qtdc
Thượng tá

Bài viết: 3299
|
 |
« Trả lời #530 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2011, 11:30:46 pm » |
|
(tiếp) Các hydrofon của hệ thống dò tìm thủy âm từ xa và phương tiện trinh sát từ vũ trụ không ngừng làm việc. Nhưng nhiều ngày đêm trôi đi, ngày một rồi ngày hai, mà các dấu vết của cả một sư đoàn tàu ngầm hạt nhân vừa biến mất không phát hiện ra ở bất cứ nơi nào. Thực sự - sư đoàn đó đã biến mất trong làn nước đại dương. ...một sư đoàn tàu ngầm lặng lẽ tiến vào khu vực biển Sargasso, tới gần Bermuda, cách bờ biển nước Mỹ không còn bao xa, nếu đó là những tàu ngầm tuần dương chiến lược mang vũ khí tên lửa đạn đạo thì các cơ sở công nghiệp và quân sự của "đối thủ tiềm năng" đã ở trong tầm bắn quá gần....Trong suốt tám ngày, lực lượng chống ngầm của Mỹ không biết các con tàu của chúng tôi ở nơi nào. Trong khi đó, những tàu ngầm đó đã đi vào vùng biển Sargasso, trong Tam giác Bermuda nổi tiếng, nơi mà một năm trước đây chiếc tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo hạt nhân K-219 (đề án 667 A “Navaga”) bị đắm, và, chỉ còn cách một vài chục dặm nữa là đến căn cứ hải quân Hamilton của Anh (từ năm 1940 các tàu chiến hải quân và máy bay không quân Mỹ đóng tại căn cứ này), một lần nữa, chúng đột ngột đổi hướng.   Căn cứ Hamilton 1941-1950 Tổng thống Mỹ Eisenhower tại Bermuda năm 1945.Ngay sau đó chủ nhiệm trinh sát Hải quân Xô Viết báo cáo tôi rằng để tìm kiếm biên đội tàu ngầm Shevchenko, sáu chiếc tàu ngầm hạt nhân đã ra khỏi căn cứ Norfolk. Đó là chưa kể những tàu chiến vẫn đang tuần tra chiến đấu bình thường ở Đại Tây Dương. Để tìm kiếm tàu ngầm hạt nhân của chúng tôi, họ đã gửi thêm ba phi đội máy bay chống ngầm, ba nhóm KPUG (một trong số đó là nhóm của người Anh, dẫn đầu là tàu sân bay «Invincible»), ba tàu trinh sát thủy âm tầm xa loại «Stalwart».  Căn cứ hải quân Mỹ Norfolk, Vifginia.Người Mỹ không hoàn toàn phân loại đúng các tàu ngầm của chúng ta, họ xác định chúng hoàn toàn gồm các tàu tên lửa. Đó chính là những gì đã được báo cáo lên Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan: tàu ngầm tên lửa của Nga đang ở trong khu vực cận duyên rất nguy hiểm bên bờ biển nước Mỹ. Đó là lý do tại sao chống lại chúng tôi ho đã phái đến cả một lực lượng săn tìm - tấn công lớn. Họ đeo đuổi biên đội của đại tá hải quân A. Shevchenko gần như suốt đường về. ...nhưng thê đội tàu ngầm của sư đoàn này lại đột ngột đổi hướng.... A.Shevchenko trên đài chỉ huy tàu ngầm tại biển Bắc.Trong chiến dịch "Atrina", A.I.Shevchenko chỉ huy chung từ trong khoang tàu ngầm K-524.Để thoát khỏi hạm đội này, tránh sự phát hiện của các phương tiện tìm kiếm chủ động của nó, tôi cho phép các thuyền trưởng sử dụng công cụ chế áp thủy âm nằm trong trang bị của tàu ngầm. Chúng phóng ra những tiếng ồn giả dạng giống như của tàu ngầm hạt nhân, đưa sự đeo bám của kẻ thù ra xa hướng thật. Sử dụng cả LDTS (ЛДЦ - ложно-дезинформационные цели) – các mục tiêu giải thông tin - giả , ngụy trang hoạt động cơ động của tàu ngầm. Áp dụng cả những khả năng và phương tiện khác nữa để đưa kẻ thù đến nhầm lẫn. K-244. Phút căng thẳng trong buồng trung tâm. Một trang báo của Hạm đội Biển Bắc trong dịp này.Tôi thừa nhận, tôi đã quan sát tất cả những sự kiện này không chỉ trên cương vị Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô, mà còn với một số sự quan tâm cá nhân, nếu có thể nói như vậy. Thực tế là sỹ quan trọ lý chính cho thuyền trưởng K-524 là chồng của con gái tôi, đại úy hải quân Sergei Kurov ( sau này là chuẩn đô đốc Sergei Ghermanovitch Kurov, người có mặt trong đoạn video về chiến dịch "Atrina" với vai trò nhân chứng thuật lại sự kiện trên). Mặc dù tôi đảm bảo với người nhà rằng đó là chuyến đi biển huấn luyện bình thường, tất cả vẫn nhận thức rõ rằng những cuộc hành quân trên đại dương nhẹ nhàng và an toàn là không bao giờ có. Nhất là ký ức vốn không thôi ám ảnh bởi thảm kịch tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chiến lược K-219, đã nổ bùng trong chính khu vực mà các con tàu của chúng tôi hoạt động. May mắn thay, lúc này thời gian lại tỏ ra nhân từ với chúng tôi. Tất cả tàu ngầm hạt nhân đã an toàn trở về căn cứ. Tôi nghĩ vấn đề ở đây không chỉ là may mắn. Sự chuẩn bị kỹ lưỡng và kỹ năng điêu luyện của các thủy thủ đoàn đã xác định sự thành công cho chiến dịch. .....
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười, 2011, 06:13:30 pm gửi bởi qtdc »
|
Logged
|
|
|
|
qtdc
Thượng tá

Bài viết: 3299
|
 |
« Trả lời #531 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2011, 01:47:36 am » |
|
(tiếp) A.Shevchenko (đứng giữa, chỉ tay) với các thủy binh biển Bắc.Các chỉ huy tàu ngầm được trao huân chương Cờ Đỏ. Các sỹ quan, hạ sỹ quan khác tỏ ra xuất sắc trong chuyến đi biển 3 tháng này cũng nhận được phần thưởng của chính phủ. Ngoài các thông tin quan trọng về lực lượng và phương tiện chống ngầm trên Đại Tây Dương của đối thủ tiềm năng, thu được từ kết quả chiến dịch "Atrina", cuộc hành quân này còn có một ý nghĩa tâm lý-tinh thần lớn cho các thủy thủ của chúng ta, đã phải trải qua chấn động bởi sự hy sinh mới gần đây của tàu ngầm hạt nhân chiến lược K-219. Từ cuộc ra khơi định mệnh của "Komsomolets" cách chúng ta hai năm, và giờ đây với niềm tự hào chính đáng, chúng ta cử hành lễ mừng chiến thắng trong "trận chiến nhỏ giành Đại Tây Dương", như lúc đùa vui những người tham gia gọi chiến dịch "Atrina" như vậy. Phân tích kết quả chiến dịch, tôi lại một lần nữa khẳng định: để hoàn toàn kiểm soát các đại dương trong trường hợp một lực lượng đông đảo các tàu ngầm ra khơi, khả năng của người Mỹ còn chưa đủ. Trong mọi trường hợp, Lầu Năm Góc không có được một đảm bảo nào rằng trước khi chiến sự bùng nổ các tàu ngầm tên lửa hạt nhân của Liên Xô sẽ bị phát hiện trước khi giáng đòn đáp trả. Chính người Mỹ cũng chưa từng tiến hành cuộc tập trận nào như vậy. Với sự hiện diện của các căn cứ hải quân rải rác khắp thế giới, nhu cầu hành động như vậy của họ là không. Chúng ta, như người ta nói, địa lý bắt buộc chúng ta phải làm như vậy. Tuyên bố hồi đó của Tổng Bí thư UBTU ĐCS Liên Xô Yu. Andropov rằng, mặc dù việc hệ thống «Trident» phóng từ tàu ngầm đã được triển khai chống lại chúng ta, chúng ta vẫn có cơ hội để tấn công trả thù trên đất Mỹ, đã được xác nhận, bao gồm cả kết quả hoạt động của chiến dịch vừa kết thúc. Yuri Vladimirovitch Andropov đã không còn sống khi trao huân chương cho các thủy thủ tàu ngầm. Người trao là M.S.Gorbachev, người mà trong đầu ông ta từ hồi ấy đã nảy nở và đặt ra luận đề về "học thuyết phòng thủ" mới. Nhưng ai trong số những người đang đứng trên boong các tàu ngầm trong những phút huy hoàng đó có thể nghĩ rằng, tất cả những nỗ lực siêu nhân vượt quá sức con người nhằm duy trì cân bằng chiến lược với thế giới phương Tây sẽ được đưa về không bởi nỗ lực ngay từ đầu của những nhà cải cách nhiệt thành, và sau đó chỉ đơn giản là những kẻ phản bội nhân dân ta? Ngày nay, nhiều năm sau, ai đó trong số các "học giả lớn - người am hiểu tàu ngầm" đang cố gắng giảng giải những hành động tương tự này không nhỏ hơn hay lớn hơn (trong chừng mực nhãn quan quân sự khiêm tốn của mình), như một chuỗi những sự lừa dối kế tiếp, thực hiện chỉ với một mục tiêu: "để báo cáo lên cấp trên". Tranh luận, tất nhiên, vô nghĩa. Nhưng chúng tôi muốn làm một giải thích nhỏ cho những người xa lạ với công việc quân sự của chúng tôi, và để trả lời câu hỏi, vì mục đích gì chúng tôi thực hiện chiến dịch này và những chiến dịch tương tự khác (mà chúng không phải là ít)? Thực tế là công tác quân sự đòi hỏi thường xuyên tìm kiếm các phương thức hành động mới, các thủ đoạn chiến thuật, hình thức và phương pháp chỉ huy lực lượng mới. Cần phải biết khả nằng của đối thủ tiềm năng, chiến lược và chiến thuật của nó. Và các cuộc tập trận như "Atrina" khi các bên đang hoạt động gần nhau một cách trực tiếp, tiếp xúc với nhau, cung cấp cho ta những tài liệu phong phú để phân tích. Thử nghiệm không chỉ thủ đoạn chiến thuật, mà còn quy tắc và hướng dẫn hiện hành. Và quan trọng nhất – phát hiện những con người có tư tưởng khoáng đạt, có óc sáng tạo và sang kiến. Đó là những người mà chúng tôi luôn cố gắng hỗ trợ và khuyến khích. Hạm đội được duy trì bởi chính những con người như vậy. K-254 với thiết bị phóng ngư lôi bổ sung bầu rẽ dòng để thử tên lửa hành trình chiến lược "Granat"........
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười, 2011, 02:08:21 am gửi bởi qtdc »
|
Logged
|
|
|
|
qtdc
Thượng tá

Bài viết: 3299
|
 |
« Trả lời #532 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2011, 12:09:09 am » |
|
(tiếp)Chiến dịch "Behemoth" (Операция "Бегемот") Không cần huân chương, vì đó là Tổ quốc (Не надо орденов, была бы Родина) "Behemoth" - con vật thần thoại trong một bức tranh của nhà thơ, họa sỹ Anh William Blake (1757-1827). Nikolai Tcherkashin (flot.com) Mười ngày trước cái chết của cường quốc Xô viết là một sự kiện phi thường: từ đáy biển Barentsev lần lượt vọt lên 16 tên lửa đạn đạo và bay vút về phía bờ! Quan sát cảnh tượng vô song này chỉ có một vài người trên một chiếc tàu tuần tra, đang thả trôi trên biển hoang vắng ... Chỉ có họ biết rằng ngày 6 tháng 8 năm 1991 sẽ đi vào lịch sử của Hải quân Liên Xô và toàn thể hải quân Nga nói chung, như ngày của một kỳ tích quân sự vĩ đại. Khi người ta đề nghị Viện sĩ Korolev phát triển các tên lửa được phóng từ dưới nước, ông coi đó là một ý nghĩ kỳ quặc. Tuy nhiên, Nikita Khrushchev đấm tay xuống bàn: các tên lửa sẽ bay, đó là tất cả! Đúng, và Korolev thích nắm lấy những ý tưởng dường như không thể thực hiện. Tổng công trình sư và văn phòng thiết kế của ông đã tạo ra những tên lửa như vậy! Nguyên Tổng tư lệnh Hải quân Xô Viết, Anh hùng Liên Xô, Đô đốc hạm đội Vladimir Chernavin nhớ lại: - Trong những năm cuối của công cuộc "perestroika" nổi tiếng buồn thảm, tại Bộ Quốc phòng Liên Xô ngày càng vang lên thường xuyên những tiếng nói về sự không đáng tin cậy của những chiếc tàu ngầm mang vũ khí tên lửa (đạn đạo). Rằng chúng chỉ có khả năng thực hiện không quá 2-3 phát phóng, và do đó chúng ta nên loại bỏ chúng. Rõ ràng cần phải thể hiện loạt phóng tên lửa đầy đủ từ dưới mặt nước. Công việc này rất tốn kém và phức tạp, nhưng cần phải bảo vệ danh dự của vũ khí, và tôi trao sứ mệnh này cho thủy thủ đoàn tàu ngầm hạt nhân tuần dương chiến lược mang tên lửa đạn đạo "Novomoskovsk" ( đề án 667 BDRM "Delfin", hay "Delta-IV" theo NATO), chỉ huy bởi thuyền trưởng trung tá hải quân Sergey Egorov. - Phóng tên lửa từ các hầm trên đất liền là một việc, nhìn ra bãi phóng từ bunker bê tông cách hàng km. Còn phóng nó như chúng tôi - là việc khác hẳn! - Egorov gõ vào cổ. - tên lửa ở ngay sau gáy. Biểu tượng của Olenia Guba, nơi trú đóng của K-407. K-407 "Novomoskovsk đề án 667 BDRM "Cá heo".Đúng, điều đó từng xảy ra với tên lửa, nạp nhiên liệu cực độc, và thủy thủ đoàn có mà chạy đằng trời. Tai nạn trong hầm chứa tên lửa số 6 trên tàu ngầm nguyên tử xấu số K-219 kết thúc bằng cái chết của một số thủy thủ, và của chính con tàu. Ít bi thảm hơn, nhưng gây thiệt hại rất lớn đến môi trường xung quanh là kết cục của cố gắng đầu tiên phóng loạt tên lửa (đạn đạo) đầy đủ vào năm 1989. Thời đó trên tàu có hơn năm mươi người đủ loại thủ trưởng, - Egorov cười không vui - Chỉ riêng cán bộ chính trị cũng đã năm người. Nhiều người đi chỉ vì muốn huân chương. Nhưng khi con tàu rơi tụt xuống vực sâu và sức nước ép muốn nát tên lửa, ai đó rất nhanh chóng chuyển sang tàu kéo cứu hộ. Trong chương trình này vào năm 1991, với chúng tôi vấn đề đã nhẹ hơn: ra khơi cùng với tôi là hai thủ trưởng - Chuẩn Đô đốc Salnikov và đại tá hải quân Makeev. Vâng, còn Tổng công trình sư của con tàu Kovalev cùng với Phó Tổng công trình sư phụ trách vũ khí tên lửa Velitchko, cả hai đều làm việc vì danh dự. Hồi xưa người ta làm việc như thế, các kỹ sư chứng minh độ bền công trình của mình bằng cách: họ đứng dưới cây cầu cho đến chừng nào đoàn tàu chưa đi qua... Nói chung, những người lạ trong khoang tàu là không có. Ngay cả trên những nét chung cơ bản nhất cũng thấy rõ rằng loạt phóng tên lửa từ dưới nước đòi hỏi hoạt động siêu đồng bộ của toàn bộ thủy thủ đoàn. Sơ xuất nhỏ của chỉ một trong trăm rưởi con người cũng sẽ trả giá cho thành công chung. Vì vậy hơn một năm Egorov đã cử người của mình đi các trung tâm huấn luyện, năm lần ra biển, đã cùng thủy thủ đoàn thao luyện nhiệm vụ chính. Trong đó có khối lượng lao động chỉ huy khổng lồ và chiến công to lớn của anh. ..........
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười, 2011, 01:06:52 am gửi bởi qtdc »
|
Logged
|
|
|
|
qtdc
Thượng tá

Bài viết: 3299
|
 |
« Trả lời #533 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2011, 11:33:21 am » |
|
(tiếp)Các tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm. Trái sang phải: R-29 hay SS-N-8 Sawfly (USSR/Russia, 1977); R-29R hay SS-N-18 Stingray (USSR/Russia, 1977); Р-39 hay SS-N-20 Sturgeon (USSR/Russia,1984-2004); Р-29РМ hay SS-N-23 Ski (USSR/Russia, 1986): phóng loạt 16 đạn ngày 6.8.1991 từ K-407 "Novomoskovsk"; JL-1 hay CSS-NX-3 (China, 1986); JL-2 hay CSS-NX-4 (China, 1990s).Và đã đến ngày ... Nhưng ngay từ ban đầu, các thủy thủ tàu ngầm cần vượt qua vô số các cuộc kiểm tra nối tiếp bao trùm lên nhau, nhằm tìm hiểu một cách tỉ mỉ sự sẵn sàng của con tàu cho chuyến ra khơi. Người từ Moskva đến sau cùng là cục trưởng cục huấn luyện chiến đấu lực lượng tàu ngầm Hải quân Xô viết chuẩn đô đốc Yuri Fedorov. Anh đến với một lệnh ngầm - "hãy kiểm tra và ngăn chặn". Quyền Tổng tư lệnh Hải quân (временно исполняющий обязанности - ВРИО главнокомандующего), người ở lại trong tháng Tám thay cho Tổng tư lệnh đã đi nghỉ phép, căn dặn anh như vậy. Ông ấy không muốn mình phải gánh lấy trách nhiệm về kết quả của chiến dịch "Behemoth" - như người ta gọi cuộc phóng thử tên lửa của "Novomoskovsk" (tại thời điểm này, K-407 còn chưa mang danh hiệu "Novomoskovsk", mà phải đến 1996). Ký ức xấu về thất bại của cuộc thử nghiệm đầu tiên còn quá mạnh. Nhưng Yuri Fedorov, đảm bảo rằng thủy thủ đoàn đã được chuẩn bị không chê vào đâu được, hoàn toàn sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, và đã gửi một điện báo được mã hóa về Moskva báo cáo trung thực tình hình: "Tôi đã kiểm tra và cho phép". Bản thân anh, để không phải nhận những cú điện thoại giận dữ, lập tức chuyển sang doanh trại khác. - Tất cả những cảm xúc biến mất nhường chỗ cho trật tự. - Sergey Egorov kể. - Trong đầu tôi chỉ còn độc sơ đồ cuộc bắn thử. Tất nhiên trong cuộc sống của tôi, mọi thứ phụ thuộc vào kết quả của chiến dịch "Behemoth" rất nhiều. Thậm chí người ta đã giữ nhẹ quân hàm đến niên hạn của tôi lại. Rằng, tùy vào kết quả ... Và Học viện cũng chỉ bật đèn xanh theo kết quả tổng kết của chiến dịch. Nửa giờ trước khi bắt đầu phóng - có trục trặc. Đột nhiên mất liên lạc truyền âm ngầm với tàu mặt nước, chịu trách nhiệm ghi kết quả cuộc tập bắn của chúng tôi. Chúng tôi nghe được họ, họ thì không. Con tàu tuần tra này đã cũ, thiết bị thu âm trên tàu đến lúc bỏ đi. Chỉ thị cấm cuộc tập bắn mà lại không có liên lạc hai chiều. Nhưng biết bao người đã sẵn sàng công phu như vậy! Và Chuẩn Đô đốc Salnikov, chỉ huy cao cấp trên tàu, đã nhận trách nhiệm về mình: "Bắn đi, thuyền trưởng!" Tôi tin vào con tàu của mình, tin vào người của mình, đặc biệt là trợ lý chính, sỹ quan chỉ huy tên lửa, sỹ quan phụ trách cơ điện. Tin tưởng vào kinh nghiệm của người tiền nhiệm mình - đại tá hải quân Yuri Beketov. Đúng, ông ấy mới chỉ bắn tám đạn tên lửa, nhưng tất cả các quả đạn đều được phóng đi không hề có một trục trặc nhỏ nào. Chính người ta cũng nói với tôi rằng nếu chúng tôi phóng được 13 đạn thì đó cũng là thành công rồi. Còn chúng tôi đã nện đến 16 phát! Không có một phát nào hỏng. Các quả đạn như thể tuần tự từ máy tự động phóng lên. Nhưng "đạn" - đó là thằng ngốc. Còn nói gì về những quả tên lửa đạn đạo nặng hàng tấn đây? Không đơn thuần là tên lửa - đó là một thứ rất thông minh, phải dùng trí tuệ để làm việc với nó. Giờ khắc lịch sử.Quân hàm đại tá hải quân được Salnikov trao cho tôi ngay trong buồng điều khiển trung tâm. Người ta đón chúng tôi tại căn cứ thân thương với một dàn quân nhạc. Theo truyền thống người ta tặng cả heo quay. Nhưng không có thời gian đủ để quay chín như cần thiết. Sau đó trên bếp trong tàu ngầm, chúng tôi làm tiếp cho thật ngon và cắt ra thành 130 suất - để mỗi thành viên thủy thủ đoàn đều có phần. Người ta đề cử các phần thưởng cho chúng tôi: với tôi là danh hiệu Anh hùng Liên Xô, trợ lý chính - huân chương Lenin, sỹ quan cơ điện huân chương Cờ Đỏ ... Nhưng chỉ một tuần sau - Ủy ban Nhà nước về tình trạng khẩn cấp, Liên bang Xô Viết bị thủ tiêu, huân chương xô viết cũng chung số phận. Sergei Egorov (1956-2007) thuyền trưởng đầu tiên K-407.... Tôi đã thấy cuốn băng video lịch sử này rồi. Trên bảng đồng hồ bấm giờ của nó - 21 giờ 09 phút ngày 06 tháng 8 năm 1991. Đó, quả tên lửa đầu tiên, xuyên thủng các tầng nước đi lên, để lại trên mặt biển một đám mây hơi nước, bay vút lên cao và biến mất vào bầu trời cực bắc; vài giây sau quả đạn thứ hai vội vã vụt lên cùng tiếng hú, quả thứ hai, ba ... năm ... tám ... mười hai ... mười sáu! Đám mây hơi nước kéo dài dọc theo đường đi của tàu ngầm. Tiếng gầm rú khủng khiếp vang trên biển hoang vu u ám. Đột nhiên tôi nghĩ thế giới sẽ như thế này trong một vài phút trước khi điểm chuông Khải Huyền. Một người nào đó đã gọi cuộc tập bắn này là "buổi tổng duyệt của ngày tận thế hạt nhân" (“генеральной репетицией ядерного апокалипсиса”). Nhưng không, đó là lời chào vĩnh biệt, mà hạm đội tàu ngầm vĩ đại gửi tới cường quốc vĩ đại không thể cứu vãn được của mình. Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết đã lao xuống vực thẳm của thời gian, như con tàu "Titanic" đâm vào núi băng trôi. "Novomoskovsk" ngay cả trong thập kỷ không hành quân và ô nhục hiện nay đối với hạm đội, cũng đã vài lần biết gầm vang khắp đất nước. Năm ngoái, con tàu đã hoàn thành một công việc mà chưa ai làm được trên thế giới - phóng tên lửa bắn trúng một mục tiêu từ Bắc Cực, từ trên đỉnh của thế giới. Năm nay, tên lửa, phóng từ tàu ngầm tuần dương này, đã đưa vào vũ trụ một vệ tinh nhân tạo của Trái đất! Sự kiện đã ở tầm toàn cầu thực sự. Hãy để chúng tôi vinh danh người chỉ huy đầu tiên của con tàu lịch sử này, người sỹ quan, cho đến ngày nay vẫn đang phục vụ như một nhà thơ chiến sỹ ngoài mặt trận đã nói: "Đâu cần huân chương, vì đó là Tổ quốc". Moskva - Saint Petersbourg - Severomorsk.
..........
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười, 2011, 09:14:32 pm gửi bởi qtdc »
|
Logged
|
|
|
|
qtdc
Thượng tá

Bài viết: 3299
|
 |
« Trả lời #534 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2011, 10:37:29 pm » |
|
(tiếp)«АТRINА»chưa được biết đến А.М. Мagaznov (flot.com) Xin kính cẩn nghiêng mình trước tất cả những người đã cùng tham gia chiến dịch hải quân «АТRINА» và trợ giúp để chúng ta giành thắng lợi trong trận chiến giành ĐAI DƯƠNG. Tôi, một người Moskva gốc, đã về hưu, cựu lập trình viên chuyên nghiệp, chưa bao giờ phục vụ trong quân đội. Tình cờ được làm quen với cựu thuyền trưởng tàu ngầm, đại tá hải quân E.P.Sozanskii. Ông nói cho tôi biết một sự thật kỳ diệu trong chiến dịch vinh quang của các chiến sỹ tàu ngầm chúng ta ở thời kỳ đỉnh điểm của cuộc chiến tranh lạnh dưới mặt nước Trung tâm Đại Tây Dương. Chúng tôi nhớ đến trận đánh trên sông Nêva và trận lưu huyết trên băng, đã chặn được cuộc Thập Tự Chinh vào nước Nga (những trận đánh trong lịch sử các công quốc Nga thời thế kỷ 13 do đại công tước các công quốc Kiev và Vladimir là Aleksandr Nevskii lãnh đạo chống cuộc xâm lăng của quân Đức và quân Thụy Điển). Chúng tôi nhớ chiến thắng của vũ khí Nga trên cánh đồng Kulikovo, đã thống nhất chúng ta lại trong một quốc gia duy nhất. Chúng tôi nhớ trận chiến Borodino, đặt dấu chấm khởi đầu cho sự sụp đổ của Napoleon. Chúng ta cũng phải nhớ và tự hào như thế về chiến dịch ít được biết đến «АТRINА», trong đó lần đầu tiên suốt lịch sử Hải quân Liên Xô, HẠM ĐỘI đã nghĩ ra và chế tạo được một loại vũ khí giúp chúng ta giành thắng lợi vinh quang trong cuộc chiến giành ĐẠI DƯƠNG. Mùa xuân 2007, đã gần 20 năm diễn ra chiến dịch trinh sát chống ngầm xuất sắc «АТRINА», thực hiện tại Bắc Đại Tây Dương bằng lực lượng của sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 33 Hạm đội Biển Bắc, dưới sự lãnh đạo của Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội V.N.Chernavin. Nhưng ít ai đoán được còn bao nhiêu điều chưa biết ẩn sau từ hư cấu «АТRINА», được ra đời từ trong lòng Hạm đội Hải quân Liên Xô. Nhưng sự chuẩn bị cho chiến dịch này đã được bắt đầu từ trước đó khá lâu. Bài báo này dành nói đến một sự thực chưa biết đến của chiến dịch này. Е.P.Sozanskii kể về chiến dịch trên biển dưới tên gọi «АТRINА», khi 5 tàu ngầm nguyên tử Liên Xô, đề án 671RTM, năm chàng «HOÀNG TỬ ĐEN» như người ta goi chúng vì vẻ đẹp và sự hoàn thiện kỹ thuật, «chọc thủng» tuyến phòng thủ chống ngầm của Hải quân Hoa Kỳ, phá tan huyền thoại về sự bất khả trừng phạt của Hoa Kỳ khi mưu toan giáng đòn tấn công hạt nhân vào lãnh thổ Liên Xô. Đó là trận đánh trên biển thắng lợi trong cuộc chiến giành ĐẠI DƯƠNG. Người Mỹ không thích nhớ đến chuyện này. Nhưng tất cả đều có trật tự của nó. Ông nhắc đến tên chiến sỹ tàu ngầm V.E.Kuryshev, người chế ra cơ cấu hỗ trợ thủy âm «RITSA» (гидроакустическая приставка «РИЦА»), thiết bị này rõ ràng đã thúc đẩy ý tưởng đề ra kế hoạch và thực hiện chiến dịch trên. Tôi đã được tiếp cận những bản thảo chi tiết và ý kiến từ những người trực tiếp tham gia vào ý đồ, soạn thảo và đảm bảo cho chiến dịch, nhưng vì lý do này khác vẫn còn trong bóng tối. Nhưng để soi sáng hoàn toàn rõ ràng giai đoạn chuẩn bị chiến dịch này, tôi đã nghiền ngẫm ý kiến của các cá nhân sau. Trưởng ban tác chiến chống ngầm Hạm đội Biển Bắc thời gian đó đại tá hải quân V.V.Gavrilov, một trong những người chủ chốt tham gia vạch kế hoạch chiến dịch «АТRINА»; Cục trưởng Cục tác chiến chống ngầm Hải quân Liên Xô phó đô đốc Е.I.Volobuev, ông là một trong những người đầu tiên đã nghĩ ra ý tưởng chiến dịch, cũng như thế là đô đốc hạm đội I.М.Kapitanets, Tư lệnh Hạm đội Biển Bắc trong thời gian tiến hành chiến dịch này. Bản thân chiến dịch đã được miêu tả rất hay bởi người lãnh đạo nó, Tổng tư lệnh Hải quân Xô Viết đô đốc hạm đội V.N.Chernavin. Trong chừng mực tài liệu thu thập được, đã xảy ra những điều kỳ lạ, chân dung chiến sỹ tàu ngầm V.E.Kuryshev, đồng thời là một nhà toán học, một người rất am hiểu kỹ thuật vi xử lý, người chế ra thiết bị “RITSA” mờ dần và biến mất, còn tại chỗ đó xuất hiện vô số người, đó là BỆ HẠ CỦA ANH, khối hiển hách các sỹ quan tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc. Bắt đầu từ ban lãnh đạo cao cấp Hải quân Liên Xô, đã dùng quân hàm lớn của mình che chở công việc ấy trước rất nhiều kẻ ác ý cho đến những thủy thủ nghĩa vụ Gortchak Gheorghi và Lanets Aleksandr bất chấp có thể sa vào tiểu đoàn trừng giới, đã cứu được tập vở ghi nổi tiếng của V.E.Kuryshev với các công thức tính toán của “RITSA”. HẠM ĐỘI đã cố gắng bảo vệ chính mình trong trận đánh ngầm dưới mặt nước, bởi vì nền công nghiệp và khoa học trong nước, các tổ hợp thủy âm trong nước đã làm việc tồi hơn so với của người Mỹ. Vào cuối thập kỷ bảy mươi của thế kỷ hai mươi, tại hạm đội tàu ngầm tình thế rất phức tạp cần được giải quyết. Tổ hợp thủy âm của “kẻ thù tiềm năng”, hoàn thiện hơn nhiều nếu so với tổ hợp trong nước. Các chiến sỹ tàu ngầm của chúng ta không có một cơ may nào đi ra khỏi trận đấu tay đôi với tàu ngầm đối phương trong tư cách người chiến thắng. Một nhóm sỹ quan trẻ tốt nghiệp Trường Sỹ quan Chỉ huy Kỹ thuật Vô tuyến điện tử Hải quân mang tên Popov hiểu rằng họ cần bắt tay vào giải quyết, nhưng họ phải được giúp đỡ về mặt tổ chức. Tại giai đoạn đầu, trợ giúp họ là Chủ nhiệm chính trị binh đoàn tàu ngầm số 4 Hạm đội Biển Bắc đại tá hải quân V.P.Tkachiov, tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 4 chuẩn đô đốc V.A.Paramonov, chuẩn đô đốc G.I.Shalyghin, chuẩn đô đốc V.P. Larionov, còn có các thuyền trưởng tàu ngầm trung tá hải quân G.N.Nuzhin, trung tá hải quân E.P.Sozanskii, trung tá hải quân G.А. Sutchkov, trung tá hải quân Е.V.Tchernov. Sau đó lao động của nhóm đã gây được sự quan tâm của Phó tư lệnh thứ nhất Hạm đội Biển Bắc phó đô đốc V.K.Korobov. Với bàn tay nhẹ nhàng của ông và chỉ thị của Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội N.I.Smirnov, đã thành lập một nhóm ngoài biên chế chính thức với thành phần như sau. Lãnh đạo là thượng úy hải quân V.Е.Kuryshev, thiếu tá hải quân V.М.Khlamkov sỹ quan tình báo, thượng úy hải quân Yu.V.Bukovskii sỹ quan thủy âm, và thượng úy hải quân А.М.Sumatchiov kỹ sư tính toán. Để tiến hành một loạt các công tác nhằm xây dựng thiết bị thủy âm, người ta đã chia cho họ một chỗ trong phòng thí nghiệm tiếng ồn của thành phố Poliarnyi, bảo trợ công việc của nhóm là tư lệnh binh đoàn tàu ngầm 4 chuẩn đô đốc V.А.Paramonov. Thượng úy V.Е.Kuryshev và thiếu tá hải quân A.N.Kudimov trưởng phòng thí nghiệm tiếng ồn được quyền trong hoàn cảnh không lường trước, gọi điện trực tiếp cho Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội N.I.Smirnov hoặc Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Hải quân Liên Xô đô đốc V.I.Panin. Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội LBXV S.G.Gorshkov cũng biết những công việc này, và một tháng trước khi về nghỉ ông ra lệnh cho người phó của mình đô đốc hạm đội N.I.Smirnov bảo trợ cho các công việc đó. ........
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Mười, 2011, 04:41:46 pm gửi bởi qtdc »
|
Logged
|
|
|
|
qtdc
Thượng tá

Bài viết: 3299
|
 |
« Trả lời #535 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2011, 01:53:01 am » |
|
(tiếp)Khi nhóm đã viết được cơ sở toán học của phương pháp thủy âm mới phát hiện tàu ngầm, phó đô đốc V.K.Korobov báo cáo lên Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội N.I.Smirnov. Ông ấy liền đề nghị chuyển những công thức toán học ấy đi thẩm định ở Viện nghiên cứu chuyên ngành của Hải quân Liên Xô, kết quả nhận được sự phê bình thẳng tay do 18 tiến sỹ và phó tiến sỹ khoa học cùng ký tên. Nhưng những kết luận khoa học không thuyết phục được Ban lãnh đạo Hải quân Liên Xô thời ấy và họ, qua phó đô đốc V.K.Korobov gửi thượng úy hải quân Kuryshev và 3 người khác nữa đi khắp Liên bang Xô Viết “xem xét” phải làm gì theo hướng ấy. Kuryshev tình cờ gặp được Chủ tịch VHLKH Ucraina viện sỹ V. М.Glushkov. Ông ấy chăm chú lắng nghe anh, và gửi họ tới Trường Bách khoa Lvov gặp giáo sư А.М.Аghizim, dưới sự lãnh đạo của giáo sư đã chế tạo được chiếc máy phân tích kỹ thuật số đầu tiên phổ tiếng ồn «CHARYSH-2М». Ngay tại đó họ được biết đã chế tạo tất cả 2 mẫu thử theo quyết định của UB Công nghiệp-Quốc phòng thuộc UBTU ĐCSLX, dành cho ngành công nghiệp. Khi tới Moskva V.Кurуshev được gặp viện sỹ А.N.Коlmogorov (nhà toán học rất nổi tiếng của Liên Xô về lý thuyết xác suất), nhờ ông mà anh tìm ra lời giải cho phương pháp ấy, được sử dụng trong phần chương trình hóa thiết bị “RITSA”. A.N.Kolmogorov (1903-1987).Ở đây, anh gặp được Viện sỹ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô B.F.Vysotskii (1909-1999; chuyên gia trong lĩnh vực radar và vi điện tử đặc biệt trên thiết bị bay), người sáng lập Trung tâm điện tử Zelenograd. Từ ông họ biết được rằng ở Liên Xô đã chế tạo được 8 máy tính cá nhân “DVK-2M” («ДВК-2М»), một trong số đó để cho phòng thí nghiệm tiếng ồn. Theo chỉ thị riêng của đô đốc hạm đội N.I.Smirnov, hai máy phân tích «CHARYSH-2М» cũng được đưa vào phòng thí nghiệm đó. Nhóm Kuryshev trong một thời hạn rất ngắn đã biết ghép nối “DVK-2M” với «CHARYSH-2М» thành một thể toàn vẹn. Đã viết nên một hệ thống phức tạp, tách tín hiệu sạch của mục tiêu, sau đó phân loại theo mẫu tiếng ồn “chân dung” của các tàu ngầm, đang có trong cơ sở dữ liệu, và xác định góc phương vị (азимут) của mục tiêu. Thiết bị được đặt tên “BPF-DVK” («БПФ-ДВК»). Tháng hai năm 1985 đô đốc I.M.Kapitanets được bổ nhiệm tư lệnh Hạm đội Biển Bắc thay thế đô đốc V.N.Chernavin lên làm Tổng tham mưu trưởng Hải quân Liên Xô. Cũng trong ngày đầu tiên (tác giả có nhầm lẫn: từ tháng 12.1981 V.N.Chernavin đã là TTMT Hải quân Liên Xô, AHLX đô đốc A.P.Mikhailovskii là tư lệnh hạm đội Biển Bắc thay V.N.Chernavin giai đoạn 12.1981 – 2.1985 cho đến khi I.M.Kapitanets được bổ nhiệm.), phó đô đốc V.K.Korobov báo cáo tư lệnh mới của Hạm đội Biển Bắc về thiết bị-bảo bối này. Ông đã trao cây gậy tiếp sức vào những cánh tay trẻ vì bản thân cũng đã sắp đến tuổi hưu. Chẳng bao lâu phó đô đốc Yu.Patrushev trở thành Tham mưu trưởng Hạm đội Biển Bắc, còn đại tá hải quân V.V.Gavrilov được bổ nhiệm Trưởng ban tác chiến chống ngầm hạm đội Biển Bắc (PLB-ПЛБ), và tư lệnh mới Hạm đội Biển Bắc đô đốc I.M.Kapitanets ngay lập tức đặt cho họ trách nhiệm quan tâm đến thiết bị này. Tháng 9 năm 1985 đã tiến hành các thử nghiệm bước đầu. Không được thành công cho lắm. Máy tính “DVK-2M” hỏng liên tục, nhưng bằng cách nào đó, thượng úy Yu.D.Siniakin đã hồi sinh được cho nó, đến lúc đó nó hoàn toàn chưa “thở hắt ra”, trên khoảng cách 75 kаbelt tới tàu-mục tiêu. Nhóm rất không hài lòng với các kết quả dù cho hệ thống thủy âm chính tắc “RUBIKON” («РУБИКОН») mất mục tiêu ngay từ khoảng cách 20 kаbelt. Thượng úy V.Е.Kuryshev nói rằng tiếp tục tiến hành thử nghiệm mà không có máy tính “DVK-2M” thứ hai là vô nghĩa. Vào tháng 12 cùng năm, thử nghiệm chính thức theo chỉ thỉ ngày 18 tháng 3 năm 1985 của Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội N.I.Smirnov đã được tiến hành. Thiết bị được trang bị 2 máy tính cá nhân “DVK-2M” (làm thế nào lấy thêm được một máy tính “DVK-2M” thì tôi sẽ kể sau). «BPF-DVK» được lắp đặt trên tàu ngầm disel B-517 do thiếu tá hải quân Yu.A.Moghilnikov chỉ huy. Người ta đã tách 2 tàu mục tiêu, một là tàu ngầm nguyên tử, tàu khác là diesel. Bắt đầu thử nghiệm, bước đầu thiết bị phát hiện được tàu mục tiêu diesel trên khoảng cách hơn 140 kabelt (gần 28 km), còn tàu ngầm nguyên tử trên khoảng cách 300 kabelt (gần 60 km), trên tổ hợp chính tắc “RUBIKON” tương ứng là 5 lần nhỏ hơn, còn lúc hạ màn thiết bị phát hiện được tàu ngầm nguyên tử Mỹ ở khoảng cách gần 300kabelt. Dữ liệu về tàu ngầm nguyên tử Mỹ được chuyển về Bộ tham mưu Hạm đội Biển Bắc. I.M.Kapitanets.Buổi sáng, tư lệnh Hạm đội Biển Bắc đô đốc I.M.Kapitanets qua radio chúc mừng thuyền trưởng và thủy thủ đoàn về việc phát hiện tàu ngầm Mỹ, tiếp xúc được khẳng định bởi máy bay chống ngầm và hai khu trục hạm, cũng như chúc mừng cuộc thử nghiệm kết thúc thành công. Kết quả thử nghiệm được Yu.А.Moghilnikov trực tiếp báo cáo Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội N.I.Smirnov trước sự rất không hài lòng của các đại diện ngành công nghiệp và khoa học. Sau khi nghe báo cáo, đô đốc hạm đội N.I.Smirnov đã phát biểu gạt bỏ yêu sách của các đại diện đó. Do tiến hành thử nghiệm thắng lợi, thiếu tá hải quân Yu.А.Moghilnikov được thưởng huân chương Cờ Đỏ. Chẳng mấy chốc có chỉ thị ngày 7 tháng 2 năm 1986, ký tên đô đốc hạm đội N.I.Smirnov về việc lắp đặt 100 tổ hợp «BPF-DVK» trên các tàu ngầm của Hải quân Liên Xô. Sau một thời gian, thiếu tá hải quân Yu.А.Moghilnikov với sự trợ giúp của «BPF-DVK» lại tiếp xúc được với tàu ngầm nguyên tử nước ngoài, trong khu vực lãnh hải nước ta. « Nhưng lần này anh ấy tin chắc đó là tàu ngầm Mỹ, theo phương vị đang tiến lại gần, một bức điện được gửi về bộ tham mưu Hạm đội Biển Bắc, bộ tham mưu im lặng. Đúng lúc đó thiết bị chính tắc bắt đầu “nghe” thấy tàu ngầm Mỹ. Tiếng ồn của con tàu đó được ghi lại. Lệnh tấn công ngư lôi được tuyên bố, một bức điện được báo về Moskva. Tôi kêu lên «Yuri Aleksandrovitch hãy mở gói mật» ( hướng dẫn cho phép thuyền trưởng tàu ngầm có quyền mở chỉ khi trường hợp cực kỳ khẩn cấp (ghi chú. tác giả)). Cặp mắt nhỏ của thuyền phó chính trị mở to và xám đi vì sợ hãi. Anh ta lắp bắp gì đó về chiến tranh thế giới thứ ba và cố gắng ngăn Moghilnikov mở phong bì mật. Nhưng đồng thời do không khéo lùi lại nên ngã lăn xuống dưới chân thang giữa những tràng cười rộ và tiếng rên rỉ. Trong khoang trung tâm bao trùm lên một bầu không khí im lặng đến nghẹt thở. Trong thời khắc ấy trong tôi bùng lên một ý nghĩ nếu giờ đây vang lên khẩu lệnh của tàu ngầm nước ngoài, đó sẽ là cuộc tấn công ngư lôi chiến đấu đầu tiên mà tên của nó sẽ được đặt là “RITSA”. Nhưng trả lời từ Moskva đến “không tấn công, tiếp tục giám sát”. Thực sự mà nói người Mỹ đã gặp may, bởi vì với thuyền trưởng Yu.А. Моghilnikov tốt nhất là gặp nhau để uống tách “trà”, trong những tình huống nào khác đó. Là một chiến sỹ bẩm sinh, chiến sỹ tàu ngầm dày dạn kinh nghiệm, ông có rất nhiều kinh nghiệm làm việc với «BPF-DVK». Thế là người thì sinh ra cái mới, người khác được thưởng, người thứ ba ngậm miệng. Cuộc sống thật muôn màu muôn vẻ. Sau một thời gian bản giải mã âm ghi được gửi tới đã khẳng định đó là tàu ngầm Mỹ, và tôi mới được hé môi.» (trích hồi ức của V.Е.Кurуtshev). .......
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười, 2011, 01:23:46 am gửi bởi qtdc »
|
Logged
|
|
|
|
qtdc
Thượng tá

Bài viết: 3299
|
 |
« Trả lời #536 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2011, 02:18:22 pm » |
|
(tiếp)«BPF-DVK» thường xuyên chỉ ra rằng có tàu ngầm nước ngoài hiện diện tại một vùng lòng chảo vịnh Motovskii, lúc đó Hạm đội quyết định tiến hành một chiến dịch và phái tàu ngầm nguyên tử tới đó. Lãnh đạo chiến dịch là đại tá hải quân Е.I.Ibraghimov trưởng ngành hàng hải phân hạm đội tàu ngầm thứ nhất Hạm đội Biển Bắc. Ngay từ đầu nhờ sự sự trợ giúp của «BPF-DVK», còn sau đó nhờ trợ giúp của máy định vị thủy âm đã phát hiện tàu ngầm đối thủ. Sau đó, bộ chỉ huy hạm đội ra lệnh định kỳ xử lý lòng chảo này từ trên bờ bằng hệ thống GRAD với đầu đạn nổ chìm trong nước (ПРС-60 - PRS-60 122-mm). Đạn phản lực không điều khiển PRS-60 - sử dụng để chống lực lượng biệt kích và phương tiện lặn ngầm bằng cách sử dụng đầu nổ phá được định nổ ở chiều sâu phù hợp.Vào tháng 7 năm 1985 chiến dịch «АРОRТ» («АПОРТ») kết thúc. Theo lời đại tá hải quân V.V.Gavrilov trưởng ban tác chiến chống ngầm Hạm đội Biển Bắc, người đề ra ý tưởng chiến dịch này là đô đốc E.I.Volobuev Cục trưởng Cục tác chiến chống ngầm Hải quân Liên Xô và đô đốc G.А. Bondarenko phó thứ nhất cho Tổng tư lệnh S.G.Gorshkov về huấn luyện chiến đấu. Kết quả chiến dịch này không làm họ thỏa mãn, trong thời gian đó, thông tin về thử nghiệm tháng 9 thiết bị hỗ trợ thủy âm «BPF-DVK» đến tai họ. Vào một trong những ngày đầu tháng 10 năm 1985 họ bay đến thành phố Polyarnyi, gặp thượng úy V.Кurуtshev. Các đô đốc trong trang phục áo khoác dài màu tối để giữ bí mật. Câu hỏi đầu tiên, được đặt ra, tại khoảng cách nào thì thiết bị “nghe thấy” tàu ngầm. «Hơn một trăm km» V.Кurуtshev trả lời, đồng thời đưa ra biên bản thử nghiệm. Е.I.Vоlоbuеv kêu lên với anh, «cậu ở đâu với cái thứ phụ tùng này của cậu trong suốt nửa năm qua». Sau đó ông quay sang G.А.Bondarenko và nói một câu bí ẩn «chúng ta sẽ đặt chúng ở khoảng 100 km», sau vài năm thì rõ rằng đó là nói về khoảng cách giới hạn kiểm soát được giữa các tàu ngầm nguyên tử trong chiến dịch tương lai «АТRINА». Trong cuộc trò chuyện V.Е.Кurуtshev vô tình nhận xét rằng dù những thử nghiệm chứng tỏ kết quả tốt nhưng thực ra chúng đã bị phá hỏng vì không có được chiếc máy tính “DVK-2M” thứ hai. Các đô đốc rõ ràng ở trong tâm trạng rất vui vẻ. Họ yêu cầu mang cô nhắc đến, sau đó vừa đi vừa hát, họ xuống chiếc tàu cao tốc đợi sẵn về thành phố Severomorsk. Đô đốc G.А.Bondarenko , khi trở về Moskva, kể cho bạn mình là SERIOZHA (tức Gorshkov), về những khó khăn mà nhóm của thượng úy hải quân V.Е.Кurуtshev gặp phải. Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội liên bang Xô Viết Sergei Gheorghievitch Gorshkov, đầu tiên gọi điện cho tư lệnh Hạm đội Biển Bắc đô đốc I.М.Каpitanets, còn sau đó là gọi tiếp cho tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 4 chuẩn đô đốc V.P.Lаrionov. Những cú điện thoại đó gây nên phản ứng thế nào, sau đây là những gì được V.E.Kurytshev nhớ lại. «Ngày 4 tháng 10 năm 1985, tôi và Kudimov được gọi khẩn cấp lên phòng chuẩn đô đốc Larionov. Ông đang “nói chuyện” với ai đó rất hăng, và chủ đề chính cuộc “nói chuyện” của ông là tại sao Gorshkov lại biết về những khó khăn của chúng tôi trước cả ông, khi đó tóc trên đầu ông rung lên một cách hoàn toàn không tự nhiên». Trong thời hạn ngắn nhất đã nhận được từ Zelenograd máy tính “DVK-2M”. Trong những lần sau Bondarenko tới cùng Cục trưởng Tổ chức – Động viên Hải quân Liên Xô (Организационно-Мобилизационного Управления главного штаба ВМФ СССР - ОМУ ВМФ СССР) phó đô đốc Matveev và cũng như lần thứ nhất, họ đều trong trang phục áo khoác dài màu tối để ngụy trang. Sau này khi đã nghỉ hưu phó đô đốc E.I.Volobuev nhớ lại việc ông nhận được bức thư từ ủy ban quân sự thuộc BCHTU ĐCSLX, trong thư yêu cầu ông viết báo cáo gửi M.S.Gorbachov trong đó phải “xin” triệu hồi các tàu ngầm nguyên tử của chúng ta đang trực chiến gần bờ biển Hoa Kỳ. Bức thư ấy đến tay ông trước chuyến đi của M.S.Gorbachov đến Reykjavik không lâu. Cục trưởng tác chiến chống ngầm Hải quân Liên Xô phó đô đốc E.I.Volobuev từ chối làm điều đó. Chẳng mấy chốc người ta đã tìm ra lý do để đưa ông về hưu. Nhưng chúng ta hãy quay lại câu chuyện của mình. Hạm đội quan tâm đến các công việc về thiết bị này đến mức Tư lệnh Hạm đội Biển Bắc đô đốc I.М.Каpitanets gửi phó thứ nhất của ông là chuẩn đô đốc F.N.Gromov đến trực tiếp xem xét nó làm việc thế nào (từ 1992 F.N.Gromov là Tổng tư lệnh Hải quân Nga). Thử nghiệm tiến hành trên tàu ngầm nguyên tử đề án 671RТМ. V.Е.Кurуtshev nhớ lại «Bắt đầu thử nghiệm tôi rất lo lắng. Bởi chuẩn đô đốc F.N.Gromov vốn là chiến sỹ tàu mặt nước, ông không thích tàu ngầm, ông không thể chống lệnh, thế nên mọi việc chỉ làm ông tức giận. «BPF-DVK» chỉ ra phương vị của 3 đối tượng, hai trong số đó đã biết, đó là các tàu làm mục tiêu, còn một đối tượng rất xa thì chưa biết. Khi đó F.N.Gromov nói. «Này Кurуtshev tất cả chân trời của anh chỉ toàn tàu ngầm mà thôi». Nhưng F.N.Gromov lại là người rất thiện tâm, nên ông ra lệnh nổi lên và qua radio hỏi bộ tham mưu hạm đội «ai có thể ở trong ô vuông này?». Câu trả lời nhận được là đối tượng thứ ba – tàu ngầm nguyên tử «Plavnik» (đó chính là «Коmsomolets»), xuất hiện hoàn toàn tình cờ trong khu vực này. Sau đó chuẩn đô đốc F.N.Gromov đã có thái độ rất tốt đối với «BPF-DVK»». Nhưng sự việc không phải lúc nào cũng vậy, không phải lúc nào cũng chỉ toàn bạn bè. Chiến sỹ tàu ngầm, đại tá hải quân đã về hưu Кlemekhin Sergei Aleksandrovitch vào thời đó là lãnh đạo Đoàn Komsomol Hải quân Liên Xô. Anh không chỉ tích cực giúp đỡ trực tiếp trong các công việc về «BPF-DVK», mà còn thuyết phục các sỹ quan trẻ tin tưởng chuyện này. Nhưng một lần anh nhận được lời mời tới ủy ban quân sự BCHTU ĐCSLX. Lãnh đạo Hải quân hốt hoảng, chính Chủ nhiệm TCCT Hải quân Liên Xô đô đốc V.I.Panin, khuyên nhủ anh, ở TRÊN ĐÓ phải xử sự ra sao. Tại ủy ban quân sự BCHTU ĐCSLX, người hướng dẫn viên đang có cuộc nói chuyện về «BPF-DVK», và S.А.Кlemekhin nhớ lời căn dặn của đô đốc V.I.Pаnin cố gắng tảng lờ, nhưng rồi hướng dẫn viên lấy ra một bức thư, trong đó nói rằng thiết bị «BPF-DVK» là trò bịp bợm, mục đích duy nhất của nó là đẩy các chiến sỹ thủy âm xô viết chệch khỏi con đường đúng đắn. Cuối thư có chữ ký của ba viện sỹ tên tuổi mà tên họ bây giờ đều đặn xuất hiện trên báo chí. Đến đây S.А.Кlemekhin không ghìm được và nói «Có thể đó là trò bịp bợm đi nữa, nhưng chính nó lại đang làm việc». Sau đó người ta chuyển anh đi một nơi hẻo lánh nào đó, không còn triển vọng thăng tiến nữa. Sau nhiều năm anh được biết và ngạc nhiên một cách vui vẻ rằng «RITSА» không chết và còn tham gia một cách thành công trong chiến dịch «АТRINА» và rất mừng rỡ vì điều đó, đồng thời anh bộc lộ một chi tiết thú vị. Số là sau khi trở về từ ủy ban quân sự BCHTU ĐCSLX, I.М.Каpitanets đã gọi anh đến và hỏi rất tỉ mỉ về các chi tiết trong chuyến đi của anh. Khi đó Sergei Aleksandrovitch không chú ý đến điều đó, không hề một chút nào. Nhưng đối với Tư lệnh Hạm đội Biển Bắc, thông tin về kết quả cuộc nói chuyện mà ông nhận được không phải là vì tò mò vô ích, chúng ta sau này sẽ hiểu. Vào đầu năm 1986 theo sáng kiến của đại tá hải quân V.V.Gavrilov trưởng ban tác chiến chống ngầm Hạm đội Biển Bắc đã quyết định trang bị thiết bị phụ trợ trên cho 5 tàu ngầm nguyên tử và bắt đầu chuẩn bị cho chúng tham gia chiến dịch tại Trung tâm Đại Tây Dương. Suốt năm 1986 diễn ra công tác chuẩn bị cho chiến dịch, người ta huấn luyện các thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử, nhóm các chiến sỹ tàu ngầm binh đoàn tác chiến cơ động số 4 giúp họ trong việc này, các bộ thiết bị phụ trợ cũng làm việc. Lãnh đạo sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 33, sư đoàn trưởng đại tá hải quân A.I.Shevchenko, hướng dẫn công tác huấn luyện cho các thủy thủ đoàn, làm việc với «RITSA» là đại tá hải quân sư đoàn phó М.V.Моtsak. Chủ nhiệm chính trị sư đoàn đại tá hải quân Т.А.Bаrkulakov cất giữ các blok thiết bị «RITSA» khan hiếm ngay dưới giường ngủ trong doanh trại ban tham mưu sư đoàn. Là UV BCHTU ĐCSLX đô đốc hạm đội I.М.Каpitanets, thông qua UVBCT BCHTU ĐCSLX L.Zаikov, nhận được các cấu kiện điện tử khan hiếm mua qua Bộ Ngoại thương. Tất nhiên, đô đốc hạm đội I.М.Каpitanets biết rõ rằng ủy ban quân sự BCHTU ĐCSLX, và một vài viện sỹ đang làm việc trong lĩnh vực hệ thống thủy âm có thái độ rất không thân thiện với «BPF-DVK». Và cần phải cân nhắc tất cả, có thái độ dũng cảm công dân rất lớn (ông khẳng định lại điều đó một lần nữa vào tháng 8 năm 1991) và tin tưởng 100% vào thiết bị phụ trợ này nên ông mới hành động như vậy. Vì thế vấn đề ở chỗ trong tình hình này, quân hàm trên cầu vai ông có thể bay mất rất đơn giản. Nhưng gánh nặng chủ yếu đè lên vai cả nhóm, họ làm ra thiết bị, huấn luyện thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử và tất nhiên tiếp tục hoàn thiện «BPF-DVK». Thiết bị được chế tạo tại phòng thí nghiệm tiếng ồn binh đoàn tàu ngầm số 4 Hạm đội Biển Bắc cạnh vũng Ekaterina thành phố Poliarnyi. Bởi vì tất cả được làm trong những điều kiện rất bí mật, nên mọi người cứ tưởng rằng các thiết bị hỗ trợ này do ngành công nghiệp làm ra. Tới mùa hè 1986, theo lời đô đốc hạm đội I.М.Каpitanets «..chiến dịch «АТRINА» đã chuẩn bị xong, nhưng do 2 thuyền trưởng tàu ngầm chưa có kinh nghiệm làm việc với thiết bị này, chiến dịch được hoãn sang tháng 3 năm 1987». Soạn thảo kế hoạch chiến dịch «АТRINА» do đại tá hải quân V.V.Gavrilov trưởng ban tác chiến chống ngầm Hạm đội Biển Bắc tiến hành với sự tính toán đến đặc tính kỹ - chiến thuật của «RITSA». Tổng tư lệnh mới của Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội V.N.Chernavin tham gia trực tiếp một cách tích cực vào công tác chuẩn bị chiến dịch «АТRINА». Ông ra mệnh lệnh ngày 12 tháng 12 năm 1986 cho tất cả các tàu ngầm tham gia chiến dịch đều phải lắp đặt thiết bị hỗ trợ thủy âm này. Ngay trước chiến dịch, ông quyết định thử nghiệm nó một lần nữa, để giữ bí mật, nó được gọi tên mới là «RITSA». Thử nghiệm không diễn ra thành công và có quyết định gỡ hết thiết bị này ra khỏi các con tàu tham gia chiến dịch, nhưng chuẩn đô đốc V.P.Senin Chủ nhiệm ngành kỹ thuật VTĐT hạm đội Biển Bắc chống lại nó. Ông nói rằng tất cả các lần thử nghiệm trước đều thành công và kết quả thử nghiệm lần cuối này chẳng qua là trường hợp hãn hữu, người thì đã đào tạo, thiết bị thì đã lắp. Nhưng căn bản nhất vẫn là các tổ hợp 3348 của Nhật và Briun-Kerr 2031 của Hà Lan mà các nhà khoa học sắp sửa lắp vào còn tồi hơn nhiều so với «RITSA». Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội V.N.Chernavin nói «cứ để tất cả như nó đang có, nhưng các phát hiện kẻ thù bằng «RITSA» không được báo cáo». Trước đô đốc hạm đội V.N.Chernavin có một vấn đề không hề đơn giản, ngành khoa học đều một giọng nói rằng phải gỡ bỏ thiết bị đó ra, còn hạm đội với Chủ nhiệm ngành Kỹ thuật VTĐT Hạm đội Biển Bắc chuẩn đô đốc V.P.Senin lại nói ngược lại. Rất thú vị là tháng 8 năm 1985, một tháng trước thử nghiệm «BPF-DVK», chính vị chuẩn đô đốc V.P.Senin này ra lệnh lấy một bộ phận rất quan trọng của thiết bị tại nhóm Кurуshev bộ phân tích phổ «CHАRYSH-2М» và trường hợp này cuộc thử nghiệm sẽ bị vỡ, nhưng tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 4 chuẩn đô đốc V.P.Larionov đã ngăn chặn điều đó. Sau thử nghiệm, Chủ nhiệm ngành Kỹ thuật VTĐT Hạm đội Biển Bắc chuẩn đô đốc V.P.Senin trở thành người ủng hộ «BPF-DVK». Cũng phát biểu chống lại việc gỡ bỏ thiết bị trên là, Tư lệnh Hạm đội Biển Bắc đô đốc I.М.Каpitanets, Tham mưu trưởng Hạm đội Biển Bắc phó đô đốc Yu. Patrushev và đại tá hải quân V.V.Gavrilov trưởng ban tác chiến chống ngầm Hạm đội Biển Bắc. Để đạt độ tin cậy lớn, trên mỗi tàu ngầm nguyên tử người ta đặt 2 tổ hợp «RITSA». Mặc dù Hạm đội Biển Bắc thực hiện chiến dịch, bằng lực lượng sư đoàn 33, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội V.N.Chernavin lãnh đạo trực tiếp chiến dịch «АТRINА»thông qua bộ tham mưu Hạm đội Biển Bắc. Theo kế hoạch được duyệt của chiến dịch, tất cả các tàu ngầm nguyên tử của chúng ta sẽ đi lần lượt chiếc này nối chiếc kia. Khoảng cách giữa chúng trong đội hình là 100 km. Vào giờ đã định chúng phải chuyển hướng về phía bờ biển châu Mỹ, sau khi hình thành đội hình răng lược với chiều dài 500 km trên Đại Tây Dương, đồng thời, không làm mất tiếp xúc với nhau. Trước khi chiến dịch bắt đầu, Chủ nhiệm Trinh sát Hải quân Liên Xô phó đô đốc I.K.Khurs phát biểu với đại tá hải quân V.V.Gavrilov trưởng ban tác chiến chống ngầm Hạm đội Biển Bắc (người soạn thảo chính của chiến dịch «АТRINА»), mối e ngại của mình về khả năng rò rỉ thông tin. Kết quả cuộc nói chuyện này là có thêm biện pháp phòng ngừa và phát hiện sự rò rỉ thông tin. Nordcap (Na Uy) - ru.viki.Nhưng xét tổng thể, thông tin đã rò rỉ, bởi lẽ tất cả 5 tàu ngầm nguyên tử đã bị phát hiện trên tuyến Nordcap - Medvedzhii (tuyến chống ngầm đầu tiên của hệ thống SОSUS), về vấn đề này phó đô đốc I.K.Khurs đã thông tin cho V.V.Gavrilov bằng điện báo điện thoại.  . Medvezhi (Na Uy) - ru.viki........
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười, 2011, 04:57:13 pm gửi bởi qtdc »
|
Logged
|
|
|
|
qtdc
Thượng tá

Bài viết: 3299
|
 |
« Trả lời #537 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2011, 12:49:59 am » |
|
(tiếp)Có vẻ chiến dịch «АТRINА» đã thua ngay từ khi chưa bắt đầu. Nhưng sau khi phân tích tình hình bởi: Tư lệnh Hạm đội Biển Bắc đô đốc hạm đội I.М.Каpitanets, Tham mưu trưởng Hạm đội Biển Bắc phó đô đốc Yu. Patrushev và đại tá hải quân V.V.Gavrilov trưởng ban tác chiến chống ngầm Hạm đội Biển Bắc, đã tìm ra quyết định cho phép tiến hành thắng lợi chiến dịch này. Một số thay đổi được đưa vào kế hoạch chiến dịch. Một trong số đó là tăng khoảng cách giữa các con tàu, điều người Mỹ không chờ đợi, còn hệ thống chống ngầm SОSUS chưa sẵn sàng cho việc đó. «RITSA» cho phép làm điều này, bởi vì nó có dự trữ “độ bền” rất lớn. SOSUS - ru.viki. Tuyến Greenland - Iceland - United Kingdom, viết tắt GIUK gap.Tất nhiên những mẫu «RITSA» đầu tiên chưa thật hoàn thiện nhưng theo lời đô đốc hạm đội I.М.Каpitanets «đó là thiết bị trong nước đầu tiên hoạt động theo nguyên tắc xử lý tín hiệu số, mà các đặc tính kỹ - chiến thuật của «RITSA» đã được tính đến trong ý đồ và trong phát triển kế hoạch chiến dịch «АТRINА»». Ngày 11 tháng 4 năm 1987 đã diễn ra trận đại thắng của «RITSA». Trên tàu ngầm nguyên tử К-298, thuyền trưởng là trung tá hải quân N.А. Pоpkоv, còn trắc thủ «RITSA» là chuẩn úy hải quân I.V.Shildiyaev, ngày hôm đó đã bắt được tiếp xúc với tàu ngầm Mỹ gần 11 giờ đồng hồ. Tàu ngầm Mỹ bị phát hiện ở khoảng cách 400 kabelt và các con tàu đã đi trong 8 giờ, chỉ tuân theo chỉ thị của «RITSA», cho đến tận khi nào mà thiết bị chính tắc còn chưa nghe thấy tàu ngầm Mỹ (đã có lệnh cấm báo cáo việc phát hiện bằng «RITSA»). Chủ tịch phân ban biển của Viện Hàn lâm khoa học quân sự đô đốc hạm đội I.М.Каpitanets nói về điều đó như sau «sự thật nói trên đặt dấu chấm hết cho ưu thế độc quyền của các tàu ngầm Mỹ về tầm xa phát hiện được bằng thiết bị thủy âm các tàu ngầm nguyên tử Xô viết». Sau đó, đô đốc hạm đội I.М.Каpitanets nhiều lần nhận xét đánh giá «RITSA» «…trong lĩnh vực phát triển thiết bị nội địa của hệ thống phát hiện bằng thủy âm các tàu ngầm có độ ồn nhỏ, đó là một trong những thành tựu xuất sắc nhất trong lịch sử Hải quân cuối thế kỷ 20». Cuộc chiến giành Đại Tây Dương đã thắng lợi. Chiến dịch đã chỉ ra chỗ yếu trong hệ thống phòng thủ chống ngầm của Mỹ, và chứng minh rằng khi sử dụng số lượng lớn tàu ngầm nguyên tử, được trang bị các tổ hợp thủy âm hiện đại, chúng ta có thể xuyên thẳng tới bờ biển Hoa Kỳ và giáng đòn đáp trả. Người Mỹ vẫn tức giận khi nhớ về chiến dịch tàu ngầm duy nhất, đó là chiến dịch «АТRINА». Lá cờ Tổ quốc đã được biểu dương ở mức độ cao nhất. Hòa Bình đã ngồi vào sau bàn đàm phán. Ngày hôm nay giới khoa học tinh hoa đang cố gắng làm cho sự kiện lịch sử «АТRINА» và «RITSA» đi vào quên lãng. Chuẩn đô đốc hồi hưu Vladimir Dmitrievitch Yamkov nói với tôi chuyện trên một cách đau xót, ông từng là một sư đoàn trưởng tàu ngầm nguyên tử, áp dụng các thiết bị phụ trợ thuỷ âm trên các tàu ngầm sư đoàn mình. «Bằng cuộc bỏ phiểu – hội đồng các chuyên gia khoa học cao cấp đã nhất trí ra nghị quyết năm 2006 rằng, điều đó là không có và không thể có». Có lẽ chuyện này có lợi cho ai đó, như người Mỹ chẳng hạn, để quên đi sự kiện không vui này trong thời chiến tranh lạnh, còn để xoá nhoà "ATRINA" và "RITSA" - thành tựu của Hạm đội Biển Bắc trong cuộc chiến chống lại tàu ngầm ít tiếng ồn của nước ngoài thì không ai có thể làm được. Sự thực rất cứng đầu. Có hay không - người đọc sẽ phán xét, công việc với các thiết bị thuỷ âm "RITSA" đã được tiến hành tại Hạm đội Biển Bắc trong 10 năm. Đây không phải chuyến đi biển duy nhất, mà cả một kỷ nguyên. "RITSA" đã đoàn kết hạm đội, và do đó làm cho nó mạnh mẽ hơn và cần cảm ơn nó về điều ấy. Hiện còn rất nhiều mệnh lệnh, chỉ thị, hướng dẫn về "RITSA". Tiện dịp, tôi chỉ kể thêm một chuyện về nó. Bộ tham mưu Hạm đội Biển Bắc có sự đóng góp của nó đã tổ chức thành công một loạt các cuộc tập trận và chiến dịch. Nhưng nói về việc này hãy để lần sau. Vì Hạm đội Biển Bắc không làm công tác nghiên cứu khoa học mà chỉ hoạt động quân sự có sử dụng thiết bị đó, hạm đội tự mình phát minh và chế ra thiết bị này, họ không có nghĩa vụ phải chia sẻ bí mật với giới khoa học, hãy ghi nhớ những lời của Phó Đô đốc V.K.Korobov, "Hãy làm vì HẠM ĐỘI, không phải làm để bảo vệ luận án và hãy giữ tất cả trong vòng bí mật." Khi sử dụng kinh nghiệm trên, Tham mưu trưởng Hạm đội Biển Bắc phó đô đốc М.V.Моtsak phối hợp với «Phong trào Ủng hộ Hạm đội» của М.P. Nenashev năm 1999, khi dừng sử dụng "RITSA", đã tổ chức chương trình hiện đại hoá trang thiết bị kỹ thuật điện tử của Hạm đội Biển Bắc. М.V. Моtshak còn đi xa hơn. Năm 2000 tại Hạm đội Biển Bắc, trong khuôn khổ chương trình đó, đã thử nghiệm thiết bị «Spolokh», tương tự "RITSA", nhưng dùng cho máy bay của Hạm đội Hải quân Nga. Tuy nhiên tai nạn thảm khốc của tàu ngầm «Кursk» mà M.V.Motshak phải gánh trách nhiệm chính trong sự hy sinh của nó đã cản trở công việc trên. Cố vấn Chủ tịch VHLKH Nga viện sỹ VHLKH Nga Yu.Е.Nesterekhin nói về sự phát triển tiếp theo của "RITSA" «Ở nước ngoài, xu hướng xử lý tín hiệu số hoá và xử lý số dữ liệu mà Kurytshev V.E. đã phát triển được gọi là công nghệ COTS. Nó được biết như xu hướng hiệu quả nhất trong quân sự cũng như các ứng dụng chuyên ngành khác. Кurуtshev V.Е. – là người tiên phong trong xu hướng ấy». Năm 1996 người Mỹ đã một phen hoảng sợ vì cuộc đột phá bí mật của tàu ngầm “Con Hổ” đề án 971 (tức K-154 “Shuka-B” đề án 971) do đại tá hải quân A.V.Burilitchev chỉ huy, tới bờ biển nước Mỹ. Vì lý do này họ đã thành lập một uỷ ban đặc biệt thuộc Hội đồng các Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, và gần như lập tức quyết định chương trình hiện đại hoá US Navy SBIR –ARCI (Small Business Innovation Research (SBIR) - Acoustic Rapid COTS Insertion (ARCI)) về trang bị lại cho tất cả các tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ, các thiết bị hỗ trợ tương tự "RITSA", trên cơ sở công nghệ COTS (Commercially available Off-The-Shelf ). Người Mỹ đã chọn con đường mà HẠM ĐỘI chúng ta đã đi qua 10 năm trước. K-154 "Con Hổ" đề án 971 "Shuka-B" trong vịnh Saida năm 2006. (submarina.narod.ru)[ Phương pháp mà các sỹ quan hải quân Nga mở ra có ích trong mọi lĩnh vực cần phát hiện các tín hiệu yếu trên nền nhiễu mạnh, bất kể đó là các tàu ngầm độ ồn thấp, ánh sáng các thiên hà xa xôi (V.Yu.Terebizh năm 2006) hay các đối tượng khác
Viktor Ecghenevitch Kuryshev hôm nay là người hưu trí, không còn trẻ, đã ở tuổi 60, đại úy hải quân dự bị, hiện sống tại thành phố Severomork. Trả lời câu hỏi của tôi – thiết bị đó giá bao nhiêu – đáp: «400 rup phó đô đốc V.K.Korobov chi cho chuyến đi khắp Liên bang, và còn 400 rup từ quỹ của các đô đốc chi cho một chi tiết rất hiếm, còn lại là tiền các sỹ quan và hạ sỹ quan tiết kiệm khi đi công tác». Đó là tất cả cái giá của CHIẾN THẮNG. Viktor Ecghenevitch Kuryshev đã quá nhũn nhặn – đó còn là phẩm chất mà với nó, anh ấy cùng các chiến hữu của mình đã dời được núi. Chúng tôi cũng biết rằng trong tiến trình toàn bộ lịch sử tồn tại của nước Nga trong những giờ phút kịch tính nhất của nó luôn luôn có những con người thực hiện được những điều phi thường cho Vinh quang của Tổ quốc.
Danh sách được tặng thưởng bao gồm nhiều người đã nuôi nấng ý tưởng và hun đúc nên chiến thắng này. Bởi thế tôi coi là cần thiết nhắc độc giả về họ, mà đồng thời, liên quan đến dịp 20 năm tiến hành chiến dịch "ATRINA" tôi xin chúc mừng người lãnh đạo chiến dịch Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội V.N.Chernavin; Tổng tư lệnh Hải quân Nga đô đốc F.N.Gromov; những người tham gia chuẩn bị và tiến hành chiến dịch: Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội I.М. Каpitanets, cục trưởng cục tác chiến chống ngầm Hải quân Liên Xô phó đô đốc E.I.Volobuev, phó đô đốc В.I.Pаnin, phó đô đốc М.V.Моtshak, đại tá hải quân V.V.Gavrilov trưởng ban tác chiến chống ngầm Hạm đội Biển Bắc, đại tá hải quân Yu.А.Моghilnikov, chuẩn đô đốc V.D.Yamkov, chuẩn đô đốc V.P.Тkatchev, phó đô đốc V.P.Larionov, chuẩn đô đốc G.I. Shalyghin, chuẩn đô đốc V.P.Senin, đại tá hải quân S.А.Кlеmekhin, đại tá hải quân А.А. Semin, đại tá hải quân G.N.Nuzhin, đại tá hải quân Е.P. Sozanskii, đô đốc hạm đội G.А.Sutchkov, đại tá hải quân D.V.Eliseev, chỉ huy biên đội tàu ngầm nguyên tử trong chiến dịch "ATRINA" phó đô đốc А.I.Shevchenko, thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử К-299 đại tá hải quân М.I.Кliouev và thủy thủ đoàn, thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử К-244 đại tá hải quân V.I.Аlikov và thủy thủ đoàn, thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử К-298 đại tá hải quân N.А.Popkov và thủy thủ đoàn, thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử К-255 đại tá hải quân B.Yu.Мuratov và thủy thủ đoàn, thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử К-524 đại tá hải quân А.F.Smelkov (nay là phó đô đốc) và thủy thủ đoàn, các trắc thủ "RITSA" trong chiến dịch: đại tá hải quân I.А.Sapozhnikov, trung tá hải quân М.М. Еfimov, trung tá hải quân М.N.Lyzhov và đặc biệt chuẩn úy hải quân I.V.Shildiyaev. Những người phát triển và xây dựng nên "RITSA" các sỹ quan và hạ sỹ quan Hạm đội Biển Bắc: đại úy hải quân V.E.Kuryshev, đại tá hải quân V.М.Khalamkov, thiếu tá hải quân Yu.V.Bukovskii (và là trắc thủ "RITSA" trong "ATRINA"), trung tá hải quân А.P.Кudimov, thiếu tá hải quân А.I.Chоbitko, thiếu tá hải quân А.Е.Salmin, trung tá hải quân А.М. Sumatchev, trung tá hải quân V.G.Mitkin, thiếu tá hải quân Yu.А.Voevodin, chuẩn úy hải quân М.R.Ziyangulov, chuẩn úy hải quân А.I.Zharkov, hướng dẫn viên BCH Trung ương Đoàn TNCS Lê nin toàn Liên bang S.V.Viughin, thiếu tá hải quân А.V.Feighin, đại úy hải quân S.Yu.Strelenko, đại úy hải quân S.B.Stulov, đại úy hải quân V.М.Liapin, сhuẩn úy trưởng V.G.Kotchetov. Chúng ta hãy nhớ đến những người tham gia mà không còn sống đến ngày hôm nay: Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội Liên bang Xô Viết S.G. Gorshkov, Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Liên Xô đô đốc hạm đội N.I.Smirnov, đô đốc G.А. Bondarenko Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Liên Xô phụ trách huấn luyện chiến đấu, đô đốc V.К.Коrоbоv, đại tá hải quân Т.А.Barkulakov, đại úy hải quân Yu.D.Sinhiakin, không có các bàn tay vàng của những con người ấy "RITSA" không thể có được. Phụ lục Thiết bị phụ trợ BPF-DVK (БПФ-ДВК) năm 1985 (từ năm 1986 gọi là RITSA) Tổ hợp thiết bị số hóa và xử lý tín hiệu thủy âm “RITSA-85” (Цифровой гидроакустический приставочный комплекс «РИЦА – 85»)Thiết bị phụ trợ số hóa và xử lý tín hiệu số kèm với tổ hợp thủy âm “Magniy” để thay thế “RITSA”, BPF-2M + Thiết bị điện tử-NTS-80. Người thiết kế GS Aghizim A.M. Đại học Bách khoa Lvov. Chế tạo tại nhà máy "Etalon", Kiev 1988 (Цифровая приставка к ГАК «Магний» на замену «Рицы», БПФ-2М+Электроника-НЦ-80. Разработчик Агизим А.М. ЛПИ.Львов.Изготовитель завод «Эталон», Киев 1988 г).......
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Mười, 2011, 05:14:50 pm gửi bởi qtdc »
|
Logged
|
|
|
|
qtdc
Thượng tá

Bài viết: 3299
|
 |
« Trả lời #538 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 12:33:01 am » |
|
(tiếp)«… V.Е.Kurytshev trong ghi chép này mô tả nguyên lý hoạt động của “Ritsa”, cũng như bổ sung các sự kiện về việc sử dụng thiết bị hỗ trợ thủy âm tại Hạm đội Biển Bắc trong những năm chiến tranh lạnh. Tạp chí «Tập san hàng hải», mà V.E.Kurytshev chuẩn bị cho bài báo này đã từ chối đăng. Khi đó V.E.Kurytshev đề nghị tôi đưa bài báo lên site của tôi. Tôi tin rằng, thông tin là hữu ích và sẽ hữu ích cho cả các chiến sỹ tàu ngầm và các chuyên gia…». А.М.МАGAZNOV (magaznov.hotmail.ru/index.htm). Những huyền thoại với thiết bị RITSA V.Е.Кurуtshev. Trong số ra tháng mười một tập san "Morskoi Sbornik" năm 2007, đại tá hải quân M.Golubev trong bài viết về triển vọng của các loại sonar phát hiện thụ động đã bảo vệ quan điểm về tính chưa chín muồi trong các kết luận của các nhà khoa học nổi tiếng, ghi trong các tài liệu chính thức của Hải quân về sự không có triển vọng của sonar thụ động khi làm việc với các đối tượng có tiếng ồn thấp. Đại tá hải quân M.Golubev nói đúng. Nó giúp loại bỏ sự nhầm lẫn về sự không phát hiện được tín hiệu, nếu tín hiệu nhỏ hơn so với tiếng ồn (nhiễu, tạp âm) của biển. Xét điều kiện cần về toán học để phát hiện nó (tín hiệu) là điều kiện (tỷ số) công suất của hỗn hợp tín hiệu với nhiễu trên (/) công suất nhiễu phải vượt một mức sao cho tín hiệu không còn nhỏ nữa. Thiết bị phát hiện chỉ bị áp đặt những hạn chế về mặt kỹ thuật dưới dạng điều kiện chưa đủ để phát hiện tín hiệu yếu. Về mặt lý thuyết, không có nguồn ít tiếng ồn – chỉ có thiết bị phát hiện chưa tối ưu. Hai mươi lăm năm trước đây, các chiến sỹ tàu ngầm binh đoàn tàu ngầm diesel Hạm đội Biển Bắc đã thiết kế và sản xuất thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ BPF-DVK (Ritsa. БПФ: Быстрое Преобразование Фурье - дискретного преобразования Фурье (ДПФ), thuật toán tính nhanh biến đổi Fourier rời rạc;FFT-DFT: Fast Fourier Transform - Discrete Fourier Transform) cho tổ hợp thủy âm tàu ngầm "Rubicon". Nó cho phép phát hiện, phân loại và theo dõi các tàu ngầm ít tiếng ồn ở khoảng cách lớn hơn nhiều so với khả năng của tổ hợp thủy âm không có thiết bị phụ trợ trên. Các chuyên gia cấp phép thẩm định Hội đồng chuyên gia bên cạnh Tổng tư lệnh Hải quân về thiết bị thủy âm, năm 2001 kết luận rằng điều đó không có và không thể có về mặt lý thuyết. Việc áp dụng các thiết bị phụ trợ trong Hạm đội Hải quân được họ coi là trò bịp bợm và không thích hợp đối với Hạm đội Hải quân. Tuy nhiên, các kết quả làm việc của thiết bị phụ trợ này có thể tìm thấy trong các sách báo đã xuất bản "Chuyến đi biển đơn độc", "Atrina chưa được biết đến", "Chuyến đột kích của các Hoàng tử Đen", "Những sự kiện bất thường trong Hạm đội Xô Viết", và những tài liệu khác. Tháng 8 năm 2006, Học viện Hải quân mang tên N.G.Kuznetsov, bằng phát ngôn của người đứng đầu, thông báo về thế quân bằng đạt được của các thiết bị thủy âm của Hải quân Nga so với các thiết bị của Hải quân Hoa Kỳ. Điều này rất đáng tự hào. Đó là ngày hôm nay, còn trong thời Chiến tranh Lạnh thì khác. Các chuyên gia Hải quân sẽ thú vị với các vấn đề về nguyên lý kỹ thuật mà không được kịp thời thực hiện trong các hệ thống sonar tàu ngầm đời cũ "MG-10", "Kerch", "Rubin", "Rubicon", "Skat-KS". Chính vì vậy, tầm xa mà chúng phát hiện được các tàu ngầm tiếng ồn nhỏ trong chế độ thụ động là thấp. Trong những năm 80 thế kỷ trước, các kỹ sư tàu ngầm binh đoàn tàu ngầm diesel số 4 Hạm đội Biển Bắc đã thấy lý do rõ ràng trong sự yếu kém của hệ thống sonar trong nước khi gặp phải tàu ngầm ít tiếng ồn của NATO. Các thượng úy kỹ sư của binh đoàn Kuryshev V.E, Bukovsky Yu. năm 1981đã phát minh ra, còn năm 1985 đã thử nghiệm thiết bị kỹ thuật số trợ giúp hệ thống sonar "Rubicon" - BPF-DVK. Có những tin đồn trái ngược nhau về hiệu quả của nó. Theo yêu cầu của nhiều chuyên gia tôi giải thích nguyên lý hoạt động của thiết bị. Thiết bị này kết nối với Sonar, với các kỹ năng thích hợp, sẽ giúp ta phát hiện tàu ngầm ít tiếng ồn khi ở chế độ thụ động trên các tầm xa lớn hơn Sonar không có thiết bị phụ trợ này. "Giới Khoa học" thuộc Trung ương cùng với các nhà cung cấp truyền thống sonar cho Hải quân hồi đó đã nói và ngày hôm nay còn nói - không có và không thể. Và để thuyết phục Hạm đội Biển Bắc và binh đoàn, rằng đó là một ý tưởng điên rồ của các chàng trung úy, bất kỳ công tác xử lý tín hiệu bổ sung nào, gồm cả xử lý kỹ thuật số, sẽ làm giảm tầm hoạt động của thiết bị xuống 30%. Có một kết luận của các chuyên gia thủy âm Hải quân tại cuộc họp mở rộng Viện nghiên cứu Hải quân số 14 tháng 10 năm 1983 với chỉ dẫn dấu hiệu suy giảm. Thái độ thù địch của Cục Kỹ thuật VTĐT Hải quân với ý tưởng của các thượng úy trẻ giải thích thực tế là ở giai đoạn giữa thập niên 70 thế kỷ trước, theo nhiệm vụ mà Ủy ban Trung ương ĐCSLX giao cho, theo ủy nhiệm của Cục Kỹ thuật VTĐT Hải quân đã tổ chức công trình nghiên cứu khoa học "Griyada" với sự tham gia của Viện Thủy âm mang tên Andreev (АКИН -AKIN), viện nghiên cứu Hải quân số 14 (nay Trung tâm NCKH về vũ khí VTĐT), Liên hiệp NPO "Morphyzpribor", kết quả của nó là trong Hải quân người ta không khuyến khích đặt máy phân tích phổ trên tàu ngầm vì kết quả công trình nghiên cứu "Griyad" chỉ ra hệ thống sonar tàu ngầm là tối ưu và không cần bổ sung thêm vào thành phần hệ thống đó máy phân tích phổ để phát hiện các nguồn tiếng ồn thấp. Vì vậy, trong hệ thống sonar của tàu ngầm thời gian đó không có máy phân tích phổ theo các nguyên tắc phát hiện tự động các thành phần rời rạc, nén nhiễu nội tại, có hệ thống tích hợp vầ nhận dạng mẫu phổ tín hiệu. Không có thiết bị phân tích phổ có kiến trúc mở với các chương trình xử lý tín hiệu có khả năng cấu hình linh hoạt. Thiếu sót này đã được nhóm sỹ quan tiên phong binh đoàn số 4 Hạm đội Biển Bắc tìm hiểu và khắc phục, bất kể kết quả công trình nghiên cứu "Griyad". Trong quá trình phát triển thiết bị trên mới thấy rằng hệ thống sonar "Rubicon" không thực hiện các nguyên tắc cơ bản của Lý thuyết Phát hiện Tín hiệu (Теория Обнаружения Сигнала - Signal Detection Theory): không dịch chuyển, đồng dạng, bất biến (несмещённости - unbiasedness, подобия - similarity, инвариантности - invariable). Vì vậy, tuyên bố của các quan chức Cục Kỹ thuật VTĐT Hải quân, chuyên gia Viện nghiên cứu 14 và “Morphyzpribor” về sự "tối ưu" của hệ thống sonar là không thuyết phục. Sonar thời đó được coi là "bộ lọc tối ưu", trong đó đã tối đa hóa tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu ở đầu ra kênh xử lý, nhưng, than ôi, không giống như một máy dò. Trong sonar, người ta không thực hiện theo lý thuyết phát hiện. Đây là lý do hiệu suất kém. Máy phân tích phổ mà không có phương pháp phát hiện tự động nhằm mục đích phát hiện các đối tượng tiếng ồn thấp và chế áp tiếng ồn của riêng nó - không hữu ích bao nhiêu. Đến cuối những năm 70 đã xuất bản khá đủ các công trình lý thuyết về tín hiệu nhỏ nhất phát hiện được bằng máy phân tích phổ. Không có phương pháp nào trong số này được khuyến khích và thực hiện với Hải quân. Đối với một số sonar Skat-KS người ta đã lắp một máy phân tích phổ rất lớn, "Melody" với một máy tính "Ataka". Nhưng họ đã không giải quyết được vấn đề, bởi vì họ chuyển giao mà không có phần mềm xử lý thích hợp và phương pháp phát hiện mục tiêu tự động. Trong lý thuyết phát hiện, phương trình quan hệ giống thật (уравнение отношения правдоподобия - Likelihood Equation) mới là cơ bản, chứ không phải là phương trình giống thật lớn nhất (уравнение максимального правдоподобия - maximum likelihood method) của lý thuyết đánh giá (теории оценок). Không thể nhầm lẫn giữa lý thuyết phát hiện với lý thuyết đánh giá. Trung bình hóa phổ - là hoạt động có căn cứ khoa học của việc đánh giá phổ hiệu quả và khách quan, nhưng phương pháp có căn cứ khoa học xác đáng phát hiện các thành phần tín hiệu phổ yếu không phải như vậy. Do đó, quá trình tìm kiếm thành phần rời rạc sử dụng máy phân tích phổ đã dựa vào và có lẽ vẫn bây giờ vẫn phải dựa vào đặc điểm tâm lý-vật lý của con mắt các thao tác viên khi phân tích phổ trung bình. Đối với mục tiêu tiếng ồn thấp đó là một huyền thoại, bởi vì con người có thể đồng thời theo dõi các thông số không nhiều hơn 5-7 tham số độc lập (trung bình là 3) khi mà màn hình của máy phân tích giới thiệu hơn 200 giải pháp phổ, và còn phải tính ở các góc hướng khác nhau nữa chứ. Nó sẽ làm mệt mỏi các thao tác viên. Kết quả, máy phân tích phổ được sử dụng như một thiết bị kiểm tra và bổ sung phân loại sau giai đoạn phát hiện vết của máy định hướng truyền âm (трактом ШП). ....
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Mười, 2011, 09:10:00 pm gửi bởi qtdc »
|
Logged
|
|
|
|
qtdc
Thượng tá

Bài viết: 3299
|
 |
« Trả lời #539 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 08:57:57 pm » |
|
(tiếp)Cơ sở tính toán của hệ thống sonar thời bấy giờ là lý thuyết về lọc tối ưu theo giả định tín hiệu có tính cố định và tuân theo biến đổi Gauss. Tuy nhiên, tín hiệu và tiếng ồn là ngẫu nhiên, không đẳng hướng trong không gian và không cố định. Mô hình toán học tính toán hệ sonar là không phù hợp với thực tế. Trong thiết bị BPF-DVK đã đưa vào các tính toán để sửa chữa thiếu sót này. Thiết bị BPF-DVK gồm có máy phân tích phổ số hóa kích thước nhỏ gọn và mới nhất thời điểm ấy "Charysh-2M", kết nối với ăng-ten sonar thông qua bộ đấu cáp "tới máy phân loại" và máy tính kích thước nhỏ "DVK-2M". Sáng kiến của nhóm sỹ quan là phát triển một giao diện chương trình đặc biệt kết nối máy phân tích với máy tính và xử lý tín hiệu, cho phép trong thời gian thực đưa phổ trong tầm quét vòng vào máy tính và trong điều kiện các đồ thị định hướng sonar thiết lập không tự động. Hàm mật độ khả năng (xác suất) cho phân bố khi – bình phương (Probability density function for the chi-square distribution). Hàm mật độ tích lũy cho phân bố khi – bình phương (Cumulative density function for the chi-square distribution). So sánh median, mean, mode trên 2 đường cong phân bố logarit-thường với vi phân độ xiên.Trong thiết bị "Ritsa", thành phần rời rạc đã được phát hiện tự động. Ngưỡng của báo động giả và của sự phát hiện chính xác được tính toán lại dựa trên giả thuyết sự phân bố mỗi số đo phổ là phân bố xác suất không tập trung khi-bình phương (χ2). Thuật toán tự động chạy 1300 số đo mẫu phổ thu được, và kiểm tra chúng có hay không vượt ngưỡng, tính từ cấp địa phương của phổ bằng phương pháp đánh giá trung bình (методом медианной оценки - Medians of probability distributions), nhân với hệ số ngưỡng thích hợp. Tần số của các số đo vượt quá ngưỡng được tự động ghi lại trong một bảng giá trị mức decibel vượt quá ngưỡng của số đo này trên nền mức phổ địa phương. Chương trình còn xử lý tự động bổ sung với việc loại bỏ tiêu hao sai và loại tiếng ồn (nhiễu) nội tại. Tuy nhiên, mô hình toán học phù hợp hơn khi mỗi số đo quang phổ được mô tả bằng phân bố Wishart (khi-đa chiều bình phương – Wishart distribution - phân bố mang tên nhà thống kê học người Scotland John Wishart (28 November 1898 – 14 July 1956)), trong việc đánh giá tính đồng nhất nguồn của các số đo phổ so với nền địa phương. Điều đó cho phép phát hiện và phân loại tiếng ồn thủy âm với tỷ lệ "tín hiệu-nhiễu" thấp đến mức "không tưởng". Trong khi đó, một lý thuyết thống nhất kết hợp trong thiết bị phụ trợ việc phát hiện, chế áp nhiễu một cách thích hợp, phân loại và xác định phương vị của mục tiêu, chính là lý thuyết thông tin. Năm 1982, Viện sĩ A.N.Kolmogorov trong một cuộc trò chuyện với chúng tôi, sau khi hiểu vấn đề của chúng tôi, bất ngờ đề xuất việc đặt căn cứ toán học của ý tưởng không dựa trên khung lý thuyết xác suất hoặc lý thuyết thủy âm nữa mà là khung lý thuyết thông tin (теории информации - Information theory). Tuy nhiên, sự hiểu biết này rất lâu về sau mới tới được, trên cơ sở thực hành, và áp dụng vào thiết bị dưới tên phương pháp thông tin-thích nghi. Cha đẻ lý thuyết lọc tối ưu ở đây đã đúng. Những ý tưởng của lý thuyết thông tin đã cho phép giảm tác động nhanh bắt buộc xuống hai cấp. Phương pháp phi tuyến này giải quyết một vấn đề phổ biến: phát hiện, chế áp nhiễu nội tại, thu hẹp đặc tính XH (đặc tính hướng của anten), phân loại nguồn. Phương pháp này cho phép trong phạm vi tần số I định hướng chính xác nguồn tiếng ồn thấp như trong phạm vi tần số III. Trong quá trình chuyển việc phát hiện nguồn độ ồn thấp sang tần số thấp hơn tại các hệ sonar đời cũ – thiết bị chủ yếu có tính "vật lý". Thiết bị tự động hóa phát hiện các thành phần rời rạc, nhưng chưa bao giờ trình ra cho thao tác viên. Không giống như tất cả các thiết bị phát hiện vào thời điểm đó, thiết bị phụ này phát hiện và theo dõi các mục tiêu chỉ gồm có ba loại tàu ngầm nguyên tử của Liên Xô, Mỹ và tàu vận tải. Các thành phần nhiễu nội tại rời rạc không ảnh hưởng. Ảnh hưởng của nó bị chế áp khi xử lý sơ bộ một cách thích ứng, cũng như trong thủ tục phân loại tự động. Hệ số ma trận của bộ phân loại tương ứng với nhiễu nội tại rời rạc bị đưa về không. Chúng tỷ lệ với logarit quan hệ (tỷ số) của số chung của các mục tiêu luyện tập, với số các phân tán rời rạc ấy trong những lớp (tàu) khác nhau. Vì nhiễu chưa chế áp thường có ở khắp mọi nơi, các hệ số ma trận đó sẽ đưa nó về không và không làm ảnh hưởng đến phiếm hàm chỉ thị thông tin (индикаторный информационный функционал - một hàm trong lý thuyết thông tin - functional indicator information;chức năng hiển thị thông tin). Thao tác viên thiết bị phụ trợ không bao giờ (cần) quan tâm đến quá trình đánh giá phổ trên màn hình máy phân tích phổ và tìm kiếm các thành phần rời rạc. Máy phân tích phổ "Charysh-2M", đôi khi để thuận tiện và không chiếm chỗ, được người ta đặt dưới đôi chân mình, trong buồng máy thủy âm, bởi vì trên màn hình nhỏ bé của nó, chẳng ai và chẳng khi nào người ta cần tìm kiếm thành phần rời rạc nữa. Phục vụ thao tác viên trong quá trình chỉ thị trên màn hình không phải là các thành phần rời rạc, mà là hàm số thông tin tương hỗ, khi quan sát (quét) đường chân trời, giữa nhiễu và mục tiêu của lớp ta đang xem xét, đồng thời cả về tiếng ồn và các thành phần rời rạc. Thao tác viên chỉ ghi lại phiếm hàm cho một lớp. Báo cáo gửi tới phòng điều khiển trung tâm chỉ nói về phương vị và lớp (loại) mục tiêu. Vẫn có những lầm lẫn. Thiết bị "thích" sai lầm trên các tháp khoan. Tầm xa phát hiện được, theo đánh giá của ban tác chiến chống ngầm Hạm đội Biển Bắc đạt tới 500 km. Từ năm 1986 tôi không tham gia làm việc với thiết bị này nữa. Tôi phục vụ trong biên đội đào tạo tại thành phố Arkhangelsk. Tôi biết Hạm đội Biển Bắc đã sản xuất khoảng 15 thiết bị phụ trợ này, còn thiết bị khác được mua là 40. Lãnh đạo việc chế tạo thiết bị phụ trợ ở Hạm đội Biển Bắc là Cục trưởng Kỹ thuật VTĐT đại tá hải quân AA.Baranenko. Lập kế hoạch sử dụng và phân tích các kết quả của thiết bị phụ trợ là nhiệm vụ của ban tác chiến chống ngầm thuộc Bộ Tham mưu Hạm đội Biển Bắc dưới sự chỉ huy của đại tá hải quân Gavrilov V.V. Các thiết bị phụ trợ được sử dụng tại Hạm đội Biển Bắc 6 năm, đến năm 1991. Thực tế này được phản ánh trong các mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ Tư lệnh Hạm đội Biển Bắc vào thời điểm đó. Các quan chức của Uỷ ban khoa học biển và Cục Kỹ thuật VTĐT Hải quân hôm nay khẳng định rằng các thiết bị phụ trợ đã tiêu tốn số tiền đáng kể và tuổi bền của động cơ, nhưng không cho kết quả tương xứng. Tốt nhất là xua tan huyền thoại đó đi - thiết bị được phát triển như một sáng kiến chủ động, trong thời gian rảnh không phải đi phục vụ chiến đấu. Không có bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học hay nghiên cứu và phát triển chính thức nào của Hạm đội Hải quân về đề tài BPF-DVK được tiến hành và tiêu tốn tiền bạc. Tất cả các tính toán khoa học đã được tôi thực hiện trong khoảng 1979-80 và được báo cáo cho chủ nhiệm ngành kỹ thuật liên lạc VTĐT phân hạm đội tàu ngầm số 11 Hạm đội Biển Bắc đại tá hải quân Bureg G.N. Các cấu kiện điện tử riêng lẻ do các sĩ quan tiết kiệm tiền của họ để mua. Sự đóng góp quan trọng nhất vào thời đó do Phó Đô đốc V.K.Korobov thực hiện - 400 rúp. Với số tiền này đã mua được trở loại hiếm I2 tại thành phố Voronezh. Mười một đĩa BASF bổ sung cho máy tính DVK trị giá một thùng rượu "shil" thời ấy. Số "chi phí hoang tàn" này chúng tôi đã quyên góp từ các thuyền trưởng tàu ngầm và các kỹ sư cơ khí. Với nụ cười và lời bông đùa họ chuyển số vàng dự trữ để uống rượu sang cho cái thiết bị kỹ thuật số mà chẳng ai hiểu của chúng tôi (một loại cháo đặc nào đó). Phần mềm chính đảm bảo làm việc của DVK được viết trong một chuyến đi biển độc lập năm 1984. Cục Kỹ thuật VTĐT Hải quân chỉ cung cấp khởi đầu cho nhóm thiết bị kỹ thuật số mới nhất với Liên Xô thời ấy và các phụ tùng bổ sung mà chúng tôi không thể trả bằng tiền túi của mình được. Máy phân tích phổ "Charysh-2M" giá 36.000 rúp, còn máy tính "DVK-2M" -15 600 rúp. Đối với tuổi thọ của động cơ, thì không phải là chúng tôi - các thượng úy hải quân quyết định các con tàu ra khơi với những thiết bị phụ ấy để làm gì. Thêm vào đó người ta giao cho các con tàu có thiết bị phụ trợ đó nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu chứ không phải nghiên cứu khoa học. Các thông số kỹ thuật của thiết bị phụ trợ này có thể thú vị đối với các chuyên gia. Máy phân tích phổ hai kênh "Charysh-2M" có một bộ biến đổi tương tự - số ADC 12-bit, tính toán đồng thời hai biến đổi Fourier theo 4096 điểm trong 0,7 giây. Máy tính DVK có tốc độ tính toán là 200.000 phép tính mỗi giây, 64 Kbytes RAM và 217 Kbytes trên một đĩa từ mềm. Ổ cứng không có. Trong máy tính DVK hệ điều hành được sử dụng là "Phobos". Ngôn ngữ lập trình là ngôn ngữ "Pascal". Với khả năng khiêm tốn như vậy hiệu quả đạt được là nhờ các thủ thuật khéo léo trong lập trình và xử lý kỹ thuật số. Thiết bị này có hai nhược điểm lớn - xử lý chậm và độ tin cậy thấp, điều này đã dẫn đến việc bỏ qua các mục tiêu gần, do sự không phù hợp của chuyển vị góc của mục tiêu với tốc độ làm việc của thiết bị. Điều đó gây nên hoài nghi và thất vọng khi sử dụng nó. Để thay thế thiết bị "Ritsa", vào năm 1988, theo sáng kiến của Tư lệnh Hạm đội Biển Bắc Đô đốc Kapitanets I.M., Văn phòng Thiết kế của Đại học Bách khoa Lvov nhận được đơn đặt hàng phát triển một thiết bị phụ trợ nhanh hơn là "Magnii", tại một thân máy kết hợp cả máy tính và một máy phân tích phổ. Trong " Magnii " việc tăng tốc độ tính biến đổi Fourier nhanh thực hiện bằng cách sử dụng thuật toán Winograd (Coppersmith–Winograd algorithm; Don Coppersmith - nhà mật mã học và toán học Mỹ, Shmuel Winograd - nhà khoa học máy tính Mỹ). Năm 1990 đã chế tạo hai mẫu thử nghiệm tại nhà máy "Etalon" ở Kiev, nhưng chúng vẫn còn nằm tại đó, sau các sự kiện cách mạng năm 1991. Năm 2007, tại một phiên họp của các chuyên gia hàng đầu của Viện HLKH Nga trong lĩnh vực xử lý tín hiệu người ta đã công nhận rằng "Ritsa" không mang cái gì mới vào lý thuyết phát hiện tín hiệu và lý thuyết thủy âm thời đó, nó chỉ kết nối các lý thuyết phát hiện tín hiệu, lý thuyết xử lý tín hiệu kỹ thuật số, xử lý dữ liệu thống kê và lý thuyết thông tin. Tuy nhiên, sự khéo léo về kỹ thuật và thuật toán, xuất phát từ khả năng hạn chế của công nghệ, chính là bí quyết của thiết bị này, làm cho nó có khả năng xử lý dữ liệu thống kê trong thời gian thực, có thể đảm bảo nâng cao phạm vi hoạt động, và hệ thống sonar trước đó không làm được điều này. Thiết bị đã tập trung tiềm năng công nghệ và khoa học của Liên Xô (thời ấy). Giúp đỡ bằng quan hệ cá nhân trong những năm 1980-85 là các nhà khoa học lớn: V.M.Glushkov (hướng dẫn cho các nhà phát triển thiết bị kỹ thuật số tại Đại học Bách khoa Lvov), A.N.Kolmogorov, Prokhorov Yu.V. (hai nhà toán học này quan tâm đến các phương pháp thống kê về phát hiện, nhận dạng và lý thuyết thông tin), N.N.Moiseev (than vãn một thực tế là các thủy thủ quân sự rất kém chú ý đến mô hình toán học của các vấn đề thủy âm), V.A.Kotelnikov (chỉ dẫn về các tiêu chí của lý thuyết thông tin trong phát hiện tín hiệu), Nisterikhin Yu.E (đề xuất module bộ xử lý tín hiệu trong nước cho máy tính DVK-2M), các viện sỹ-thông tấn của VHLKH Liên Xô Zhuravlev Yu.I. (hướng dẫn cho nhóm của giáo sư Mazurov V.D. tại trung tâm khoa học Uran của VHLKH Liên Xô), Vysotsky B.F (chỉ dẫn về DVK-2M), Kaliayev A.V., những sự giúp đỡ đó cho phép tìm thấy con đường đúng đắn và kinh tế để làm giảm đáng kể thời gian phát triển. Trung tâm Ural của VHLKH Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Tiến sĩ Khoa học kỹ thuật V.D.Mazurov đã giúp chương trình phân loại tín hiệu làm việc. Tất cả các tính năng công nghệ của máy tính DVK được người đứng đầu bộ phận thuộc Liên hợp Khoa học-Công nghiệp NPO "Trung tâm nghiên cứu" Khokhlov M.M. từ thành phố Zelenograd giải thích cho chúng tôi qua sách hướng dẫn chuyên ngành. Với nhà thiết kế chính máy phân tích phổ "Charysh-2M" từ Đại học Bách khoa Lvov - Tiến sĩ Khoa học kỹ thuật Aghizim A.M. chúng tôi đã thành lập một mối quan hệ cộng tác sâu sắc - không có nó sẽ không xây dựng được thiết bị phụ trợ. Tất cả sẵn sàng chia sẻ kiến thức của họ cho các chàng thượng úy lập dị của binh đoàn tàu ngầm, khi có yêu cầu giúp đỡ việc áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới. .........
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười, 2011, 12:57:07 am gửi bởi qtdc »
|
Logged
|
|
|
|
|