Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:50:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940  (Đọc 107161 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #90 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:27:27 am »

2. Cuộc khởi nghĩa bùng nổ

14 giờ ngày 22-11, lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy do giao thông của Liên tỉnh mang tới Sóc Trăng. Đồng chí Thường trực Ban cán sự chuyển mệnh đó đến các chi bộ và ơ sở cách mạng. Trừ tỉnh lỵ nơi gần cơ quan Ban cán sự tỉnh, còn mệnh lệnh khởi nghĩa tới các nơi đều chậm.

Chủ tỉnh Sóc Trăng đã nhận được lệnh của Thống đốc Nam Kỳ, y tăng cường canh gác, kiểm soát chặt chẽ trại lính, kho súng và cho đi tuần tra liên tục, cho nên kế hoạch cho phá cầu ở tỉnh lỵ do Ban cán sự tỉnh chỉ huy, không thực hiện được.

Tại quận Long Phú, đêm 23-11, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Long Phú, nghĩa quân cùng quần chúng cốt cán đốn cây làm chướng ngại vật cản lộ, từ Sóc Trăng đi Long Phú và đốt cầu Saintard.

Tại quận Kế Sách, đêm 25 rạng ngày 26-11, nghĩa quân dùng bao tải tẩm dầu đốt cầu Cái Trâm, Bến Đôi(1). Trước đo chi bộ đã huy động quần chúng biểu tình thị uy ở An Lạc Thôn…

Nơi duy nhất quần chúng nổi dậy mạnh ở Sóc Trăng, gây tiếng vang lớn là Hòa Tú (quận Phú Lộc).

14 giờ ngày 23-11, chi bộ Hòa Tú mới nhận được lệnh khởi nghĩa. Như thế là lệnh từ Ban cán sự tỉnh tới chi bộ mất 1 ngày.

Đồng chí Văn Ngọc Chính, bí thư chi bộ liền cấp tôc triệu tập họp toàn chi bộ bàn kế hoạch thực hiện.

Chi bộ đã nhanh chóng quyết định 3 việc cần làm để lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành chính quyền.

Một là, cho người hỏa tốc xuống cấp ủy, huy động quần chúng đến tập trung tại đình làng nghe phát động nổi dậy.

Thứ hai, phân công cụ thể cho từng đồng chí đảng viên, cán bộ chủ chốt lãnh đạo các tổ chức quần chúng, đội vũ trang chịu trách nhiệm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong lúc quần chúng nổi dậy.

Thứ ba, cho đội vũ trang bắt ngay một số tay sai địch như Giáo Vàng, Tuần Ngọ, Tuần Mai…, để chặn không cho chúng đi thông báo cho địch.

Để chỉ huy chung, chi bộ quyết định thành lập Ban khởi nghĩa 6 người gồm: Văn Ngọc Chính, trưởng ban Tư Bối (cán bộ cấp trên cử về), Hà Thành Nguyên, Lý Thanh Sử, Trần Văn Tấn, Lương Đơn Quế.

Giúp cho Ban khởi nghĩa có các Ban tuyên truyền, Tải thương, Hậu cần, Tiếp tế, Ám sát…

Tiếp ngay sau đó, Ban khởi nghĩa dã họp và đề ra kế hoạch đánh chiếm như sau:

Cánh thứ nhất, do đồng chí Tư Bối và Trần Văn Tấn chỉ huy, đánh nhà Hương quản Tệt, lấy súng.

Cánh thứ hai, do đồng chí Văn Ngọc Chính và đồng chí Hà Thành Nguyên chỉ huy, đánh chiếm đồn Cổ Cò.

Hai cánh sẽ gặp nhau ở đồn Cổ Cò tổ chức mít tinh quần chúng tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch…

Chỉ mấy tiếng sua ngay chiều hôm đó, lúc 18 giờ hơn 100 quần chúng trong các hội phản đế ở Rạch Rò, Trà Thê, Cây Gừa trang bị gươm giáo, mã tấu, dao găm, gậy gộc… rầm rập kéo đến tập trung tại đình Hòa Tú. Các đồng chí Tư Bối, Văn Ngọc Chính lên nói chuyện vạch rõ những nỗi khổ của nhân dân dưới sự cai trị độc ác của bọn đế quốc xâm lược và tay sai, kêu gọi nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, nổi dậy đấu tranh, giành lại quyền độc lập, tự do, ruộng đất, thoát khỏi ách nô lệ, làm thuê, đói nghèo…

Quần chúng hô vang khẩu hiệu hưởng ứng.

Sau dó đồng chí Văn Ngọc Chính hạ lệnh xuất quân.

Theo kế hoạch cánh quân thứ nhất tiến đến nhà Hương quản Tệt (Trịnh Ứng Đức), cách đồnCổ Cò khoảng 300 mét. Nghĩa quân dùng mưu, giao cho Tuần Ngọ, vừa bị ta bắt hồi chiều, đến cửa nhà Quản Tệt, gọi và báo có cộng sản đang họp. Quản Tệt vừa mở cửa, nghia quân liền ập ào, bắt trói và tiến vào nhà đập tủ, tước một khẩu súng lửa với 10 viên đạn.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tất cả kéo về phía dồn Cổ Cò hỗ trợ cho cánh quân thứ hai.

Đồn Cổ Cò án ngữ ba sông, có 4 lính làng do Cai Tốt chỉ huy. Đồn đồng thời cũng là trụ sở của Ban hương chức hội tề làng Hòa Tú.

Cánh quân thứ hai do đồng chí Văn Ngọc Chính và Hà Thành Nguyên chỉ huy ào ào tới hò reo, đánh trống, mõ, gây áp lực uy hiếp tinh thần lính địch. Nghĩa quân kêu gọi chúng đầu hàng, nhưng chúng đóng chặt cửa, định cố thủ.

Nghĩa quân liền hô to, nhảy tới đạp đổ vách cửa, vung vũ khí thô sơ đánh bọn lính. Bị thương vào tay, nhưng cai Tốt cùng hai lính lao kịp xuống sông trốn thoát, còn bếp Thành bị nghĩa quân bắt. Nghĩa quân chiếm được 3 súng lửa đã cải tiến cùng 15 viên đạn.

Hai cánh nghĩa quân gặp nhau và đã giành được thắng lợi Đúng hai giờ sáng ngày 24-11, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên nóc Nhà việc (và cũng là đồn) Hòa Tú.


(1) Theo báo cáo của địch ố 3028 ngày 10-12-1940, là cuầ Ba Trinh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #91 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:30:38 am »

Ngay sáng sớm, trên mấy trăm đồng bào kéo đến tham dự cuộc mít tinh do nghĩa quân tổ chức. Dọc hai nhánh sông thuyền bè đồng bào đều hò reo hưởng ứng thắng lợi của nghĩa quân.

Trong số đồng bào dự mít tinh có người theo đạo Hòa Hảo, giáo dân và linh mục Trần Quang Nghiêm. Ai nấy đều hồ hởi, hô khẩu hiệu chào mừng thắng lợi của nghĩa quân. Thay mặt cho Ban khởi nghĩa, đồng chí Văn Ngọc Chính tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch, cho lệnh đốt hết sổ sách, giấy nợ của tá điền và người nghèo.

Nghĩa quân làm chủ hoàn toàn vùng Hòa Tú.

Lúc này nghĩa quân đã lên tới gần 500 người tham gia.

Ban khởi nghĩa quyết định tiến đến các đồn Trà Thê và Tầm Lon, qua đường có nhà thờ thiên chúa giáo. Tại đây nghĩa quân được linh mục Nghiêm và giáo dân chào đón hoan nghênh(1).

Được tin báo trước có nghĩa quân kéo tới, Nguyễn Tấn Lễ bỏ đồn điền chạy trốn. Nghĩa quân rời Trà Thê tiến đến Tầm Lon, nơi có đồn điền của Trương Vĩnh Khánh. Khánh đang bị động viên vào quân đội. tại đồn điền còn hương sư Nguyễn Văn Trừ làm quản lý và người cháu Trương Vĩnh Khánh là Jeam Bergé. Ban đầu, bọn trông coi đồn điền định nổi trống mõ chốn lại, nhưng thấy nghĩa quân đông quá và khí thế rất hăng hái, cho nên bó tay, để nghĩa quân tước 2 súng săn và 1 carabine hơi, nhiều đạn cùng rìu, búa, dao… Trong tá điền của đồn điền Tầm Lon đã có người theo cách mạng, làm nội ứng chỉ cho nghĩa quân biết mọi ngóc ngách. Nghĩa quân tịch thu mọi sổ sách, văn tự nợ của tá điền tập trung lại giữa sân và nổi lửa thiêu hủy… Đến 3 giờ chiều Jean Bergé, cháu của Trương Văn Khánh được nghĩa quân tha cho về.

Như vậy, nghĩa quân đã thu được 7 súng đủ loại và nhiều đạn, chiếm được đồn, Nhà việc Hòa Tú, hoàn toàn khống chế bọn hội tề ằ nắm quyền xã Hòa Tú.

Nghĩa quân kéo về Ba Chùa củng cố đội ngũ, nghỉ xã hơi và định đêm sau sẽ vượt rạch đánh Thị tứ Nhu Gia, thị Tứ Bãi Xàu và tỉnh lỵ Sóc Trăng.

Được tin cấp báo dân nổi dậy đã chiếm đồn, đốt Nhà việc, vào các đồn diền… Chủ tỉnh Sóc Trăng B.Maillard mang theo tên sen đầm Martin, chánh án, một quản mã tà và 16 lính dùng ô tô tải và ô tô ca trưng dụng của dân, đi đến Rạch Nhu Gia, rồi dùng ghe xuồng vào đồn điền Tầm Lon. Đến đây, chúng đã thấy nghĩa quân rút về Ba Chùa, cách đó 8 kilômét.

Chủ tỉnh dẫn quân đi theo đường mòn, nhiều nơi bị bắt, mỗi trăm mét lại gặp hố bùn lầy ngập đến đùi, dưới trời náng chang chang. Phải sau hai giờ đi vất vả, chúng mới đến được Ngọn Ba Chùa. Nghĩa quân đã biết trước. Biết địch có nhiều súng hiện đại hơn, Ban chỉ huy quyết định cho đại bộ phận nghĩa quân rút đi chỉ để lại một bộ phận chiến đấu chặn địch, do đồng chí Văn Ngọc Chính chỉ huy.

Quân Pháp xuất hiện, nghĩa quân liền nổ súng. Quân Pháp bắn lại liên hồi. Nghĩa quân ẩn sau mô ruộng, quân Pháp rất khó phát hiện. Gần một giờ sau, hết đạn nghĩa quân rút lui để lại đồng chí Nguyễn Văn Lời hy sinh trong chiến đấu.

Quân Pháp rút đi, nghĩa quân vẫn làm chủ Hòa Tú.

Ngày 28-11, B. Maillard điện số 483c cho Thống đốc Nam Kỳ đề nghị cho thêm quân và cho lệnh san bằng (raser) Hòa Tú, cho đốt hết nhà dân, trừng trị theo luật Gia Long.

Liên tiếp các ngày 11-12-13/12/1940, Thống đốc Nam kỳ cử các viên thanh tra Brasey, Fridori và ra lệnh cho các chủ tỉnh Bạc Liêu, Cầu Thơ phải phối hợp với chủ tỉnh Sóc Trăng để đuổi bọn “phiến loạn chống chính phủ” ra khỏi Hòa Tú. Quân Pháp đi tới đâu gây tội ác với nhân dân ta tới đó. Chúng đốt trụi nhà cửa của dân hai bên bờ sông Ấp Rạch Rò, Ba Chùa, Cây Gừa (nay là Ấp Hòa Trung A), đánh đập mọi người, hãm hiếp phụ nữ…

Cho đến ngày 16-12-40, bọn Pháp còn truy lùng đồng chí Văn Ngọc Chính cùng 5 người nữa là: Văn Ngọc Tố (em của Chính), Văn Ngọc Nhị (tức Mười Nhị), Lê Thị Lộng (vợ của Văn Ngọc Tố), Lâm Văn Chức, Trần Văn Tạo, chúng cho rằng trong lúc tránh càn đã chạy dạt sang Long Mỹ, quận Phước Long (Rạch Giá)(2).

Địch bắt 187 người đánh đập tra khảo rất dã man.

Chúng đưa ra tòa kết án (Theo lời các đồng chí bị kết án còn sống):

12 đồng chí 5 năm tù khổ sai

9 đồng chí tù 15 năm khổ sai

6 đồng chí tù 20 năm khổ sai trong đó có anh em Văn Ngọc Chính(3), Văn Ngọc Tố.

Tất cả đưa đi đày Côn Đảo.

Cho đến khi bọn Pháp bắt được Văn Ngọc Chính, cuộc nổi dậy của nhân dân Hòa Tú mới chấm dứt.


(1) Linh mục Trần Quang Nghiêm là người yêu nước, đứng về phía cách mạng trong kháng chiến chống Pháp. Về sau tập kết ra Bắc.
(2) Công văn số 31068 của Robert Perroche thanh tra đặc biệt mật thám gửi các chủ tỉnh Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng. HS. IIA.45/326 (1/1) TT.LT2. TP.HCM.
(3) Đồng chí Văn Ngọc Chính bị Pháp đưa đi đày ở Côn Đảo; sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí được về cùng các đồng chí khác. Đồng chí Chính tham gia kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ Diệm, giữ chức vụ tỉnh ủy viên, kiêm bí thư huyện ủy huyện Thạnh Trị (Phú Lộc cũ). Tháng 6 năm 1955, đ/c Chính bị chính phủ Diệm bắt và tra tấn, nhưng đ/c không chịu khai. Đêm 23-8-1955, chúng bí mật đưa đ/c ra cầu Đại Ngãi, cho vào bố, rồi bọn ác ôn dùng lưỡi lê đâm buộc thêm đá, vứt xuống sông.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #92 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:31:09 am »

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #93 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:32:06 am »

IX. CUỘC NỔI DẬY Ở CẦN THƠ

Cần Thơ là một tỉnh lớn, trung tâm của các tỉnh miền Tây. Cơ sở Đảng ở Cần Thơ được thành lập từ những năm 1930 và liên tục phát triển cho đến trước khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Khi Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa, Đảng bộ Cần Thơ hăng hái thực hiện.

Việc tuyên truyền vận động quần chúng tham gia các Hội phản đế, tuyên truyền vận động binh lính, rải truyền đơn khêu gọi các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống các chính sách phản động của đế quốc như bắt lính, tăng thuế, trưng thu, trưng dụng, diễn ra sôi nổi.

Ngày 1-7-40, địch nhặt được nhiều truyền đơn ở hàng rào trại lính mã tà, đường Cái Khế, sân vận động, trước cửa bốt cảnh sát bắc Cần Thơ, bắc Cái Vồn với nội dung kêu gọi binh lính đứng lên theo cách mạng quay súng bắn lại bọn đế quốc cướp nước. Từ sau ngày đó, cho đến cuối tháng7, liên tục truyền đơn các loại xuất hiện ở tỉnh lỵ, các quận lỵ.

Ở các làng có chi bộ và phong trào khá đều tổ chức đội du kích, sắm vũ khí thô sơ và luyệm tập. không khí chuẩn bị khá náo nhiệt, nhất là ở các làng Long Tuyền, Thới Bình gần tỉnh lỵ, Cù Lao Tân Quí (quận Cầu kè), Phú Hữu, Đông Phú (quận Phụng Hiệp)…

Ngay trong tỉnh lỵ, Tỉnh ủy cũng đã xây dựng được cơ sở công nhân phản đế ở Nhà Đèn Xưởng mộc, xưởng sửa chữa xe hơi, lò gạch, Thanh niên học sinh phản đế ở các trường Bassac, collège (Trung học) Cần Thơ, Nam Hưng…

Các chi bộ Trại Mộc Văn Cừ, Xóm Chài, Cái Da, hãng xe Renault… đều được phổ biến tinh thần nghị quyết của Tỉnh ủy và được giao nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng khi cuộc khởi nghĩa nổ ra.

Cuối tháng 9, đầu tháng 10-40 đồng chí Quảng Trọng Hoàng, Xứ ủy viên được rút lên Xứ, thì Tỉnh ủy được củng cố, đồng chí Lê Văn Nhung (Lý Hồng Thanh) làm bí thư, Đoàn Bá lợi phó bí thư, Ngô Hữu Hạnh (Ngô Văn Khỏe) thường vụ…

Ban thường vụ tỉnh ủy đồng thời là Ban khởi nghĩa tỉnh. Ở các quận cũng lập Ban khởi nghĩa.

Do tính chất của cuộc nổi dậy ở tỉnh lỵ có tầm quan trọng quyết định, cho nên các đồng chí Lê Văn Nhung và Ngô Hữu Hạnh được phân công trực tiếp lãnh đạo.

Trụ sở thường trực của Tỉnh ủy đồng thời cũng là của Ban khởi nghĩa tỉnh, ở căn nhà bên ngoài là tiệm may Thanh Hồng, tiệm vàng, tiệm hớt tóc (nay là nhà số 51 đường 30 tháng 4, thành phố Cần Thơ).

Riêng với trại lính tập và trại lính mã tà, tỉnh ủy đã cấy được nhân mối và vận động được một số lính có cảm tình với cách mạng, sẵn sàng đứng về phía cách mạng khi cuộc khởi nghĩa nổ ra.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #94 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:33:16 am »

Gần sát ngày khởi nghĩa, Ban khởi nghĩa tỉnh có bàn và đề ra một kế hoạch nổi dậy trong toàn tỉnh đại thể như sau:

Tại tỉnh lỵ, trọng điểm quyết định của khởi nghĩa:

Du kích làng Thới bình được huy động tập họp trước giờ nổ súng ở Chòm Mã Tây, đợi cuộc nổi dậy của binh lính cướp được súng trang bị cho du kích, lúc đó du kích cùng lực lượng học sinh, công nhân vệ binh tiến đánh chiếm dinh Tỉnh trưởng, Tòa hành chánh, Sở bưu điện, Nhà đèn…

Du kích Long Tuyền cũng được phục sẵn ở Gò Xáng Thổi (thuộc phường An Cư hiện nay), sau khi nhận được vũ khí, sẽ cùng với công nhân trại Mộc, Trại Cưa đánh chiếm khám lớn giải thoát tù chính trị và đánh chiếm bắc Cần Thơ. Trong lúc đó tại khám lớn, ta đã có lính Thanh làm nội ứng, cùng với những lính cảm tình khác, khi thấy quần chúng kéo đến liền phối hợp phá khám giải thoát tù chính trị, rồi cùng phối hợp đánh chiếm bắc Cần Thơ.

Các lực lượng khác đánh đồn cảnh sát và công sở. Theo chốt là cuộc nổi dậy của binh lính tại lính tập và mã tà, vừa là tiếng súng pháo lệnh, vừa cướp vũ khí trang bị cho du kích đánh chiếm các hơi đã dự định. Đích thân 2 đồng chí Lê Văn Nhung và Ngô Hữu Hạnh đến truyền lệnh cho binh lính nổi dậy khởi nghĩa.

Tại quận Cầu Kè, do đồng chí Đoàn Bá Lợi, phó Ban khởi nghĩa lãnh đạo, Vĩnh Xuân là xã có chi bộ mạnh và đội du kích mạnh, Đồn Vĩnh Xuân có 5 lính và dồn quận chỉ có 2 tiểu đội mã tà.

Các đồng chí trong Ban khởi nghĩa dự kiến huy động du kích cùng quần chúng chiếm đồn Vĩnh Xuân, phá tề rồi phối hợp với các lực lượng quần chúng của các làng khác nổi dậy đánh chiếm quận lỵ Cầu Kè, riêng đồn Cầu Kè đã có nhân mối làm nội ứng.

Các xã khác trong quận đồng thời nổi dậy cướp chính quyền…

Tại quận Châu Thành, các chi bộ Thường Phước, Tân Phú Thanh có nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng phá cầu Cái Răng…

Tại quận Phụng Hiệp, các chi bộ Phú Hữu, Đông Sơn huy động du kích đánh đồn Đông Phú, Phú Hữu, phá tề các làng, phá cầu ngã Bảy (Phụng Hiệp), phá các nhà việc…

Tại quận Trà Ôn, các chi bộ Thới Lai, Thới Thạnh lãnh đạo quần chúng chiếm đồn Cờ Đỏ, phá tề xã…

12 giờ trưa ngày 22-11, lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy đến Ban khởi nghĩa tỉnh Cần Thơ. Không thể triệu tập toàn Ban khởi nghĩa tỉnh và các Ban khởi nghĩa quận, đồng chí Bí thư tỉnh ủy đồng thời là trưởng Ban khởi nghĩa toàn tỉnh chuyển ngay lệnh đó đi các lơi, nhắc nhở các nơi quyết tâm thực hện theo kế hoạch đã bàn.

Đồng chí Lê Văn Nhung và Ngô Hữu Hạnh được phân công cùng lãnh đạo cuộc nổi dậy ở tỉnh; đồng chí Lê Văn Nhung còn phải chỉ huy chung toàn tỉnh, đồng chí Ngô Hữu Hạnh trực tiếp điều động lực lượng du kích và quần chúng đến các nơi đã qui định.

Khoảng 10 giờ khuya ngày 22, du kích làng Thới Bình và Long Tuyền đã có mặt tại địa điểm tập kết Chòm Mả Tây và Xáng Thốt. du kích đã được phân công nhiệm vụ, nhận mật hiệu, sẵn sàng vùng lên chiến đấu đánh đổ quân cướp nước.

Nghĩa quân không lường trước được, từ chiều tên chủ tỉnh Cần Thơ đã nhận thông báo của Thống đốc Nam kỳ nhắc nhở đề phòng cuộc nổ dậy của nhân dân. Y ra lệnh cấm trại, điểm danh ở trại lính tập cũng như ở trại lính mã tà, khóa các kho súng, tăng thêm lính gác kho đạn dược, lện cho tất cả các dồn canh phòng cẩn mật, cho xe ô tô đưa lính liên tục tuần tra, đặc biệt ở tỉnh lỵ, tăng thêm lính gác bảo vệ nhà tù.

Như vậy là lực lượng phuc sẵn chở binh lính hai trại nổi dậy, chiếm súng, để chuyển đi các nơi, không thành hiện thực. Chờ mãi đến hai giờ sáng ngày 23-11 vẫn không thấy động tĩnh gì, lực lượng du kích các làng Thới Bình và Long Tuyền được lệnh rút về địa phương.

Cuộc nổi dậy ở tỉnh lỵ Cần Thơ không thành. Nhưng trên đường rút, nghĩa quân Long tuyền, Thới Bình chặt cây cản lộ, phá cột điện, cắt giây điện thoại, điện tín…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #95 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2010, 06:34:28 am »

Mấy ngày sau, vào cuối tháng 11-40, Ban khởi nghĩa họp bàn rút kinh nghiệm cuộc nổi dậy, tại trụ sở tiệm may Thanh Hồng thì bị cảnh sát địch bao vây bắt được một số đồng chí trong đó có đồng chí Lê Văn Nhung và Ngô Hữu Hạnh. Sau một thời gian tra khảo, đưa ra xử án, ngày 3 tháng 6 năm 1941, Pháp dẫn hai đồng chí ra sau khám lớn Cần Thơ và bắn hai đồng chí tại đó.

Tại quận Cầu Kè, đồng chí Đoàn Bá Lợi giao cho chi bộ Vĩnh Xuân có nhiệm vụ lấy đồn, việc này các đồng chí cho là dễ dàng, vì đồn ó 5 lính thì 2 đã là nhân mối của ta, sau đó phá Nhà việc rồi huy động quần chúng cùng các lực lượng làng khác tiến đánh quận lỵ Cầu Kè.

3 giờ chiều ngày 23-11 (vì lệnh khởi nghĩa đến Cầu Kè trễ), Ban khởi nghĩa làng Vĩnh xuân, do đồng chí Thiệt chủ trì, đang họp bàn phân công thực hiện kế hoạch của quận giao, thì bọn cảnh sát, mật thám mang lính quận đến bao vây và bắt được các đồng chí lãnh đạo chi bộ Vĩnh Xuân, vì vậy cuộc nổi dậy cũng không nổ ra như dự kiến.

Nhưng, kế hoạch tiến công quận do đồng chí Đoàn Văn Lợi chỉ huy vẫn được xúc tiến.

Nghĩa quân các làng Tam Ngãi, An Phú Tân, Hữu Thạnh, Hòa Tân tất cả khoảng 800 người trang bị giáo mác, gậy gộc, dao búa băng cờ, khẩu hiệu rầm rập kéo đến địa điểm tập trung. Riêng lực lượng nghĩa quân Hòa Tân có 200 người thì một nửa là đồng bào Khmer. Nghĩa quân chia làm hai cánh do hai đồng chí Biện và Bụng chỉ huy, sau hai giờ vượt qua cánh đồng lầy lội, trời tối, nghĩa quân đã tiếp cận dinh quận.

Nhận được tín hiệu của trinh sát, thay mặt cho Bna khởi nghĩa, đồng chí Lợi hạ lệnh cho nghĩa quân tiến thẳng vào cổng chính. Trước sự hò reo và ào ào xông lên của nghĩa quân, lính gác bỏ chạy, lính bên trong dinh quận vội đóng chặt cửa. Một số không chạy vào kịp, bị nghĩa quân diệt tại chỗ. Từ bên trong địch bắn ra loạn xị, cố thủ. Nghĩa quân đã có người bị thương, nhưng vẫn tiên lên áp sát dinh. Nghĩa quân dùng búa phá cổng chính, cổng bị bung ra, các đồng chí Bụng và Biện liên tiếp nhảy vào, lính địch bắn ra xối xả. Hai đồng chí bị thương, được nghĩa quân chuyển ra phía sau.

Địch cố thủ bằng nhiều súng, nghĩa quân không thể vào dinh vì chỉ có vũ khí thô sơ, mặc dù về số người nhiều hơn. Trước tình hình đó, đã gần sáng, đồng chí Lợi cho nghĩa quân rút về địa phương.

Cùng lúc nghĩa quân đnáh Cầu Kè, ở quận Châu Thành, chi bộ Thường Phước, Tân Phú Thạnh huy động quần chúng đi phá cầu Cái Răng, nhưng địch đã tăng thêm nhiều linh canh phòng, cho nên không phá được cầu, nghĩa quân tuần hành thị uy hò reo trên đường về làng.

Còn ở quận Phụng Hiệp, ngay đêm 23-11, một lực lượng nghĩa quân của các làng Phú hữu, Đông Sơn với hơn 60 du kích kéo nhau đến cầu Ngã Bảy, dùng búa phá cầu. Nhưng do cầu chắc chắn nghĩa quân lại chưa có khởi nghĩa, cho nên việc phá cầu không kết quả.

Trong khi đó, một lực lượng nghĩa quân khác kéo đến phá Nhà việc Phú hữu, thiêu hủy sổ sách, bắt 1 quản cơ, lấy được một súng. Ngay sau đó, chi bộ tổ chức mít tinh hoan nghênh thắng lợi, quần chúng kéo đến nghe nói chuyện, hô khẩu, hò reo chúc mừng nghĩa quân.

Được tin báo, quận trưởng Trà Ôn vội dùng thuyền máy đưa lính đến ứng cứ tề làng Phú Hữu. Nhưng thợ máy là đồng chí Đàm, đảng viên của Trà Ôn, nửa đường làm chết máy. Chúng đe dọa, nhưng đồng chí Đầm không hoảng sợ, mà lại dùng luôn búa phá máy. Đồng chí Đầm hy sinh trước họng súng của địch.

Tại quận Ô Môn và Trà Ôn, chi bộ Thới Lai đã huy động nghĩa quân tới địa điểm đã định, chờ trên đưa súng về để đánh đồn điền Cờ Đỏ và chi bộ Thới Thạnh đã tập hợp 300 quần chúng tại Cây Gáo, nhng cả hai nơi chờ mãi tới hai giờ sáng không thấy gì, các đồng chí chỉ huy ra lệnh cho tất cả trở về làng…

Mấy ngày tiếp sau, địch huy động cảnh sát, binh lính đi càn quét khủng bố, đốt phá làng mạc của đồng bào. Chúng đã bắt 387 người (số liệu của địch) tra tấn nghĩa quân rất man rợ, bỏ tù, đày ra Côn Đảo, nhiều người đã hy sinh trong tù.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #96 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:25:01 pm »

X. CUỘC NỔI DẬY Ở BẠC LIÊU

Bạc Liêu là tỉnh tận cùng của đất nước ta mà mũi cuối cùng là Năm Căn - Cà Mau, ngoài khơi có một số đảo.

Trước năm 1945, Bạc Liêu có bốn quận: Cà Mau, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai và tỉnh lỵ Bạc Liêu. Vào lúc nổ ra cuộc khởi nghĩa năm 1945, chủ tỉnh là Pierre Paris, chủ quận Cà Mau cũng là một người Pháp De Beauregard.

Bạc Liêu nhận được nghị quyết chuẩn bị cuộc khởi nghĩa của Xứ ủy Nam kỳ khá sớm và đã chuẩn bị khá tích cực. Nhưng nổ ra khởi nghĩa lại chậm hơn và chỉ nổ ra ở Hòn Khoai.

1. Công tác chuẩn bị

Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, địch khủng bố mạnh, nhiều đồng chí bị bắt, cơ quan lãnh đạo tỉnh bị xáo trộn, một số đồng chí được cấp trên điều đi công tác các tỉnh lân cận.

Tháng 5-1940, hội nghị đại biểu tỉnh Đảng bộ họp tại Tắc Ông Do, xã Tân Hưng Tây, có đồng chí Tạ Uyên, đại diện Xứ ủy và Phạm Hồng Thám đại diện Liên tỉnh ủy Cần Thơ dự. Đồng chí Tạ Uyên và Thám là hai trong năm người vượt ngục Côn Đảo về Vĩnh Châu. Đồng chí Tạ uyên ở lại công tác tại địa phương một thời gian, rồi cùng các đồng chí khác rời Bạc Liêu (năm 1935), chỉ còn đồng chí Phạm Hồng Thám ở lại Năm Căn. Do đó, hai đồng chí là những người rât quen thuộc với Bạc Liêu.

Hội nghị đã nghe đồng chí Tạ Uyên truyền đạt tinh thần chuẩn bị khởi nghĩa của Xứ ủy và bàn kế hoạch thực hiện.

Hội nghị bầu ra tỉnh ủy mới gồm các đồng chí: Trần Văn Thời, bí thư, Trần Văn Phán, và Quách văn Phẩm Ủy viên thường vụ, Nguyễn Văn Hoành, Nguyễn Văn Đáng… tỉnh ủy viên.

Sau hội nghị hày và tiếp sau đó, được phổ biến các nghị quyết của Hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương (tháng 7), ở Tân Xuân (tháng 9-1940) và của Hội nghị Thường vụ Xứ ủy, Tỉnh ủy Bạc Liêu đã đẩy mạnh công tác chuẩn bị mọi mặt cho cuộc nổi dậy tại địa phương.

Về Đảng, Tỉnh ủy đã củng cố khôi phục được hầu hết các chi bộ xã, thị trấn trước đây gặp khó khăn do địch khủng bố và phát triển thêm chi bộ mới. Tỉnh lỵ Bạc Liêu và thị trấn Giá Rai đã thành lập được chi bộ Đảng. Riêng chi bộ tỉnh lỵ Bạc Liêu được cấp trên tăng cường thêm nhiều đồng chí để làm công tác vận động quần chúng và binh vận, như nữ đồng chí Hai Thà và Ba Son, Thái Ngọc Sanh, Nguyễn Hùng Minh, Nguyễn Hùng Phước…

Tháng 10-4940, chi bộ Tân Hưng Tây đã có 12 đảng viên, với hơn 500 hội viên phản đế gồm (Nông dân, Thanh niên phản đế, Phụ ngữ giải phóng…)

Thường vụ tỉnh ủy cử đồng chí Phan Ngọc Hiền cùng hai quần chúng cốt cán là anh Nguyễn Văn Giai và chị Nguyễn Thị Quít ra gây cơ sở ở Hòn Khoai.

Về công tác tuyên truyền cổ động, các cơ sở dùng nhiều hình thức như rải truyền đơn, dán biểu ngữ, treo cờ, tuyên truyền xung phong… ở những nơi đông người như chọ, đám ma chay, cưới hỏi, nói rõ tội ác của đế quốc, những chính sách bắt lính, tăng thuế… phản động của chúng và kêu gọi nhân dân gia nhập Hội phản đế đứng lên đánh đổ đế quốc cướp nước giành độc lập và ruộng cày. Ở Giá Rai có mít tinh tại lộ cũ Long Điền, Cậy Xộp xã Phong Thanh, Nghĩa trang xã Vĩnh Mỹ, Trà Kha, Vĩnh Lợi.

Về tổ chức lực lượng, nhiều xã đã thành lập được đội tự vệ, du kích, trang bị gươm giáo, kiếm, dao găm, mã tấu… luyện tập võ thuật khá sôi nổi. Các xã Tân Hưng Tây, Phong Lạc, Khánh Bình… có đội du kích khá mạnh thường xuyên luyện tập kể cả động tác quân sự, cách đánh du kích… Việc rèn vũ khí sôi nổi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #97 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:26:39 pm »

Đánh hơi thấy những hoạt động của ta, địch tìm chác ngăn chặn. Ngày 18-9-1940, cảnh sát pháp lý lưu động Bạc Liêu mang theo nhiều lính về bắt một số đảng viên và cốt cán của Tân Hưng. Ngày 3-10, chúng lùng sục bắt tiếp một số ở Thạnh Phú, Phong Lạc…

Trong công tác chuẩn bị khởi nghĩa, công tác vận động binh lính địch được tỉnh coi trọng. Tỉnh ủy cử hẳn một số đồng chí có năng lực đảm nhiệm công tác này. Trong cơ lính mã tà, ta đã xây dựng được một chi bộ, đóng tại tỉnh lỵ Bạc Liêu…

Lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy mãi tới đêm ngày 23 mới tới Ban khởi nghĩa tỉnh Bạc Liêu. Theo các đồng chí Tỉnh ủy, trong lệnh của Xứ ủy còn nói, Bạc Liêu đón đợi xe vũ khí từ Sài Gòn gửi về để trang bị cho du kích của tỉnh và đợi tin cuối cùng của Xứ ủy.

Thường vụ tỉnh ủy cử ngay nữ đồng chí Tám Nhân đi lên cơ quan Liên tỉnh ủy ở Cần Thơ để lấy tin tức các nơi và xin lệnh cuối cùng như lời Xứ ủy đã dặn.

Chờ đợi mãi mấy ngày không thấy liên lạc trở về, Tỉnh ủy quyết định triệu tập hội nghị hai ngày (26 và 27-11-1940) tại Lũng Lá, Nhà Thế, ấp Rạch Mũi, xã Tân Hưng. Dự hội nghị ngoài các đồng chí tỉnh ủy viên còn có đồng chí Trần Văn Sớm (Hà Văn Nam), bí thư quận ủy Giá Rai và một số đại biểu các chi bộ Tân Hưng, Tân Hưng Tây, Phong Lạc.

Mặc dù liên lạc chưa về, tin các nơi chưa nắm được, Hội nghị nhất trí cấp hành nghị quết của Xứ ủy, các nơi đã ra trận, Bạc Liêu phải đi đôi với anh em thôi.

Hội nghị tán thành kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh chia làm ba khu vực:

- Khu vực Một: Vùng Năm Can gồm thị trấn và một số xã chung quanh Năm Căn trong đó có Hòn Khoai, do đồng chí Quách Văn phẩm, thường vụ tỉnh ủy phụ trách cùng các đồng chí Phan Ngọc Hiển, Trần Thị Lộc, Trần Văn Nhâm, Trần Văn Yến (bí thư và phó bí thư chi bộ Tân Hưng Tây). Đồng chí Phan Ngọc Hiển trực tiếp phụ trách Hòn Khoai.

- Khu vực Hai: Thị trấn Cà Mau và các xã chung quanh, do đồng chí Trân Văn Thời phụ trách.

- Khu vực Ba: Tỉnh lỵ Bạc Liêu, cac quận Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu do các đồng chí Trần Văn Phán, Nguyễn Văn Đáng phụ trách cùng đồng chí Trần Văm Sớm, bí thư quận Giá Rai.

Ban chỉ huy khởi nghĩa chung toàn tỉnh là các đồng chí Trần Văn Thời, Trần Văn Phán.

Hội nghị nhất trí chọn Hòn Khoai làm nơi nổ súng đầu tiên của cuộc khởi nghĩa trong tỉnh, vì ở đó lực lượng địch yếu, ở xa, ta có khả năng giành thắng lợi gọn, nhanh, tạo khí thế cho cuộc khởi nghĩa, vừa lấy thêm được súng.

Các đồng chí trở về địa phương khẩn trương chuẩn bị, xem xét cách tiến hành nổi dậy tốt nhất.

Đợi mấy này vẫn chưa có tin gì ở trên giử về, liên lạc cũng chưa trở lại, ngày 5-12-1940, Ban khởi nghĩa họp tại địa điểm cũ: Lũng Lá, Nhà Thể. Cuộc họp này không có mặt đồng chí Phan Ngọc Hiển, vì ở xa không triệu tập kịp.

Ban khởi nghĩa quyết định cuộc nổi dậy ở tỉnh sẽ nổ ra vào giữa đêm 13 tháng 12 mở đầu ở Hòn Khoai, sau đó mở rộng theo kế hoạch đã đề ra cho khu vực Một.

Các khu vực Hai và Ba, so với yêu cầu cũ có thấp hơn, chỉ phá lộ, cắt dây điện thoại, điện tín, phá nhà giam, cứu tù chính trị, các xã chung quanh nổi dậy cướp vũ khí của lính, phá tề xã, tổng rồi kéo về thị trấn, tỉnh lỵ phối hợp với nhân dân nổi dậy tại chỗ…

Nhưng đến ngày 12-12-1940, Ban khởi nghĩa nhận được lệnh đình chỉ khởi nghĩa của cấp trên gửi về, đồng thời được biết cuộc khởi nghĩa của các tỉnh chung quanh đã bị đàn áp(1).

Ban khởi nghĩa chỉ kịp báo cho các quận gần, còn Hòn Khoai ở xa, không thể báo kịp.


(1) Có ý kiến Xứ uỷ chưa bao giờ có lệnh đình chỉ khởi nghĩa. Có thể lệnh được đưa ra của một đồng chí hoặc một số đồng chí nào đó.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #98 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:28:15 pm »

2. Cuộc đánh chiếm Hòn Khoai

Hòn Khoai ở phia Đông Nam mũi Cà Mau, cách bờ biển 20 kilômét. Chung quanh Hòn Khoai có Hòn Lớn, Hòn Tương, Hòn Sao, Hòn Khó, Hòn Đồi Mồi. Nhưng Hòn Khoai vừa rộng, vừa cao hơn cả. So với mặt nước biển cao của Hòn Khoai là 318 mét, nếu lấy điểm cao của đèn biển thì tới 335 mét.

Dân cư ở Hòn Khoai thưa thớt, sống bằng nghề trồng rẫy, đánh bắt cá…

Pháp chọn Hòn Khoai để xây đèn biẻn, nằm trong hệ thống đèn Cần Giờ, Bãi Cạnh (Pouli Condore), Hòn Khoai (Pouli Obi), Phú Quốc… Về nhân sự và vật tư, đèn Hòn Khoai ở dưới quyền của Sở Hàng Hải đèn biển và cọc tiêu (Service de la navigation pharses et balises), có một người Pháp trông coi, lúc đó là Olivier, vốn là thủy thủ tàu đánh cá Breton. Olivier có mang theo vợ và một con gái nhỏ.

Đèn biển Hòn Khoai có một trạm vô tuyến điện, hàng ngày có nhiệm vụ hai lần phải liên lạc với Sài Gòn và các đèn biển bạn, vào lúc 9 giờ 30 và 15 giờ, do trạm trung tâm của Hệ thống vô tuyến điện phía Nam quy định.

Hàng ngày, đèn biển Hòn Khoai nhận thêm 4 lần phát tin thời tiết của Sở Thiên văn Sài Gòn, công việc này chủ yếu do phát tin viên Nguyễn Văn Cự làm.

Địch thường xuyên đi kiểm tra các đèn biển. Ngày 17-10, chủ sự Bưu điện Vallot cùng với De Beauregard quận trưởng Cà Mau đi kinh lý Hòn Khoai, sau đó ngày 2-11, y lại đến và y thấy ở nhà một tài công có một người đàn bà trẻ, y đã để ý.

Theo báo cáo của Vallot, trong lần đến Hòn Khoai ngày 2-11, Olivier có than phiền với Vallot rằng y chịu trách nhiệm về thiên văn, hàng tháng có phụ cấp, y có chia cho thư ký điện tín một phần nhỏ, nhưng Cự nói rằng anh ta làm là chính, cho nên phải trả nhiều cho anh ta…

Sau cuộc họp cuối tháng 11-1940, đồng chí Phạm Ngọc Hiển đi Rạch Gốc củng cố chi bộ, xây dựng lực lượng nhất là đội du kích sau đó ra Hòn Khoai tiến hành vận động quần chúng. Đồng chí đã kết nạp anh Giai và chị Quít vào Đảng, thành lập chi bộ Hòn Khoai, do đồng chí làm bí thư. Sau Hội nghị ngày 5-12 của Ban khởi nghĩa tỉnh thì Phan Ngọc Hiển nhận được lệnh phải tiến hành khởi nghĩa và đêm 12-12 và phải giành cho được thắng lợi ở Hòn Khoai. Lệnh này do Bông Văn Nở (Bông Văn Dĩa)(1) đảng viên chi bộ Tân Ân, chuyển ra.

Ngày 12-12, chi bộ Hòn Khoai họp ở Suói Ông Hành phía Dồ Tre, có thêm đồng chí Bông Văn Dĩa cùng dự, để bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Ban khởi nghĩa tỉnh. Chi bộ nhất trí đánh chiếm Hòn Khoai vào lúc 20 giờ đến 23 giờ là thuận tiện nhất, vì vào lúc đó Olivier phải đến phòng điện đài, ta phục sẵn và bắt luôn…

Trước 20 giờ, đồng chí Phan Ngọc Hiển lại họp lần cuối trước giờ hành động. Cuộc họp tiến hành ở nhà đồng chí Đỗ Văn Sến, cạnh chân núi tháp đèn Hòn Khoai, gồm tất cả những người tham gia cuộc nổi dậy. Việc phân phối bố trí lực lượng như sau:

- Các đồng chí Đỗ Văn Sến (gác đèn - gardien de phare), Đắc Đạt (gác đèn, Nguyễn Văn Cẩn (Đặng Văn Cát, người Hạnh Phú, Gia Định, thợ máy đèn), Võ Văn Đình (tài công, người Hai Hang, Quảng Ngãi), phục sẵn ở phòng điện đài đợi Olivier đến.

- Các đồng chí Phan Ngọc Hiển, Dương Ngọc Giai (công nhật), cùng một số quần chúng đến nhà Olivier.

Đồng chí Nguyễn Văn Cự trực ở phòng điện đài, hỗ trợ các đồng chí bắt Olivier.

Đồng chí Bông Văn Nở (Bông Văn Dĩa) và anh chị em còn lại lo chuẩn bị canô, ghe đưa người của ta và gia đình về đất liền. Bộ phận này lo may cờ đỏ sao vàng năm cánh to và khẩu hiệu Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, chuẩn bị cả loa…

Riêng đồng chí Đỗ Văn Biên (tài công, người Tân Ân) phải trông coi bảo đảm đèn phát sáng).

Cũng ngay tại cuộc họp này, sau khi lấy ý kiến của tất cả đảng viên, đồng chí Phan Ngọc Hiển trịnh trọng tuyên bố kết nạp hai đồng chí Đỗ Văn Sến và Nguyễn Văn Đắc vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Hai đồng chí tuyên thệ suốt đời chiến đấu cho lý tưởng của Đảng…


(1) Đến thời kỳ chống Mỹ cứu nước, đồng chí Bông Văn Dĩa có công trong việc vận chuyển vũ khí bằng đường biển từ Bắc vào Nam được chính phủ phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #99 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:29:40 pm »

Các đồng chí tỏa đi thi hành nhiệm vụ.

Khoảng 9 giờ, như thường lệ Olivier đến phòng điện đài đưa tin cho đồng chí Cự phát. Các đồng chí phục sẵn sau cửa, nhảy tới khóa tay vật ngã Olivier. Tên này to xác chống lại quyết liệt. Đồng chí Cần thủ sẵn hòn đá liên đập vào đầu nó. Vì quá mạnh y chết ngay tại chỗ. Dự kiến bắt sống Olivier để giải về đất liền, không thực hiện được.

Trong lúc đó, đồng chí Phan Ngọc Hiển và anh em cho giải vợ và con Olivier ra canô đưa về Năm Căn và tịch thu 2 súng trường Label, một súng lục cùng nhiều đạn.

Đồng chí Cự và một số anh em phá máy. Cuộc chiếm Hòn Khoai diễn ra nhanh chóng đúng như dự kiến. Tất cả thu dọn khuân vác đồ đạc chuyển xuống canô, xuống máy rời đảo về Rạch Gốc.

Về đến Năm Căn, vì đã có lệnh hoãn khởi nghĩa, cho nên du kích ở đây không tập hợp đón đồng chí Phan Ngọc Hiển như kế hoạch đã định trước(1)

Đồng chí Hiển không liên lạc được với Ban khởi nghĩa khu vực Một, đồng chí ra lệnh cho canô qua Rạch Hốc Năng ra biển chạy đến Cứa Bồ Đề đến trạm kiểm lâm Tân Ân ở Thủ Tam Giang.

Theo tên Lê Toàn Đông (dân thường gọi là Đốc Đông) báo cáo với tên tỉnh trưởng, lúc đồng chí Hiển tới, mặc áo đỏ, canô cắm cờ đỏ. Lúc đó khoảng 9 giờ sáng ngày chủ nhật 15-12 Đốc Đông tiếp đón đồng chí Hiển, nghe đồng chí Hiển thông báo cách mạng đã chiếm Hòn Khoai và đang mở rộng việc đánh đổ chính quyền cai trị của bọn cướp nước. Đồng chí hiển cũng cho tên Đông biết Olivier đã bị cách mạng trừng trị, vợ con Olivier đang bị cách mạng giam giữ. Tên Đông khiếp sợ, đồng chí Hiển bảo gì nghe nấy(2).

Sau đó đồng chí Hiển lệnh cho canô, thuyền máy trở về Rạch Gốc…

Sáng thứ bảy 14-12, đến giờ thường lệ, Sài Gòn và chung quanh không nhận được tín hiệu từ Hòn Khoai đánh đi. Ban đầu chúng cho rằng trạm vô tuyến Hòn Khoai có sự cố bị hỏng. Sau đó Thống đốc Nam Kỳ được chủ tỉnh Bạc Liêu báo cáo Olivier đã bị giết, Hòn Khoai đã bị quân nổi dây chiếm, máy vô tuyến bị phá. Thống đốc Nam Kỳ vội cho ngay viên đại úy Colon mang theo một đơn vị lính dùng tàu “Đô đốc Charner” với đủ dụng cụ sửa đèn pha, trạm vô tuyến rời Sài Gòn ngày 17-12. Ra tới Hòn Khoai, chúng thấy vắng tanh và cũng phải sửa chữa tới ngày 23-12, việc liên lạc Hòn Khoai và các nơi mới trở lại bình thường. R. Plotkine được cử ra thay Olivier trong coi đèn biển Hòn Khoai.

Trưa ngày 14-12, chủ tỉnh Bạc Liêu Pierre Paris nhận được tin tức về việc mất Hòn Khoai, những người đánh chiếm hiện đang có mặt ở Rạch Gốc. Lập tức, ngay chiều hôm đó, Paris mang theo chủ sự bưu điện Vallot, cò cảnh sát pháp lý lưu động Miền Tây R. Coltelloni, cảnh sát mật thám Lovichi cùng một đơn vị lính tập người Miên dùng canô, xà lúp rời tỉnh, đến 4 giờ 30 sáng ngày 15-11 đến Tân Ân.

Sau khi hỏi han tình hình chúng đi tiếp, khoảng 8 giờ sáng đến Rạch Gốc. Các chiến sĩ ta dựa vào rừng cây rậm rạp bố trí phục kích. Vừa thấy tàu địch, nghĩa quân nổ súng, một tên lính tập bị thương, bọn còn lại hốt hoảng núp trong tàu dùng liên thanh bắn lại loạn xị, rồi tìm cách rút dần.


(1) Theo đồng chí Tràn Văm Sớm, bí thư quận ủy Giá Rai lúc bây giờ, chưa bao giờ có họp bàn hoãn khởi nghĩa. Chi bộ ở Năm Căn đã ước hẹn với đồng chí Phan Ngọc Hiển sẽ đón vào lúc 3 giờ sáng ngày 13-12 và đã huy động lực lượng đón. Nhưng đ/c Hiển về trễ, đã sáng rồi, cho nên anh em giải tán.
(2) Theo tên Lê Toàn Đông báo cáo với Pháp, y đưa cho đồng chí Phan Ngọc Hiển 200 đồng (Đông Dương).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM