắn, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, cho nên cuộc chiến đấu của nghĩa quân ở Đồng Tháp Mười chỉ có thể kéo dài hơn một năm rưỡi.

Vào những năm 1940-1941 cuộc khủng hoảng chính trị kinh tế xã hội ở nước ta đã xuất hiện, mâu thuẫn Pháp - Nhật tranh chấp quyền lợi trên đất nước ta ngày càng phát triển sâu sắc, nếu nghĩa quân Nam Kỳ tìm được phương thức đấu tranh đúng dắn, kết hợp việc xây dựng lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, xây dựng được chỗ đứng vững vàng thì chắc chắn có thể kéo dài cuộc chiến đấu đến cao trào kháng Nhật cứu nước tháng 3 năm 1945, và chắc chắn còn phát huy tác dụng to lớn của mình với cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #127 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:07:08 am »

Bài học kinh nghiệm thư tư

THIẾU CẢNH GIÁC CÁCH MẠNG ĐỂ KẺ ĐỊCH CHUI VÀO HÀNG NGŨ CỦA TA, KẾ HOẠCH KHỞI NGHĨA BỊ LỘ


Lịch sử các cuộc cách mạng lớn như Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Cách mạng Tháng Tám Việt Nam năm 1945 cho thấy, khi cao trào cách mạng đã dâng tới điểm cao, thời cơ cách mạng đã chín muồi thì dù kẻ địch có biết rõ quần chúng đang xuống đường giành chính quyền và dù chúng có ngoan cố đến mấy cũng khó bề trở tay và đánh bó tay.

Còn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ lại được phát lệnh khi thời cơ chưa chín muồi, cho nên khi yếu tố bất ngờ bị mất, do có nội gián địch ra tay ngăn chặn trước thì nghĩa quân rơi vào lúng túng, bị động và cuối cùng thất bại.

Có điều đáng buồn là tên chỉ điểm đỏ (và chắc gì chỉ có một tên), sau khi cuộc khởi nghĩa đã thất bại, nó vẫn tồn tại trong hàng ngũ ta và lại được giao nhiều trọng trách, mãi đến sau cuộc kháng chiến chống Pháp ta mới phát hiện được và nó đã nhân tội.

Để kẻ địch chui vào hàng ngũ của ta, không chỉ ở cấp xứ, mà ở cả cấp tỉnh như ở Long Xuyên để cho một tên chỉ điểm leo lên nắm cương vị tỉnh - Bí thư tỉnh ủy… thì đó là một sự mất cảnh giác hết sức nghiêm trọng. Ấy là con chưa kể một số nơi bắt mối gây cơ sở trong hàng ngũ binh lính địch, đến lúc khởi nghĩa, chính những người ấy lại đi báo kế hoạch của ta cho địch biết trước.

Cuộc đấu tranh giữa ta và địch là cuộc đấu tranh vô cùng gay gắt, khốc liệt, kẻ địch luôn luôn dùng mọi mưu kế thâm độc tuồn người vào hàng ngũ ta, nắm chủ trương, chính sách, cách hoạt động của ta, tìm cách ly gián, tạo mâu thuẫn trong nội bộ ta, cho nên không chỉ trong cách mạng, trong kháng chiến, mà ngày nay trong xây dựng hòa bình, chúng ta cũng phải luôn luôn đề cao bài học CẢNH GIÁC CÁCH MẠNG.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #128 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:09:11 am »

*
*   *

Đảng Cộng sản Pháp đối với cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, nước ta còn là thuộc địa của đế quốc Pháp. Đảng cộng sản Pháp bị chính quyền phản động ra sắc lệnh giải tán, phải rút vào hoạt động bí mật. Được tin cuộc nổi dậy của nhân dân ta đã bị bọn đé quốc đàn áp khốc liệt, với tinh thần quốc tế vô sản, Đảng Cộng sản Pháp đã gửi một bức thư (đăng trên báo Nhân Đạo tháng 12 năm 1940) tới Đảng Cộng sản Đông Dương bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ của mình.

“Hỡi các dân tộc Đông Dương!

Trong giờ phút mà bọn đế quốc dã man chuẩn bị cuộc chiến tranh toàn diện, khốc liệt, giết hại từ đứa trẻ sơ sinh cho đến những người chiến sĩ đang chiến đấu, trong những giờ phút đó, những người cộng sản Pháp xin nói với các bạn rằng:

ĐẢNG CỘNG SẢN PHÁP luôn luôn mạnh mẽ đứng về phía các bạn!

Đông đảo quần chúng lao động Pháp đứng về phía các bạn!

Ngày nay cũng như ngày hôm qua.

Chúng tôi cúi đầu trước vong linh những chiến sĩ tự do hy sinh hồi tháng Mười Một trước súng liên thanh của Decoux, Beudouin, Pétain.

Chúng tôi kính cẩn cúi đầu chào những người anh hùng đó, và trước hét, chào những anh chị em ruột thịt anh hùng đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương…”(1)

Hoàn thành tại                      
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23 tháng 11 năm 1995
TRẦN GIANG                        


(1) Tư liệu Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam, Hà Nội, đăng trên Báo Nhân Dân số ra ngày 23-11-1980.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:21:25 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #129 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 09:14:57 am »

PHẦN PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

THÔNG CÁO CỦA XỨ ỦY NAM KỲ
ĐỐI VỚI THỜI CUỘC HIỆN TẠI

Ngày 4 tháng 9 năm 1940

I. - Căn cứ vào tình hình thế giới và tình hình trong nước, chúng ta thấy rằng cuộc chiến tranh phá hoại và ăn cướp do bọn đế quốc gây nên đang lan rộng xô đẩy nhân loại vào vòng khói lửa chết chóc. Còn Liên Xô ngày càng hùng mạnh, chính sách hòa bình của Liên Xô ngày càng ảnh hưởng sâu sắc đối với các dân tộc lạc hậu bị áp bức trên toàn thế giới Cách mạng sôi nổi khắp nơi và đang đợi thời cơ bùng lên đập tan xiềng xích giải phóng cho nhân loại.

Nhờ có Liên Xô hết sức giúp đỡ, Nhật bị phong tỏa đang nguy khốn cả về kinh tế, chính trị và quân sự nên cuộc kháng chiến của mặt trận nhân dân Trung Quốc đang chuyển từ thế cầm cự sang thế phản công thắng lợi. Cho nên vấn đề cấp bách trước mắt đối với Nhật Bản là xâm chiếm lấy Đông Dương hòng biến Đông Dương thành thị trường tiêu thụ hàng hóa, thành nơi khai thác nguyên liệu, thành căn cứ quân sự để tiến công Trung Quốc và từ đó thọc tay vào các thuộc địa của Anh, Mỹ. Đế quốc Pháp và chính phủ quân nhân phát xít thuộc địa ở Đông Dương ngày càng ra mặt phản động và đã đầu hàng nhục nhã trước quân đội xâm lược Nhật. Tình hình đã có chuyển biến mới, nhưng phong trào cách mạng thì còn tương đối yếu. Đế quốc Nhật, bị lôi cuốn vào một cuộc chiến tranh nguy hiểm mâu thuẫn quyền lợi giữa bọn chúng và khối Anh - Mỹgay gắt đến tộ độ. Cuọc chiến tranh ở Thai Bình Dương sẽ bùng nổ nay mai, cho nên bọn càm đầu chính phủ Pháp ở Đông Dương đã ra mặt chống đối Nhật, tuy chúng chống đối còn yếu ớt. Nhưng sự chống đối đó chỉ đem lại thuế má nặng nề và chết chóc cho nhân dân vì chúng bắt nhân dân phải hy sinh bảo vệ quyền lợi ích kỷ của tư sản Pháp và của bọn câm đầu chính phủ Đông Dương. Do đó sự chống đối của Pháp không có ích lợi gì cho quần chúng. Vì vậy, cho nên bọn cầm đầu chính phủ đã tìm mọi cách bưng bít những itn tức về những cuộc xung đột đổ máu ở biên giới Trung - Việt. bọn chúng đã tăng thuế đến hai triệu ra tay cướp đoạt của cải của nhân dân để cung cấp cho cuộc chiến tranh phản động của chúng, biến Đông Dương thành chiến trường của phát xít Nhật. Trước nguy cơ đó, Đảng cộng sản chúng ta phải tập trung mọi lực lượng để đấu tranh chống Nhật Bản xâm lược và ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang để giành lại chính quyền theo đúng tinh thần nghị quyết của Trung ương. Để thực hiện chiến thuật cách mạng quan trọng đó, Đảng ta cần phải:

A. Phát động một phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng với những khẩu hiệu:

1. Đả đảo chính sách đầu hàng của chính phủ phản động Đông Dương!

2. Đả đảo hiệp ước do bọn Pháp ký kết cho phép quân đội Nhật đổ bộ vào Đông Dương!

3. Phản đối quân Nhật đổ bộ vào Đông Dương! Đả đảo bọn xâm lược Nhật Bản!

4. Tẩy chay hàng Nhật! Cắt đứt quan hệ ngoại giao với đế quốc Nhật.

5. Phải ký kết liên minh quân sự với Trung Quốc chống Nhật. Phải mở biên gới Bắc Kỳ.

6. Phải giải tán các nhóm thân Nhật, bắt giam những phần tử thân Nhật. Vũ trang cho nhân dân.

B. Phải thi hành ngay nghị quyết của Trung ương về việc chuẩn bị cuộc khởi nghĩa vũ trang. Từ nay các đảng bộ địa phương phải có tinh thần khẩn trương và tinh thần hy sinh, đặt sự nghiệp cách mạng lên trên hết. Đảng bộ phải lãnh đạo mọi hình thức đấu tranh từ các cuộc mti tinh biểu tình, đình công cho đến các cuộc biểu tình vũ trang, tổng đình công và tổng biểu tình của công nhân, nông dân và binh lính tới khởi nghĩa vũ trang giành lấy chính quyền. Mặt khác, Đảng ta phải đấu tranh để rèn luyện ý chí chiến đấu và thống nhất hành động. Đảng còn phải lãnh đạo đấu tranh nhằm củng cố nội bộ, đánh đổ những xu hướng khuynh “tả” và khuynh hữu của một số đồng chí ta và đánh đổ tư tưởng cho rằng: “bị khủng bố dữ dội, khó mà vận động được quần chúng ra đấu tranh, phải chờ thời cơ khởi nghĩa hãy đưa quần chúng ra đấu tranh giành chính quyền”. Các đồng chí đó không hiểu rằng khởi nghĩa vũ trang là hình thức đấu tranh cao nhất của quần chúng và muốn thắng lợi phải có đông đảo quần chúng tham gia phong trào trong những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi. vì có những tư tưởng sai lầm đó, nên các đồng chí đã không ra sức tuyên truyền quần chúng chưa co tổ chức kêu gọi họ tham gia các cuộc đấu tranh hàng ngày gia nhập thực sự vào Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, các đồng chí đó tỏ ra tự mãn hẹp hòi. Trong khi lãnh đạo quần chúng đấu tranh thực hiện những khẩu hiệu trước mắt và những khẩu hiệu ghi trong nghị quyết của Trung ương, các đảng bộ địa phương chúng ta phải có sáng kiến đề ra những khẩu hiệu thiết thực trước mắt để động viên quần chúng hăng hái đấu tranh. Phải mở rộng phong trào đấu tranh kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân tham gia, tổ chức ngay những ủy ban Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương rộng lớn tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM