Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:22:19 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh  (Đọc 572252 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #190 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 10:58:07 pm »

(tiếp)
Đội vệ sinh phòng dịch quân đội số 7
Vì vậy, các điều kiện tiên quyết cho việc mở rộng và lây lan của bệnh sốt rét đã tăng lên và mùa xuân năm 1988, có đến 150 nhân viên quân sự và dân sự đã mắc bệnh sốt rét.  Vào mùa xuân tỷ lệ mắc bệnh tăng cao đã được các chuyên gia y tế nghiên cứu và thực hiện các biện pháp quyết liệt để đề ra phác đồ cho việc chẩn đoán, điều trị, và thực hiện một tổ hợp các biện pháp chống bệnh. Để có sự hỗ trợ thiết thực cho các chuyên gia y tế trên bán đảo, người ta đã mời giáo sư Bùi Đại từ Hà Nội vào và phó giám đốc của trạm chống sốt rét ở Nha-Trang, đồng chí Tuyên tham gia cộng tác. Kết quả là phác đồ đề ra cùng kinh nghiệm thu được, vào mùa thu năm đó, đã giúp xác định 830 bệnh nhân và người có mang ký sinh trùng. Việc kịp thời phát hiện, điều trị bằng biện pháp thích hợp đã giảm nhiều lần các ca bệnh sốt rét trung bình và nặng, không có tử vong.  Thực hiện các biện pháp điều trị và dự phòng phức hợp đã cho phép trong nửa đầu năm 1989 loại bỏ được các ổ bệnh sốt rét và cải thiện tình hình dịch tễ của bệnh truyền nhiễm cho đến cuối năm 1991.
Để ngăn chặn tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính đường ruột, đã tổ chức giám sát đặc biệt việc cung cấp nước và đồ ăn cho các thành viên, kiểm soát việc làm sạch các vùng lãnh thổ; xét nghiệm vi trùng các nhân viên chế biến thức ăn và cung cấp nước, các bệnh nhân và người mang mầm bệnh, người tiếp xúc với bệnh nhân.  Trong các điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng nực và nguồn nước có vấn đề nghi ngờ về chất lượng xuất xứ, sự chú ý đặc biệt được tập trung vào việc khử trùng nước (sử dụng đèn diệt khuẩn trong chế độ tiêu chuẩn).  Tại tất cả các trạm bơm đã tổ chức bổ sung clo, hàm lượng clo  trong nước được kiểm tra 2 giờ một lần bởi nhân viên trạm bơm, và hàng tuần - bởi các chuyên gia đội VSPDQĐ số 7, hàng tháng nước được kiểm định chất lượng theo kế hoạch tại từng đơn vị quân đội (từng tàu chiến). Người ta kiểm soát cả chất lượng nước dùng tắm rửa và khử trùng bát đĩa cũng như thiết bị trong nhà bếp hàng tháng tại mỗi nhà ăn quân đội. Việc kiểm tra vi trùng các nhân viên nhà bếp, nhân viên cấp nước, người trực khoang bếp trên tàu chiến và các đơn vị cũng tiến hành hàng tháng (so với sự kiểm tra hàng quý hoặc 6 tháng một lần tại Liên Xô). Tất cả các bệnh nhân, người đã từng mắc bệnh, cả những người từng tiếp xúc với họ đều được kiểm tra xét nghiệm vi trùng không chỉ về lỵ , phó thương hàn, mà còn cả bệnh tả. Người ta đã xác định được hàng năm có đến 30 nhân viên nuôi quân và cấp nước mang bệnh lỵ và đến 10 người măc bệnh trong nhóm những người có tiếp xúc với họ. Những nỗ lực lớn trong tăng cường công tác phòng chống dịch đã ngăn chặn bệnh lỵ và thương hàn xảy ra trong các tập thể quân nhân.
 Để giải quyết vấn đề ngăn ngừa việc truyền các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm từ các vùng lãnh thổ khác vào đơn vị, các chuyên gia đội VSPDQĐ số 7, bằng lực lượng của mình, đã tiến hành các cuộc kiểm tra y tế - cách ly tất cả các tàu và các chiến hạm trú đóng bên trong vịnh cảng, kiểm tra hàng năm khoảng 30-40 phương tiện nổi. Tất cả các thực phẩm nhập khẩu, bao gồm cả trái cây và rau quả đều được kiểm tra, và khi cần thiết sẽ kiểm định chất lượng bằng các phương pháp trong phòng thí nghiệm, từ rau quả người ta lấy mẫu bệnh phẩm và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để tìm vi khuẩn gây bệnh, sau đó khử trùng. Kết quả của các hoạt động này đã dẫn tới việc trả về Liên Xô một lô lớn thịt chất lượng không tốt số lượng đến 100 tấn, do không bảo quản tốt trên đường vận chuyển. Các tàu dân sự có điều kiện vệ sinh kém và có chuột trên tàu đều không được phép neo đậu tại cầu tàu.
 Trong suốt thời kỳ này, mỗi khi đến thăm các đơn vị quân đội và các tàu chiến, đội VSPDQĐ số 7 và các chuyên gia của mình đã có những trợ giúp và hướng dẫn thực tế rất bài bản cho bộ phận y tế của đơn vị, cho các ban chỉ huy, về vấn đề phòng chống dịch bệnh cho đơn vị. Bệnh viện Hải quân cũng được sự hỗ trợ rất thiết thực trong việc chẩn đoán trong phòng thí nghiệm về các bệnh truyền nhiễm và có nguyên nhân ký sinh trùng, bởi vì theo biên chế trong bệnh viện không được trang bị phòng thí nghiệm vi trùng học. Kết quả của sự hỗ trợ này là đã có sự chẩn đoán kịp thời, đã ngăn ngừa được việc tử vong của quân nhân do mắc các căn bệnh truyền nhiễm phức tạp và khó điều trị như bệnh sốt rét, ngộ độc và hoại thư sinh hơi.
 Khi đi thăm các đơn vị, các thầy thuốc đội VSPDQĐ số 7 SEA luôn tích cực thực hiện tuyên truyền công tác giáo dục vệ sinh y tế cho đội ngũ thành viên các đơn vị bằng hình thức bài nói chuyện và thảo luận về các quy tắc vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung, nhằm phòng chống các bệnh truyền nhiễm.
 Tóm lại, các chuyên gia đội VSPDQĐ số 7, bằng hoạt động của mình đã đóng góp tích cực vào việc duy trì tính sẵn sàng chiến đấu cho các lực lượng của đơn vị hợp thành này giữa tình hình chính trị phức tạp trên thế giới cuối những năm 80, đầu 90 của thế kỷ trước.
Một bác sỹ nội khoa-San Sanyt Sulgienko (bên phải) và một bác sỹ nha khoa trước khu nhà bệnh xá của PMTO. Ảnh chụp quãng 1986-1991 (camranh.ru)
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #191 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 03:19:46 pm »

Tiểu đoàn tàu cảnh vệ lãnh hải số 300
(tiếp)

 Tháng 7 năm 1984, tàu hộ vệ săn ngầm cỡ nhỏ MPK-170 đã đến thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong thành phần binh đoàn 17 (trước khi bộ chỉ huy và ban tham mưu tiểu đoàn có mặt tại quân cảng Cam Ranh), chiến hạm này vốn thuộc tiểu đoàn tàu chiến số 117, lữ đoàn tàu tuần tra bảo vệ lãnh hải 114, phân hạm đội tàu chiến hỗn hợp Camchatka (quân cảng Petropavlovsk-Camtratskii).
-Hạm trưởng-đại úy Nikolaenko S.K.
-Hạm phó chính trị-thượng úy Bidenko L.P.
-Trợ lý hạm trưởng-thượng úy Trechiakov O.S.
MPK-170 phục vụ nhiệm vụ chiến đấu trong biên chế binh đoàn 17 từ tháng 7 năm 1984 đến tháng 9 năm 1985. Tất cả các công tác huấn luyện chuẩn bị chiến đấu của tàu đều được đánh giá cao. Tình trạng vật chất kỹ thuật của tàu được duy trì ở mức hoàn hảo. Tình hình kỷ luật quân sự cũng hoàn toàn đáng hài lòng.Theo đề nghị của Bộ chỉ huy binh đoàn và tư lệnh lữ đoàn tàu cảnh vệ lãnh hải 114, phân hạm đội hỗn hợp Kamchatka, đại úy hạm trưởng Nikolaenko được phong cấp bậc thiếu tá hải quân. Việc này là một ví dụ để học hỏi và làm theo trong công tác đối với các chỉ huy và sỹ quan của binh đoàn.
Tháng 9 năm 1984, MPK-4 từ phân hạm đội hỗn hợp Sakhalin (quân cảng Korsakov) đến Cam Ranh phục vụ trong đội hình binh đoàn 17.
-Hạm trưởng-đại úy Viazov A.Đ.
-Trợ lý hạm trưởng-thượng úy Orlov Yu.
Mùa thu 1984, thủy thủ Sibriakov Yu.A. sinh ngày 26.4.1966 tại thành phố Niznii Taghil, được gọi nhập ngũ 1984, do quan hệ không đúng điều lệnh đã bị chấn thương dẫn đến tử vong. Những kẻ có tội đã bị đưa ra tòa án quân sự xét xử. Do tình trạng kỷ luật quân sự không tốt, để xảy ra tai nạn cho thủy thủ, theo mệnh lệnh của Tổng tư lệnh Hải quân Xô Viết, tàu đã bị ngừng thi hành nhiệm vụ quân sự, bị gọi trở về Liên Xô (cảng Korsakov), ban chỉ huy chiến hạm bị cách chức.
Trước khi có Bộ chỉ huy và bantham mưu tiểu đoàn, các tàu hộ vệ săn ngầm đến đây đều biên chế vào lữ đoàn tàu mặt nước 119 và dưới quyền chỉ huy trực tiếp của tư lệnh lữ đoàn. Tháng 9 đến đầu tháng 10 tiếp tục chuyển đến 2 tàu quét mìn căn cứ. Các tàu quét mìn xung kích ngoài khơi được chuyển tới Cam Ranh bằng xe tải. Các tàu quét mìn xung kích và tàu quét mìn trong căn cứ đã thực hiện nhiệm vụ xung kích chiến đấu và chống thủy lôi cho khu vực căn cứ.
Tháng 10 năm 1984, các sỹ quan Ban tham mưu dẫn đầu là chỉ huy trưởng tiểu đoàn cảnh vệ lãnh hải số 300 (tiểu đoàn trưởng-thiếu tá hải quân Salov V.I. trước đó phục vụ tại tiểu đoàn tàu tuần tiễu và quét mìn số 38 thuộc căn cứ hải quân Sovietskaya Gavan), đã tới nơi và bắt tay vào thành lập và cơ cấu đơn vị, tổ chức các kíp thuyền viên, soạn thảo kế hoạch huấn luyện chiến đấu. Ban tham mưu tiểu đoàn đóng tại một tàu quét mìn căn cứ, bởi vì các tàu hộ vệ săn ngầm cỡ nhỏ dù có lượng choán nước lớn hơn, nhưng ít phòng hơn và lại thường xuyên hành quân (tuần tiễu).
Tháng 7 năm 1985, từ phân hạm đội hỗn hợp Kamchatka, tàu hộ vệ săn ngầm cỡ nhỏ MPK-143 đề án 1124 đến gia nhập đội hình tiểu đoàn 300 để thay phiên cho MPK-170.
Tuy nhiên do MPK-4 chuyển đi trước hạn phục vụ, cơ quan kế hoạch Bộ Tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương đã ra quyết định kéo dài thời hạn phục vụ trong biên chế binh đoàn 17 của MPK-170 đến mùa thu 1985. Vì vậy, tổng thời gian phục vụ chiến đấu (tại binh đoàn 17) kể cả thời gian hành quân đến vị trí đóng quân, của chiến hạm này lên đến 17 tháng.
MPK-143 đã tích cực tham gia vào nhịp điệu thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và huấn luyện chiến đấu căng thẳng của binh đoàn 17: đón tiếp và hộ tống các tàu ngầm, tàu mặt nước tới thi hành nhiệm vụ, bảo vệ các cuộc diễn tập bắn đạn thật, thực hành tuần tra cảnh giới, quản lý khu vực thao trường, đi cùng tàu căn cứ nổi "Ivan Vakhromeev" tới cảng Ream, CHND Campuchia, để thực hiện công tác chống thủy lôi, chống biệt kích cho quân cảng và chuyên chở nhóm nghiên cứu thủy văn đến làm nhiệm vụ.
Tàu hộ vệ săn ngầm đề án 1124 trên biển, ảnh chụp của máy bay trinh sát hải quân Mỹ, 11 tháng 8 năm 1986.
Tàu hộ vệ săn ngầm MPK-170 trong biên chế binh đoàn 17 những năm 1984-1985.



..............
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Giêng, 2011, 10:54:25 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #192 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 06:38:03 pm »

(tiếp)
Đầu tháng 10 năm 1985, trong đội hình tiểu đoàn cảnh vệ lãnh hải số 300 có:
-Tàu quét mìn xung kích RT-402 từ tiểu đoàn quét mìn 187 thuộc lữ đoàn cảnh vệ lãnh hải số 47, phân hạm đội hỗn hợp Primorskii (đảo Ruskii). Tàu được đưa lên tàu vận tải "Stakhanovets Petras" tại vịnh Patrokl, được chuyên chở tới cảng Cam Ranh và bốc dỡ xuống. Tàu làm nhiệm vụ chiến đấu đến tháng 3 năm 1987. Trong thời gian phục vụ, tàu đã nhiều lần thay đổi người chỉ huy và thủy thủ đoàn. Việc gửi tàu đi cũng thực hiện trên tàu vận tải "Stakhanovets Petras".
-Tàu hộ vệ săn ngầm cỡ nhỏ MPK-81 từ lữ đoàn cảnh vệ lãnh hải số 47 phân hạm đội hỗn hợp Primorskii. Hạm trưởng-đại úy Alekseenko.
Đến cuối năm 1986, có mặt tại quân cảng Cam Ranh để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu có:
-Tàu hộ vệ săn ngầm cỡ nhỏ MPK-145 - hạm trưởng, thiếu tá Abakumov A.P. Do thành tích trong thực hiện nhiệm vụ, tàu được tặng thưởng huân chương "Phục vụ Tổ quốc trong lực lượng vũ trang Xô viết" hạng 3.
-Tàu hộ vệ săn ngầm cỡ nhỏ MPK-155 - hạm trưởng, đại úy Baranov A.N.
Thiếu tá Nikolaenko Sergei Kuzmich - chỉ huy MPK-170 (hiện là đại tá hải quân về hưu, nơi và cương vi phục vụ cuối cùng là sỹ quan tổ chức Sở chỉ huy trung tâm Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang CHLB Nga) đã nhớ về các sự kiện liên quan đến công tác huấn luyện, hành quân, và thi hành nhiệm vụ chiến đấu trong thành phần binh đoàn 17 như sau:
Hạm trưởng MPK-170 trên vị trí chỉ huy.

"Tàu hộ vệ săn ngầm cỡ nhỏ MPK-170 ("Hải âu") nằm trong đội hình tiểu đoàn cảnh vệ lãnh hải 117, lữ đoàn cảnh vệ lãnh hải 114, phân hạm đội Cờ đỏ Kaspien. Chỉ huy tiểu đoàn trong thời gian đó là trung tá hải quân Nikonov V.N.(sau này là Tham muu trưởng thứ ba của binh đoàn 17), còn chỉ huy lữ đoàn 114 là trung tá hải quân Krasnikov A.G.(Tham muu trưởng thứ hai binh đoàn 17), với những người chỉ huy đó tôi đã cùng  phục vụ thời gian khá dài, tôi nhớ và hiểu họ rất rõ.
Vào cuối tháng 4 năm 1984 chúng tôi nhận lệnh chuẩn bị đưa tàu đến cảng Cam Ranh để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu tại biển "Nam Trung Hoa", thời gian chuẩn bị cho phép là 30 ngày. Tàu đã hoạt động 4 năm, sẵn sàng chiến đấu, đã đi tuyến thủy trình đầu tiên, sau khi sửa chữa định kỳ. Tất cả những vấn đề về chuyến đi đã có lời giải. Trong thời gian chuẩn bị, người ta đã kiểm tra trạng thái sẵn sàng về kỹ thuật của tàu, thực hiện các công việc (tu sửa) trên ụ, bổ sung tất cả các loại cơ số dự trữ đến mức đầy đủ theo quy định và thêm nhiều hơn nữa, tiến hành bắn đạn thật các loại vũ khí tên lửa, pháo hạm và bom chìm...."

........
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Giêng, 2011, 12:14:46 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #193 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2011, 12:13:56 am »

(tiếp)
"...Vấn đề tổ chức đội ngũ sỹ quan và thủy thủ đoàn cho con tàu là vấn đề phức tạp nhất phải giải quyết. Vì nhiều lý do khác nhau, đội ngũ sỹ quan phải thay đến 50 phần trăm. Các chỉ huy bộ phận mới đã đến: Ban 1-Hoa tiêu (Makarovskii), ban 3-vũ khí ngư lôi-mìn (Svoboda), ban 5-cơ điện (Alekseev), trưởng ban kỹ thuật thông tin vô tuyến (Miroshnitsenko). Đội ngũ quân nhân thay đổi đến 90 phần trăm. Chỉ còn lại 6 người đã phục vụ được 2 năm, còn lại những người trẻ hơn, một số lấy thẳng vào sau khi họ vừa tốt nghiệp trong trường (đào tạo thủy thủ). Sự hợp đồng trong công việc cũng chưa đạt được, vì nhiều người lại ra đi chỉ mấy ngày trước khi chiến hạm xuất phát. Tuy vậy sự chưa đạt đó đã được chúng tôi khắc phục nhanh chóng, bởi lẽ trên biển nhiều việc khác sẽ không cho phép tồn tại vấn đề này.
Cuối tháng 5 năm 1984, chúng tôi rời cảng Petropavlovsk-Kamchatskii thẳng hướng tới Vladivostok. Trước khi ra biển thi hành nhiệm vụ chiến đấu, thủy thủ đoàn đã tập hợp đội ngũ bên đài kỷ niệm người anh hùng hạm đội Thái Bình Dương Piot Ilitshev, tại đây trong quang cảnh hùng vĩ, lá cờ truyền thống của hạm đội Hải quân Xô viết đã được kéo lên và tập thể quân nhân đã cất cao lời tuyên thệ nghiêm trang sẽ hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra cho chiến hạm. Thủ trưởng của chuyến đi là tư lệnh lữ đoàn tàu cảnh vệ lãnh hải 114, trung tá hải quân Krasnikov A.G. Ngày 3 tháng 6 năm 1984, khi tới căn cứ cơ bản của Hạm đội Thái Bình Dương, chúng tôi đã được các sỹ quan Bộ tham mưu hạm đội kiểm tra và sau đó cho phép chúng tôi bước vào chuyến đi xa tới cảng Cam Ranh để thi hành nhiệm vụ chiến đấu.
Tại Bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương, chúng tôi đã nhận được mệnh lệnh tác chiến có chữ ký của Tham mưu trưởng hạm đội về việc điều động chiến hạm tới khu vực biển "Nam Trung Hoa" nhằm mục đích duy trì chế độ chiến đấu trong khu vực phụ trách của binh đoàn 17, tiến hành hoạt động trinh sát, phát hiện các tuyến giao thông biển, các thiết bị chiến trường, theo dõi các chiến hạm và máy bay của kẻ thù tiềm năng, giải quyết các vấn đề chiến thuật một cách độc lập cũng như khi đứng trong đội hình nhóm tác chiến chiến dịch .
Giữa tháng 6 chúng tôi rời Vladivostok, trong nhóm có: tàu tuần tiễu SKR đề án 1135, MPK-170, tàu chở dầu "Argun". Chuyến đi đã diễn ra trong những điều kiện tốt đẹp. Với mục đích tiết kiệm một phần tài nguyên hành trình của động cơ máy tàu biển, MPK-170 được kéo bởi tàu tuần tiễu. Tại biển Nhật Bản, các ngư dân Nhật Bản phát hiện ra chúng tôi, một lúc sau máy bay Nhật xuất hiện, và khi tới gần Nhật Bản, các khu trục hạm Nhật tiến ra và đi kèm chúng tôi suốt 4 ngày đêm liền cho tới khi chúng tôi đến gần Philippin. Các máy bay "Orion" của Hải quân Mỹ và cả máy bay B-52 cũng tiến hành bay trinh sát biên đội tàu chiến.
Chúng tôi tới Cam Ranh cuối tháng 6 năm 1984. Chúng tôi đậu ngoài vũng neo tàu. Ra tiếp chúng tôi là tư lệnh lữ đoàn tàu mặt nước 119, đại tá hải quân Sergeyev V.N., và hoa tiêu trưởng thiếu tá hải quân Aleksei Maksimov. Tôi biết rõ Maksimov vì chúng tôi có thời cùng nhau phục vụ trên MPK-122 (ông là trưởng ban hoa tiêu, còn tôi là trưởng ban vũ khí ngư lôi-mìn, trong một năm chúng tôi cùng tốt nghiệp khóa 6 sỹ quan cao cấp chuyên ngành tại Học viện Hải quân Leningrad).
Theo lệnh của tư lệnh lữ đoàn, chúng tôi neo tại bến tàu. Bên phía đối diện bến tàu, có 2 tàu hộ vệ tên lửa cỡ nhỏ đề án 1234 là MRK "Taifun" và MRK "Briz". Chỉ huy "Taifun" là thiếu tá hải quân Vladimir Filippov. Còn MRK "Briz"đến từ hạm đội Biển Đen và đã chuyển qua hạm đội Thái Bình Dương, hạm trưởng là thiếu tá hải quân Yavorin V.K.
Do đến thời gian đó vẫn chưa thành lập tiểu đoàn tàu cảnh vệ lãnh hải số 300 (tàu chúng tôi là tầu đầu tiên) và chưa có ban tham mưu tiểu đoàn (mãi về sau này mới có), MPK-170 của chúng tôi được biên chế linh động vào lữ đoàn tàu mặt nước số 119, và tất cả các báo cáo đều được tôi trình lên đại tá hải quân Sergeyev V.N. Các chỉ huy chiến hạm, theo quy định, thường họp báo cáo tình hình tại buồng chỉ huy trưởng lữ đoàn trên tàu công binh xưởng nổi PM-156. Đại tá Sergeyev là một thủy thủ thông minh và am hiểu công việc, thời gian đó ông đang học hàm thụ tại Học viện Hải quân Xô viết. Về các vấn đề thực tiễn nghề đi biển ông đã dạy chúng tôi rất nhiều, trong đó có vấn đề quan hệ xã hội với cư dân địa phương.
Tại Bộ chỉ huy binh đoàn đang là thời kỳ chuyển giao. Chuẩn đô đốc Anokhin R.A. đã đi nhận nhiệm vụ khác, phó đô đốc Kuzmin A.A. còn chưa tới. tạm thời đảm đương trách nhiệm chỉ huy binh đoàn là đại tá hải quân Deviataykin V.V. Đó là một con người lương thiện, một sỹ quan có đầu óc chiến lược chiến thuật tốt, một nhà thể thao. Trong buồng của ông có một cặp tạ. Nếu ai đến, ông bắt người đó nâng tạ. Nhưng chẳng ai giận. Ông đã nhiều lần ra khơi trên tàu chúng tôi. Năm 1984 ông cùng Bộ tham mưu binh đoàn kiểm tra sự sẵn sàng chiến đấu tàu chúng tôi trên biển. Chúng tôi đã hoàn thành các đề bài khác nhau: nạp đạn cho dàn  phóng bom phản lực RBU ( tức là РБУ-6000, реактивно-бомбовая установка-6000, trang bị trên các tàu hộ vệ săn ngầm lớp "Hải âu" đề án 1124 để phóng bom chìm diệt tàu ngầm) tổ hợp đầy đủ bom chiến đấu, phương án quy ước khi tấn công tàu ngầm, thực hành xạ kích pháo hạm...."

Ảnh: Một bức ảnh hiếm hoi của Tham mưu trưởng binh đoàn 17 Deviataykin V.V. sau này là cố vấn cho tư lệnh Hải quân Việt Nam. Hy sinh trong tai nạn An-12 năm 1989 tại sân bay Cam Ranh.

Dàn phóng bom chìm RBU-6000 (http://ship.bsu.by/weapon.aspx?guid=1000013).

Cảnh phóng bom tập trận từ RBU-6000 trên một chiến hạm của Hải quân Nga.

............
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #194 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2011, 01:02:56 pm »

(tiếp)
"...Trong ngày tiếp theo sau khi tới nơi, chiến hạm theo hiệu lệnh báo động, tiến ra khơi. Đâu đó gần vịnh Cam Ranh đã phát hiện thấy kính tiềm vọng của tàu ngầm. Chúng tôi có cuộc tiếp xúc ngắn ngủi với vật thể ngầm, tình hình thủy văn rất tồi đối với (hoạt động) dàn thủy âm định vị dưới sống tàu (подкильной гидроакустической станции- подкильной ГАС), việc theo dõi tàu ngầm chỉ bằng một tàu mặt nước là rất phức tạp. Tàu ngầm đó của ai, không biết: Mỹ, Trung quốc, hay của nước khác. Nhưng rõ ràng là chúng đã tới gần Cam Ranh, chúng theo dõi và giám sát chúng ta.
Thời gian này, chúng tôi bận bịu với những vấn đề huấn luyện chiến đấu, duy trì sự sẵn sàng về kỹ thuật cho chiến hạm, canh phòng lãnh hải, bến tàu, ra các quyết định về tổ chức v.v...Rất nhiều khó khăn nảy sinh trong việc đảm bảo an ninh cho khu vực căn cứ. Chúng tôi có nhiệm vụ làm một eo bằng đất giữa các bến cố định với các máy nâng thủy lực và cầu bến, nơi các tàu của tiểu đoàn tàu hậu cần neo đậu. Các thủy thủ chở đất đến, san đầm đệm cát. Chúng tôi lấy máy công trình và cần trục tại PMTO, nhổ các tấm kim loại rải đường băng sân bay cũ của Mỹ, chở chúng đến nơi và lắp đặt vào vị trí. Tôi nghĩ rằng công trình đó đến giờ vẫn còn sử dụng tốt
Nhiều công sức của thủy thủ đoàn đã đổ ra để làm sạch sân bến tàu khỏi những đám hắc ín loang lổ. Thực tế là hàng ngày, trừ lúc ra khơi, chúng tôi đều bận rộn với những công việc như vậy, khi mà trong khu vục mọi thứ còn chưa vào nề nếp.
Tiếp theo, chúng tôi tập trung làm các công tác chuẩn bị cho việc xây dựng với lực lượng của đội xây dựng công trình quân sự các điểm quan sát cảnh giới và thông tin liên lạc: phát quang cây cối trong khu vực.

Ảnh: Các quân nhân đội xây dựng công trình quân sự đang làm công việc phát quang khu vực.

Với sự có mặt của MPK-4 mùa thu 1984, đến nơi sau chúng tôi khoảng chừng 3-4 tháng, chúng tôi bắt đầu các phiên tuần tiễu từ khu vực vịnh Cam Ranh đến khu vực đảo Chanh (khu vực có trường huấn luyện biệt kích người nhái của Mỹ trước đây). Việc thực hành phiên trực chiến tính theo tuần, đổi phiên vào ngày thứ sáu.

Những nhiệm vụ cơ bản của một cuộc tuần tra là: soi rọi các khu vực không phận, khu mặt nước, dưới mặt nước, tổ chức chống biệt kích người nhái và phương tiện lặn ngầm (ПДСС), tiếp đón và hộ tống các tàu ngầm từ Liên Xô tới cũng như từ căn cứ đi ra.
Trong các năm 1984-1985, các tàu của tiểu đoàn tàu cảnh vệ lãnh hải số 300 đã gánh vác được các nhiệm vụ cơ bản. MPK-170 đã nhiều lần đi đón các tàu ngầm từ ngoài khơi xa, trong đó có các tàu ngầm nguyên tử, và hộ tống chúng vào đến căn cứ an toàn. Đó là các tàu ngầm đề án 671RTM, 659, 641 và các tàu khác. Năm 1985 chúng tôi đã đón và hộ tống đến tận eo biển Malakka tàu "K-314" đề án 671RTM, và từ đó "tóm" được "B-213" đề án 641 rồi hộ tống nó vào vịnh Cam Ranh. Chiến hạm đã tham gia tất cả các đợt huấn luyện tiến hành theo kế hoạch của binh đoàn 17, đảm bảo việc chuẩn bị chiến đấu cho tàu ngầm, thực hành xạ kích pháo hạm, cũng như đảm bảo cho các cuộc tập bắn pháo của các tàu mặt nước lữ đoàn 119 (kéo bia mục tiêu).
Trong thời gian tuần tra khu vực đảo Chanh, đã quét soi không phận bằng ra đa của tàu, tuần tiễu dưới mặt nước bằng dàn định vị sonar dưới sống tàu. Đôi khi trong một ngày đêm chúng tôi phải kèm sát hơn 100 mục tiêu trên không. Những việc đó đã từng được đưa vào tạp chí chuyên ngành, cũng như ở đây, ngay lập tức phải báo cáo về Sở chỉ huy binh đoàn, bố trí trên tàu PM-156.
Suốt ngày đêm, để chống người nhái và phương tiện biệt kích lặn ngầm, trên boong đuôi tàu và sân mũi tàu, bố trí các thủy thủ trực với súng tự động AKM. Đạn giữ trong các bao đạn, niêm phong bằng dấu niêm trực chiến trên tàu. Khi đậu trong vũng tàu, để chống biệt kích lặn ngầm tấn công, thực hiện ném lựu đạn phòng ngừa không theo một quy luật cố định nào. Lựu đạn được sử dụng là RG-42 và RGD.
Một lần đã xảy ra một chuyện kỳ quặc. Khi đỗ tại bến tàu trong căn cứ, một thủy thủ tàu MPK-4 bắn từng loạt đạn ngẫu nhiên từ khẩu AKM của mình. Có 2 viên đạn trúng vào thành buồng chỉ huy của tôi. Thật may lúc đó lại chẳng có ai trong phòng. Chỉ mấy phút trước, tư lệnh binh đoàn gọi tôi và hoa tiêu trưởng lên gặp ông trên tàu PM-156.
Mùa xuân 1985, chúng tôi (MPK-4 và MPK-170) nhận lệnh của tư lệnh binh đoàn 17 chuẩn bị đưa tàu đến cảng thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) và tham gia các hoạt động kỷ niệm 10 năm giải phóng Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi đã chuẩn bị xong, thực tế đã trang hoàng đến mức lý tưởng cho bề ngoài của tàu, bổ sung dự trữ vật chất các loại. Lãnh đạo chuyến đi phải là Tham mưu trưởng Deviataykin V.V. (lúc này đã được phong chuẩn đô đốc). Nhưng vài ngày trước khi khởi hành, người ta đã hủy bỏ chuyến đi.
Tháng 9 năm 1985 đã kết thúc hạn phục vụ chiến đấu của tàu và MPK-170 chuẩn bị quay về căn cứ cơ bản của mình. Bộ chỉ huy binh đoàn 17 đã cho tàu điểm phục vụ "xuất sắc". Về Vladivostok, biên đội tàu chiến đi mất 14 ngày đêm ròng rã: MPK-170, tàu quét mìn căn cứ, tàu kéo biển "Almaz". Sau khi về tới cảng Vladivostok và đã đậu tại cầu tàu số 33, người ta đã kéo cờ chào đón chúng tôi "Chúc mừng chuyến trở về may mắn". Ngày hôm sau, các sỹ quan Bộ tham mưu hạm đội đã kiểm tra tàu và cho những đánh giá tốt đẹp. Theo lệnh của tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương, thủy thủ đoàn được tặng thưởng đồng hồ có khắc tên, được trao các món quà quý, bằng chứng nhận và nhiều người được tuyên dương. Trong số các tặng thưởng-có bằng chứng nhận của tư lệnh lữ đoàn tàu cảnh vệ lãnh hải 114 Krashnikov A.G.

Ảnh: Bằng chứng nhận danh dự của phó đô đốc Kuzmin tư lệnh binh đoàn 17 tặng hạm trưởng MPK-170.


Một ngày sau khi tàu trở về với tiểu đoàn ruột thịt của mình tại Kamchatka, Ủy viên Hội đồng Quân sự, chủ nhiệm Tổng cục chính trị Hải quân Xô viết-đô đốc Medvedev P.N. đã đến thăm tàu. Sau khi nghe hạm trưởng báo cáo và trò chuyện cùng các quân nhân thành viên trên tàu, đô đốc Medvedev P.N. đã trao phù hiệu "Vì chuyến đi xa"-phần thưởng mà các thủy thủ thường coi là cao nhất. Do thành tích trong chuyến đi phục vụ chiến đấu 17 tháng, nhiều thành viên thủy thủ đoàn được trao các tặng thưởng của chính phủ. Trong số đó có: thiếu tá hải quân Nikolaenko S.K.-hạm trưởng MPK-170, chuẩn úy hải quân bậc trưởng Mastaliar A.-đội trưởng đội thủy âm, thượng sỹ hải quân Selivanov G.- chỉ huy nhóm thợ vận hành động cơ và những người khác nữa...."
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Giêng, 2011, 12:54:06 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #195 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2011, 12:51:59 am »

(tiếp)
"...
Sinh hoạt và làm việc thường ngày, bảo đảm hậu cần cho chiến hạm.
Khi trú đóng tại cảng Cam Ranh, chúng tôi phải chịu đựng những khó khăn rõ rệt trong vấn đề sống và làm việc hàng ngày. Suốt ngày trời nóng nực, trong khi đó giờ báo thức cho toàn bộ thành viên là 5 giờ sáng với một thời gian biểu các công việc phải hoàn thành trong ngày sau đó rất căng thẳng và nặng nề. Bữa ăn trưa từ 12h-15h-cũng là thời gian nghỉ ngơi. Nhưng nghỉ làm sao được, bởi vì tàu của chúng tôi, làm từ kim loại, suốt cả ngày đã bị hun nóng. Máy điều hòa nhiệt độ thì làm việc rất yếu. Thực tế thì đó là giờ tổ chức tắm cho độ ngũ thành viên theo yêu cầu. Lãnh đạo những cuộc đi tắm như vậy, người ta thường giao cho một người trong số các sỹ quan.
Sau 15 giờ tiếp tục các công việc trên tàu và các hoạt động khác. Trời tối khá sớm. Sau khi ăn tối là các hoạt động công tác đảng-công tác chính trị, các cuộc họp đảng và đoàn thanh niên Komsomol, các buổi nói chuyện và xem phim. Xem hết các phim mang theo, bắt đầu đến việc trao đổi phim với các tàu khác cùng trú đóng trong vịnh Cam Ranh hoặc với các tàu ghé vào căn cứ. Có lần các nhân viên chiếu phim của chúng tôi lên boong và vô ý đánh rơi một hộp đựng phim mượn của tàu khác. Chúng tôi đang đậu ở bến tàu. Người thợ lặn trên tàu được thả xuống. Anh ta mò được hộp phim lên cùng với hai khẩu súng M-16 của Mỹ. Nhưng chúng tôi phải bỏ chúng đi.
Lúc bấy giờ vô tuyến truyền hình chưa có, thư từ đến thất thường, chỉ có khi tiện dịp nào đó. Mà các thủy thủ thì nóng lòng chờ thư. Chúng tôi nhận báo, tạp chí, thư và cả hàng bưu phẩm. Trong bưu phẩm không chỉ có bánh kẹo mà còn cả thuốc lá, Bởi lẽ các sỹ quan không được quy định phải có khẩu phần thuốc lá. Chỉ có các thủy thủ nhận được thuốc lá nhưng chất lượng thấp. Thuốc lá của họ màu xám thường có mùi mốc. Nhưng dù sao vẫn phải hút. Thuốc lá đó hiệu "Người đi săn", song các thủy thủ vẫn gọi nó là "Đầm lầy" hoặc "Người cầm súng".
Về đồ ăn thì không có vấn đề gì. Thực phẩm được chở đến thường xuyên. Tàu chứa "Argun" đi đến Singapore mua và chở về thực phẩm và rau quả tươi. Chúng tôi nhìn vào nhãn hiệu hàng hóa mà sửng sốt: khoai tây Trung quốc, cam Israel, sữa Mỹ và Anh và v.v...Khi đó chúng tôi rất ngạc nhiên với thời hạn sử dụng sữa của Mỹ-những 1 năm. Chúng tôi chẳng ngờ tới điều đó. Thỉnh thoảng người Việt Nam cũng chở hàng đến cho chúng tôi, nhưng như lệ thường, đó là: chuối, dừa, đôi khi có cà chua, nhưng rất hãn hữu. Trong những dịp lễ, chúng tôi thu xếp những bữa ăn tại nhà. Chúng tôi tự mình làm mứt, đồ uống từ những sản phẩm hiện có.
Chúng tôi tự nướng lấy bánh mì trực tiếp trong buồng bếp của tàu. Trên tàu có lò nướng và các đồ cần thiết để nướng bánh. Ngoài các đầu bếp, chúng tôi phân công hai thủy thủ làm thợ nướng bánh mì không chuyên. Bánh mì còn thừa được sấy và chuyển thành bich cốt và làm nước kvas.
Thành thực mà nói, thời tiết nóng nực ảnh hưởng không tốt dến khẩu vị. Chúng tôi chuẩn bị đồ ăn uống theo khẩu phần, nhưng dùng rất ít, nhất là bữa trưa. Rồi đến lúc phải bỏ nhiều thứ ra thùng rác, mà không hiểu sao lại cấm không được cho dân địa phương. Và thế là mỗi khi tàu rời bến, dân nghèo địa phương lại tụ quanh thùng chứa đồ bỏ.
Vấn đề đồ uống theo tôi nhớ thực ra thì cũng không có. Chất lượng nước không phải là tốt nhất. Người ta bơm nó từ hồ lên. Tất nhiên nước đã qua xử lý clo hóa. Về nguyên tắc, tôi cấm các thành viên uống nước chưa đun sôi. Nước uống được đun sôi suốt cả ngày trong buồng bếp trên tàu. Không có trường hợp tiêu chảy nào xảy ra. Thỉnh thoảng chúng tôi được nhận nước từ tàu chứa.
Khi đi tuần tiễu, nước cấp chuyển sang chế độ tiết kiệm. Về cơ bản nước chỉ được dùng để chế biến đồ ăn và một ít để rửa. Việc dự trù nước tính cho 7-10 ngày đêm sử dụng. Trong khi đó nhiều khi chuyến tuần tra kéo đến 14 ngày đêm liền.
Dự trữ phương tiện vệ sinh chúng tôi mang đi từ Liên bang được tính trong 10 tháng liền. Do tàu thi hành nhiệm vụ chiến đấu từ tháng 5 năm 1984 đến tháng 10 năm 1985 (gần 17 tháng), vấn đề phụ kiện cho vệ sinh trở nên gay gắt. Xà phòng chúng tôi nhận được từ PMTO, nhưng kem đánh răng thì không. Các thành viên trên tàu không nhận được tiền, mà bách hóa thì không có. Thế là phải xin từ những người ghé qua Cam Ranh. Kể cả phụ kiện bàn cạo râu
Đảm bảo y tế
Trong thời kỳ tàu chiến chúng ta có mặt ở đây, việc đảm bảo y tế được thực hiện bởi các nhà chuyên môn của binh đoàn 17, lữ đoàn 119 và các y sỹ trên tàu. Tại PMTO có một bệnh viện cố định theo kiểu đa khoa. Một thời gian rồi ở tiểu đoàn 300 của chúng tôi cũng có bác sỹ của mình.
Bệnh viện đang trong giai đoạn xây dựng, bác sỹ quân y chưa có.
Trên tàu chúng tôi khi đang huấn luyện, có một thủy thủ bỗng lên cơn đau ruột thừa. Tôi báo cáo qua radio với người chỉ huy huấn luyện về trường hợp trên và được lệnh mở hết tốc lực quay về căn cứ Cam Ranh nhanh nhất. Ở cầu tàu đã có một chiếc xe cấp cứu với các thầy thuốc. Ca mổ đã diễn ra thành công và chẳng bao lâu người thủy thủ kia đã quay về tàu, khỏe mạnh và hoạt bát.
Trước khi ra khơi tại cảng Cam Ranh, đội ngũ thành viên đều bắt buộc phải được tiêm ngừa sốt rét và bệnh tả. Sau khi tiêm chủng, phần lớn thủy thủ đoàn không có khả năng thực hiện công việc của mình vì đều lên cơn sốt cao.
Tình hình kỷ luật quân sự
Tôi không biết về chế độ đảm bảo hậu cần cho các quân nhân Việt Nam thời kỳ đó, nhưng nghe từ một số nguồn rằng họ không được đảm bảo hậu cần trong những ngày ra khơi. Săn được gì trên bờ, đánh bắt được gì trên biển, hái được gì trên cây, họ chế đồ ăn từ đó. Thế nhưng họ lại đảm bảo được rượu uống. Một cách tự nhiên, họ đề nghị trao đổi hàng. Và chẳng phải bí mật gì, dù cho lệnh cấm nghiêm khắc và công  việc giải thích thường xuyên, trong đêm tối những cuộc trao đổi vẫn diễn ra. Người Việt Nam mang đến những hàng rẻ tiền các loại: mỹ phẩm, mành trúc, các chuỗi hạt, các đồ thủ công các kiểu, đồ uống,-và đổi lấy tất cả các sản phẩm, giày dép, quần áo. Nhiều người còn đề nghị đổi vỏ ốc và san hô.
Về cơ bản những người thực hiện đổi chác đó là các thủy thủ, trực đêm tại các nhà trực ban, vọng gác trên lối vào bến cảng, nơi có các tàu chiến neo đậu. Một phần lớn những đồ này bị ban chỉ huy các chiến hạm tịch thu và tiêu hủy. Công tác giải thích và giáo dục của các ban chỉ huy chiến hạm, chi bộ và chi đoàn thanh niên Komsomol đã cho kết quả tích cực....."

Bến tàu quân cảng Cam Ranh, những năm 89-92.
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Giêng, 2011, 02:29:39 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #196 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2011, 06:16:49 am »

(tiếp)
"...Quan hệ với ban chỉ huy quân sự và cư dân địa phương
Ngày 9 tháng 5 năm 1985, đối với nhân dân Việt Nam đánh dấu một mốc trọng đại - 10 năm ngày giải phóng Miền Nam Việt Nam. Nhân dịp này, Bộ chỉ huy vùng 4 Hải quân và lãnh đạo tỉnh đã mời các sỹ quan binh đoàn 17 (Bộ chỉ huy binh đoàn, các sỹ quan Bộ tham mưu binh đoàn và các chỉ huy chiến hạm) đến dự cuộc gặp mặt chính thức. Tôi cũng nhận được giấy mời. Văn bản mời bằng tiếng Việt nhưng tên họ người được mời bằng tiếng Nga.
Sáng sớm, đoàn xe của chúng tôi đã bắt đầu đi tới nơi diễn ra các hoạt động-thành phố Nha Trang. Đến nơi, chúng tôi được mời món trà xanh truyền thống của Việt Nam. Chín giờ chúng tôi được mời lên lễ đài. Chúng tôi ngạc nhiên khi thấy trên đó có cả đại diện các nhà hoạt động Phật giáo. Hồi đó ở nước chúng ta chưa có việc như vậy.
Bắt đầu, như người ta vẫn nói, cuộc diễu binh: những người Việt Nam diễu qua lễ đài, vũ trang bằng kiếm gỗ, khiên gỗ, các bản sao vũ khí bằng gỗ và v.v...Tất cả đều diễn ra theo phong cách dân tộc, rất đẹp, có thể nói rất duyên dáng. Khán giả và chúng tôi đều vui mừng chào đón những người tham gia cuộc diễu hành. Sau nghi lễ chính thức, chúng tôi được mời ăn trưa. Người ta xếp bàn theo hình chữ "П", ở giữa là các lãnh đạo Việt Nam và Xô viết, các phiên dịch. Ngồi cạnh các sỹ quan Xô viết là các sỹ quan Việt Nam biết tiếng Nga tốt. Sau lưng mỗi vị khách là một chiêu đãi viên nữ. Đồ ăn rất phong phú, những suất ăn thì không lớn. Sau mỗi lần nâng cốc, các đĩa ăn nhanh chóng được thay đổi. Đồ uống là các loại rượu mầu Việt Nam và vodka làm từ gạo. Sự giao tiếp rất thoải mái, không bắt buộc theo một chủ đề nào hết, mọi vấn đề có thể bàn luận đều được đưa ra: chính trị, sinh hoạt thường ngày và dĩ nhiên là chuyện về hạm đội. Sau khi kết thúc buổi tiếp, mỗi chúng tôi được tặng một món quà trong bao gói rất đẹp. Có gì bên trong thì chỉ có thể về buồng rồi giở ra mới biết. Thường thì là cà phê, bánh kẹo những thứ có thể mang lên ca bin. Lại có những thứ tôi không hiểu, có mùi khó chịu. Tôi quẳng nó qua cửa mạn xuống biển. Thế nhưng hôm sau, người ta giải thích cho tôi rằng đó là những xấp mực khô đã ép và phơi nhiều nắng, một đặc sản của địa phương.
Các sỹ quan Việt Nam giải thích cho tôi rằng, đồ ăn chủ yếu của họ-gạo và nước mắm. Trong thời gian học tập ở Liên Xô, họ đã từng thử làm nước mắm, nhưng không thành vì thiếu các phụ liệu địa phương. Người ta làm mắm thế nào, tôi đã được chứng kiến trên đốc nổi. Một lần chúng tôi có việc phải đi tàu cao tốc lên đốc nổi tại vịnh đảo Bình Ba. Cạnh những con tàu chúng tôi là một tàu cao tốc của Việt Nam đang trên ụ sửa chữa. Tôi ngửi thấy một mùi rất khó chịu. Trả lời câu hỏi "cái gì đấy ?", tôi được trả lời rằng "người Việt Nam đang nấu cơm tối và làm nước mắm". Tôi quyết định không trở về tàu. Người ta nâng tàu và đưa lên đốc.
Trên con tàu nhỏ của người Việt Nam có 3-4 thùng bằng đồng, trong đó có gì đó cựa quậy, sủi bọt. Sau mỗi lần quăng lưới, tất cả những sản vật của biển bắt được (cá, tôm, cua, ghẹ các lọai động vật giáp xác khác nhau) đều được lèn sâu vào một lu đồng lớn, đổ đầy nước và phơi ra dưới ánh mặt trời nhiệt đới nóng bỏng. Sau một thời gian nhất định, theo kiến thức họ nắm giữ, khi phần chính của nước mắm đã tạo thành, người ta mới thêm các phụ liệu và gia vị đặc biệt. Chính người Việt Nam nói rằng, chén cơm của họ ngon hơn nhiều khi có thứ mùi "kinh khủng" đó. Phải đồng ý với ý kiến này thôi. Ở đất nước chúng ta cũng có những người yêu thích cá "có mùi". nhưng dù sao món chượp "có mùi" của vùng hồ Bai Kan cũng khác nhiều so với ở đây, cũng giống như nước hoa Pháp so với cồn biến tính vậy.
Lại nói về mùi vị và phong tục địa phương. Một lần vào sáng tháng năm, khá lâu truớc giờ báo thức, tôi tỉnh dậy vì gần bên vang lên những tiếng rống, tiếng eng éc của heo con. Tiếng động ấy vang lên rất, rất lâu. Tôi hỏ trực ban trên tàu là có việc gì xảy ra vậy. Hóa ra, tối hôm trước có một chiếc tàu Việt Nam bỏ neo tại phía cầu tàu đối diện. Ở phía đằng lái, họ đang giữ những con heo, như một thứ thực phẩm sống (vì không có buồng lạnh, thứ mà nhiều khi cũng rất cần cho thủy thủ đoàn). Và đến dịp-ngày lễ quốc gia của Việt Nam, họ quyết định "tự thưởng" một chút "chất tươi". Nếu như chúng ta làm điều đó (mổ heo), phần  mỡ phải trắng (tinh khiết), tuy nhiên ở đây thì trái lại mỡ phải có máu. Để làm điều đó, họ dùng tay bóp và hành hạ rất lâu con vật để cho máu dồn sang phần mỡ. Sau khi bóp như vậy, theo ý họ, con vật đã sẵn sàng lên giá thành món "quay". Có lẽ món ăn nhận được sẽ rất ngon, xứng đáng với sự quan tâm của chúng ta. Nhưng những tiếng heo rống" eng éc"  đến giờ tôi vẫn không thể nào quên. Ghê và sợ. Nhưng đó là truyền thống lâu đời trải qua nhiều thế kỷ của Việt Nam. Cần tính đến nó và kính trọng truyền thống của nước chủ nhà, nước Việt Nam cổ kính."

Ảnh: Nha Trang 1990. Những người khách "transit" qua Cam Ranh trên đường vào Ấn Độ Dương, hàng thứ 2 từ phải sang: Chuẩn đô đốc Samson V.I. phó tư lệnh binh đoàn chiến dịch-chiến thuật số 10 Hạm đội Thái Bình Dương, chuẩn đô đốc Belousov A.A. hiệu trưởng Trường cao đẳng Hải quân của Hạm đội Thái Bình Dương mang tên S.O.Makarov.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2011, 12:54:41 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #197 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2011, 12:53:19 am »

Trích lịch sử hoạt động tàu ngầm "K-184" đề án 675, sư đoàn tầu ngầm 26 Hạm đội Thái Bình Dương
(gián tiếp tham gia chiến tranh Việt Nam năm 1972)
Ảnh: hạm trưởng "K-184" năm 1972-A.S.Berzin.

Ảnh: tàu ngầm đề án 675 với các ống phóng tên lửa có cánh (hành trình) ở tư thế sẵn sàng.

3.10.1961: Được ghi  vào danh sách các tàu chiến (đã và sẽ có theo kế hoạch) của Hải quân Xô viết;
2.2.1963: đặt ky tại nhà máy đóng tàu mang tên Đoàn Thanh niên cộng sản Lê nin tại thành phố Komsomolsk trên sông Amur như một tàu ngầm tuần dương cỡ vừa;
25.8.1963: Hạ thủy (xuất xưởng);
29.8-26.12.1963: Hoàn thành chương trình thử nghiệm trên neo tại nhà máy;
27-29.12.1963: Ra khơi trong chương trình hiệu chuẩn của nhà máy chế tạo;
30.12.1963-31.3.1964: Hoàn thành chương trình thử nghiệm hành trình theo chuẩn quốc gia;
31.3.1964: Ký biên bản giao nhận, biên chế vào đội ngũ tàu ngầm Hải quân Xô viết;
4.11.1964: Gia nhập Hạm đội Thái Bình Dương tại sư đoàn tàu ngầm 26 có căn cứ tại vịnh Pavlovskii;
1964-1967: Thực hành nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu trong chuyến đi dài 138 ngày đêm;
4.1967-11.1969: Trung tu máy với việc thay thế các lò hơi tại Nhà máy đóng tàu số 30 (vịnh Tchazma, Dunai);
24.5-5.11.1971: Thực hiện chuyến hành trình độc lập tại biển Okhot trong một chiến dịch trinh sát.Ngày 29.9, vào lúc 12h30, tại độ sâu 80m đã xảy ra sự rò khí phóng xạ trong khu vực có chắn cách ly buồng máy phía mũi tàu của khoang số 6 chứa lò phản ứng. Khí và khí dung phóng xạ bốc ra ngày càng nhiều trong khu vực có cách ly của buồng máy phía mũi tàu, trên tầng 2 và 3 khoang 6 chỉ số mật độ phóng xạ tập trung cho phép tới hạn (PDK-predelnodopuschimykh konsentratsia) đã tới 20. Ngay lập tức còi và tín hiệu báo động "Phóng xạ nguy hiểm" phát ra và các khoang số 5,6,7 được tuyên bố là khu vực áp dụng chế độ giới nghiêm đặc biệt. Sau 10 phút, tàu ngầm nổi lên và khoang 6 được thông gió. Cũng ngay tức khắc máy bay săn ngầm "Oriol" của Hải quân Mỹ xuất hiện và bay lượn quanh tàu ở độ cao 100m. Tàu ngầm lại lặn xuống tạm thời. Lúc này tình hình hơi và khí dung có phóng xạ lại trở nên càng phức tạp hơn: tại khoang 6 tầng 3 chỉ số PDK đã đến 300, tại khu vực buồng máy mũi tàu-5000 PDK, trên tầng 2-1700 PDK, trong các khoang 5 và 7-đến 40 PDK. Việc giữ các thành viên tiếp tục ở lại các khoang 5,6,7 là không thể. Bởi vậy đã di chuyển họ sang các khoang kế bên và ban chỉ huy tàu phải đánh điện vào bờ báo cáo tình hình phức tạp đang diễn ra. Các khoang 5,6,7 được thông gió vào không trung. Vào quãng 24 giờ ngày 29.9 tình hình rò phóng xạ đã giảm tới mức bình thường tại khoang 5 và 7, còn tại khoang 6 là 1-2 PDK. Tại các khoang khác trong suốt thời gian trên chỉ số PDK là từ 5-10. Trong các khoang 5,6,7 mức độ nhiễm phóng xạ đạt tới 100 phân rã trong một phút, bắt đầu quá trình khử phóng xạ trong các khoang. Đến 12h ngày 30.9 tình hình phóng xạ trên tàu ngầm đã ổn định: khắp nơi hơi và khí dung phóng xạ đã trở về mức giới hạn bình thường. Trên bờ đã được báo cáo và đã ra lệnh cấm tàu trở về căn cứ trong trạng thái lặn ngầm. Một giờ sau có lệnh cho phép trở về. Sau sự cố trên, một phần thủy thủ đoàn mắc chứng đau đầu, tức ngực, chứng buồn nôn ám ảnh họ cả tháng sau đó;
4-5.1972: Trực chiến trong vịnh Pavlovskii;
10.5-19.6.1972:  Thực hiện nhiệm vụ chiến đấu độc lập tại biển "nam Trung Hoa" và biển Philippin. Khởi đầu chuyến đi bị tàu ngầm Mỹ "Guardfish" phát hiện và bám theo canh chừng một thời gian dài;
1973: Tiến hành nạp lại khu vực nhiên liệu phóng xạ của lò phản ứng;
10.1975-12.1978: Hiện đại hóa và trang bị lại vũ khí theo đề án 675MK tại nhà máy "Ngôi Sao" (Bolshoi Kamen). Hiện đại hóa về những vấn đề khác từ 22.10.1976 đến 21.6.1978;
25.7.1977: Chuyển loại sang tàu ngầm mang vũ khí đạn đạo;
15.1.1978: Chuyển loại về tàu ngầm mang tên lửa hành trình;
24.1.1979: Chuyển thành tàu ngầm đề án 675MK;
1979: Chuyển sang biên chế sư đoàn tàu ngầm số 10, phân hạm đội tàu ngầm số 2, hạm đội Cờ Đỏ Thái Bình Dương, đóng căn cứ tại vịnh Krashennikov;
1980: Thực hiện chuyến đi độc lập làm nhiệm vụ chiến đấu dài 239 ngày đêm (chỉ huy-chỉ huy thủy thủ đoàn số 273 trung tá hải quân Moskalenko T.L., chỉ huy boong-phó chỉ huy trưởng đại tá hải quân Kozlov V.T.), bổ sung dự trữ hậu cần tại các điểm cung ứng hậu cần di động.  
20.3.1981: Trong khu vực huấn luyện chiến đấu, sau khi đã thực hiện xong một cú lặn sâu, khi đang trong tư thế nổi trên mặt nước, va chạm với tàu "K-43" đề án 670 "Skat", phần sống mũi tàu đập vào mạn phải theo quán tính. Kết quả cú va chạm làm hư hỏng lớp bọc khối vỏ tàu nhẹ, mái che phía trên thùng chứa ống phóng ngư lôi không mở được và một thùng chứa ngư lôi không kín hơi. Chỉ huy tàu-chỉ huy thủy thủ đoàn số 273 trung tá Moskalenko T.L. sau khi nổi lên, quyết định tới sát "K-43" để thao diễn bằng mắt thường, tất cả những gì có thể vi phạm-đã vi phạm rồi. Theo kết quả điều tra, ông đã bị cách chức;
3.1981: Một tuần nằm sửa chữa hư hỏng;
1982: Thực hiện chuyến đi tác chiến độc lập dài 109 ngày đêm, bổ sung dự trữ tại các điểm hậu cần cơ động;
1983-1986: Thực hiện hai chuyến đi tác chiến dài 60 và 111 ngày đêm, bổ sung dự trữ tại các điểm hậu cần cơ động;
26.3(4?).1984: Do một thao tác không hợp lệ bên cạnh tường ngăn trong nhà máy, đã làm hư mòn tấm chắn bảo vệ lò phản ứng và hệ thống bánh răng truyền lực chính bên mạn phải (ГТЗА ПБ - главный турбозубчатый агрегат) và trong vòng 4-5 phút thiếu dầu máy cấp lên turbin động cơ đang quay theo đà;
7.7.1985: Trong khi kiểm tra ổ trục đằng mũi tàu của hệ thống truyền lực chính ГТЗА, phát hiện ra sự nóng chảy lớp hợp kim chống mài mòn (babbit) gối đỡ phía dưới;
3.1986: Trong khi đang thi hành nhiệm vụ chiến đấu xảy ra hư hại do quá trình hóa muối (ăn mòn) chu tuyến II cả hai mạn tàu, tàu ngầm phải quay về trước hạn tới điểm hậu cần cơ động để sửa chữa mất 15 ngày đêm;
1988: Theo dự trữ năng lượng còn lại (hạt nhân), tàu chỉ được phép hoạt động trong khu vực huấn luyện chiến đấu;
13.4.1989: Bước vào sửa chữa lớn tại nhà máy đóng tàu số 30 (vịnh Tsazma, thị trấn Đunai). Tháo dỡ khối lò phản ứng;
19.4.1990: Loại khỏi biên chế chiến đấu của hạm đội theo lệnh của Bộ truởng QP LX; Về neo đậu tại bến trong vịnh Pavlovskii (thành phố Fokino);
28.9.1992: Chuyển về vịnh Tshazma để bảo quản lâu dài trong tình trạng nổi.
Tổng hoạt động của "K-184" kể từ khi đóng xong đưa vào sử dụng là 193.156 hải lý với 24.550 giờ hành trình.
..........
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2011, 12:02:32 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #198 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2011, 11:43:53 pm »

(tiếp)
Ngày 1 tháng 5 năm 1972, các đơn vị quân đội Bắc Việt Nam đánh chiếm thành phố Quảng Trị. Để cắt đứt nguồn tiếp tế đường biển cho quân đội và các ngành công nghiệp của VNDCCH, ngày 8 tháng 5 năm 1972, tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh phong tỏa và rải thủy lôi các cảng Bắc Việt Nam. Bắt đầu sự rải mìn phong tỏa (của quân đội Mỹ) tất cả các cảng của miền Bắc Việt Nam.
Lực lượng hải quân Xô viết không tham chiến trực tiếp chống quân đội Mỹ đánh phá Miền Bắc Việt Nam. Thay vào đó các tàu ngầm, tàu mặt nước, tàu trinh sát hạm đội Thái Bình Dương tiến hành giám sát hoạt động của hạm đội 7 Mỹ và chuyển tin tình báo cho phía Việt Nam. Các tàu quét mìn độc lập thực hiện quét mìn mở đường cho tàu vận tải, tàu chứa của Liên Xô cập cảng Hải Phòng. Một đội thợ lặn Xô viết đã tham gia phá hủy những trái thủy lôi còn sót lại phong tỏa cảng Hải Phòng. Chuẩn úy Palamarchuk trong thành phần đội thợ lặn (Hạm đội Biển Đen) đã được tặng thưởng huân chương Cờ Đỏ.
Vì sự nghiệp đảm bảo những hàng hóa cần thiết cho Việt Nam và thể hiện được lòng dũng cảm trong công việc, thủy thủ trưởng tàu "Babushkin" Công ty vận tải Biển Đen K.A.Gontar, thuyền trưởng tàu vận tải "Aleksandr Seraphimovitch" Công ty vận tải biển Viễn Đông A.V.Zinoviev, thợ máy trưởng tàu "Stepan Vostresov" Công ty vận tải biển Primorskie S.G.Pirogov, được tặng danh hiệu AHLĐ XHCN. Các tàu vận tải "Balasikha", "Yzma", "Ambartchik" được tặng huân chương Hữu nghị giữa các dân tộc. Tên tuổi những người anh hùng hy sinh trong khi thi hành nghĩa vụ quôc tế được đặt cho các tàu của Công ty vận tải Viễn Đông "Thợ máy Rybachuk", "Thủy thủ trưởng Zotov", và Công ty vận tải Biển Đen "Valentin Khutorskii".
Tổng số hàng kỹ thuật quân sự và hàng hóa phục vụ mục đích quân sự khác đã chuyển cho Việt Nam là gần 2,4 triệu tấn. Trong đó từ LB Xô viết là 510 ngàn tấn, từ CHND Trung Hoa-gần 1,6 triệu tấn, từ các nước XHCN khác (Tiệp Khắc, Ba Lan, Hunggary, Rumani, CHDC Đức, Bungary, CHDCND Triều Tiên, Cuba) là  hơn 254 ngàn tấn.
Trong số các vũ khí trang thiết bị quân sự từ các nước trong phe XHCN chuyển giao cho Việt Nam trong những năm chiến tranh, gồm có gần 440 ngàn vũ khí dã chiến, 5,6 ngàn vũ khí chống tăng, 2,5 nghìn cỗ pháo của Liên bang Xô viết. Liên Xô cũng cung cấp cho Việt Nam 316 máy bay chiến đấu, 23 tổ hợp tên lửa phòng không S-75M và hai trung đoàn tên lửa S-125, 687 xe tăng, hơn 70 tàu chiến và tàu vận tải và một số lượng lớn các trang thiết bị quân sự khác.
Để đáp lại sự phong tỏa và rải thủy lôi các cảng Bắc Việt Nam, theo quyết định của Chính phủ Liên Xô, Bộ chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương đã phái các tàu ngầm ("K-7", "K-45", "K-57", "K-184", "K-189") tới biển "Nam Trung Hoa". Về những điều đã xảy ra trong tháng 5-6 năm 1972, chúng ta có thể biết qua hồi ức của hạm trưởng tàu ngầm nguyên tử mang vũ khí hành trình "K-184" đại tá Berzin Alfred Semenovitch (sau này là sư đoàn trưởng sư đoàn tàu ngầm chống tàu sân bay số 10, trưởng khoa chiến thuật Hệ đào tạo sỹ quan chuyên ngành cao cấp Hải quân Xô viết, Học viện Hải quân Leningrad, chuẩn đô đốc):
"...Ngày 10 tháng 5, sau các hoạt động kỷ niệm trọng thể (ngày chiến thắng phát xit Đức), tôi bước vào phiên trực chiến và nhận được tin trinh sát tình báo như sau:  
"Khu vực bán đảo Đông Dương. Tiến hành các hoạt động chiến tranh chống lực lượng yêu nước Đông Dương hiện có các tàu sân bay xung kích "Coral Sea", "Kitty Hawk", "Saratoga", tại khu vực 170 dặm phía nam Sài Gòn là tàu "Constellation" trong sự hỗ trợ đảm bảo của 38 tàu chiến các loại khác. Trong một ngày đêm, từ các tàu sân bay đã thực hiện 353 phi vụ, trong đó có 256 phi vụ tấn công."
Trong nửa sau ngày hôm đó, Hạm đội Thái Bình Dương chuyển lệnh sẵn sàng chiến đấu cao, còn chiếc tàu ngầm của chúng tôi thì được lệnh báo động. Theo điều lệnh quy định, thủy thủ đoàn sắp xếp và sẵn sàng chờ lệnh. Đã có lệnh tất cả ở nguyên trên tàu. Nguồn năng lượng chính (ГЭУ-Главную энергетическую установку)) còn chưa cho hoạt động. Buổi chiều tối, tư lệnh sư đoàn, chuẩn đô đốc Verenikin I.I. gọi tôi lên và ra lệnh cho hoạt động cả hai nguồn năng lượng hai mạn tàu (nói đơn giản là khởi động lò phản ứng), và ông nói ngắn gọn: "Hãy tới biển "Nam Trung Hoa" để giúp đỡ người anh em Việt Nam". Ngoài ra từ ông tôi biết được, các tàu ngầm "K-45" (hạm trưởng đại tá hải quân Yu.N.Ganz) và "K-57" (hạm trưởng đại tá hải quân Shipovnikov Yu.Ph.) cũng đến đó sau chúng tôi
Ngày 10 tháng 5, trên tàu chúng tôi, cả hai mạn đều chuyển sang chế độ tuabin phát. Lệnh chiến đấu bằng điện tín đã tới, lệnh đó cùng với hành trình trên hải đồ đã được Tham mưu trưởng sư đoàn đại tá hải quân Abramov M.B. trao cho hạm truởng. Sau những chỉ thị cuối cùng của tư lệnh sư đoàn, tàu "K-184" rời bến bắt đầu di chuyển theo hải trình.
Theo một trình tự khẩn trương, các tàu ngầm của sư đoàn tàu ngầm số 26 hạm đội Thái Bình Dương chuẩn bị ra khơi thi hành nhiệm vụ chiến đấu. Lộ trình của tất cả đều hướng tới biển "Nam Trung Hoa", khu vực tuần tiễu các thủy lộ vào Việt Nam....

(A.S.Berzin. Guardfish theo dõi K-184. Chuyến đi của K-184 tại biển "Nam Trung Hoa". Nhà xuất bản "Nghệ thuật chiến tranh". 2006).
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2011, 12:00:09 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #199 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2011, 11:43:21 pm »

(tiếp)
Hạm trưởng thứ 3 (11.1970-12.1972) của USS Guardfish SSN-612, Trung tá hải quân D.C. Minton III, đối thủ của A.S.Berzin trên K-184 trong giai đoạn 5-6.1972 tại biển Đông.

"....Trong số vũ khí trên tàu K-184 có: 8 tên lửa hành trình "P-6" để bắn các mục tiêu trên biển, hai trong các tên lửa đó có đầu đạn hạt nhân, các ngư lôi dùng để bắn các mục tiêu mặt nước cũng như các mục tiêu dưới mặt nước, hai trong số ngư lôi đó cũng mang đầu đạn hạt nhân....
Alfred Semenovitch Berzin đã vắt kiệt những khả năng có thể có của chiến hạm của ông. Chiến đấu với những hỏng hóc kỹ thuật, sự nguy hiểm thường trực do va chạm phải các mục tiêu trên mặt nước khi nổi lên dưới kính tiềm vọng do độ nghe rõ qua đài thủy âm quá mờ, chúng tôi đã hoàn thành các nhiệm vụ đề ra, đã sẵn sàng dùng vũ khí theo mệnh lệnh. Trong lúc di chuyển không theo tiêu chuẩn, trong điều kiện thủy văn kém, thời tiết phức tạp, hạm trưởng đã bắt gặp tàu ngầm Mỹ đang đến gần chúng tôi, ông đã phát hiện ra nó, và trong những điều kiện khó khăn nhất đã có thể thoát khỏi sự đeo bám của nó một cách thành công mà không hề có ưu thế nào về kỹ thuật....".

(A.V.Konev. Tàu ngầm nguyên tử đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương "K-45". Con người và số phận. Ký sự tài liệu, trang 245, 267. Nhà xuất bản Trường đại học Tổng hợp Kỹ thuật Quốc gia Viễn Đông. Vladivostok 2008.)
Trên đường từ vịnh Strelok tới biển "Nam Trung Hoa", tàu ngầm "Guardfish" của Mỹ đã theo sát "K-184", tàu ngầm của Mỹ hoàn thiện hơn, có các tính năng kỹ chiến thuật tốt nhất để có thể phát hiện và theo dõi các tàu ngầm Xô viết. Chỉ huy tàu ngầm Mỹ là đại tá hạm trưởng D.Minton đã xuất bản hồi ức về việc đã theo dõi thế nào tàu ngầm Xô viết lớp "Echo-2" (chính là "K-184"). Mỗi một người hạm trưởng của tầu ngầm ở 2 phía đối địch, đã từng nhìn thấy nhau qua thị kính của kính tiềm vọng năm 1972, trong tư thế sẵn sàng thi hành lệnh khai hỏa vũ khí sẵn có trên con tàu của mình. Sau gần 30 năm họ lai gặp nhau trên những trang hồi ức cá nhân, trong đó có phó đô đốc A.V.Konev, thời điểm đó là trung úy, chỉ huy trưởng nhóm đạo hàng-điện tử thuộc ban hoa tiêu tác chiến (ЭНГ-электронавигационной группы  штурманской боевой части) của tàu ngầm "K-184".
Nhưng chúng ta hãy quay lại với hồi ức của A.S.Berzin:
"...Cách đây không lâu người ta đưa cho tôi cuốn sách "Các tàu ngầm của Hoa Kỳ", trong đó tôi đọc được bài viết của đại tá hải quân Mỹ đã về hưu David Minton với tiêu đề "Tàu ngầm Guardfish truy kích tàu ngầm lớp Echo". Ngay lập tức tôi hiểu rằng David Minton truy đuổi tàu ngầm K-184, hồi đó do tôi chỉ huy. Tôi sẽ kể về sự kiện đó từ góc nhìn của mình, trong khi đó cũng quan tâm tới những bình luận của David Minton.
Khi đang phục vụ trên cương vị hạm trưởng tàu ngầm nguyên tử K-184 trên Thái Bình Dương, tôi đã tham gia vào hoạt động trinh sát chống lại tàu sân bay xung kích "America", tàu sân bay và săn ngầm "Ticonderoga", và đồng thời chống lại tàu ngầm nguyên tử Guardfish..."

Ảnh: SSN-612 Guardfish trong thời gian hành trình thử nghiệm dọc bờ biển Đại Tây Dương. 1965-1966.

.........
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM