Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:34:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh  (Đọc 572633 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #340 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2011, 01:14:33 am »

(tiếp)

Có một số sự kiện đáng ghi nhớ tại sư đoàn 10 trong những năm 1980-1981, trong đó có một sự kiện liên quan đến việc Tham mưu trưởng của chúng tôi về Kamchatka sớm bằng máy bay. Trong thời gian tháng 7-9 năm 1980, tàu ngầm nguyên tử đề án 670 “K-325” (thuyền trưởng – trung tá hải quân V.P.Valuev, chỉ huy trên tàu – Tham mưu trưởng sư đoàn đại tá hải quân N.N.Alkaev) đã hoàn thành chuyến đi trong đó có việc vượt qua các eo biển của dãy núi đá Aleutska, khu vực quần đảo Hawai, bờ biển phía tây nước Mỹ với mục đích phát hiện hệ thống phòng thủ chống tàu ngầm và tổ chức huấn luyện và chuẩn bị chiến đấu của hải quân Mỹ tại khu vực quần đảo Hawai.
Mùa hè 1981 đã tổ chức cuộc tập trận trong phần biển mở của Thái Bình Dương. Trong tiến trình tập trận, các con tàu của sư đoàn đã thực hiện bắn đạn thật ngư lôi, còn cuộc hợp đồng xạ kích tên lửa giữa 2 con tàu, tàu K-201 đề án 670 (trung tá hải quân B.G.Blednov) và một tàu ngầm đề án 675MK (trung tá hải quân E.V.Orsagosh) được thực hiện trên bia được kéo bởi tàu ngầm nguyên tử đề án 658 bơi trong tư thế ngầm. Các thuỷ thủ đoàn do B.G.Blednov và E.V.Orsagosh chỉ huy đã đoạt giải của Tổng tư lệnh Hải quân. Từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1981, tàu K-201 đề án 670 (thuyền trưởng – trung tá hải quân B.G.Blednov, chỉ huy trên tàu – Anh hùng Liên Xô, sư đoàn phó, đại tá hải quân V.T.Kozlov) đã hoàn thành chuyến đi trong thành phần một biên đội tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương (BPK “Petropavlovsk”, SKR “Retivyi”, tàu dầu “Irkut”) với việc vượt qua các eo biển của dãy Aleutska, bờ biển phía tây nước Mỹ, dọc theo quần đảo Hawai và quần đảo Nhật Bản. Nhiệm vụ đặt ra cho biên đội là khám phá hệ thống phòng thủ chống tàu ngầm của Hải quân Mỹ tại khu vực này, chiến thuật sử dụng lực lượng và phương tiện phòng thủ chống ngầm, và phát hiện khả năng tác chiến, mặt mạnh và mặt yếu của kẻ thù tiềm năng. Tổng tư lệnh Hải quân Xô Viết đã đánh giá cao kết quả chiến dịch này.

Sự khai sinh và hình thành sư đoàn tàu ngầm chống tàu sân bay số 10

Tới năm 1985, các tàu ngầm nguyên tử thế hệ 1 được đưa ra khỏi biên chế sư đoàn chúng tôi, và thay thế cho chúng là các tàu ngầm nguyên tử đề án 671RTM từ sư đoàn 45 và sư đoàn được chuyển sang biên chế một sư đoàn tàu ngầm chống tàu sân bay. Than ôi, đó chính là thời kỳ phục vụ thú vị nhất của tôi tại Kamchatka.


Tàu ngầm nguyên tử đa mục tiêu đề án 671RTM.



Продольный разрез ПЛА пр. 671РТМ:
I – основная антенна ГАК «Скат-КС»; 2 – 533-мм ТА; 3 – 650-мм ТА; 4 – торпедопогрузочный люк; 5 – носовой (торпедный) отсек; 6 – носовой аварийный буй; 7 – носовой люк; 8 – выгородка запасных торпед и устройства быстрого заряжания; 9 – запасная 533-мм торпеда; 10 – запасная 650-мм торпеда;

II – цистерна беспузырной торпедной стрельбы; 12 – носовая дифферентная цистерна; 13 – аппаратная выгородка приборов управления ракетоторпедной и торпедной стрельбой «Ладога 1В-671РТ» и ГАК «Скат-КС»; 14 – АВ; 15 – ЦГБ; 16 – второй (жилой) отсек; 17 – третий (центрального поста) отсек; 18 – антенны ГАК «Скат-Б»; 19 – ходовой мостик; 20 – репитер гирокомпаса; 21 – перископ комплекса МТ-70-10; 22 – ПМУ «Синтез» (системы космической навигации); 23 – ПМУ антенны СОРС «Залив-П»; 24 – ПМУ антенны РЛК «Альбатрос»; 25 – ПМУ антенны радиопеленгатора «Завеса»; 26 – ПМУ антенны «Анис» (КСС «Молния-Л»); 27 – прочная рубка; 28 – центральный пост; 29 – выгородки радиоэлектронного вооружения и акустиков; 30 – выгородки вспомогательного оборудования и общесудовых систем (трюмных насосов, насосов общесудовой системы гидравлики, преобразователи и кондиционеры); 31 – четвертый (реакторный) отсек; 32 – реактор с парогенераторами, циркуляционными насосами и цистернами биологической защиты; 33 – ВВАБТ «Параван» и ее лебедка; 34 – пятый (турбинный) отсек; 35 – паровая турбина; 36 – планетарный редуктор; 37 – главный упорный подшипник; 38 – конденсатор; 39 – баллоны системы ВВД; 40 – шестой (электромеханический и вспомогательного оборудования) отсек; 41 – кормовой люк; 42 – кормовой аварийный буй; 43 – седьмой (жилой) отсек; 44 – восьмой (ГЭД и рулевых приводов) отсек; 45 – кормовая дифферентная цистерна; 46 – приводы горизонтальных рулей; 47 – вертикальные стабилизаторы; 48 – гондола УПВ «Руза-П» ГПБА ГАК «Скат-КС»; 49 – АТГ; 50 – приводы кормовых горизонтальных рулей; 51 – ВФТ (вспомогательные движители).


Sơ đồ cắt dọc đề án 671RTM:
I- Anten chủ của tổ hợp thủy âm "Skat-KS"; 2- Thiết bị phóng ngư lôi 533 mm; 3- Thiết bị phóng ngư lôi 650 mm; 4- Cửa nạp đạn ngư lôi từ ngoài vào tàu ngầm; 5- Khoang (ngư lôi) mũi; 6- Phao cấp cứu đằng mũi tàu; 7- cửa nắp đằng mũi; 8- Giá chắn đạn ngư lôi và thiết bị nạp nhanh đạn ngư lôi; 9- Đạn ngư lôi dự trữ cỡ 533 mm; 10- Đạn ngư lôi dự trữ cỡ 650 mm; II- Sitec của hệ thống bắn đạn ngư lôi không tạo bọt; 12- Sitec chênh mớn mũi; 13- Buồng chắn các thiết bị điều khiển bắn ngư lôi và ngư lôi-tên lửa "Ladoga 1V-671RT" và tổ hợp thủy âm "Skat-KS"; 14- Cụm ắc quy; 15- Sitec dằn chính; 16- Khoang số 2 (khoang ở); 17- Khoang số 3 (buồng trung tâm); 18- Anten của tổ hợp thủy âm "Skat-B"; 19- Cầu điều hướng hành trình; 20- Bộ lặp của la bàn con quay; 21- Kính tiềm vọng thuộc tổ hợp MT-70-10; 22- Thiết bị (cột) nâng hạ "Sintez" (hệ thống đạo hàng vũ trụ); 23- Thiết bị nâng hạ anten của hệ thống dò tìm tín hiệu định vị vô tuyến "Zaliv-P"; 24- Thiết bị nâng hạ anten thuộc tổ hợp định vị vô tuyến "Albatros"; 25- Thiết bị nâng hạ anten máy định hướng (tầm phương) vô tuyến "Zavesa"; 27- Thiết bị nâng hạ anten của tổ hợp "Anis" (tổ hợp phương tiện truyền tin "Molnya-L");27- Buồng bền; 28- Buồng trung tâm; 29- Buồng chắn các vũ khí vô tuyến điện tử và thủy âm; 30- Buồng chắn các thiết bị hỗ trợ và hệ thống chung trên hạm (các máy bơm hầm tàu, hệ thủy lực  của các máy bơm dùng chung trên hạm, các bộ biến đổi điện và các bộ điều khiển); 31- Khoang số 4 (lò phản ứng); 32- Lò phản ứng hạt nhân nguyên tử với thiết bị sinh hơi, các bơm chu trình kín và các sitec bảo vệ sinh học; 33- Thiết bị thả phao liên lạc nổi "Paravan" và hệ tời của nó; 34- Khoang số 5 (khoang tuabin); 35- Máy tuabin hơi; 36- Hộp giảm tốc kiểu thiết bị hành tinh; 37- Ổ gối đỡ trục chính; 38- Thiết bị tích điện; 39- Các bình chứa thuộc hệ thống khí nén áp suất cao; 40- Khoang số 6 (các thiết bị cơ điện và hỗ trợ); 41- Cửa nắp phía đuôi tàu; 42- Phao cứu nạn phía đuôi tàu; 43- Khoang số 7 (khoang ở); 44- Khoang số 8 (khoang động cơ đẩy chạy điện và cơ cấu dẫn động bánh lái); 45- Sitec chênh mớn phía đuôi tàu; 46- Cơ cấu dẫn động bánh lái phương ngang; 47- Thiết bị ổn định theo phương đứng; 48- Vỏ bao thủy khí động hình giọt nước (каплеобразная гондола) của thiết bị thả và thu "Ruza-P" (Устройства её Постановки и Выборки) của anten có khả năng kéo mở linh hoạt (ГПБА -Гибкая Протяженная Буксируемая Антенна) thuộc tổ hợp thủy âm "Skat-KS"; 49- Máy phát tuabin tự động; 50- Cơ cấu dẫn động bánh lái ngang phía đuôi tàu; 51- Chân vịt kiểu fluger VFT (Cơ cấu hỗ trợ truyền động). Chân vịt kiểu fluger hay chân vịt kiểu cánh quạt đo gió là chân vịt có hai chế độ làm việc theo 2 vị trí tương đối so với dòng chảy chất lưu của cánh quạt chân vịt: vị trí "cánh quạt đẩy nước" hoặc vị trí "thuận dòng chảy" (ВФТ - винт флюгерного типа (или двухпозиционный винт))

........
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Năm, 2011, 09:57:55 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #341 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2011, 02:18:10 pm »

(tiếp)

(ru.viki)

Схема торпедного аппарата с БПС
1 — розмах открывания передней крышки; 2 — предохранительный клапан; 3 — невозвратный клапан; 4 — боевой баллон; 5 — горловина установки хода торпеды; 6 — курковой зацеп; 7 — горловина над впускным и запирающим клапанами торпеды; 8 — задняя труба (внутри ПК); 9 — передняя труба (снаружи ПК); 10 — торпеда; 11 — привод открывания передней крышки и волнорезного щита; 12 — труба системы осушения и вентиляции; 13 — передняя крышка; 14 — волнорезный щит; 15 — волнорезный щит в «утопленном» (боевом) положении



Sơ đồ thiết bị phóng ngư lôi với hệ thống đảm bảo bắn không tạo bọt
(БПС- Система беспузырной стрельбы беспузырной, или торпедной стрельбы - БТС)

1-Biên độ mở của cửa nắp trước; 2- Van bảo hiểm; 3- Van một chiều; 4- Bình khí nén tác chiến; 5- Họng thiết bị hành trình của đạn ngư lôi; 6- Mấu lồi của cò điểm hỏa đạn ngư lôi; 7- Họng phía trên các van nạp và khóa đạn ngư lôi; 8- Đoạn ống sau (nằm trong vỏ bền của tàu ngầm); 9- Đoạn ống phía trước (nằm ngoài vỏ bền); 10- Đạn ngư lôi; 11- Dẫn động mở cửa nắp trước và khiên bảo vệ chống sóng; 12- Đường ống thuộc hệ thống sấy khô và thông khí; 13- Cửa nắp trước; 14- Khiên bảo vệ chống sóng đánh; 15- Khiên chống sóng khi chiến đấu trong tư thế "chìm" dưới nước.

Hệ thống bắn không tạo bọt (БПС) hay còn gọi là hệ thống bắn ngư lôi không sinh bọt (БТС) - toàn bộ các thiết bị của tàu ngầm, cho phép bắn từ ống phóng ngư lôi (ТА) với biện pháp dẫn động khí sao cho chất khí không thoát ra ngoài mạn tàu - tức là không tạo ra bọt khí.
Vấn đề này có lịch sử của nó.
Hầu hết các thiết bị phóng ngư lôi trên tàu ngầm có dẫn động khí - ngư lôi được bắn bằng không khí nén. Dễ hiểu rằng, giữa ngư lôi và thành ống phóng ngư lôi có khe hở. Để không khí không thoát ra qua khe giữa đạn và ống phóng, đã có các vòng chắn. Nhưng ngay khi đạn đi qua các vòng chắn này, không khí không thể giữ thêm được (trong ống phóng) bằng thiết bị nào nữa.
Trong và ngay sau Thế chiến thứ nhất, thiết bị phóng ngư lôi đã làm việc theo cách như vậy. Bọt khí hình thành từ phát bắn làm giảm tính bất ngờ của cuộc tấn công, làm lộ mục tiêu tàu ngầm và làm đơn giản hóa công việc tiêu diệt tàu ngầm của các lực lượng săn ngầm, thêm nữa nó còn cào bằng sự thiếu vắng các phương tiện hiệu quả nhằm bắn trúng tàu ngầm đang lặn xuống.
Trong thời gian giữa các cuộc chiến tranh hệ thống bắn không sinh bọt đã được hoàn thiện. Những quốc gia châu Âu là những quốc gia đầu tiên đi theo khuynh hướng đó - Hà Lan, Đức, Anh. Liên Xô cũng có phương án riêng của mình, nhưng tới đầu Thế chiến hai, phần lớn các tàu ngầm xô viết vẫn chưa được trang bị hệ thống này. Điều đó đã được các tác giả A.V.Platonov và V.M.Lurie đề cập trong sách "Các chỉ huy tàu ngầm xô viết thời kỳ 1941-1945" xuất bản năm 1996, sau nhiều năm các tác giả làm việc với các tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Hải quân. Đó là cuốn sách tiếp theo sách "Tàu chiến Xô viết giai đoạn 1941-1945. Tàu ngầm" cũng được xuất bản năm 1996. Như một biện pháp nửa vời, kết cấu tàu ngầm kiểu "S" đã đảm bảo bọt khí sinh ra ở phạm vi nhỏ.
Chúng ta hãy xét nguyên lý của hệ thống.
Nguyên lý hoạt động của hệ thống bắn không sinh bọt là ở chỗ, sau khi đạn đạt được vận tốc cần thiết trong thiết bị phóng (theo hành trình quá độ qua 2 phần 3 chiều dài ống phóng), van phóng sẽ mở ra tự động và diễn ra sự dồn không khí từ thiết bị phóng vào trong khối vỏ bền (ПК). Khi đó áp suất trong ống phóng sẽ giảm xuống thấp hơn ngoài mạn tàu, và nước ngoài mạn sẽ tràn vào chiếm chỗ khoảng không gian được giải phóng hết không khí.
Sau khi lấp đầy ống phóng ngư lôi, một phần nước qua van thông (thoát) khí chảy vào sitec thay thế ngư lôi chuyên dụng (специальную торпедозаместительную цистерну) với một số lượng đủ cân bằng trọng lượng đạn ngư lôi đã bắn đi. Van thông này đóng lại tự động đúng thời điểm mà số lượng cần thiết nước ngoài mạn đã vào đủ trong sitec thay thế ngư lôi (Прасолов, С.Н., Амитин, М.Б. Устройство подводных лодок. Б.м., б.г.).
Trên các tàu ngầm Đức kiểu VII, để đẩy ngư lôi đi người ta sử dụng không phải khí ép trực tiếp, mà là pít tông khí nén, việc này thực sự làm đơn giản hóa thiết bị bắn ngư lôi không sinh bọt (БТС) (theo nguồn: М. Э. Морозов, В. А. Нагирняк Стальные акулы Гитлера. Серия «VII». — М.: «Коллекция», «Яуза», «Эксмо», 2008. — С. 26—27. — 144 с. — ISBN 978-5-699-29092-5). Không khí nén, ép bởi pit tông, trong trường hợp này, được xả không phải vào nước, mà vào khoang ngư lôi.
Những hạn chế cần xem xét.
Phản áp sẽ thay đổi theo chiều sâu. Bởi vậy áp suất của phát bắn cần phải được điều tiết sao cho phù hợp. Nó không thể quá lớn - khi đó sẽ sinh bọt khí, hay cũng không được quá nhỏ - đạn ngư lôi sẽ không lấy được tốc độ cần thiết và phát bắn sẽ không xảy ra.Vì thể tích bình khí nén tác chiến là cố định và điểm tiêu hao van xả đã quy định rồi, cần điều tiết thể tích mà không khí thoát ra đến mức nào.
Để đảm bảo có thể bắn được ngư lôi theo phương pháp không sinh bọt trên chiều sâu kính tiềm vọng hay gần với chiều sâu ấy, thể tích được tăng lên, - các cửa ngăn cách tiếp giáp với khoang ngư lôi được mở ra. Ví dụ trên các tàu ngầm xô viết đề án 613 khi bắn ngư lôi mũi, các cửa khoang I/II и II/III được mở ra. Dù vậy, bước nhảy áp suất đột ngột mà đội thủy thủ cảm thấy cũng đủ gây đau bệnh (theo nguồn: Бондаренко, А. Г. Основы устройства ПЛ. Курс лекций для слушателей военно-морских учебных заведений. Л., 1982).
Một cách tương ứng, chiều sâu sử dụng thiết bị phóng lôi dẫn động bằng khí bị giới hạn ở khoảng chiều sâu 60 m. Tại các chiều sâu lớn, sử dụng khí nén để bắn đạn ngư lôi là không hợp lý về mặt kỹ thuật - lượng khí tiêu hao sẽ quá lớn, mà tính toán độ bền lại đòi hỏi thành ống phóng ngư lôi phải dày thêm.Toàn bộ hệ thống sẽ trở nên quá nặng nề. Đối với những trường hợp như thế người ta áp dụng thiết bị phóng theo nguyên lý khác - nguyên lý khí ép thủy lực (пневмогидравлические торпедные аппараты).

........
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Năm, 2011, 07:59:53 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #342 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2011, 02:22:28 pm »

(tiếp)


Tàu ngầm nguyên tử đa mục tiêu đề án 671 "K-254"


Tàu ngầm nguyên tử đa mục tiêu đề án 671RTMK


       Đề án 671RTMK          và               671RTM. Nhìn từ phía mũi tàu




ПЛА пр. 671РТМ (вид с правого борта):
I – гондола УПВ «Руза-П» ГИБЛ ГАК «Скат-КС»; 2 – ПМУ «Анис»; 3- ПМУ АП радиопеленгатора «Завеса»; 4 – ПМУ АП РЛК «Каскад»; 5 – РКП; 6 – ПМУ «Кипарис»; 7 – ПМУ АП СОРС «Залив-П»; 8 – ПМУ «Синтез»; 9 – перископ ПЗНГ-10М

Đài chỉ huy 671RTM (nhìn từ mạn phải):

I- Vỏ hình giọt nước chứa anten cùng thiết bị "Ruza-P" thả và thu anten kéo mở linh hoạt thuộc tổ hợp thủy âm "Skat-KS"; 2- Thiết bị nâng hạ (kiểu cột buồm) anten "Anis" của tổ hợp phương tiện liên lạc vô tuyến (КСС – комплекс средств связи «Молния-Л»); 3- Thiết bị nâng hạ trạm anten của máy định hướng (tầm phương) vô tuyến "Zavesa"; 4- Thiết bị nâng hạ trạm anten tổ hợp định vị vô tuyến "Kaskad"; 5- Thiết bị thuộc hệ thống đảm bảo sự làm việc của máy nén dưới mặt nước; 6- Thiết bị nâng hạ anten "Kiparis" (КСС – комплекс средств связи «Молния»); 7- Thiết bị nâng hạ trạm anten hệ thống dò tìm tín hiệu định vị vô tuyến "Zaliv-P"; 8- Thiết bị nâng hạ anten "Sintez" (đạo hàng vũ trụ);9- Kính tiềm vọng PZNG-10M



ПЛА пр. 671PTM (вид с левого борта):
1 – гондола УПВ «Руза-П» ГПБА ГАК «Скат-КС»; 2 – ПМУ «Анис»; 3 – ПМУ АП радиопеленгатора «Завеса»; 4 – ПМУ АП РЛК «Каскад»; 5 – РКП; 6 – ПМУ «Кипарис»; 7 – ПМУ АП СОРС «Залив-П»; 8 – ПМУ «Синтез»; 9 – перископ ПЗНГ-10М

Đài chỉ huy 671RTM (nhìn từ mạn trái):

I- Vỏ hình giọt nước chứa anten cùng thiết bị "Ruza-P" thả và thu anten kéo mở linh hoạt thuộc tổ hợp thủy âm "Skat-KS"; 2- Thiết bị nâng hạ (kiểu cột buồm) anten "Anis" của tổ hợp phương tiện liên lạc vô tuyến (КСС – комплекс средств связи «Молния-Л»); 3- Thiết bị nâng hạ trạm anten của máy định hướng (tầm phương) vô tuyến "Zavesa"; 4- Thiết bị nâng hạ trạm anten tổ hợp định vị vô tuyến "Kaskad"; 5- Thiết bị thuộc hệ thống đảm bảo sự làm việc của máy nén dưới mặt nước; 6- Thiết bị nâng hạ anten "Kiparis" (КСС – комплекс средств связи «Молния»); 7- Thiết bị nâng hạ trạm anten hệ thống dò tìm tín hiệu định vị vô tuyến "Zaliv-P"; 8- Thiết bị nâng hạ anten "Sintez" (đạo hàng vũ trụ);9- Kính tiềm vọng PZNG-10M



ПЛА пр. 671РТМК (вид с правого борта):
1 – гондола УПВ «Руза-П» ГПК А ГАК «Скат-2М»; 2 – ПМУ «Кора»; 3 – ПМУ АП радиопеленгатора «Завеса»; 4 – ПМУ АП РЛК «Каскад»; 5 – РКП; 6 – ПМУ «Анис»; 7 – ПМУ АП СОРС «Залив-П»; 8 – ПМУ «Анис»; 9 – перископ ПЗНГ-10М; 10 – датчики СОКС

Đài chỉ huy 671RTMK (nhìn từ mạn phải):

I- Vỏ hình giọt nước chứa anten cùng thiết bị "Ruza-P" thả và thu anten kéo mở linh hoạt thuộc tổ hợp thủy âm "Skat-2M"; 2- Thiết bị nâng hạ (kiểu cột buồm) anten "Kora" của tổ hợp phương tiện liên lạc vô tuyến (КСС – комплекс средств связи " Молния "); 3- Thiết bị nâng hạ trạm anten của máy định hướng (tầm phương) vô tuyến "Zavesa"; 4- Thiết bị nâng hạ trạm anten tổ hợp định vị vô tuyến "Kaskad"; 5- Thiết bị thuộc hệ thống đảm bảo sự làm việc của máy nén dưới mặt nước; 6- Thiết bị nâng hạ anten "Anis" (КСС – комплекс средств связи «Молния-Л»); 7- Thiết bị nâng hạ trạm anten hệ thống dò tìm tín hiệu định vị vô tuyến "Zaliv-P"; 8- Thiết bị nâng hạ anten "Anis";9- Kính tiềm vọng PZNG-10M; 10- Bộ cảm biến thu của hệ thống phát hiện vệt rẽ nước (СОКС – система обнаружения кильватерного следа)



ПЛА пр. 67JPTMK (вид с левого борта):
1 – гондола УПВ «Руза-П» ГПБА ГАК «Скат-2М»›; 2 – ПМУ «Кора», 3 – ПМУ АП радиопеленгатора «Завеса»; 4 – ПМУ АП РЛК «Каскад»; 5 – РКП; 6 – ПМУ «Анис»; 7 – ПМУ АП СОРС «Залив-П»; 8 – ПМУ «Анис»; 9 – перископ ПЗНГ-10М; 10 – датчики СОКС

Đài chỉ huy 671RTMK (nhìn từ mạn trái):

I- Vỏ hình giọt nước chứa anten cùng thiết bị "Ruza-P" thả và thu anten kéo mở linh hoạt thuộc tổ hợp thủy âm "Skat-2M"; 2- Thiết bị nâng hạ (kiểu cột buồm) anten "Kora" của tổ hợp phương tiện liên lạc vô tuyến (КСС – комплекс средств связи " Молния "); 3- Thiết bị nâng hạ trạm anten của máy định hướng (tầm phương) vô tuyến "Zavesa"; 4- Thiết bị nâng hạ trạm anten tổ hợp định vị vô tuyến "Kaskad"; 5- Thiết bị thuộc hệ thống đảm bảo sự làm việc của máy nén dưới mặt nước; 6- Thiết bị nâng hạ anten "Anis" (КСС – комплекс средств связи «Молния-Л»); 7- Thiết bị nâng hạ trạm anten hệ thống dò tìm tín hiệu định vị vô tuyến "Zaliv-P"; 8- Thiết bị nâng hạ anten "Anis";9- Kính tiềm vọng PZNG-10M; 10- Bộ cảm biến thu của hệ thống phát hiện vệt rẽ nước (СОКС – система обнаружения кильватерного следа)  


.......
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Năm, 2011, 05:14:25 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #343 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2011, 05:12:32 pm »

(tiếp)

Các thông số kỹ-chiến thuật chủ yếu đề án 671RTM (K)

Lượng choán nước, tấn:
- Tư thế nổi: 4900
- Tư thế ngầm: 6280
Chiều dài lớn nhất, m: 106,1; 107,1
Chiều rộng thân lớn nhất, m: 10,6
Mớn nước trung bình, m: 7,5
Trên tàu ngầm lắp 2 chân vịt bước cố định (ВФШ – винт фиксированного шага), các chân vịt được lắp theo sơ đồ tiếp đôi («тандем»)
Kiểu kết cấu-kiến trúc: hai vỏ
Sức nổi dự trữ 28% (so với lượng choán nước tiêu chuẩn)
Chiều sâu lặn, m:
- Chiều sâu làm việc: 320
- Chiều sâu tới hạn: 400
Khả năng bơi đơn, ngày đêm: 80
Thủy thủ đoàn, người: 94, 96 (trên đề án 671RTMK)
Thiết bị năng lượng:
Các cơ cấu chủ yếu:
- kiểu: năng lượng nguyên tử
- Thiết bị sinh hơi:
- số lượng x kiểu lò phản ứng hạt nhân nguyên tử: 2 x VVR (lò nước-nước: ВВР водо-водяной реактор)
- nhãn hiệu lò phản ứng hạt nhân nguyên tử: V.M-4-A (В.М-4-A)
- tổng công suất nhiệt của lò phản ứng, MW: 144
- Thiết bị tuabin hơi:
- số lượng x công suất hệ thống tuabin khí, mã lực: 1 x 31 000
- số lượng x công suất máy phát điện tuabin tự động, kW: 1 x 2 000
- số lượng x kiểu dẫn động: 1 x trục vit bước cố định VFSh (ВФШ -винт фиксированного шага) hoặc 2 x trục vit bước cố định VFSh loại ít tiếng ồn, lắp đặt theo sơ đồ "tiếp đôi" («тандем») (lắp đặt khi đóng tàu trên các tàu К-138, К-292, К-388, K-414 и К-448)
Nguồn năng lượng dự trữ và phương tiện di chuyển:
- số lượng x công suất máy phát diezen, kW: 2 x 460
- thiết bị cụm ắc quy:
- kiểu ắc quy: axit-chì (426-11)
- số lượng cụm ắc quy x số yếu tố trong cụm: 2 x 112
- số lượng x công suất động cơ điện hỗ trợ (ЭД – электродвигатель), kW: 2 x 375
- số lượng x kiểu dẫn động hỗ trợ: 2 x chân vịt kiểu fluger (ВФТ )
Tốc độ toàn tải, dặm:
- lớn nhất trong tư thế nổi: 10 (một số tài liệu khác là 11,6)
- lớn nhất trong tư thế lặn: 30
Vũ khí:
Tên lửa:
- kiểu tổ hợp tên lửa: "Granat" (tính vào cơ số chiến đấu ngư lôi 533 mm)*
- kiểu tên lửa hành trình chiến lược: RK-55 (3M-10V2/ЗМ-10В2 - КРСН РК-55, Крылатая ракета стратегического назначения: РК-55 "ГРАНАТ", по классификации НАТО SS-N-21 Sampson )
- kiểu tên lửa phòng không di động: "Strela-3M"
- số lượng trong ống chứa bảo quản: 3 đạn /1 ống
- cơ số đạn TLPK: 3 đạn x 6
Ngư lôi:
- số lượng x kích cỡ thiết bị phóng ngư lôi, mm: 2 x 650
- cơ số dự trữ chiến đấu (kiểu) ngư lôi: 6 (65-73 và 65-76)
- số lượng x kích cỡ thiết bị phóng ngư lôi, mm: 4 x 533
- cơ số dự trữ chiến đấu (kiểu) ngư lôi và tên lửa chống ngầm có điều khiển (ПЛУР - Противолодочные управляемые ракеты):
18 (đạn ngư lôi 53-65К và SEТ-65 hoặc tên lửa chống ngầm có điều khiển 83R và 84R  "Vodopad" (ПАРК «Водопад»), hoặc M5 "Shkval" (М5 ПАРК «Шквал»)
- thiết bị điều khiển bắn ngư lôi và ngư lôi-tên lửa (ракетоторпед): "Ladoga 1V-671RT"
- hệ thống chuẩn bị (huấn luyện) ngư lôi: "Kalmar"
Vũ khí vô tuyến điện tử:
- hệ thống thông tin-chỉ huy (БИУС–боевая информационно-управляющая система): "Omnibus"
- hệ thống chỉ huy bắn trên hạm (КСУС – корабельная система управления стрельбой): "Akatsia"
- tổ hợp dẫn đường hàng hải (НК–навигационный комплекс): "Medveditsa"-RTM" («Медведица-РТМ»)
- tổ hợp phương tiện truyền tin (КСС – комплекс средств связи): "Molnya-L" («Молния-Л»)
- hệ thống phương tiện thông tin liên lạc: "Tsunami-BM" (система СС «Цунами-БМ»)
- tổ hợp thủy âm: "Skat-KS" (МГК-500) hoặc "Skat-2M" (МГК-500)**
- tổ hợp thiết bị định vị vô tuyến: "Kaskad" (МРК-50) với thiết bị phụ trợ "Korma" (МРК-57)
- hệ thống dò tìm tín hiệu định vị vô tuyến: "Zaliv-P" (МРП-21A)
- tổ hợp vô tuyến truyền hình: MT-70-10
- kính tiềm vọng: PZNG-10M



*Tổ hợp tên lửa hạm: tên lửa có cánh phóng từ tàu ngầm RK-55
Kiểu thiết bị phóng – Thiết bị phóng ngư lôi 533 mm
Vật mang – Tàu ngầm
Tầm xa – 3000 m
Tốc độ - 0,7 M
Kiểu đầu đạn – đầu đạn hạt nhân (БЧ - ядерная)
Chiều dài – 8,09 m
Đường kính – 0,51 m
Sải cánh – 3,3 m
Trọng lượng xuất phát – 1,7 tấn
Dẫn đường quán tính thụ động kết hợp chủ động có sửa theo bản đồ địa hình-địa vật
(ИНС+по рельефу местности: инерциальную систему наведения с коррекцией местоположения, основанной на принципе сравнения с картой местности, введенной в бортовую вычислительную машину перед пуском)

**Lúc đầu dự kiến trên tàu ngầm nguyên tử đề án 671RTM sẽ lắp tổ hợp thủy âm "Skat-M" (phiên bản nhỏ) hoặc "Skat-B" (phiên bản lớn). Sự khác nhau giữa các tổ hợp này là ở kích thước anten chủ, dẫn đến một số thay đổi về số lượng giá đỡ trong vỏ bền của tàu ngầm và sự khác nhau trong tải trọng trên tàu. Ở cả hai tổ hợp, anten chủ được lắp trong ống bao hình trụ, trong đó có các thiết bị xử lý sơ bộ thông tin. Cuối cùng người ta dừng lại với tổ hợp thuỷ âm “Skat-KS” (MGK-500), mà phần lớn các tàu ngầm nguyên tử đề án 671RTMK đã thay thế sang tổ hợp thuỷ âm “Skat-2M” (MGK-500). Việc bố trí thiết bị thu và thả anten kéo mở linh hoạt (УПВ ГПВА) trong bầu thuỷ khí động hình giọt nước phía trên cánh đuôi, được giải thích rằng tàu ngầm nguyên tử đề án 671RTM, tại đuôi tàu có một phần là kết cấu một vỏ, điều đó loại trừ việc lắp đặt thiết bị thả và thu anten (УПВ) trong vỏ bền hoặc tại cánh đuôi.

........
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Năm, 2011, 01:46:47 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #344 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 03:41:08 pm »

(tiếp)




Vị trí căn cứ chính sư đoàn 10 tại vịnh Krashennikov trên ảnh vệ tinh. Từ đây các tàu ngầm của sư đoàn vượt TBD tới căn cứ Cam Ranh, gia nhập đội hình sư đoàn 38 binh đoàn 17 phục vụ theo phương thức luân phiên. Trên hình có thể thấy rõ quần đảo Aleutska - Aleutian (vòng cung núi lửa Aleutian), trước đây thuộc nước Nga Sa hoàng (đã bán cho Mỹ cùng Alaska), mà các tàu ngầm hạm đội TBD phải vượt qua trong nhiệm vụ phát hiện hệ thống phòng thủ chống tàu ngầm xô viết của người Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh.


Quần đảo Aleutian nhìn từ vũ trụ, các đảo Atka, Amlia và một phần quần đảo. Ảnh chụp tháng 4 năm 1993 bởi phi hành đoàn STS-56 trên tàu con thoi Discovery (http://eol.jsc.nasa.gov/sseop/EFS/lores.pl?PHOTO=STS056-71-31).

Các tàu ngầm được tổ chức thành các nhóm đột kích (ударные группы - УГ), gồm một tàu ngầm nguyên tử đề án 671RTM và 2 tàu ngầm nguyên tử đề án 670. Chỉ huy nhóm đột kích có vị trí trên tàu ngầm nguyên tử đề án 671RTM, anh ta sẽ nhận lệnh từ Sở chỉ huy trên bờ (БКП - берегового командного пункта) mà chỉ huy nhóm đột kích. Tất cả các nhóm đột kích lần lượt trực ban chiến đấu trong 4 tiếng liên tục sẵn sàng rời cầu tàu ra khơi. Các nhóm đột kích có nhiệm vụ chiến đấu với các nhóm tàu chiến của đối phương và, trước hết là chống lại các cụm tàu sân bay.


Đội hình chiến đấu của nhóm đột kích là độc nhất vô nhị, có tính chất thử nghiệm và duy nhất trong Hạm đội Hải quân Liên Xô, hoặc là (nói cách khác) toàn bộ sư đoàn 10 ra khơi khi hoạt động chống lại các đơn vị tàu chiến đối phương. Đội hình đó gọi là đội hình "vòng đệm" («шайбой»). Các tàu ngầm bố trí thành hình vòng tròn trong các khu vực trách nhiệm của mình so với trung tâm đội hình chiến đấu, đội hình này được vận động theo các hướng phụ trách và dùng tốc độ tiến về hướng trung tâm đội hình chiến đấu của đơn vị tàu chiến của đối phương, chồng lên đội hình đối phương, và các tàu ngầm của nhóm đột kích sử dụng vũ khí của mình phải công kích tiêu diệt đối phương. Theo điều lệnh, các tàu ngầm đề án 671RTM hoạt động trong các cung mũi (các khu vực phía trước) của đội hình chiến đấu, làm nhiệm vụ trinh sát cho nhóm đột kích trong đội hình chiến đấu của chúng tôi. Chúng có tốc độ khá, có vũ khí trinh sát vô tuyến điện tử (vũ khí radar) có tính năng hoàn thiện hơn. Trong đội hình này của các tàu ngầm, tất cả các biện pháp an toàn đều phải được tuân thủ theo đúng các tài liệu quy định. Tất nhiên, một đội hình chiến đấu như thế của các tàu ngầm có thể chỉ có ở Không gian Chiến trường trên biển Thái Bình Dương, nơi có được một khoảng không gian mặt nước rộng lớn cùng với độ sâu lớn của đại dương (Тихоокеанский ТВД - Тихоокеанский театр военных действий). Tất cả các cuộc tập trận diễn ra để hoàn thiện sự hợp đồng giữa các tàu ngầm trong nhóm đột kích, vừa bao gồm lại vừa phối hợp cùng các lực lượng binh chủng khác nhau của Hạm đội Thái Bình Dương, các máy bay mang tên lửa (chống hạm) và các máy bay tiêm kích cũng như các tàu chiến mặt nước, những vấn đề đó đòi hỏi sự nỗ lực rất to lớn của mọi phòng ban trong cơ quan tham mưu sư đoàn. Nhưng tất cả đã diễn ra thành công và khẳng định khả năng sống động của các chiến thuật hoạt động của tàu ngầm nguyên tử trong nhóm đột kích khi áp dụng bất cứ đội hình chiến đấu nào. Điều khiển các tàu ngầm trong nhóm đột kích cần thuận tiện và nhanh chóng, để làm được điều này tại sư đoàn đã soạn thảo phương pháp truyền tin đặc biệt. Khi thi đua tranh giải của Tổng tư lệnh Hải quân, các tàu ngầm nguyên tử trong nhóm đột kích thuộc sư đoàn 10 thường xuyên giành thắng lợi trước nhóm đột kích tàu ngầm nguyên tử của Hạm đội Biển Bắc trong những năm 1988, 1989 và 1990.

Theo các tài liệu hướng dẫn chỉ huy tàu chiến của sư đoàn 10, tại sư đoàn đã phân ra 3 nhóm tàu ngầm đột kích (УГПЛ) như sau:
- Nhóm № 1 (К-360 đề án671РТМ, К-25 đề án 670, К-212 đề án 670);
- Nhóm № 2 (К-412 đề án 671РТМ, К-320 đề án 670, К-121 đề án 670);
- Nhóm №3 (К-507 đề án 671РТМ, К-325 đề án 670, К-308 đề án 670).
Tham mưu trưởng sư đoàn, hai sư đoàn phó sư đoàn tàu ngầm lãnh trách nhiệm chỉ huy trưởng các nhóm tàu ngầm đột kích. Tàu chỉ huy được ấn định là K-355 đề án 671RTM, trên đó, trong thời gian tác chiến sẽ đặt bộ tham mưu hành quân do tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 10 lãnh đạo. Các thủy thủ đoàn tàu ngầm số 228, 305, 506, 581 làm dự bị trong thời gian chiến sự và đảm bảo duy trì cấp sẵn sàng chiến đấu đã quy định trong thời bình. Phụ thuộc vào sự sẵn sàng về kỹ thuật, tàu ngầm đề án 670 trong thành phần nhóm đột kích sẽ được thay thế, thỉnh thoảng trong đội hình của nhóm có các tàu ngầm nguyên tử của sư đoàn tàu ngầm số 42 gia nhập.


Chuẩn bị hành quân. Lắp đạn tên lửa lên tàu ngầm K-25 thuộc nhóm đột kích số 1, năm 1987. Ảnh của đại tá hải quân Plishkin A.F.


Nhóm tàu ngầm đột kích số 1: K-325 (hoặc K-212), K-25, cả hai thuộc đề án 670, và K-360 đề án 671RTM tại vịnh Krashennikov những năm 198x.
....
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Năm, 2011, 07:02:53 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #345 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 08:40:58 pm »

(tiếp)

Những người khai sinh ra chiến thuật hoạt động như thế của tàu ngầm nguyên tử là: tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 2, chuẩn đô đốc Baltin E.D., tư lệnh sư đoàn 10 đại tá hải quân Alkaev N.N., Tham mưu trưởng sư đoàn 10 đại tá hải quân Valuev V.P. và đại tá hải quân Komaritsyn A.A. sau khi đến thay thế đại tá hải quân Alkaev làm tư lệnh sư đoàn. Đóng góp lớn cho việc hoàn thiện sơ đồ chiến thuật "vòng đệm" và chiến thuật áp dụng nó vào thực tế chiến đấu là các sỹ quan bộ tham mưu và các thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử của sư đoàn.
Để các thuyền trưởng tàu ngầm trong nhóm đột kích hiểu nhau trên biển ngay khi mới nói nửa lời, tư lệnh sư đoàn đại tá hải quân Alkaev N.N. đã khuyên họ trên bờ phải luôn gắn bó cùng nhau: ăn cùng một bàn tại nhà ăn, đi công tác cùng nhau rồi cùng nhau về nhà khi xong công việc, các gia đình giao lưu cùng nhau trong những dịp lễ hội và tiến hành thao luyện tất cả các bài tập cùng nhau.
Sự công nhận cao nhất tính xác đáng của việc áp dụng chiến thuật mới đã hoàn thiện chính là việc đoạt giải của Tổng tư lệnh Hải quân trong năm 1988 của nhóm đột kích (đại tá hải quân V.P.Valuev) trong đội hình có K-360 (đại tá hải quân V.P.Kulish), K-308 (trung tá hải quân A.P.Nestrughin) và một tàu ngầm nguyên tử (con tàu do thủy thủ đoàn số 335 "giữ" dưới sự chỉ huy của đại tá hải quân I.A.Fomin).
Năm 1989, chiếm giải của Tổng tư lệnh Hải quân là nhóm tàu ngầm đột kích (đại tá hải quân B.G.Blednov) trong đội hình có K-360 (trung tá hải quân A.M.Tomilov), K-201 (trung tá hải quân A.V.Saltykov), K-302 (đại tá hải quân M.A.Mazugo).
Năm 1988 đã thành lập sư đoàn tàu ngầm chống đoàn tàu có hộ tống số 42 (42-я противоконвойная дивизия), trong thành phần của nó có các tàu ngầm nguyên tử thế hệ 1 đề án 675MK và một phần các tàu ngầm nguyên tử đề án 670 chuyển từ sư đoàn 10 sang.
Được trao trách nhiệm chỉ huy đơn vị này là đại tá hải quân Valuev Vladimir Prokopievitch, Tham mưu trưởng - đại tá hải quân Mirgazov Dmitrii, Phó sư đoàn trưởng - đại tá hải quân Zykov Anatolii Viktorovitch và tôi, đại tá hải quân Temnov V.P. Chúng tôi là những người kế thừa sư đoàn 10 và tiếp tục hoàn thiện chiến thuật hoạt động của tàu ngầm nguyên tử trong thành phần nhóm đột kích, nhưng đã phát triển trong một thành phần khác về chất và chống lại đoàn tàu có hộ tống của đối phương. Tại sư đoàn 42 đã soạn ra các đội hình chiến đấu mới của tàu ngầm nguyên tử trong nhóm đột kích bằng cách phát triển tiếp đội hình trước đây. Một trong số đội hình đó được gọi là "búa khoan đá" («кувалдой»), và nó đã được đưa vào trong tài liệu TRPL-90 (ТРПЛ-90, tức "Huấn luyện tàu ngầm - 90"). Nhưng đó là việc về sau.


Thuỷ thủ đoàn 379 dưới sự chỉ huy của trung tá hải quân Temnov V.P. trong Ngày Hải quân. Tháng 7 năm 1985.
Ảnh của đại tá hải quân hồi hưu Temnov V.P.


   
Năm 1985, 4 tàu ngầm nguyên tử đề án 671RTM (K-355, K-360, K-412, K-507) và 2 thủy thủ đoàn dự bị (506 và 581) đến gia nhập quân số sư đoàn 10. Biên chế tổ chức thay đổi để mang lại cho sư đoàn một hình thái hoạt động mới, một tên gọi mới: từ tháng 3 năm 1985, sư đoàn được gọi là sư đoàn tàu ngầm chống tàu sân bay số 10 của Hạm đội Thái Bình Dương.

Năm 1986 có hai chuyện vui đến với tôi.
1- Ngày 27 tháng 3 năm 1986, tôi có đứa con trai thứ hai , Aleksandr.
2- Năm 1986 tôi vào học tại Học viện Hải quân mang tên Đô đốc Kuznetsov tại khoa hàm thụ.
Do sự căng thẳng trong công tác thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của các tàu ngầm tại sư đoàn, không thể có đủ thời gian để lấy giấy phép điều khiển độc lập tàu ngầm và giấy phép sử dụng vũ khí của thuyền trưởng tàu ngầm, vì thế tư lệnh sư đoàn chuẩn đô đốc Komaritsyn A.A. khăng khăng "khuyên bảo" tôi và một thuyền trưởng khác trong sư đoàn là đại tá hải quân Kulish V.P. đi học hàm thụ. Chúng tôi đã sát hạch thành công tại Trường Cao đẳng Hải quân mang tên Đô đốc S.O.Makarov của Hạm đội Thái Bình Dương và được nhập học khoa hàm thụ. Cùng với thuyền trưởng "K-360" đại tá hải quân Kulish V.P. chúng tôi đã học tập trong 4 năm trời, hằng năm đáp tàu xe đi đến phiên học vào thời gian mùa thu. Việc học hàm thụ thậm chí tỏ ra là phương án tốt hơn cả. Chúng tôi không mất khoản phụ cấp Kamchatka khi lĩnh lương, mà còn thực hiện được nhiệm vụ trực chiến trong khoảng giữa các kỳ học tập trung. Năm 1987 tôi còn kịp đi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu 4 tháng, lần này lại ở biển "Nam Trung Hoa", và lại ghé vào cảng Cam Ranh của Việt Nam.

Nhiệm vụ chiến đấu năm 1987 đối với thủy thủ đoàn số 379 chúng tôi không được đưa vào kế hoạch trước, chúng tôi vẫn trực chiến, nhưng do sự không sẵn sàng vì những nguyên nhân kỹ thuật của một trong những con tàu tại sư đoàn tàu ngầm số 10, mà vinh dự ấy lại rơi vào chúng tôi. Chúng tôi đã chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu vô cùng hào hứng và rất kỹ càng, tính đến kinh nghiệm bơi của năm 1980, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng trang phục quần áo cho vùng nhiệt đới. Việc sửa chữa trên dok và trung tu giữa hành trình đã xong, chúng tôi hoàn thành các bài tập chiến đấu với kết quả tích cực và cũng như năm 1980, mùa đông năm 1987, chúng tôi ra khơi bắt đầu vào chuyến bơi dài.
Chỉ huy trên tàu là Phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 10, đại tá hải quân Blednov Boris Gavrilovitch. Bơi cùng anh rất dễ chịu, anh ấy không bao giờ quấy rầy công việc của tôi, và chuyến "độc hành" («автономка») diễn ra êm ả.
......
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Năm, 2011, 05:44:53 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #346 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 04:01:08 pm »

(tiếp)


Người chủ ngôi nhà một tầng lầu hiếu khách, tư lệnh sư đoàn 38 Yu.F.Spirin.


Và người tham mưu trưởng nghiêm khắc của sư đoàn 38, đại tá hải quân Sorokin G.A.

Tại cảng Cam Ranh ở Việt Nam, người ta nồng nhiệt tiếp nhận chúng tôi vào đội hình sư đoàn tàu ngầm số 38 thuộc binh đoàn 17 hạm đội Thái Bình Dương. Thời gian này, chỉ huy sư đoàn 38 là chuẩn đô đốc Spirin Yuri Fedorovitch, còn tham mưu trưởng vừa tốt nghiệp học viện là đại tá hải quân Sorokin Gennadi Aleksandrovitch, người đã cùng tôi đi trên tàu "K-452" trong chuyến bơi đơn đầu tiên của tôi ở Biển Bắc. Thế giới quả là chật hẹp, chúng tôi lại làm việc cùng nhau. Thủy thủ đoàn đã thể hiện mình trên bình diện tốt đẹp nhất. Tại Cam Ranh chúng tôi không chỉ nghỉ ngơi mà còn đóng góp vào việc hoàn thành kế hoạch huấn luyện chiến đấu của binh đoàn 17. Trong thành phần binh đoàn 17, chúng tôi đã thực hiện các hoạt động cùng các tàu mặt nước, các tàu ngầm diezen và máy bay chống ngầm.
Sau 4 tháng, mùa xuân năm 1987 (1988?) chúng tôi lại trở về nhà ở Kamchatka. Trên đường về nhà, dưới độ sâu 100 m nước giữa đại dương, bác sỹ của chúng tôi, thượng úy quân y Krylov Volodia đã kịp hoàn thành ca mổ cắt ruột thừa cho chỉ huy tiểu đoàn 2, đại úy hải quân Lobanov Pavel, và 3 ngày sau anh ta đã có thể trực ban hành quân được rồi.

Tàu ngầm của chúng tôi đã đi mà không để phát hiện bởi lực lượng săn ngầm của đối phương cả trong khu vực thi hành nhiệm vụ chiến đấu, và cả trên đường về. Trong bối cảnh này, tôi muốn nhắc đến ở đây một tàu ngầm nguyên tử của sư đoàn chúng tôi và người thuyền trưởng của nó.
Khi chúng tôi ra khơi đi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu từ Kamchatka, tại khu vực biển Nhật Bản, lực lượng chống ngầm của hải quân Nhật và Mỹ đã phát hiện ra tàu ngầm nguyên tử đề án 675MK "K-144" thuộc thế hệ tàu ngầm nguyên tử thứ nhất, dưới sự chỉ huy của trung tá hải quân Andrei Andreevitch Ysai, đang trên đường trở về Kamchatka sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu. Vậy là với chúng tôi, thật vô tình mà con tàu đó đã lôi kéo về nó sự chú ý của các lực lượng săn ngầm hải quân Nhật và Mỹ, kẻ thù tiềm tàng của chúng tôi. Chúng tôi đi thay phiên thực hiện nhiệm vụ chiến đấu cho "K-144" và nhờ con tàu trên, chúng tôi đã vượt qua một cách bí mật khu vực nguy hiểm này. Người ta kể rằng, để chống lại tàu ngầm nguyên tử "K-144", các lực lượng săn ngầm của đối phương thậm chí đã phóng cả bom chìm huấn luyện, nhưng Andrei Andreevitch chẳng chút mất tự chủ, anh vẫn bền bỉ và ngoan cường giữ vững hướng đi về căn cứ và cuối cùng đã hoàn thành thắng lợi chuyến hành quân chiến đấu thực sự và không hề dễ dàng gì này.
Trước chuyến đi, với sự cố gắng lớn lao và "bằng cả máu", sau khi kết thúc quá trình sửa chữa, tàu ngầm đã làm công tác chuẩn bị trong một thời hạn rất ngắn để có thể đi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Tư lệnh sư đoàn, đại tá hải quân Alkaev N.N., trong tình huống bất đắc dĩ đã phải tổ chức công tác chuẩn bị trọn một ngày đêm khi mà ông lôi cuốn thành viên toàn sư đoàn vào công việc, còn chúng tôi, các chỉ huy tàu ngầm, được ông giao trách nhiệm tạm thời làm chỉ huy các khoang tàu trên tàu ngầm nguyên tử này nhằm đẩy nhanh quá trình làm sạch và lập lại trật tự trong các khoang. Tôi được giao trưởng khoang số 4, khoang máy diezen. Sự nỗ lực của các thành viên toàn sư đoàn đã giúp tàu ngầm nguyên tử "K-144" kịp thời chuẩn bị xong cho chuyến đi chiến đấu.



Ảnh: Tàu ngầm K-7 đề án 675 trên đường trở về căn cứ từ Biển Đỏ, đang trong tư thế nối tại eo Malakka, trong thời gian bay thử của máy bay tuần biển và chống ngầm hải quân Anh Avro Shackleton MR.3, năm 1970. Năm 1972, cùng với các tàu ngầm nguyên tử đề án 675 thuộc sư đoàn tàu ngầm 26 hạm đội TBD là K-144 (lúc đó mang số chiến thuật K-189), K-184, K-57 tham gia vào một chiến dịch tại Biển Đông trong thời kỳ cao điểm cuối cùng của chiến tranh Việt Nam. Việc trở về trong tư thế nổi của K-7 có lý do riêng. Tháng 4-5 năm 1970, trong khung chương trình cuộc tập trận "Đại dương", K-7 (chỉ huy trưởng chuyến đi trên tàu - sư đoàn phó sư đoàn tàu ngầm 26, đại tá hải quân Dzanelidze Yu.) là tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình đầu tiên trong số các tàu ngầm nguyên tử xô viết thực hiện chuyến hành quân chiến đấu độc lập trong Ấn Độ Dương và có nhiệm vụ kiểm tra sự sẵn sàng chiến đấu của tên lửa hành trình sau một chuyến bơi dài ngày trong những điều kiện khí hậu ở vùng nhiệt đới. Chuyến di chuyển vào khu vực tập bắn lần đầu tiên được thực hiện cùng một tàu mặt nước BPK "Odarennyi". Tàu ngầm đã thực hiện phóng đạn tên lửa theo góc kính phản xạ nhận chỉ thị mục tiêu từ máy bay Tu-95RtS. Hai tên lửa đã rơi chính xác vào bia mục tiêu ở cách xa 100 km. Trong hành trình thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, tàu ngầm đã gặp phải hư hỏng về độ kín ở khoang số 9, vì vậy từ Biển Đỏ (Hồng Hải) nó phải trở về căn cứ trong tư thế nổi.

Việc hạm đội của đối thủ tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ chiến tranh lạnh những năm 196x đã khiến các tổ hợp vũ khí tên lửa trên hạm của hải quân Liên Xô cũng phải có bước phát triển mới. Trong thành phần các tàu ngầm phục vụ tại sư đoàn 38, đến từ các sư đoàn 10, 26, 45 của hạm đội Thái Bình Dương, có khá nhiều tàu ngầm nguyên tử đề án 675MK, được hiện đại hóa từ thiết kế cơ sở đề án 675. Đề án 675 đã trở thành một trong những đề án được cải tiến nhiều nhất trong số các đề án tàu ngầm nguyên tử của hải quân Xô Viết.

Từ giữa những năm 60 của thế kỷ 20, đã bắt đầu công việc chế tạo tổ hợp tên lửa phổ dụng mới P-500 "Bazalt" (ý đồ thiết kế là bố trí trên cả tàu ngầm và tàu mặt nước). Cơ sở nền tảng mới và máy tính số đã cho phép (lần đầu tiên trên thế giới) xây dựng hệ thống phân định các mục tiêu giữa các tên lửa trong loạt bắn, cũng như tối ưu hóa thuật toán lựa chọn mục tiêu chính trong lệnh. Trên tên lửa (cũng là lần đầu tiên) đã giải quyết được vấn đề lắp đặt hệ thống bảo vệ bằng kỹ thuật vô tuyến (RTZ-Radiotekhnitcheskaia zashita), do Liên hiệp xí nghiệp chế tạo máy thông tin liên lạc NII Taganrok chế tạo và đảm bảo cho tên lửa hành trình tránh được tên lửa phòng không và các loại tên lửa không đối không (của đối phương). Tên lửa P-500 được trang bị động cơ hành trình kiểu turbo phản lực và bộ khởi động tăng tốc, trọng lượng xuất phát 4800 kg, dài 11,7 m, đường kính thân 0,88 m. Nó mang theo đầu đạn thông thường 500 (1000) kg hoặc đầu đạn hạt nhân 350 kT, tốc độ tương đương Mach 2 (quỹ đạo thấp) có khả năng tăng tốc độ đến Mach 2,5 (quỹ đạo cao), đạt tầm bắn xa nhất 500-550 km, độ cao hành trình 50 m - 5000 m, phóng từ tàu ngầm trong tư thế nổi. Để giảm nhẹ việc khắc phục tuyến cận tàu của hệ thống phòng thủ chống tên lửa của các tàu mặt nước, tên lửa được bọc thép một phần.

Năm 1975 tên lửa được đưa vào biên chế vũ khí hải quân Liên Xô. Một phần tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình đề án 675 sản xuất trong những năm 196x-197x được hiện đại hóa sang đề án 675MK để mang tên lửa P-500 thay cho P-6. Ngoài tên lửa chống hạm mới (chứa trong các thùng chứa có chiều dài tăng thêm), trên thân đạn còn bố trí thiết bị thuộc hệ thống tiếp nhận chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh "Kasatka-B" ("Chim én"). Hệ thống điều khiển tên lửa được thay thế sang hệ thống "Argon-K". Đã xuất hiện khả năng bắn tên lửa theo loạt 8 đạn với trình tự 4-7-3-8-1-6-2-5. Với mục đích hoàn thiện hệ thống phát hiện và định hướng theo bức xạ của các phương tiện định vị vô tuyến, tăng cường khả năng chỉ thị mục tiêu cho các tên lửa hành trình, người ta đã thực hiện đề án 675MU. Tại đề án này, tàu ngầm thuộc đề án 675 được lắp đặt hệ thống chỉ thị mục tiêu "Uspekh" ("Thành công"), và việc hiện đại hóa mới chỉ đạt được trên một tàu là K-428 thuộc hạm đội Biển Bắc.

Việc phát hiện mục tiêu và dẫn đường cho tổ hợp tên lửa "Bazalt", cũng như các tổ hợp "Vulkan" và "Granit" sau này, được thực hiện với sự trợ giúp của hệ thống trinh sát và chỉ thị mục tiêu trên biển từ vũ trụ (системы Морской Космической Разведки и Целеуказания - МКРЦ - MKRtS). Việc phát triển toàn diện hệ thống MKRtS đã được bắt đầu từ năm 1962. Trong thành phần của nó có: tổ hợp trinh sát bằng định vị vô tuyến để phát hiện từ vũ trụ sự bức xạ của các thiết bị vô tuyến điện tử trên hạm, và thiết bị năng lượng hạt nhân, đảm bảo nguồn điện nuôi cho các thiết bị vũ trụ. Công việc xây dựng hệ thống MKRtS "Legenda" và chuyển giao nó vào thành phần vũ khí của Bộ Quốc phòng Liên Xô các thiết bị trinh sát vô tuyến định vị đã hoàn thành năm 1975, còn việc chuyển giao các thiết bị trinh sát vô tuyến điện tử - năm 1978 (УС–П, УС-А). Cũng trong năm 1978 các thiết bị trên đã được tiếp nhận vào thành phần vũ khí của Hải quân Liên Xô.
........
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Năm, 2011, 01:58:17 am gửi bởi qtdc » Logged
meo-u
Thành viên
*
Bài viết: 89


« Trả lời #347 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 09:09:29 pm »

Chào bác qtdc. Bác có thể giới thiệu cho em biết các thông số kỹ thuật của 2 lớp tầu ngầm 641 và 651 được không. Em đang quan tâm đến vấn đề Nga để lại cho mình tầu ngầm Diezen-điện ở Cam Ranh. Ngày trước có một bác đã khẳng định Nga cho mình 2 tầu 641 và nhà mình đã bắn ngư lôi thử khoảng năm 1987. Nhưng sau đó do kinh tế khó khăn nên nhà mình giải tán đơn vị này. Sau đó lại thành lập đoàn M96. Không biết là 2 con đó mình có trả cho LX hay không. Có thông tin cho rằng Nga để lại 2 tầu ngầm. Em thấy 2 lớp tầu này đều có 6 ống phóng lôi (4 trước, 2 sau) nhưng không biết cụ thể thế nào.
Bác bớt chút thời gian đưa lên cho anh em xem với nhé.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #348 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 11:30:58 pm »

Chào bác qtdc. Bác có thể giới thiệu cho em biết các thông số kỹ thuật của 2 lớp tầu ngầm 641 và 651 được không. Em đang quan tâm đến vấn đề Nga để lại cho mình tầu ngầm Diezen-điện ở Cam Ranh. Ngày trước có một bác đã khẳng định Nga cho mình 2 tầu 641 và nhà mình đã bắn ngư lôi thử khoảng năm 1987. Nhưng sau đó do kinh tế khó khăn nên nhà mình giải tán đơn vị này. Sau đó lại thành lập đoàn M96. Không biết là 2 con đó mình có trả cho LX hay không. Có thông tin cho rằng Nga để lại 2 tầu ngầm. Em thấy 2 lớp tầu này đều có 6 ống phóng lôi (4 trước, 2 sau) nhưng không biết cụ thể thế nào.
Bác bớt chút thời gian đưa lên cho anh em xem với nhé.
Đây bạn meo-u:
Hình sơ đồ 651 có ở đây, tại trang 28:
http://www.quansuvn.net/index.php/topic,19157.270.html
Nếu cần sơ đồ khác sẽ tìm đưa lên sau.
Thông tin dưới đây lấy từ trang deepstorm.ru

Thông số kỹ-chiến thuật đề án 651:
Lượng choán nước, tấn:
- Tiêu chuẩn, trong tư thế nổi: 3174  
- Tư thế ngầm: 3750
Tốc độ hành trình, hải lý:
- Toàn tải, tư thế nổi: 16
- Toàn tải, tư thế ngầm và sử dụng ắc quy bạc - kẽm: 18,1
- Toàn tải tư thế ngầm và sử dụng ắc quy axit - chì: 14,5
Tốc độ bơi ngầm ở chế độ tiết kiệm của động cơ: 2,8
Tầm bơi xa (ứng với tốc độ hành trình, hải lý), dặm        
Trong tư thế nổi: 30.000 (8,0)
Trong chế độ RDP: 18.000 (7,0)
Trong tư thế ngầm và sử dụng ắc quy bạc - kẽm: 810 (2,8)   27,8 (18,1)
Trong tư thế ngầm và sử dụng ắc quy axit - chì: 350 (2,8)   14,5 (14,5)
Chiều sâu lặn, m:
- Chiều sâu làm việc: 240
- Chiều sâu giới hạn: 300
Các yếu tố kết cấu chế tạo của tàu:
- Chiều dài: 85,9 m
- Chiều rộng: 9,7 m
- Mớn nước trung bình: 6,9 m
- Kiểu kết cấu vỏ: kết cấu hai vỏ
Vũ khí:
- Thiết bị phóng ngư lôi đuôi tàu, 400 mm: 4
- Thiết bị phóng ngư lôi mũi tàu, 533 mm: 6
- Cơ số đạn ngư lôi: 12 x 400 mm, 6 x 533 mm
- Đạn tên lửa của tổ hợp P5 hoặc P6: 4
Thiết bị năng lượng:
- Kiểu: diezen - điện
- Số lượng x công suất động cơ diezen, mã lực: 2 x 4000 (kiểu 1D43)
- Số lượng x công suất máy phát diezen (DG), mã lực: 1 x 1000 (máy diezen kiểu 1DL42)
- Số lượng x công suất động cơ điện quay chân vịt GED, mã lực: 2 x 6000 (kiểu PG141)
- Số lượng x công suất động cơ điện (ED) ở chế độ hành trình tiết kiệm (EKh), mã lực: 2 x 200 (kiểu PG140)
- Số lượng trục (truyền): 2
- Kiểu ắc quy, số cụm ắc quy x số yếu tố: ắc quy bạc - kẽm loại AB 30/3, 4 x 152 hoặc ắc quy axit - chì loại AB 60SM-P, 4 x 112
Các yếu tố ở và sinh tồn:
- Bơi độc lập : 90 ngày đêm
- Thủy thủ đoàn: 78 người
Bạn có thể tìm hiểu thêm ở các tài liệu tiếng Anh cũng có đấy, trang vũ khí Nga cũng có phần dịch sang tiếng Anh để người không biết tiếng Nga xem được, các trang của Nga đăng bằng tiếng Anh cũng có, bạn ráng xem thêm, cái món tàu ngầm này khó gặm lắm, vì nó là cả một sự tổng hợp, một nhà máy di động ngầm dưới nước, đủ các ngành nghề khoa học kỹ thuật trong đó. 641 tớ sẽ đưa lên sau.

PS: Gõ nhầm tốc độ hành trình trong mục tầm hoạt động (tầm bơi xa), đã sửa lại, xin lỗi các bạn nhé.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Năm, 2011, 05:16:04 pm gửi bởi qtdc » Logged
meo-u
Thành viên
*
Bài viết: 89


« Trả lời #349 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 08:24:28 am »

Cám ơn bác qtdc. Tiếng Nga hay tiếng Anh kỹ thuật thì em chịu. Ngày trước em có phải dịch tiếng Nga để làm đồ án mà không dịch nổi vì từ kỹ thuật nó khác hoàn toàn từ thông dụng.Chỉ đoán lờ mờ thôi.
Hoan nghênh bác làm loạt bài về Cam Ranh để anh em biết về lịch sử có mặt của quân đội LX ở nước ta. Hết loạt này mong bác giới thiệu tiếp các hoạt động khác như bên tên lửa phòng không hay không quân chẳng hạn.
Chúc bác mạnh khỏe.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM