Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:00:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức tuổi thơ máu lửa  (Đọc 392014 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #420 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 09:57:30 am »

  
Những lần cách mạng tổ chức Mitinh và bắc loa binh vận như thế, lúc đầu thì địch cũng có bắn M79 ra, nhưng chả trúng vào đâu vì cái loa được đặt ở xa chổ mitinh. Sau này chúng chỉ nằm im trong đồn để nghe hát chứ chẳng bắn ra viên đạn nào.

XEM VĂN CÔNG GIẢI PHÓNG BIỂU DIỄN.

  Ngoài những đêm Mitinh thì có lần tôi còn được xem văn nghệ của đoàn văn công giải phóng.
Tối hôm ấy, mới vừa choạng vạng mà đã thấy mấy anh du kích xuất hiện. Anh Cu là du kích xã Phổ Thuận  đến nhà tôi nói.

-   Tối nay bà con mình đi xem văn công giải phóng biểu diễn
-   Biểu diễn ở đâu ? Rủi như gặp lính kích đánh nhau thì làm sao ? – Tôi hỏi lại
-   Không có đâu ! Anh em du kích đã gác hết bên ngoài rồi, ra xóm sau mà xem, hay lắm.
        
Tôi háo hức đòi mẹ cho đi. Lần đầu tiên đi xem biểu diễn văn nghệ thử nó như thế nào. Tối hôm ấy anh Cu dẫn tôi và Dì Thời cùng đi xem.

    Dì Thời là người bà con, lâu nay vẫn chạy tản cư lên trú ngụ ở nhà tôi. Một hôm tôi vô tình kéo chiếc chiếu chổ dì nằm thì thấy bật lên một xấp thư. Tôi tò mò cầm lên xem thì ra đây là những lá thư của một anh lính dù. Những bức thư đã ố vàng nhưng nét chữ trong thư viết nghiêng rất đẹp và rõ ràng. Các lá thư được gởi từ nơi chiến trường Quảng Trị nóng bỏng của mùa hè đỏ lửa 1972. Trong thư, với những câu văn tả cảnh vật, không gian vắng vẻ nơi núi rừng vào những buổi chiều, cảnh cô đơn của người lính ngồi gác dưới trời mưa rả rích trong bóng đêm với ánh hỏa châu và pháo sáng lập lòe. Tả cảnh lính chui rúc trong công sự vì những đợt pháo kích suốt cả ngày … Nói chung anh lính nầy có tài văn chương, cộng với hoàn cảnh nơi chiến trường nên đã viết những lá thư tình rất hay, rất xúc động. Tôi ngồi suốt một buổi để đọc hết các bức thư ấy.

Vài ngày sau, khi nói chuyện với dì, tôi vẫn hay nói vài câu trong những lá thư ấy. Dì thời trố mắt nhìn tôi và nói .

-   Mày xem trộm thư của tao à ?
-   Đâu có ! Vô tình cháu quét nhà thì thấy rơi ra. À ! Mà bây giờ anh lính ấy ở đâu vậy dì ?
-   Anh ấy chết rồi !
-   Ủa ? Mới chết đây hả dì ?
-   Chết vì pháo kích ở Quảng Trị năm 72

Nói xong, dì cuối xuống đôi mắt đượm buồn nhìn về phía xa xăm. Tôi đã vô tình gợi lại nổi đau về mối tình đầu của dì trong thời li loạn. Hai năm sau ở nhà tôi, dì lại tiếp xúc và làm quen với anh Cu trong những đêm anh về Mitinh, hoạt động ở làng.

   Tối hôm đó anh Cu dẫn tôi và dì Thời đến nơi diễn văn nghệ ở xóm sau, cách nhà 500m. Địa điểm tổ chức là cái sân nhà bà Mẫn. Nền sân khấu được làm bằng những tấm ván gác lên những cái thùng phuy, bên trên khung sân khấu làm bằng những cây tre, có treo màn xanh đỏ, chính giữa treo một ngọn đèn Măng sông. Mọi người đã đến rất đông và đang xem các diễn viên sơn sơn, phếch phếch phấn son lên mặt. Các diễn viên đều mặt áo màu xanh da trời ( loại áo mà du kích lúc ấy hay dùng ), nữ thì quần vải ta màu đen, nam thì quần tây màu sẫm. Trên sân khấu có hai cái micro được treo lơ lững ngang đầu người.

   Đêm ấy biểu diễn nhiều tiết mục, có đàn Ghi ta, có cả đàn phong cầm giống như cái lò xo do một người mang trước ngực kéo ra, đẩy vào kêu ò e. Mở màn chương trình văn nghệ là một anh nam và tốp nữ hát bài “ Quảng Ngãi đất mẹ kiên cường”. Đó là bài hát mà tôi vẫn thích lâu nay. Trong đêm ấy ngoài bài này, tôi vẫn nhớ nhất là vở kịch “ Giải phóng Ba Tơ” ( Huyện Ba tơ đã được giải phóng hoàn toàn từ năm 1972 và sau này không hề bị chiếm lại ) diễn lại cảnh quân ngụy tháo chạy và quân giải phóng cắm cờ trên huyện lỵ Ba Tơ. Và tiết mục dân ca bài chòi hát đối đáp của đôi nam nữ trước khi người con trai lên đường đi tòng quân đánh Mỹ.

Tựa đề bài hát thì không còn nhớ, nhưng lời ca thì nhớ rất rõ vì trước đó và sau này tôi vẫn hay hát.


               Nữ:   Non sông vang lừng với tiếng kèn kêu gọi
                       Cả nước đứng lên nghe tiếng nói Bác Hồ.
                       Đi lên bảo vệ nước nhà
                       Vì nền độc lập tự do ta không lùi
                          
                           *                       *
                                     *   
            Nam:   Nghe tiếng nói như nghe lời tổ quốc
                      Dục lòng ta mau cất bước lên … đường
                      Đã là con của quê hương
                      Ngồi nhìn đất nước đau thương sao đành
                      Giặc về dưới túp lều tranh
                      Mẹ già tóc bạc điểm vành khăn tang
                      Gái trai cũng chỉ một con
                      Lấy ai nương tựa sớm hôm tuổi già ?

              Nữ:   Hay là anh ở nhà nuôi mẹ ?
                      Hay là anh tiếc rẻ tuổi xanh ?
                      Anh ơi giặc Mĩ nó xâm lăng
                      Non sông còn đó mà đất ngăn hai miền
                      Còn gì cao đẹp thiêng liêng
                      Bằng bao lớp trẻ thanh niên ta lên đường
                      Anh đã thấy quê hương đau khổ
                      Anh đã nhìn máu đổ xương rơi
                      Em thơ cháy đỏ trong nôi
                      Mẹ già Mĩ đã chặt đầu bêu lên
                      Biết bao nấm mộ không tên
                      Bao người vợ trẻ ngày đêm khóc thầm

                      Nhà cửa đã hóa thành sa mạc
                      Ruộng đồng ta đại bác xới cày
                      Nói sao hết nổi đắng cay
                      Nói sao hết cảnh đọa đày xót xa
                      Khổ đau nước mắt mẹ già
                      Khổ nhiều nước mắt hóa ra lửa hờn

             Nam:  Vẫn biết thế nhưng anh càng khổ lắm
                      Mẹ già anh tóc bạc điểm sương
                      Lấy ai chăm sóc ruộng vườn
                      Hay anh ở lại nấu nương tháng ngày
                      Anh vào du kích làng ta
                      Vừa tròn việc nước việc nhà lại vui

              Nữ:   Anh nghĩ thế ai cũng đều nghĩ thế
                      Lấy ai ra ngăn kẻ ngoại xâm
                      Đã từng đau khổ nhiều năm
                      Việc chung chưa trọn thì tình riêng sá gì
                      Ngày nào Mĩ chưa cút đi
                      Thiệu Kỳ còn đó lấy gì anh vui
                      Khăn tang vẫn trắng máu đào
                      Mẹ già anh còn sống cuộc đời tối tăm
                      Nung bào máu nóng thanh niên
                      Sức trai Phù đổng quyết đem rửa hờn

            Nam:   Nghe em nói anh càng thấm thía
                      Nửa non sông máu lửa nước sôi
                      Đã làm trai ở trên đời
                      Trước thời việc nước sau thời tình riêng
                      Lời Bác Hồ lời tổ quốc thiêng liêng
                      Dội vang khắp cả hai miền Bắc Nam
                      Chí trai vó ngựa dặm ngàn
                      Thân anh lướt gió đập tan quân thù

        Nam, nữ:  Mẹ già gởi lại (mà) nơi nầy
                      Bà con chăm sóc tháng ngày vẫn vui
                      Tình riêng tạm gác có nơi
                      Khi nào hết giặc ta (là) thời tính sau
                      Ruộng đồng nay vẫn xanh màu
                      Có công mẹ chỉ tháng ngày bón phân

                      Ra đi diệt lũ (í, a) xâm lăng
                      Cho ta (í, a)lại được sống gần bên nhau
                      Ơi tình ơi là bên nhau
                      Cho quê mình hết (í,a) thương đau
                      Cho Nam Bắc (í,a) chung một nhịp cầu
                      Ơi tình ơi là bên nhau.

            Nam:   Không gì cao quí cho bằng
                      Tự do độc lập ta hằng ước mong
                      Hỡi ai con Lạc cháu Hồng
                      Hãy mau cứu lấy non sông nước nhà
                      Thà hy sinh cả đời ta
                      Không làm nô lệ cho loài xâm lăng
                      Tuổi xuân ta nguyện thề rằng
                      Phơi thây giặc Mĩ đến tên cuối cùng

              Nữ:   Bốn ngàn năm dân tộc anh hùng
                      Đã cùng ta đánh thắng chung trận này
                      Bắt quân thù phải trả lại đây
                      Máu xương đồng ruộng bầu trời cho ta

                           *                       *
                                       *
        Nam, Nữ:  Đã nghe tiếng gọi vang xa
                      Đã nghe tổ quốc giục ta lên đường
                      Hỡi người con của quê hương
                      Hãy mau cất bước lên đường… Lên đường tòng quân ./.


Mọi người đứng im phăng phắc nghe bài hát mà như giục giả trong lòng, muốn lên đường tòng quân ngay. Phải công nhận văn nghệ có sức mạnh ghê gớm. Khi đã hạ màn kết thúc mà chưa thấy ai ra về vì đa số đều mới biết xem văn nghệ lần đầu và xúc động quá.

   Khi ra về, tôi đi trước một quảng để cho anh Cu và Dì Thời đi sau tâm sự. Nhưng rồi số dì cũng long đong, khi tình yêu lần hai đã bị mẹ của dì phản đối kịch liệt. Bà Bảy, mẹ của dì là em ruột ông ngoại tôi. Anh Cu mồ côi cha mẹ từ nhỏ nên đi ở mướn chăn trâu cho nhà ông ngoại tôi, sau đó tham gia du kích, rồi bị địch bắt bỏ tù ở Phú quốc 3 năm. Ra tù anh lại về tham gia du kích tiếp tục đến bây giờ. Nhà ông ngoại tôi là gia đình địa chủ khi xưa, nên bà Bảy cũng có quan niệm “ chủ, tớ” không muốn gả con cho người từng đi ở cho nhà mình. Cuối cùng sau giải phóng anh Cu cũng đi lấy vợ, còn Dì Thời vẫn lỡ thì đến hơn 40 tuổi mới gặp một ông chồng già và không có con. Bây giờ dì sống với đứa con nuôi đã có cháu ở Đà Lạt. Đó là niềm an ủi của dì khi tuổi đời đã xế bóng.


H1 : Nữ du kích Đức Phổ trong những năm khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh ( 1967-1972 )
H2 : Một du kích xã Phổ Thuận năm 1973

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Năm, 2011, 11:02:19 am gửi bởi lamson1981 » Logged
Hai Ruộng
Thành viên
*
Bài viết: 1275


« Trả lời #421 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 05:18:54 pm »

 Công nhận Lamson có trí nhớ giỏi ghê, mà chuyện kể cũng hết sức trần trụi , có sao kễ vậy bộc trực mà lại rất hay , rất thực tế .
Logged
bob
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 924


« Trả lời #422 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 03:51:28 pm »

 
Những lần cách mạng tổ chức Mitinh và bắc loa binh vận như thế, lúc đầu thì địch cũng có bắn M79 ra, nhưng chả trúng vào đâu vì cái loa được đặt ở xa chổ mitinh.

H1 : Nữ du kích Đức Phổ trong những năm khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh ( 1967-1972 )
H2 : Một du kích xã Phổ Thuận năm 1973


 Địch bắn M79 không đến nỗi tồi vậy đâu! Mà người bắn "cố tình" bắn trật ra chỗ khác đấy bạn ạ! Hồi ấy trong hàng ngũ bên đối phương (địch), Ta cũng cài được nhiều người của "cách mạng" vào hoạt động bí mật...!
  lamson@ có trí nhớ tốt lắm! kể chân thực rất đúng như những gì đã diễn ra hồi chiến tranh. Những năm 1971,1972 bob tui đã có một vài lần xuống vùng "giáp ranh" (quảng ngãi) nhận hàng nhu yếu phẩm do bà con mua gửi cho cách mạng (từ bút mực, sách vở đến khăn mặt, xà phòng thuốc lá...) Thật trân trọng tình cảm của nhân dân trong vùng tạm chiếm dành cho cách mạng. Bạn viết hay lắm tiếp tục bạn nhé.

Logged
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #423 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 04:22:02 pm »

 
Những lần cách mạng tổ chức Mitinh và bắc loa binh vận như thế, lúc đầu thì địch cũng có bắn M79 ra, nhưng chả trúng vào đâu vì cái loa được đặt ở xa chổ mitinh.

H1 : Nữ du kích Đức Phổ trong những năm khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh ( 1967-1972 )
H2 : Một du kích xã Phổ Thuận năm 1973


 Địch bắn M79 không đến nỗi tồi vậy đâu! Mà người bắn "cố tình" bắn trật ra chỗ khác đấy bạn ạ!



Cũng có trường hợp cố ý bắn trật, còn nếu muốn bắn vô chổ người nói, thì cái loa ở một chổ, người nói ở chổ khác thì làm sao xác định để bắn cho trúng hả bác ? Trừ trường hợp chúng biết trước địa điểm.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Năm, 2011, 04:29:42 pm gửi bởi lamson1981 » Logged
quyenkh
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1581


« Trả lời #424 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 07:17:23 pm »

Bác Lamson ơi ngoài Quảng Ngãi có điệu hát Chòi hay lắm phải không ? ngày ở đơn vị bên K mỗi lần trước khi họp có màn văn nghệ cho xôm tụ , thằng Mọn ( hy sinh ) tuy không biết chữ nhưng nó thuộc vanh vách .
Mỗi lần có thư người nhà gửi vô nó nhờ anh em đọc cho nghe , hi chỉ vài bận là nó thuộc lòng .. rồi cũng thơ thẩn một mình ra ngồi gốc cây nào đó , cầm lá thư đọc .. hi cũng lên giọng xuống giọng , ngắt quãng từng đoạn thấy mà thương .
Xem mấy bài chòi của bác em nhớ tới nó và mấy thằng quê Quảng Ngãi đã hy sinh trong đơn vị em .
Logged
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #425 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 07:49:12 pm »

Điệu dân ca Bài chòi thường dùng ở khu vực Trung Trung Bộ từ Đà Nẵng vào Khánh Hòa ( Qk 5 ) trong thời kháng chiến, chứ không riêng gì ở Q Ngãi. Khi hát lên có giọng ca ai oán, buồn thãm rất phù hợp với cảnh tan tóc của chiến tranh.
Tìm mãi mới được 2 bài hát và 1 video hát Bài chòi phù hợp. Xin mời các bác thưởng thức.

http://music.maivoo.com/music-3977/Bai-choi/Binh-Dinh-Que-To--Duong-Ha-Nhi.html
http://music.maivoo.com/music-2166/Bai-choi/Bam-oi.html
http://www.youtube.com/watch?v=NyRXQtPYx6A


« Sửa lần cuối: 05 Tháng Năm, 2011, 08:21:01 pm gửi bởi lamson1981 » Logged
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #426 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2011, 04:45:56 pm »

  MỘT HÌNH THÁI MỚI CỦA CHIẾN TRANH

   Thời gian sau hiệp định Pari, lúc đầu quân VNCH còn tổ chức phản công rầm rộ để chiếm lại những phần đất đã mất, nhưng sau đó lại mất tiếp những phần đất đã chiếm được. Lúc này đạn dược bị Mĩ cắt viện trợ nên pháo bắn cũng rất hạn chế. Nhiều vụ ám sát nổ ra giữa ban ngày cho nên tụi ác ôn không còn hung hăng như trước nữa. Đặc biệt quân giải phóng lúc này hay dùng chiến thuật đặc công để đánh đồn.

   Một hôm trên đường đi học, gần tới cầu Nước Mặn, thấy một số người đứng xem cái gì đó. Tới nơi tôi thấy hai xác người đen thui đang nằm chết bên lề đường. Đó là hai thanh niên, người mập tròn quay, người nào mình mẫy cũng đen thui. Màu đen là do sơn lên người giống như lọ nồi bôi lên chứ không phải đen cháy do thuốc nổ. Đặc biệt có một người nằm trần truồng, không một mảnh quần áo che thân. Có ai đó tủ lên chổ kín của anh bằng một miếng vải bằng bàn tay. Có lẽ khi địch kéo xác từ  bên ngoài đồn lên lề đường thì cái quần đùi đã bị móc vào hàng rào kẽm gai nên tuột mất. Mọi người nhìn cái xác trần truồng đều thương cảm cho anh. Một người nói.

-   Sao phải bôi mình mẩy đen thui thế nhỉ ?
-   Lính đặc công mà ! Phải bôi đen như thế để khi mò vào đồn mới khó bị phát hiện.

Những lần sau ở Cầu Nước Mặn lại liên tiếp thấy những xác của các chiến sĩ đặc công bị bắn chết bỏ bên ven đường. Khi thì một người, khi thì 2 người, khi thì người sơn đen, khi thì sơn xanh. Tất cả đều là thanh niên lứa tuổi đôi mươi, người nào cũng mập mạp tròn quay, không giống các ông giải phóng bị giật hầm trong các trận càn thì người nào cũng gầy nhom, mặt mày hốc hác vì thuốc nổ. Nhìn sang bên ngoài đồn ở Cầu Nước mặn tôi thấy rất là trống trải, chỉ vài bụi cỏ tranh lưa thưa bên những lớp rào bùng nhùng, rào vướng chân nằm sát mặt đất. Đứng trên đường QL còn thấy cả những trái mìn laymo được gắn trên 3 chân quay bề lõm ra ngoài. Thế thì làm sao những người đặc công có thể cắt được mấy lớp rào đầy mìn bẫy như thế để vào đồn, nên chưa có lần nào đặc công tiêu diệt được đồn Nước Mặn. Cây Cầu này do một trung đội lính người thượng trấn giữ, có mang theo cả vợ con ở trong đồn. Hằng ngày vẫn thấy những người vợ lính mặc chăn ( cà tu ) đi bắt cá, bắt những con nòng nọc, ếch nhái ở cánh đồng ven đồn để về ăn.

  Có một lần đặc công mò được vào đồi Núi Thụ - Cách cầu Nước Mặn hơn 1km về hướng bắc -  bắt sống được toàn bộ trung đội ngụy, mười mấy tên, nhưng tiếc thay, tên đồn trưởng Lin là ác ôn đêm ấy đi sang đồi Núi Bé để đánh bài nên thoát chết.

   Một hôm ông Thìn bị lính bắt đi chôn những người đặc công, khi về ông lấy cho mọi người xem một tờ bạc 500đ có dính nhiều máu. Ông nói rằng những lần đi chôn xác thì đều thấy trong người của các chiến sĩ  có một tờ bạc như thế. Có lẽ đó là tài sản duy nhất mà người lính mang theo để lỡ khi chạy lạc vào vùng địch thì vẫn có tiền để sống tạm vài ngày.


Tờ bạc 500đ VNCH
  
  Song song với việc tấn công nhau bằng súng đạn, thì cả hai bên cũng đều ra sức tuyên truyền bằng
chiến tranh tâm lí. Phía Cách mạng lúc này cũng thấy có truyền đơn được đánh máy trên giấy pulia bằng nửa trang giấy học trò và rãi trên QL, nhưng rất ít. Còn công tác mitinh, gọi loa thì nhiều. Phía VNCH thì sau hiệp định Pari nhà nào có mái tôn cũng đều bị vẽ lên lá cờ ba sọc, vẽ cả lên những bức tường. Còn truyền đơn thì nhiều vô kể.

   Một hôm ông ngoại tôi đi làm đồng về đưa cho tôi một mãnh giấy và bảo tôi đọc lên nghe. Tôi cầm lên xem thì đúng là tờ truyền đơn mà tôi đã đọc nhiều lần. Trong tờ truyền đơn là một bài thơ của một người lính Bắc Việt gởi cho một người mẹ. Từ 1970 đến giờ Máy bay đã rãi nhiều lần bài thơ này, rãi trắng cả đồng. Mặt trước của tờ truyền đơn vẽ hình ảnh người mẹ già với đôi mắt buồn nhớ con, bên cạnh là cảnh chiều quê với xóm nhỏ có con trâu về chuồng, có dàn mướp. Mặt sau vẽ cảnh người chiến sĩ ngồi bệt dưới đất, chân duỗi ra, đầu cuối xuống , gương mặt buồn bã. Hôm ấy tôi đọc bài thơ cũng có nhiều người đứng xem, ai cũng khen bài thơ hay quá. Có lẽ tác giả đúng là một người lính Bắc Việt mới có nhưng cảm xúc rất thật như thế. Nhưng tiếc rằng đoạn sau tác giả lại nhìn nhận không đúng về mục tiêu chiến đấu giải phóng Miền nam của mình. Bây giờ nhắc lại thì chẳng ai thuộc hết bài thơ, riêng tôi thì vẫn hay nhẩm đọc lại, nên vẫn còn nhớ đầy đủ từng chữ, từng câu, từng hình ảnh của tờ truyền đơn khi ấy.



Tái hiện lại hình ảnh thực mặt trước và sau của lá truyền đơn khi ấy, trên phần mềm Autocad.  
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Năm, 2011, 05:46:32 pm gửi bởi lamson1981 » Logged
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #427 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2011, 04:51:33 pm »

  
Ở đoạn trước tác giả tả cảnh gian khổ của người lính trên đường vào nam chiến đấu, với nổi nhớ quê hương da diết

“Mấy tháng trời đêm nghỉ, ngày đi
Giày vẹt gót , áo sờn vai thấm lạnh
Có những chiều trường sơn núi rừng hiu quạnh
Mẹ hiền ơi, con chợt nhớ đến quê mình
Khói lam chiều dàn mướp lá lên xanh
Con bướm nhỏ, mái đình xưa nhớ quá”

Nhưng sự gian khổ ấy không làm nhụt chí nam nhi :

          “Tuổi thanh xuân cuộc đời như hoa nở
           Vì hòa bình đâu có ngại bước gian nguy”

Đoạn đầu đã thể hiện lí tưởng của lớp thanh niên lên đường đánh Mĩ khi ấy. Nhưng đoạn sau tác giả lại rơi vào sai lầm khi viết:

          “Con nhìn ra nào giải phóng vì đâu ?”

Khát vọng thống nhất, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ nước Việt nam là khát vọng của cả dân tộc. Vì nước Việt nam là một, dân tộc Việt nam là một, không ai có thể chia cắt được. Nhưng Đế Quốc Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã bội ước hiệp định Giơ ne vơ, nên mới có cuộc chiến tranh kéo dài mãi đến bây giờ.

-Xem thêm Hiệp định Giơ ne vơ : http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_Gen%C3%A8ve,_1954

Bài thơ tuy có hạn chế như trên, nhưng đã để lại trong tôi một cảm xúc đặc biệt về một thời chiến tranh khói lửa, và tôi đã ghi lại trong tuyển tập những bài thơ hay cho riêng mình.


-H1:    Một mẫu truyền đơn khác của bài thơ "Thư gởi mẹ"
-H2,3: Giấy thông hành - Một loại truyền đơn phổ biến mà địch thả thường xuyên trong suốt cuộc chiến

« Sửa lần cuối: 11 Tháng Năm, 2011, 02:43:39 pm gửi bởi lamson1981 » Logged
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #428 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2011, 05:20:15 pm »

  Ngoài tờ truyền đơn trên, thời gian sau 1972, địch còn rãi nhiều kiểu truyền đơn khác mà tụi nhỏ chúng tôi thường chạy lượm về chơi như những tờ tiền mới.

