Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:55:47 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức tuổi thơ máu lửa  (Đọc 391160 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hamduthu
Thành viên
*
Bài viết: 53


« Trả lời #490 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2011, 10:13:08 am »

Hình lính nghĩa quân VNCH đội nón tai bèo đây ạ: nón hình như màu đen, rộng vành hơn nón của Quân Giải phóng
Logged
Hai Ruộng
Thành viên
*
Bài viết: 1275


« Trả lời #491 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2011, 12:49:09 pm »

 Các Bác nhìn sao vào tấm hình trên mà ra nón tay bèo của Giải Phóng Quân . Tay nầy cũng không phải là Nghĩa Quân hay Dân Vệ mà là Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn ( Cán bộ Bình Định ) của Ngụy . Chiếc nón trên là nón màu đen , rộng vành , hơi giống như nón của bọn Hướng Đạo , hoặc nón của lính ÚC ( nón lính Úc màu xanh nhà binh , bọn lính ÚC thường gài một bên vành lên mũ . Còn nón bọn Biệt Kích thì cũng màu xanh vành nón giống như nón tay bèo nhưng vành thì không rộng bằng , phần đội trên đầu của nón thì may khác hơn , không may bằng 6 múi như nón tay bèo . Hiện nay thỉnh thoảng ra đường vẫn thấy một số tay anh chị thường đội cho ra vẽ "ngầu"
Logged
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #492 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2011, 06:23:20 pm »

Xin giới thiệu với các bác CCB một câu của đề thi TNPT môn Văn năm nay ( thi vào sáng ngày 02-6-2011 )
Một bài thơ nổi tiếng nói về lính, mà mỗi người cần nên biết.

Câu 3.a. ( 5 điểm )
Hãy phân tích đoạn thơ sau ( in nghiêng, màu xanh) trong bài thơ Tây tiến của Quang Dũng


Tây Tiến

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
  - ( Hết đề thi )

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Phù Lưu Chanh – 1948
(trích trong tập thơ Mây đầu ô, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1986).

--------------------------------------------------------------------------------------------

Giới thiệu bài thơ Tây Tiến.


Tây Tiến là một bài thơ của nhà thơ Quang Dũng, được in trong tập ''Mây đầu ô. Bài thơ này đã được đưa vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam khoảng 20 năm nay.

I.Tác giả:

Quang Dũng sinh tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng tỉnh Sơn Tây (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).
Sau khi học Trường sư phạm tại Hà Nội, Quang Dũng làm nhạc công gánh hát rong và làm gia sư tại Hà Nội.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông chiến đấu trên hai mặt trận: vừa là người cầm bút nhưng cũng vừa là người cầm súng chiến đấu. Năm 1947, ông từng là đại đội trưởng của Trung đoàn Thủ Đô. Ông cũng hoạt động văn nghệ ở Liên Khu III thời kháng chiến, từng là trưởng phòng văn nghệ Liên khu. Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu cùng với các họa sĩ nổi danh. Ông sáng tác nhạc, bài ''Ba Vì'' của ông đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến. Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học.

Ông bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm, và lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Nhà thơ từ bỏ cõi đời vào ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.


II.Giới thiệu hoàn cảnh ra đời của bài thơ

Tây Tiến là tên của một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Lào chống quân đội của thực dân Pháp. Chiến sĩ trong đoàn quân này phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên (như nhà thơ Quang Dũng). Chiến đấu khắp các địa bàn thuộc tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa, Sầm Nứa (Lào), trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội, nhưng “họ sống rất lạc quan và chiến đấu dũng cảm”.

Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa binh đoàn Tây Tiến chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội), ông viết bài thơ ''Nhớ Tây Tiến'', mà sau này ông cho đổi tên là ''Tây Tiến''.

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Qua bài thơ các bác CCB ở K, ở Lào có thấy hình ảnh của mình trong ấy không ? Hôm nay thế hệ trẻ vẫn phải học các bài thơ về lính, có nghĩa là xã hội không quên các bác đâu nhỉ ? Grin Grin Grin
Nếu học sinh nó chịu khó đọc các hồi ức của các CCB ở box "Một thời máu và hoa" thì khi làm bài thi sẽ có những liên hệ và phân tích sâu sắc hơn.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Sáu, 2011, 06:49:35 pm gửi bởi lamson1981 » Logged
Quân khí viên
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 322


« Trả lời #493 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2011, 07:10:06 pm »

Thời em học cấp 3 những năm 1981-1984 bài Tây tiến chưa đưa vào chương trình văn học. Bài này em nghe đầu tiên do anh c trưởng của em, người Đà Nẳng đọc trong lúc mấy anh em đang nhậu say tưng tưng năm 87. Phải nói bài thơ tạo  nên hình ảnh thật oai hùng của những người lính QDND VN trong cuộc trường chinh kháng Pháp và cả giai đoạn sau này. Đây là bút tích của nhà thơ Quang Dũng với bài Tây tiến

Còn đây là bức ảnh chụp di tích tưởng niệm trung đoàn Tây tiến( trung đoàn 52 - f320) ở thị trấn Mộc châu,
Logged
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #494 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2011, 07:01:35 pm »

Phần 5 : NGÀY ĐOÀN TỤ ( tt )

Vài ngày sau cái đêm kinh hoàng cuối cùng của cuộc chiến tranh trên quê hương, tôi nghe trên đài phát thanh và nhiều người bàn tán về những tin chiến sự ác liệt ở Đà Nẵng. Rồi Đà nẵng cũng được giải phóng ( 29-3-1975 ).


 Quân giải phóng tiến vào Đà Nẵng

Khoảng một tuần sau thì xe ô tô của quân giải phóng ở trên đường Trường Sơn bắt đầu đổ xuống QL1 nườm nượp. Xe ô tô, xe pháo, xe tăng đủ loại , xe nào cũng đầy nhóc bộ đội, trên xe cắm thật nhiều cây lá ngụy trang. Ô kìa ! lạ thay, xe nào cũng chỉ có 1 con mắt ( 1 đèn pha ). Nhiều khi cưỡi xe đạp đi ban đêm cũng sém bị xe một mắt này tông, vì cứ nghĩ cái con mắt đang sáng ấy là ở phía gần bên mình nên chỉ đi cách nó khoảng 1-2m. Sau này tôi mới hiểu là trên tuyến đường Trường sơn bị địch đánh phá ác liệt nên chẳng có xe nào còn đủ hai mắt cả. Dòng xe trên QL1 hầu như chỉ có một chiều xuôi về nam.

Hàng ngày trên đài Hà Nội và Sài Gòn, Đài phát thanh Giải phóng, Đài BBC liên tục đưa những tin tức nóng hổi về chiến sự, nghe cả một bài diễn văn dài của Tổng thống Nguyễn văn Thiệu từ chức với lời lẽ uất ức kết tội đồng minh Hoa Kỳ đã bỏ rơi VNCH. Tin quân Giải Phóng đã làm chủ Qui Nhơn, Tuy Hòa , Cam Ranh …
Khoảng giữa tháng 4 – 1975 thì trên đường QL1 xuất hiện nhiều chiếc xe rất dài, mỗi chiếc xe chỉ chở một trái hỏa tiển to khủng khiếp. Ai nhìn cũng lo sợ cho một trận chiến tàn khốc ở Sài Gòn. Mẹ tôi nhìn những trái đạn khổng lồ ấy thì cứ chép miệng lo lắng cho số phận của chị tôi và bà con trong ấy. Ở Sài Gòn không có hầm hào thì khi đạn pháo nổ biết chạy trốn ở đâu ?


Nữ biệt động Nguyễn Trung Kiên đẫn đường cho xe tăng vào giải phóng Sài Gòn

Một buổi trưa , nghe nhiều người la lên .
- Sài Gòn đã giải phóng rồi !
- Nghe tin ở đâu thế ?
- Tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh

Tin thức giải phóng sài gòn cư thế lan truyền hết người này đến người khác. Mọi người chạy đến nhà nhau để báo tin, cùng bàn luận sôi nổi. Những nhà có radio thì vặn hết cỡ cho mọi người cùng nghe tin tức từ Sài Gòn. Từ em bé đến các cụ già, gương mặt ai cũng ngời ngời phấn khởi. Hòa bình đã đến vĩnh viễn rồi, không còn sợ cảnh bom đạn nữa rồi. Vui quá ! Chưa có một ngày nào vui hơn hôm nay ! Ngày 30-4-1975 lịch sử.
Chiều tối ngày hôm đó và suốt mấy ngày hôm sau đài Hà Nội liên tục phát đi bài hát “ Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” và bài hát “Bảo nổi lên rồi”. Lời nhạc của hai bài hát bừng bừng khí thế của ngày vui giải phóng, một ngày vui thống nhất mà phải trải qua 30 năm máu lửa, hôm nay mới có được.
- Bài hát : Bảo nổi lên rồi http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=NjNX3h2KyS



Quân trang của lính ngụy vứt bỏ khi tháo chạy
 

Hòa bình rồi, nhưng trên đường QL1 từng đoàn xe quân sự vẫn chở bộ đội xuôi vào nam suốt cả tháng sau đó. Tháng sau thì từng đoàn xe đò chạy ngược lại từ nam ra bắc, trên trần xe chở đủ thứ, nào là bàn ghế, giường tủ … của những người dân hồi hương về quê quán. Chị tôi và các cô cũng đã về, Mợ Chín và các em từ Plieku cũng trở về nhà ông ngoại tôi. Mợ kể lại cảnh tượng kinh hoàng trên đoạn đường Plieku – Phú Bổn trong cuộc triệt thoái khỏi tây nguyên của quân đoàn 2 ngụy. Cảnh xe tăng cán nhào cả lên xe jeep, xe nhà binhh cán bừa cả lên người dân để tháo chạy. Một mình mợ với 4 đứa con sợ quá đành quay lại. Nếu hồi đó chạy tiếp thì mấy đứa nhỏ có khi đến bây giờ vẫn còn mất tích. Còn cậu Chín là sĩ quan thiết giáp lúc đó đang đi học ở Đà Lạt, không biết bây giờ ra sao. Một người cậu Út của tôi là sĩ quan Hải quân cũng chẳng biết tin tức gì.

Mấy ngày sau, mẹ và các anh chị em tôi dọn nhà trở về quê nội ở thôn Thiệp Sơn. Về đây trước tiên là che một mái tranh để nghỉ tạm, dẫy cỏ tranh xung quanh bắt đầu một cuộc sống mới. Nhiều người từ Sài Gòn cũng đã chuyễn đồ đạc về trên nền nhà củ với cỏ tranh ngút ngàn. Từ đây tôi đã thấy những cuộc đoàn viên đầy cảm động.

Cô Dòm, từ trên núi trở về với một bộ đồ bộ đội và một cái ba lô để gặp lại người mẹ già. Sau 6 năm cô bặt tin, mọi người tưởng cô đã chết rồi. Những người từ Miền bắc cũng lần lượt trở về, lần đầu tiên tôi mới biết được cái từ “ Tập kết”. Ông Sáu nhà ở kế bên vườn nhà tôi trở về sau 21 năm và đã gặp lại anh Thưởng là người con trai đầu với người vợ trước. Mẹ của anh đã mất trong chiến tranh. Bao năm côi cút rồi đi theo du kích xã, bây giờ anh đã gặp cha. Cha anh mang về thêm sáu người em cùng bà mẹ kế. Thời gian đầu bà Sáu lên rẫy thường mang đứa con út trên vai, làng xóm ai cũng nhìn bà chăm chăm, nực cười khi thấy cái hình ảnh như vậy. Trước khi về nam, gia đình ông Sáu ở Tuần Giáo – Lai Châu cho nên có tục lệ giống phong tục của người thượng ở miền tây Quảng ngãi. Sau đó thấy hơi khác người ở đây nên bà sáu không địu con trên lưng nữa.

Trưa hôm đó, có một người đàn ông đội nón cối, mặc aó trắng, mang túi xách, chân đi đôi dép giống như dép cao su nhưng bằng nhựa, tìm đến nhà ông nội của tôi. Ông bà tôi ngỡ ngàng, cố nhớ lại xem thử là ai.

- Cậu mợ không nhận ra con sao ?
- Thằng Ba Cài đó phải không ?
- Dạ ! Cậu mợ vẫn mạnh giỏi, Các chú, các cô thế nào hả cậu ?
- Trời ơi ! 21 năm rồi, tao tưởng chẳng khi nào gặp lại tụi bây

Ông tôi nắm chặc tay người cháu – Người anh con bà cô của ba tôi, mà bây giờ tôi mới được biết - Giọng ông nghẹn ngào, không nói nên lời, kéo tay bác Ba Cài ngồi xuống thềm nhà và kể lại chuyện chiến tranh máu lửa ở quê hương trong 21 năm qua, kể lại chuyện cái chết đau đớn của ba tôi và bác Hai tôi. Kể lại chuyện gia đình của bác bị bắt chụp hình li khai với cộng sản, trong chiến dịch “Tố cộng”của Mỹ - Diệm . Kể lại chuyện chị ruột của bác Ba là cô Lược bị chết trong hầm do giặc Mỹ ném lựu đạn, mà suốt 4 ngày sau khi Mĩ rút đi, mọi người mơí về khui hầm ra chôn vội vàng trong tiếng pháo ầm ì, khi cái xác đã phân hủy. Kể đến đây thì cô Sáu – em ruột của bác Ba Cài – nghe tin người anh trai về, đã chạy từ đồng đến nhà nhào vô ôm lấy bác Ba khóc nức nở. Hai anh em gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi, rồi bác lại nghẹn ngào khi hay tin người mẹ của mình đã chết từ năm 1971. Mấy ngày trước, mỗi khi ăn cơm cô Sáu cũng thường hay khóc vì người chồng lính ngụy chạy loạn ở Đà Nẵng đến bây giờ vẫn bặt tin. Hôm nay cô lại khóc vì vui mừng được gặp lại người anh trai sau 21 năm dài đằng đẵng.


Quang cảnh những ngày đầu mới giải phóng trên quê hương Phổ Thuận.



Thời gian này ở trên khắp Miền nam có biết bao nhiêu cảnh đoàn tụ trong nước mắt như thế. Có nhà thì được đoàn tụ sum vầy sau nhiều năm li loạn bởi chiến tranh, cũng có nhà thì li tán , mất tích do chạy loạn khi quân giải phóng mở cuộc tổng tấn công . Nhưng dù trong mất mát riêng của mỗi gia đình thì ai cũng xem đây là ngày đoàn tụ , một ngày đoàn tụ lớn của cả dân tộc,nam bắc đã một nhà, núi sông đã liền một dãy. Một ngày vui thống nhất sau 30 năm .  
 


Sài Gòn ngày 30 - 4 - 1975
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Sáu, 2011, 12:26:18 pm gửi bởi lamson1981 » Logged
Hai Ruộng
Thành viên
*
Bài viết: 1275


« Trả lời #495 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2011, 09:35:18 pm »

 Càng đọc càng ghiền ! Còn nữa không  Lam son . Ngày trước khi giải phóng mình đạp xe đi học , mỗi lần có lễ lộc gì mình thấy quân đội Quốc Gia duyệt binh oai hùng lắm . Quần áo rằn ri , biểu tượng toàn là cọp beo hùng dũng , xe tăng , pháo lớn , máy bay rầm rập , oai hùng nện gót giầy đinh trên đường phố  , mình nghĩ chắc mấy ông Cộng Sản phải bị đè bẹp thôi . Đến đêm ngày 30 tháng 4 , súng nổ rền trời , ở quê mình nhìn về hướng sân bay và kho dầu thấy có đám cháy lớn khói đen cuồn cuộn . Mỗi lần mấy Ông Giải Phóng chỉ tấn công vào ban đêm thôi đến khi gần sáng là rút mất tiêu , lần nầy trời sáng tỏ rồi mà vẫn thấy mấy Ông Giải Phóng , mặc áo màu xanh như công nhân , nón tay bèo cũng màu xanh như vậy , có người thì đi chân đất , có người dép cao su , rất ít có người thì đi dép râu mặc quân phục màu xanh quân sự và đội nón cối , thỉnh thoảng mới thấy , súng ống thì AK, M16 M79  của Mỹ , B40 cũng rất ít . Mấy ông nấp ở góc phố , bờ tường , bắt loa gọi hàng , đọc tên từng tay sỹ quan và cấp bậc chức vụ của từng chỉ huy lính Quốc Gia kêu gọi bỏ súng xuống . Còn mấy ông lính Quốc Gia thì cởi vứt hết quần áo rằn ri , beo cọp , giầy nón, mặt mày xanh mét , run như cầy sấy lũ lượt tay không ra hàng . Mấy ông Giải phóng chỉ thu vũ khí xong rồi cho ai về nhà nấy . Lúc đó mình học lớp 12 , lên ở trọ tại thị xã , khoảng 1 giờ trưa ngày 30 tháng 4 thì thấy tiếng súng đã êm , mình cưỡi xe đạp về nhà ở quê cách thị xã 15 km , khi đi ngang qua trại lính Quân Cụ mình còn thấy mấy ông lính Quốc Gia ở đây vẫn còn nguyên súng ống và vẫn mặc quân phục , nhưng đứng tập họp sếp thành hàng ngủ , súng đạn thì giá trước mặt có cã đại liên M60 , M79 , đang đứng xếp hàng tại chổ để chờ người của Giải Phóng đến tiếp thu , lúc đó khoảng 1 giờ trưa mà Giải Phóng còn chưa đủ người để đến tiếp quản . Khi mình về gần đến nhà thì mới thấy một xe khách chở đầy mấy ông Giải Phóng , ngồi cã trên nóc xe chạy từ chiến khu ra thị xã . Nghe nói đánh phía sân bay cã hai bên đều thương vong rất nhiều .
Logged
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #496 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2011, 07:26:03 am »

Quê hương bác Hai Ruộng và cả Miền tây là khu vực giải phóng sau cùng, có nơi đến ngày 1-5 -75 mới giải phóng.
Đầu tháng 4-1975 ở Quảng Ngãi có đợt tuyển quân đầu tiên sau giải phóng để bổ sung cho các binh đoàn tham gia giải phóng Sài Gòn và có người đã hy sinh vào ngày 30-4 khi chưa đầy 1 tháng tuổi quân. Thật đau xót.
Logged
leasedline
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 399


« Trả lời #497 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2011, 07:36:03 am »


Anh Hai Ruộng ơi ! Qua những bài viết của anh, biết anh trước đây ở sư 317. Vậy anh cho em hỏi năm 1979 (em không nhớ chính xác là 1978 hay 1979 nữa) , khi C trinh sát được điều từ Tô Hiến Thành về Quang Trung để đi K, anh có biết chú Mạnh C trưởng C trinh sát không ạ?
Logged

“Một ngọn nến không bị mất giá trị khi nó được dùng để mang ánh sáng đến cho người khác”
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #498 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2011, 04:40:23 pm »

    Ngày đoàn tụ là ngày vui lớn nhưng cũng có khi lại gặp những nghịch cảnh éo le. Có trường hợp người vợ nghe tin người chồng đi thoát ly của mình đã chết, sau đó ghá nghĩa với người chồng mới là lính ngụy. Ngày thống nhất, người chồng củ trở về thì trên danh nghĩa cả hai người đều là chồng . Trường hợp này thì thật là khó xử. Bộ phim “Về nơi gió cát” khởi chiếu những năm đầu sau giải phóng đã phản ảnh đúng những tình huống trớ trêu có thật trong ngày đoàn tụ ở Miền nam cũng như ngay trên quê hương của tôi.

   Hôm ấy là một buổi liên hoan mừng ngày gặp lại của gia đình bác Ba Cài. Anh chị em chạy loạn chiến tranh ở Sài Gòn cũng đã hồi hương đầy đủ. Những người bà con nội ngoại cũng được mời đến khá đông. Từ sáng sớm những người phụ nữ đã lo đi chợ, nấu nướng, Bác Ba thì lấy mực viết trên tấm vãi trắng dòng chữ:

-   Mẹ ơi ! Chúng con đã trở về.

Rồi cột lên đầu một cây nêu ( đoạn tre dài có lá ) đem cắm lên phần mộ của người mẹ đã mất trong chiến tranh. Người vợ củ của Bác hôm ấy xách theo một xách bún cũng về dự họp mặt. Vừa vào đến nhà thì mọi người cũng niềm nở chạy ra mời chào.

-   Ồ ! Chị Ba mới về

Bác Ba gái mới cũng mới từ Hà Nội về hôm trước, đang ngồi trong nhà thấy thế liền nổi cơn ghen lên rồi nói.

-   Chị Ba gì mà nắm ( lắm ) chị Ba thế ?

Nói rồi nghoe nguẫy đứng dậy, mặt đỏ bừng bỏ đi một mạch vào nhà hàng xóm nằm nghỉ. Mọi người chạy theo khuyên giải thế nào cũng chẳng thèm ra dự đám tiệc. Bác Ba cũ thì ở lại dự tiệc nhưng cũng chẳng vui vẻ gì. Chỉ có Bác Ba trai là kẻ đứng giữa nên khó phân xử nhất. Thôi thì mọi chuyện éo le nầy có ai gây ra đâu, tất cả đều do chiến tranh gây ra cả. Qua cuộc chiến mà còn sống để gặp lại nhau dù chỉ một lần thì cũng là điều đáng quí lắm rồi.
 

« Sửa lần cuối: 12 Tháng Sáu, 2011, 05:00:52 pm gửi bởi lamson1981 » Logged
lamson1981
Thành viên
*
Bài viết: 432


Chết vì thích làm oan hồn!


« Trả lời #499 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2011, 04:50:53 pm »

   CHUNG TAY XÂY DỰNG LẠI XÓM LÀNG.
    
  Mùa hè năm 1975, một mùa hè hòa bình thật sự vĩnh viễn trên toàn cõi đất nước Việt Nam. Giờ đây hầu hết mọi người đã về quê củ và cùng nhau bắt tay xây dựng lại quê hương sau những năm dài bị chiến tranh tàn phá. Hòa theo không khí đó, ở xã Phổ Thuận quê tôi cũng bắt đầu hồi sinh từ những làng quê hoang tàn đổ nát. Dưới trời nắng như đổ lửa của mùa hè, nhiều người đang khuân vác những vật dụng như bàn ghế, giường tủ từ trên xe đò xuống, Một số người đi tập kết, đi thoát ly cũng đã về, những anh lính ngụy rã ngũ ở các nơi cũng tìm về quê và được chính quyền gọi đi học tập 1-2 tuần tại xã.

  Công việc đầu tiên là mọi người “đi núi”. Tức là lên dãy Trường sơn chặt những cây to về làm nhà. Nhà ai cũng làm một kiểu giống nhau, sườn chống đỡ toàn bộ căn nhà là cái giàn xương phương. Giàn xương phương là một cái khung như hình hộp chữ nhật, gồm 4 cây cột, 2 cây trính, 2 cây xiên gắn cố định với nhau bằng lỗ mộng. Trên giàn xương phương là các bộ kèo, đòn tay , tạo ra 4 mái để lợp tranh hoặc lợp tôn. Bên ngoài bao quanh nhà người ta dựng những cây gỗ nhỏ lớn hơn ngón chân cái gọi là cây mầm để chống đỡ các đầu kèo, nối các cây mầm vòng quanh nhà là các cây trĩ bằng miếng tre chẻ nhỏ tạo lưới ca rô để trét đất lên ấy làm vách tường.

   Mỗi đêm trăng sáng, mọi người trong xóm đi ghánh đất ruộng về cho một nhà để làm đất trét. Đất ruộng dẻo trộn với rơm ngâm nước, lừa trâu bò đi vòng quanh đạp cho lộn nhào thật nhuyễn  rồi mới trét lên giàn mầm trĩ tạo thành vách nhà, trét xong thì dùng đất bột ướt để tô bên ngoài cho láng, thế là ta có một vách tường kín đáo mà sạch sẽ. Nó ưu điểm hơn vách lá của căn nhà ở nam bộ vì ăn trộm không thể qua tường vào nhà. Vách đất như thế rất nhẹ, chỉ có tác dụng che kín ngôi nhà, thế nhưng do không hiểu biết kết cấu về lực mà nhà nào cũng sợ xuống vách nên ban đêm thường đi ghánh trộm đá của đường xe lữa về đầm xuống móng trước khi làm vách đất. Việc làm cái giàn xương phương thì chỉ tốn vài công thợ mộc, các công việc còn lại thì các nhà vần công lẫn nhau nên làm được một căn nhà như thế cũng không tốn là bao.



Ngôi nhà tranh vách đất, một kiểu nhà thường thấy ở nông thôn miền Trung trong chiến tranh và những năm đầu mới giải phóng

  
  Lúc nầy các đoàn thể cũng đã được thành lập, trước tiên là đoàn thanh niên của thôn, sau đó đội thiếu niên tiền phong, hội nông dân, hội phụ nữ…
Tối hôm ấy, khi trời vừa tối thì ở đình làng, ai đó đã đánh lên một hồi kẻng , sau đó đánh tiếp nhiều hồi nữa. Hôm nay là cuộc họp đầu tiên của toàn thể nhân dân thôn Thiệp Sơn. Ai cũng hồ hỡi đi ra đình làng để họp. Đình làng khi xưa bằng ngói uy nghi với những cây cột tròn bằng gạch rất to, hai bên cổng có hai con sư tử nhe răng, trước sân có mấy tượng thần đội mão mang gươm trông thật dễ sợ. Nhưng giờ đây đình làng chỉ còn là đống gạch vụn. Mọi người đi họp rất sớm, tìm gặp lại người quen, ngồi trên những đống gạch để hàn huyên tâm sự sau những năm dài xa cách.

   Từng tốp người ngồi ở từng góc trên khắp sân đình hút thuốc, nói chuyện rào rào. Ở một góc nọ thì nghe anh Việt là lính dù đang kể oang oang về những ngày cuối tháng 4 tiểu đoàn anh bị đánh tan tác ở  Dầu Giây, mọi người chạy tứ tán, anh chạy lạc vào trốn trong nhà một bà già và nhờ bà đưa ra trình diện với quân giải phóng. Ở chổ kia thì nghe các anh du kích kể lại chuyện đánh lính Mỹ, lính Biệt động mỗi khi chúng đi càn. Đêm nay tôi mới được biết mặt chú Bách – Người xã đội trưởng, người bí thư đảng ủy – Trong những năm chiến tranh đã tổ chức gài mìn phục kích trên đường Cái Mới, trên QL1 làm vài chục tên lính Mỹ thiệt mạng. Tôi cũng được biết chú Cống là trưởng ban an ninh xã Phổ Thuận, người bị lính Mỹ bắn hụt ở khoảng cách 10m, người có nhiều sáng tạo trong cách đào hầm bí mật. Chú kể rằng ngoài cách bố trí hầm bí mật thông thường còn có cách bố trí cửa hầm ở dưới lòng sông. Đặc biệt là cách bố trí hầm bí mật dưới giếng đã cứu chú thoát chết trong gang tấc.



Ông Nguyễn Văn Cống - nguyên trưởng ban an ninh xã Phổ Thuận- Người thiết kế căn hầm bí mật dưới giếng nước


  Thông thường khi vào trốn dưới hầm bí mật là phải có người ở trên ngụy trang, nhưng hầm bí mật có miệng hầm ở dưới sông hoặc dưới giếng thì người trốn tự ngụy trang. Giếng nước thường được xây bằng những tảng đá. Bố trí miệng hầm bởi hai tảng đá sát mép nước. Khi gặp địch rượt đuổi cấp bách thì leo xuống giếng , đẩy 2 tảng đá vô trong để chui vào. Vào bên trong xong thì đẩy 2 tảng đá trở về chổ củ. Địch có nghi nghờ nhìn xuống giếng cũng không thể nghĩ ra tình huống đó, vì các tảng đá vẫn xếp ngay ngắn như các tảng đá khác dưới giếng. Nếu chúng có thả lựu đạn xuống thì vẫn an toàn.

Hầm bí mật ở dưới giếng nước-Lamson dựng lại mô hình trên phần mềm Sketchup


 Hầm bí mật có cửa hầm dưới lòng sông  
  


Chuyện trò rôm rả mãi đến gần 8h tối mới đi vào cuộc họp. Ông cán bộ Mặt trận của xã trước tiên tóm tắc những thắng lợi của quân và dân ta cuộc tổng tiến công vừa qua, sau đó kêu gọi mọi người nếu có giữ các loại súng đạn thì hãy giao nộp cho chính quyền cách mạng. Công việc tiếp theo là giao cho tổ chức thanh niên của thôn phải dựng ngay một ngôi trường 2 phòng bằng tranh cho các em có chổ học sắp tới, đồng thời tập dợt văn nghệ để chuẩn bị cho hội diễn của toàn xã chào mừng quê hương giải phóng.
  

« Sửa lần cuối: 13 Tháng Sáu, 2011, 08:34:50 am gửi bởi lamson1981 » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM