MỘT LỚP HỌC TRƯỜNG LÀNG THỜI KHÁNG CHIẾN.
Suốt thời kỳ chiến tranh ác liệt 7-8 năm qua thì toàn xã Phổ Thuận không hề có một cái trường tiểu học nào. Sau Hiệp định Pari thì có hai nơi mở lớp học tự phát. Đó là ở chùa Ông Hạnh – thôn Vùng 4 ,do một số người trốn lính khoát áo thầy tu mở vài lớp trong chùa để dạy trẻ học, thứ hai là lớp học của thầy Hoành ở thôn Thiệp Sơn. Cả hai nơi đều chỉ dạy lớp 1, 2, 3. Lớp 4,5 thì phải đi xuống Trà Câu hay ra Mộ Đức cách xa 5-6 cây số.
Thời gian này ở thôn Thiệp Sơn quê củ của tôi cũng bình yên. Thôn nằm dưới chân đồi Chóp Vung, trước mặt là đồng trống nên du kích chẳng dám tổ chức đánh địch ở đây, vì không có đường rút. Tuy vậy dân chúng về ở vẫn còn khá thưa thớt, đa số vẫn còn ở nơi tản cư ngoài Mộ Đức, hay Trà Câu ven quốc lộ để tránh đạn pháo, chỉ về làng vào ban ngày để làm ruộng. Mỗi lần về nhà nội, tôi vẫn thường chạy qua xem lớp học ở đây.
Ông Hoành là người dân trong thôn chứ chẳng phải gốc thầy giáo.Vợ chết trong lần đi biểu tình ngày mồng 1 tết năm 1968 ở Trà câu, ông vẫn ở vậy nuôi 3 đứa con cùng với một mẹ già. Thấy tụi nhỏ không biết học chữ ở đâu nên ông mới mở lớp tại nhà. Trường học là một cái trại làm bằng tre, lợp tranh, bàn ghế cũng làm bằng các miếng tre, chân bàn và chân ghế là những đoạn tre đóng cố định xuống đất. Cả ba lớp 1,2,3 được tất cả mười mấy học sinh và đều học chung một buổi - giống như ở vùng núi hiện nay mà ta gọi là lớp nhô – Các học sinh đa phần là trễ học 3 – 4 năm so với tuổi. Trước lớp học để một cái vò nước lạnh, có một cái gáo dừa để học sinh uống nước.
Thầy Hoành cũng đã già, người gầy nhom đang cho gà vịt ăn, thì tụi học sinh đến. Tới giờ dạy rồi mà thầy vẫn tiếp tục cho vịt ăn, vì còn chờ những đứa khác tới cho đông đủ. Khi nào học sinh đến sớm thì thầy dạy sớm, đến trễ thì thầy dạy trễ. Cuối tháng thì cũng xếp vị thứ và nhờ ấp trưởng thôn Thiệp sơn là ông Bộ đóng dấu vào bảng danh dự để phát cho các học sinh đứng nhất, nhì trong lớp.
Lúc học sinh đã vào đông đủ thì thầy mới rửa tay và vào nhà cầm vài quyển sách ra dạy. Những đứa nhỏ lớp 1 thì ngồi ở bàn trên, những đứa lớp 2 ngồi giữa và bàn cuối cùng thì dành cho 4 đứa lớp 3. Thầy cầm phấn chia cái bảng ra làm 3 phần. Đầu tiên thầy ghi lên bảng vài bài toán cho tụi lớp 2 và 3 làm, rồi thầy mới ghi vào phần bảng còn lại vài từ vựng cho các em lớp 1 và hướng dẫn chúng đánh vần. Trong khi tụi nhóc đánh vần ê, a thì có vài đứa con gái lớn phía sau lấy lá giang và bịch muối lận trong lưng quần ra ăn. Lá dang chua làm cái mặt chúng nhăn riết và cười rúc rích. Thầy Hoành vẫn thấy hết mọi chuyện nhưng có lẽ vì bận rộn cầm tay luyện viết cho tụi nhóc và chuyện ăn me hoặc lá dang chắc xãy ra hằng ngày, nên thầy cũng chẳng nói gì. Hướng dẫn hết lượt lớp 1, rồi thầy quay qua giải mấy bài toán cho tụi lớp 2 , 3 . Dưới lớp có đứa loay hoay ghi chép, có đứa thò tay chụp mấy con gà con chạy lung tung trong lớp, Con gà mẹ thấy con kêu liền chạy xồ từ ngoài vào kêu quang quát. Lũ học sinh cười ré lên, tạo thành một âm thanh hỗn độn thật nực cười. Thầy Hoành phải dừng giảng bài, đi xuống đuổi gà ra, la rầy những đứa nghịch ngợm và ổn định lại lớp học.
Giờ ra chơi, tụi học trò ùa ra sân bắn bi hoặc nhảy dây. Có đứa khát nước thì múc một gáo dừa nước lạnh trong lu tu ừng ực, có đứa lại múc nước đó để rửa những đôi chân trần mốc thích. Có hôm trong giờ học có đứa lại la to.
- Thúi cứt heo quá thầy ơi !
Đúng là cạnh lớp học có cái chuồng heo của nhà thầy, nên đôi khi gió chướng hắc vào vẫn nghe mùi khó chịu và thỉnh thoảng bầy heo vẫn la “en ét” vang vào lớp học.
Chứng kiến một buổi học với bao vất vã của thầy Hoành mới thấy được hết công lao của thầy. Những đứa học trò tinh nghịch, vô tình như thế chắc sau nầy sẽ nghĩ lại càng nhớ ơn thầy. Nếu không có cái lớp học xập xệ, thúi phân heo ấy thì trẻ con ở cái làng heo hút này có mấy đứa sẽ theo được con chữ.
Khi học sinh ra về hết thì hoàng hôn cũng dần buông xuống. Mọi người trên rẫy, dưới đồng thì ai cũng lo về nhà nấy, trâu bò cho vào chuồng sớm, chúng đứng im, miệng con nào cũng nhai nhai lại thức ăn, mỗi nhà lại cách xa nhau hàng trăm thước, nên chẳng qua lại gì nhau. Xóm làng lại vắng ngắt, buồn tẻ, chỉ có tiếng kêu “quạ, quạ” của bầy quạ trở về tổ trong ánh chiều tà nhập nhoạng. Ông nội tôi thì lo rút rơm, un muỗi cho mấy con trâu, bà nội thì bận nấu cơm tối, cô Dư còn bé nên chẳng biết chơi cùng ai. Có tôi ở lại đêm thì cô vui lắm, lần nào cũng đem dây su ra sân và bảo tôi ở lại để cùng nhảy dây. Còn tôi thì chẳng mấy khi muốn ở lại với cái không gian buồn bã ấy.

Một lớp học trường làng thời kháng chiến.