Hình 1 : Máy bay rãi truyền đơn
Hình 4 : Địch khống chế tù nhân, buộc phải cầm khẩu hiệu để chụp hình
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Năm, 2011, 06:03:44 pm gửi bởi lamson1981 » Logged
trung-truc
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 424



« Trả lời #429 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 10:17:40 am »

Có lẽ bác Lamson nhìn không kỹ lắm (do khoảng cách xa) nên nhầm chút về mìn claymore: Mảnh sát thương (bằng bi thép) nằm ở phía lồi của quả mìn, do đó lính "VNCH" gài phòng thủ hướng bề lồi trở ra. Bác có thể tham khảo chỗ nầy: http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%ACn_M18A1
Lúc ở chiến trường K, đơn vị tui có sử dụng mìn nầy để phục kích địch.
Chỗ quê tui sau tháng 1 năm 1973 cũng có máy bay "rải giấy" (dân địa phương chỗ tui nói máy bay rải truyền đơn). Không rõ máy bay gì, nhưng tui thấy loại máy bay có hai cánh quạt ở hai bên cánh. Truyền đơn bên hông máy bay cứ bung ra từng cụm, có lẽ người trên máy bay đổ từng thùng xuống! Trẻ con ùa chạy theo hướng rơi mà nhặt mang về làm "tiền" chơi trò bán đồ hàng! Khi chán thì mang về bếp để nhóm lửa!
Khoảng cuối năm 1973 thì người con ông Tám tui (em ruột của ông nội tui) tên Khang hy sinh khi đánh đồn Tân Hiệp (địa phận Tiền Giang bây giờ). Chú Khang đi du kích chừng hai năm trước đó. Lần đánh đồn Tân Hiệp ấy do du kích thực hiện nhưng đánh theo kiểu đặc công, nhưng do điều nghiên trinh sát không kỹ thế nào mà bị lính "VNCH" bên trong đồn phát hiện khi tốp du kích đang nằm trong đám kẽm gai bùng nhùng. Xui rủi thêm là có toán lính "biệt động quân" đi phục kích cách đó chừng 500m ùa lại đánh tạt sườn. Phía du kích hy sinh 6 người không mang xác được. Sáng ra lính "VNCH" kéo xác 6 người du kích (đều mặc quần áo dân sự) ra Quốc lộ xếp thành hàng cho dân xem. Có người gần nhà Ông Tám đi chợ thấy xác chú Khang liền về cho gia đình hay, Ông Tám bán tin bán nghi kêu Bà Tám đi xem thử. Bà Tám tới nơi thì biết đúng là chú Khang là một trong 6 người hy sinh nhưng cố gắng không biểu lộ cảm xúc gì, Bà tám về nhà mới khóc. Ông Tám đạp xe đạp tới nhà tui cậy ba tui đi lấy xác (vì ba tui là thầy giáo dạy học), ba tui kêu một chiếc xe lam và hai người đàn ông đi theo. Đến nơi ba tui nói với mấy người lính gác chổ đó: "Mấy chú cho tui nhận xác thằng em . . . " Ba tui nói chưa dứt lời thì một người lính quắc mắt tỏ vẻ không thân thiện nói: "Ông chờ chút, để tui báo lại sếp!" Tay nầy quày quả đi vào đồn, lát sau có một sĩ quan "VNCH" trong đồn đi ra với hai người lính. Một người lính hất hàm nói: "Phiền ông cho coi giấy tờ!". Ba tui rút "Giấy căn cước" và một số giấy tờ khác chứng tỏ là giáo viên đưa cho người lính, tay nầy không xem mà đưa cho ông sĩ quan. Tay sĩ quan xem lướt qua rồi hỏi vài câu mang tính xác minh như: "Ông đi dạy chỗ ấy có biết ông X ông Y không . . .?" Kế đó tay sĩ quan tiếp: "Gia đình ông thầy dạy con cháu ra sao để nó theo "Việt Cộng" như vầy!" Ba tui giả lã: "Thôi mà sếp, thằng em "lỡ dại" mà! Mà nó cũng chết rồi, nghĩa tử là nghĩa tận mà . . ." Tay sĩ quan khoát tay: "Thôi ông thầy đem xác thằng em về đi!" Ba tui thở phào nhẹ nhỏm vội chạy lại chiếc xe lam đậu cách đó chừng 100m kêu chú tài xế và hai người đi theo tới mang xác chú Khang lên xe mà mang về cho gia đình Ông Tám.
Logged

Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM