Những mảng tối trong chiến tranh
lehuychieu1959:
Hồi ký chiến trường K (tiếp theo)
Trung đoàn bộ, C21 và các đại đội trực thuộc khác được lệnh di chuyển vị trí đóng quân. Vị trí đóng quân mới là chân chùa Preahvihiar và một bộ phận E bộ cùng với D10 lập căn cứ tại khu vực Cầu cháy bên bờ sông StưngSen thuộc huyện KuLen, tỉnh Preahvihia. Chiếc cầu làm bằng gỗ, khi Pôn Pốt rút chạy đã đốt cháy để cản bước tiến của quân ta nên được bộ đội đặt tên luôn là Cầu cháy. Tháng 1/79 khi hành tiến qua đây (Gồm Lữ đoàn Đặc công 198, E95 bộ binh và D11 Pháo binh) để tiến về giải phóng Choamkhsan và ngôi chùa Preavihia cổ kính thì trên cầu đang còn nghi ngút khói. Công binh 270 của QK bắc phà dã chiến để đoàn quân đi qua. Hiện tại D10 đã đóng quân ở đây từ tháng 2/79. Khi chiến đấu hành tiến tôi là B phó B Trinh sát Kế toán thuộc C21 trinh sát, cánh quân chúng tôi đi theo trợ chiến là E29, cánh quân này đi theo đường biên giới giáp Lào, qua Rô Bênh lên ngã ba biên giới vòng về Choamkhsan vừa được E95 giải phóng, lộn về Cầu cháy rồi xuôi xuống giải phóng thị xã Rô Viêng giáp Công Pông Thom.
Đoàn chúng tôi lên đường. Trung đoàn trưởng đích danh chỉ định anh Vượng làm chỉ huy trưởng, tôi chỉ huy phó đoàn trinh sát đo đạc. Chúng tôi được ưu tiên một chiếc Gát ghẻ do Nguyễn Văn Tiêm, quê Thái Bình lái (Sau này năm 1983 Tiêm hy sinh trong một trận chiến không cân sức tại ngay thị trấn Choamkhsan, ăn nguyên một quả B40 của Pốt, lúc đó Tiêm là C trưởng C15 công binh). Chúng tôi đi độc lập, khẩn trương. Lúc đi qua Cầu cháy là nơi D10 đóng quân mà cũng không được vào, xe qua phà Công binh 270 và đi thẳng luôn.
Chúng tôi trở lại con đường mà đại quân hành tiến đánh địch cách đây 10 tháng. Con đường vẫn nguyên như cũ, gập gềnh ổ trâu, ổ gà. Hai bên đường toàn là rừng khộp. Đầu mùa khô tán rừng đang còn dầy lá, Có những cây lá đỏ au đang chờ ngày rụng xuống. Ở cái xứ này quạ đen sao mà nhiều thế, chúng bay hàng đàn, mồm la quàng quạc. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy nhiều quạ đen đến thế. Đầu mùa khô nhưng con đường đã tung bụi mù mịt, thằng nào thằng nấy bị phủ trên người một lớp bụi đỏ, nhìn không ra hồn người. Nắng chói chang trên đỉnh đầu khiến đám lính chúng tôi như teo tóp lại.
Rừng khộp mùa thay lá
Xe đi qua thị trấn Choamkhsan, thị trấn hôm nay vẫn vậy, hoang tàn và đổ nát. Những con người đen đúa, gầy guộc. Chỉ có những vườn xoài, vườn vú sữa đang mùa quả chín căng mọng. Tuy nhiên chúng tôi không được phép dừng ở đây mà đi thẳng. Có ai ngờ rằng từ đầu năm 1981 đến cuối năm 1984 nơi đây lại là nơi đóng quân, Đại bản doanh của E576 và đã để lại cho tôi biết bao nhiêu kỷ niệm. Khoan hãy kể chuyện này mà tiếp chuyện của ngày hôm nay.
Hiện tại Choamkhsan đang là nơi đóng quân của d208 và E bộ E20 CAVT, Trung đoàn này được điều sang PreahVihiar vào tháng 3/79 sau khi tỉnh này được giải phóng hoàn toàn và chiến đấu trong đội hình F307. E20 có 3 tiểu đoàn vũ trang là d210, d216 , d208 và các đơn vị trợ chiến trực thuộc. Đây là đơn vị Biên phòng vũ trang nên tác chiến kém, sau này đơn vị phải di chuyển quân nhiều nơi, thậm chí phải thay đổi cả phiên hiệu mà vẫn bị địch đeo bám đánh cả ngày cho đến khi rút quân về nước.
Xe qua thị trấn khoảng hơn cây số thì dừng lại, mọi người xuống xe. Chiếc Gát ghẻ quay đầu chạy về hướng cũ, tự dưng tôi thấy lòng nao nao buồn bã. Anh em lục tục chuyển đồ đoàn vào bìa rừng. Anh Vượng quyết định qua đêm đầu tiên tại đây bên mé con suối nhỏ.
Tuy đã đầu mùa khô nhưng suối còn nhiều nước, dòng nước trong xanh róc rách chảy qua các gềnh đá. Cá nhiều vô kể, chúng tôi thằng lo cảnh giới bảo vệ, thằng nấu cơm, còn lại lao xuống suối tắm táp sau một ngày hành quân mệt mỏi. Nhìn đàn cá bơi lội mà phát thèm, không có lưới, mà đánh bằng bộc phá thì cấm hẵn. Có rất nhiều MK3 mà không làm gì được. Bữa cơm của bộ đội vẫn vậy, bài ca muôn thuở: thịt hộp nấu lá giang, mắm cô mặn chát.
Ban đêm trời trong xanh, sao sáng đầy trời. Thằng Vân khẽ hát bài: Ánh sao đêm nhưng anh Vượng đã lên tiếng cấm tiệt. Đường biên giới xa xăm địch ta biết thế nào mà lần. Từ đây đến D bộ D216, E20 khoảng 19-20km. Tiếng mang tác đâu đây, con vật này mà bắn được thì phải biết. Tuy nhỏ nhưng thịt thơm ngon đáo để. Tắc kè kêu đinh tai, có con kêu ngay đầu võng. Sau này khi đã ở lâu bộ đội bắt tắc kè ngâm rượu, mấy ông lính cũ chúa thích loại này. Các ông ấy bảo bổ dương bổ khí gì đấy nhưng tôi uống nhiều mà chẳng thấy có gì khác biệt. Nhiều ông còn phơi khô mang về làm quà ngoài quê miền Bắc.
lehuychieu1959:
Hồi ký chiến trường K (tiếp theo)
Đêm đầu tiên rồi cũng qua đi an toàn, bộ đội thức dậy khi trời mờ sáng. Hôm nay toàn đội họp bàn thống nhất phương án đo đạc, phân công nhiệm vụ cho từng người. Anh Vượng chỉ huy chung, lo kế hoach tác chiến. Tôi là đội phó chịu trách nhiệm tổ chức đo đạc ghi chép tính toán bảng tọa độ trong hệ thống. Thằng Quốc và thằng Chắn đo hai máy ở hai đầu dây bằng máy piapo2. Thằng Mai, thằng Thuật quản lý thước dây, hai thằng cọc tiêu, còn lại làm dự bị, cảnh giới và hậu cần. Thằng Vân khỏe nhất dược giao làm mốc tọa độ. Gọi là mốc cho oai chứ thực ra nếu đúng là phải làm bằng trụ bê tông cốt thép có đánh dấu mã số, trong mã số có tọa độ X, Y và cao độ. Tuy nhiên hiện tại chúng tôi làm gì có những thứ ấy. Mốc của chúng tôi đơn giản là gốc cây to, hơi độc lập một tí cho dễ nhận ra, trên đó thằng Vân sẽ vạt một mảng vỏ sâu vào thân một chút sau đó khắc mã số vào. Nếu gặp phải loại cây nhanh tái tạo vỏ thì coi như công cốc. Về công tác sẵn sàng chiến đấu trong các tình huống gặp địch, ngoài những thằng tập trung đo đạc còn lại luôn cảnh giới và sẵn sàng chiến đấu cao. Thằng Quốc và thằng Mai ngoài đeo hai chiếc máy Piapơ2 ra còn phải đeo thêm hai khẩu M72 là loại súng chống tăng của Mỹ. Anh Vượng phụ trách thêm khẩu súng phóng lựu M79 với hai dây đạn vàng chóe. Còn lại hầu hết là AK47 với 5 băng đạn đầy ắp. Thằng Rôm anh nuôi cũng phải khoác thêm khẩu AK Tiệp cho yên tâm.
Đất rừng Campuchia rộng mênh mông nhưng không hề thấy có một cột mốc quốc gia nào, thời đấy cũng không có định vị vệ tinh (GPS) như bây giờ nên việc xác định mốc chuẩn phải làm thủ công. Sau khi nghiên cứu bản đồ địa hình loại 1/50 000 UTM của Mỹ tôi và anh Vượng thống nhất bóc tọa độ tại chiếc cầu gỗ bắc ngang qua suối, sau đó kiểm nghiệm tọa độ tại chiếc cầu tiếp theo gần d bộ d 216.
Cuộc họp đang hăng hái bàn cãi phương án này nọ thì bất chợt có thằng hét to: Có địch trên đường... Tất cả lao vội vào hai bên bìa rừng gương súng sẵn sàng nhả đạn. Tôi còn đang quan sát xem địch ở đâu thì thằng Quốc đã kêu lên: Không phải địch, là bộ đội... Đúng là bộ đội thật, phía xa thấp thoáng hàng quân khoảng hơn chục người. May phúc chưa ai nổ súng. Đó là đoàn cán bộ của d216 ra trung đoàn dự hội nghị quân chính. Mọi người ào ra tay bắt mặt mừng, anh Vượng cẩn thận hơn khi nắm bắt thêm tình hình hoạt động của địch để có thêm phương án đối phó dọc đường.
Ngày đầu tiên đội làm việc suôn sẻ, chúng tôi đo được 3km, lập 5 mốc tọa độ. Buổi chiều tôi tranh thủ tính toán và hoàn thành chỉ số tọa độ. Anh Vượng bảo cứ tính toán rồi sau khi hoàn thành sẽ hiệu chỉnh sau. Tôi đồng ý phương án của anh Vượng nhưng sau này mỗi khi hoàn thành một đoạn đường dài thì tôi vẫn tiến hành kểm tra độ chính xác và hiệu chỉnh nếu cần. Mọi việc tính toán số liệu của tôi phải hoàn thành trước khi trời tối bởi vì ban đêm cấm đốt lửa đề phòng địch tập kích.
Đêm yên tĩnh, chỉ có tiếng côn trùng kêu rỉ rả, thỉnh thoảng lại có tiếng mang tác. Gió từ dẫy Đăng rếch, từ bên Thái lan thổi về lành lạnh. Cả đội chia ra ba khu vực để mắc võng và có ba vọng gác. Anh Vượng nằm với tổ 1 hướng về phía phum ChaEhTemple, tôi nằm với tổ 2 hướng về phía thị trấn Choamkhsan. Tôi bị lạnh lưng không ngủ được cứ trằn trọc suốt, võng được cấp là võng đơn chỉ có một lớp, lại không có chăn đắp. Hơn 2g sáng dậy kiểm tra gác xong rồi cứ thao thức mãi. Nhớ quê, nhớ mẹ, dáng mẹ lầm lũi đi trong mưa nắng cuộc đời. Không biết bây giờ mẹ có ngủ được không hay lại cũng thao thức như tôi. Làng tôi có cái tên do Bình Định Vương Lê Lợi đặt cho khi ông dẫn quân đi qua, đó là làng Bàn Thạch. Kỳ lạ một cái làng mà có tới ba cái lăng vua của thời Hậu Lê. Con kênh uốn lượn quanh làng bốn mùa nước chảy nặng phù sa về tưới cho đồng ruộng. Nước sạch đến độ khi đi học qua cả bọn đều xuống vụm tay muc nước uống. Kỷ niệm giăng đầy đưa tôi vào giấc ngủ từ lúc nào.
Do háo hức kết quả của ngày hôm trước nên sáng hôm sau đội dậy sớm hơn. Ăn sáng xong anh nuôi phát cho mỗi người một vắt cơm và một chút mắm kem, vẫn loại mặn chát đến ghê răng ấy. Buổi trưa bộ đội ăn cơm vắt dọc đường đo đạc, ăn xong làm việc ngay. Anh nuôi cùng tổ tiền trạm sẽ đi trước tìm chỗ nghỉ qua đêm và nấu cơm chiều. Rừng đầu mùa khô lá khộp vàng rực bắt đầu rơi rụng đầy gốc, ba tháng nữa nó sẽ bốc cháy dữ dội. Lá giang vẫn còn tuy đã già nhưng còn ăn được. Chiều về mệt nhọc mà có bát canh giang nấu với thịt hộp ăn cũng được. Thời buổi chiến tranh thế là tốt lắm rồi. Ngày thứ hai cũng đạt 3km và 5 mốc tọa độ. Khoảng 6g chiều thông tin mở máy phiên làm việc đầu tiên báo cáo kết quả về Sở chỉ huy trung đoàn.
Một chuyện kỳ lạ xẩy ra vào ngày hôm sau. Khi đang lúi húi ghi chép thì Quốc giật giọng bảo tôi hình như có địch Chiêu ơi. Theo phản xạ vừa nép vào gốc cây vừa nhìn theo hướng tay nó chỉ. Thằng Thuật đã ném cái cọc tiêu vào bìa rừng tay lăm lăm AK chĩa về phía trước. Vừa ra hiệu cho anh Vượng tôi vừa di chuyển lên chỗ thằng Thuật. Phía xa khoảng 500m có một bóng người mặc áo đen đi về hướng chúng tôi. Phán đoán là địch, tất cả căng mắt theo dõi và sẵn sàng nổ súng. Với tốc độ đi bộ thì sau khoảng 5-6 phút người đó phải tiếp cận đến chỗ chúng tôi. Tuy nhiên sau 1 phút thì bóng áo đen biến mất dạng. Anh Vượng, tôi và thằng Thuật nhanh chóng cơ động lên và không thấy bóng dáng người áo đen đâu cả. Lạ kỳ, phía trước là tổ tiền trạm và khoảng 7 km nữa là D216, E20 CAVT, phía sau là chúng tôi, vậy địch ở đâu ra, nếu là dân thì sao họ phải trốn chạy. Chắc tên này mới về để móc nối với đồng bọn còn đang lẩn khuất trong các phum. Có thể tên địch trông thấy chúng tôi nhưng nó đã rất bình tĩnh rẽ vào bìa rừng rồi biến mất dạng. Toàn đội tạm dừng để phổ biến tình hình địch và nhắc lại các phương án chiến đấu.
Chuyện gì đến rồi nó cũng phải đến, ngày hôm sau trong lúc chúng tôi đang vừa canh chừng vừa đo thì tổ tiền trạm kiêm anh nuôi gặp chuyện. Một nhóm Pôn Pốt đã phát hiện ra họ và dùng B40 tấn công ngay. Do bị bất ngờ nên thằng Củng ăn ngay quả B40 vào giữa ngực hy sinh. Hai thằng còn lại ngã dúi vào gốc cây ven rừng. Sau phút bất ngờ hai chiến sỹ đã bình tĩnh bắn trả vào đội hình địch. Khi chúng tôi cơ động đến thì địch đã rút chạy. Chỗ này chỉ cách d216 khoảng 4 km, vậy mà chúng vẫn dám tấn công chứng tỏ công tác truy lùng bảo vệ hậu cứ của E20 không được tốt lắm. Thằng Củng ngực nát bươm, đôi mắt mở trừng trừng. Anh Vượng nhẹ nhàng vuốt mắt cho nó. Thằng Cơ, thằng Hải khuôn mặt xám xịt vì thuốc súng. Khoảng 30 phút sau thì một trung đội của d216 cũng cơ động đến, sau khi nắm bắt tình hình thì họ tiến sâu vào rừng thực hiện truy quét. Cả đội dừng đo tập trung về một chỗ. Máy thông tin 2w lên phiên làm việc sớm hơn thường lệ thông báo sự việc về Chỉ huy sở trung đoàn. Tổ đo đạc trực tiếp làm việc với trung đoàn mà không qua ban chỉ huy tiểu đoàn.
Xe chở tử sỹ là xe của d11 đang đóng quân tại chân chùa Preahvihiar. Thằng Củng nghe nói sẽ được chôn cất tại nghĩa trang sư đoàn, vì đi qua sư đoàn bộ và qua cả Ebộ E95 rồi mới về đến E bộ E576. Tất cả lẳng lặng tiễn đưa đồng đội lên xe về hậu cứ F bộ và vĩnh viễn về bên kia cõi vĩnh hằng. Các khuôn mặt ai nấy như sắt lại.
Ban đêm vẫn chia 3 tổ gác như thường lệ, nhưng đêm nay hình như không mấy ai ngủ được. Tiếng rọ rạy trên võng, tiếng bẻ ngón tay răng rắc. Buổi chiều nhiều người bỏ cơm. Tôi cũng trệu trạo nhai được vài miếng, cổ họng đắng ngắt, nghẹn cứng lại. Anh Vượng bảo chúng mày không ăn làm sao hoàn thành nhiệm vụ, cuộc chiến còn dài lắm. Nói vậy nhưng anh cũng không hết nửa bát cơm. Ăn xong anh lẳng lặng về võng của mình không nói thêm lời nào nữa. Cách đây một năm khi còn đang chiến đấu ở Đức Cơ việc trong ngày hy sinh một hai đồng đội, hoặc có khi hơn chục đồng đội là bình thường. Tôi đi đài tiền tiến cùng bộ binh thấy họ hy sinh và bị thương đến cả hàng trăm người, sau trận đánh nhìn đi nhìn lại chả còn mấy người, nghĩa trang sư đoàn dọc đường 19 rộng bát ngát mênh mông. Một năm nay bọn Pôn Pốt tứ tán khắp nơi, bọn chúng chưa có điều kiện để tổ chức các trận đánh lớn, bộ đội Việt nam cũng được xả hơi thoải mái nên quen. Việc thằng Củng chết đã làm xáo trộn tâm lý bộ đội. Sự lo lắng đã biểu hiện trên nhiều khuôn mặt. Đêm nay hình như dài hơn mọi đêm, tiếng côn trùng vẫn rỉ rả, đàn muỗi cứ vo ve bên võng tôi suốt, những con muỗi đói to tướng, mỗi lần bị nó chọc vào là y như nổi sần nổi tát.
Ngày hôm sau lại xẩy ra chuyện: Thằng Chắn trong lúc dùng búa phạt vào thân cây để làm mốc chẳng hiểu run tay run chân thế nào mà thân cây chẳng phạt mà lại phạt thẳng vào chân mình. May chỉ bị phần mềm, xương không việc gì cả. Máu chảy ròng ròng, mặt nó tái mét. Thằng Vân dịt tay vào chỗ đứt cầm máu rồi băng bó sơ bộ. Mất ba thằng cáng nó vào tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 216 nhờ quân y băng bó lại, rồi chờ xe trung đoàn vào chở đi.
lehuychieu1959:
Hồi ký chiến trường K (tiếp theo)
Sau tám ngày rồi chúng tôi cũng đo được đến vị trí của d216 đóng quân (sau này là vị trí đứng chân của E bộ E20 CAVT, còn d216 lại chuyển vào khu vực Tram Preal Temple gần ngã ba biên giới hơn). Tối đó chúng tôi ở nhờ đơn vị bạn, và cũng là đêm duy nhất chúng tôi không phân công gác. Cảm giác bình yên nên giấc ngủ cũng đến sớm hơn thường lệ.
Ngày hôm sau bộ đội tạm nghỉ tại chỗ một ngày, tôi và anh Vượng ra cầu gỗ (gọi là cầu nhưng nó đã bị hỏng không đi qua được, giai đoạn Sư đoàn hành tiến khi đi qua đây phải đi qua ngầm phía trên cầu khoảng chục mét) xác định lại tọa độ rồi hiệu chỉnh ngay giai đoạn một. Phần đo đạc rất tốt, tọa độ chỉ chênh cột x: 0,20m, cột y: 0,15m. Kết quả giai đoạn một như thế là xong, vì đây là mạng khống chế địa phương cấp chiến dịch, chiến thuật nên sự sai lệch cho phép đến một phần vạn. Giai đoạn hai chúng tôi bắt đầu từ cầu (ngầm) 216 đo dọc biên giới đến ngã ba, một hướng về Rô bênh, một hướng đi vườn xoài. Sau khi đo đạc qua vườn xoài nơi có C5-d216 đóng quân khoảng 5km thì tạm dừng rồi từ C6 đo vòng về Rô bênh sau đó từ Rô bênh đo vòng theo đường khác quay lại đúng cầu (ngầm) 216. Như vậy cầu 216 là điểm đầu và cũng là điểm cuối của chặng đường đo đạc. Từ Rô bênh còn một đường khác đi thẳng về thị trấn Chep, chính là con đường hành tiến của sư đoàn hồi đầu năm.
Như vậy quân số thiếu hụt mất hai người, cả tổ lại phải căng ra đảm nhiệm. Hôm chuyển thương binh, trung đoàn cho bổ sung thêm lương thực và nhu yếu phẩm. Lần này toàn gạo sấy và mắm kem, tất cả chất lên vai người lính. Anh Vượng, tôi, thằng đo máy, thằng thước dây, thằng cọc chuẩn, thằng làm mốc, thằng cảnh giới ai cũng như ai. Vừa đeo ba lô, vừa làm việc lại phải vừa sẵn sàng chiến đấu. Cũng may giai đoạn này Pôn Pốt chưa kịp rải mìn và phục kích trên các tuyến đường. Nếu không chỉ với 19 thằng nhỏ nhoi như thế này có mà làm mồi ngon cho địch.
Họa vô đơn chí, tối hôm đó một chiến sỹ lên cơn sốt rét, thằng này tôi không nhớ tên mặc dù vắt óc suy nghĩ mãi mà chẳng nhớ ra, chỉ biết nó ở huyện Thường Xuân. Thế là lại phải gửi nó lại Quân y D216. Quân y sỹ 216 là thằng Lâm, người xã Phú yên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nó nhập ngũ cùng ngày và cùng đơn vị huấn luyện với tôi là d1, e36. Nó được cử đi học Quân y trên Quân khu, trường ở quận 3, thành phố Đà Nẵng. Ra trường được bổ sung vào E20 CAVT. Sau này khi trung đoàn PB576 đưa C2, D10 vào đứng chân cạnh D216 tôi mới gặp lại và biết nó ở đơn vị này. Thế mới nói quả đất xoay tròn.
Một chuyện cười ra nước mắt, vừa bực lại vừa buồn cười, buổi chiều hôm ấy tổ dừng chân bên bờ một con suối nhỏ. Trừ những thằng lo nấu cơm, lo gác cảnh giới, còn lại tất cả cứ tồng ngồng xuống suối tắm. Con suối nhỏ hẹp nhưng lại có một cái vụng rộng khoảng trăm mét vuông toàn đá. Đầu mùa khô nên dòng nước chảy bé tí nhưng rất trong. Vụng nước sâu chừng ngang ngực mát lạnh có nhiều cá, những con cá cỡ cân ki lô cứ lượn lòng vòng quanh chân. Mấy thằng Quan Hóa thật đại tài khi bắt cá bằng tay không. Không lưới, không chài thế mà chúng nó cũng bắt được 7 con to nhỏ. Hai thằng tắm xong trước rẽ vào rừng hái lá giang, thế là chiều nay có món cá kho và canh cá lá giang, thật là tuyệt, chỉ nghĩ đến thôi là đã chảy nước dãi. Cơm nước đã chuẩn bị xong xuôi, ai nấy đều háo hức khi mùi cá kho mắm kem, mùi canh chua dậy lên nức mũi. Điểm danh còn thiếu hai thằng, gọi mãi mới thấy. Hóa ra hai thằng còn tranh thủ tắm thêm cho thỏa thích, bù cho những ngày nắng nóng nung người. Chợt có tiếng thét lên thất thanh phía bờ suối, ai nấy giật mình vơ vội súng lao ra bờ suối nghĩ rằng có Pôn Pốt tập kích chăng. Một cảnh tượng lạ lùng hiện ra trước mắt toàn đội. Thằng Rôm mặt mày nhăn nhó, tay khư khư ôm lấy cái của quý của nó, máu tươi từ đó chảy ra ròng ròng xuống tận bắp chân. Thăng Đậu hắn bảo cá cắn đứt đúng vào đầu ch....thằng Rôm rồi. Cả đội được một phen cười bò. Đây là loài cá cóc nổi tiếng ở Campuchia, có rất nhiều ở sông Mê kông, không hiểu sao nó lại có mặt ở cái dòng suối nhỏ xíu này. Loài cá này không to nhưng có đôi hàm răng cực sắc, lần đầu tiên bộ đội xuống sông Mê kông tắm nhiều chiến sỹ đã bị loài cá này đớp cho nhớ đời. Chỉ nghe bụp một tiếng thế là xong, anh đã bị mất một miếng thịt, vết cắn to bằng đồng một xu, sâu khoảng ba ly tròn vành vạnh. Mọi người xúm vào băng bó cho thằng Rôm nhưng không cách nào băng được. Cái đầu ch....bị thương cứ thun hết cả lại. Thế là lại mất thêm một chiến sỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu. Anh Vượng quàu quạu cả buổi, anh chửi thằng Rôm sao không lên bờ sớm hơn để đến nông nỗi như thế này. Anh vặc cả thằng Đậu là đồ ăn hại. Hai thằng đã đành, đến cả tôi cũng im thin thít không dám lên tiếng. Thằng Rôm chắc đau lắm nhưng nó không dám rên la gì, chỉ nằm bó gối trên võng. Anh Vượng lo không biết báo cáo như thế nào với Sở chỉ huy, chả nhẽ lại báo cáo cá cắn mất ch....của chiến sỹ. Nhiều thằng không nhịn được, cứ cười khùng khục làm rung cả cánh võng. Phiên gác của tổ hai tối ấy khuyết mất một ca, tôi nhận gác thay thằng Rôm và vẫn thức dậy hai lần để kiểm tra gác.
Sáng hôm sau đội cử bốn chiến sỹ đưa thằng Rôm về nằm điều trị tạm tại Quân y 216, chờ xe đưa về trung đoàn sau. Số còn lại tạm nghỉ tại chỗ và tiến hành lùng sục sang hai bên đường. Anh Vượng vẫn chưa hết giận, mặt lúc nào cũng khó đăm đăm. Cứ mỗi lần hao người là đội lại gánh thêm bội phần khó khăn. Tôi tranh thủ kiểm tra số liệu tính toán để báo cáo về Sở chỉ huy, tôi rất tin tưởng vào số liệu tính toán này, bởi tất cả các mốc tọa độ khi áp vào bản đồ đều nằm trên đúng trục đường mòn mà đội vừa đi qua.
lehuychieu1959:
Hồi ký chiến trường K (tiếp theo)
Một sai sót của hai thằng đo máy khiến cả tổ mất đứt hai ngày không công. Buổi chiều về tính toán đến mốc thứ tư thì tọa độ mốc bật ra khỏi đường mòn, mốc thứ năm xa hơn và mốc cuối cùng thì đã nằm ở đâu đó nơi rừng sâu núi thẳm. Anh Vượng bắt tôi tính lại đến lần thứ ba, kết quả vẫn vậy, tôi kết luận do đọc sai góc hướng. Thằng Quốc và thằng Mai mặt nghệt như ngỗng ỉa, chúng nó cũng không biết là sai từ khi nào, Hai thằng chỉ biết vò đầu bứt tóc mà không nói được câu nào.
Anh Vượng quyết định nghỉ một ngày họp rút kinh nghiệm. Ngoài ba thằng gác cảnh giới còn lại tập trung dưới một gốc cây to có tán rất lớn. Khác hẵn với thái độ bực dọc lúc đêm, giọng anh Vượng ôn tồn, nhẹ nhàng, anh phân tích từng công việc nhỏ một, nguyên nhân cũng như sai sót mà bộ đội mắc phải. Tôi phân tích về nguyên nhân kỹ thuật của hai đồng chí phụ trách đo máy, những sai lầm dễ mắc, kể cả thước dây và đơn giản hơn là chiến sỹ cọc chuẩn. Tôi nhấn mạnh rằng đây là do sơ xuất trong quá trình thao tác máy chứ nó không thuộc về bản chất hay nặng hơn là bản lĩnh người lính chiến trường. Vừa nói tôi vừa đánh mắt thăm dò, khuôn mặt anh Vượng như giản ra, có lẽ anh thấy phân tích của tôi là hợp lý. Anh trở nên tươi vui như ngày thường, như vậy anh cũng không cần phải gửi báo cáo kiểm điểm về Chỉ huy sở trung đoàn nữa. Thằng Quốc và thằng Mai thì khỏi nói, chúng nó thi nhau phát biểu ý kiến, tự giác nhận khuyết điểm về mình và hứa sẽ sửa chữa ngay trong ngày mai. Chúng nó nói vậy vì biết chắc chẳng ai bắt tội và bắt viết kiểm điểm cả. Cả đội giải tán và nhanh chóng quên ngay chuyện họp hành.
Anh Vượng cho đội nghỉ hết ngày. Thằng Vân dẫn một nhóm gồm năm thằng vào rừng cải thiện. Nó định kiếm con mang hay con nai gì đó, săn bắn vẫn là bản lĩnh của nó mà. Thằng Mai dẫn ba thằng đi bắt cá, còn tôi cùng hai thằng nữa đi hái lá giang chua về nấu canh. Chúng tôi đi theo nhóm mang đầy đủ vũ khí sẵn sàng chiến đấu vì cũng chưa biết sẽ gặp cái gì ở phía trước, Pôn Pốt vốn rất giỏi tác chiến trong rừng sâu. Tuy đã chuyển hẵn sang mùa khô nhưng rừng còn rất dầy lá, những cụm lá đỏ au đang chực chờ ngày rụng xuống. Những cụm cây giang cuối cùng cũng đã xác xơ. Tôi dặn hai thằng đồng hương lấy nhiều nhiều một chút vì ngày mai, ngày kia sẽ không còn cơ hội đi lấy lá nữa đâu. Cả đội còn phải tập trung cho công việc.
Ba thằng chúng tôi ra đến một trảng rừng rộng, cảnh tượng ngoài trảng làm cả ba thằng tròn mắt mà lặng nhìn. Cả một trảng rừng đầy hoa, mà gọi là thảm hoa thì đúng hơn Đủ loại mầu sắc, đỏ, hồng, tím, lam, trắng, chúng tôi như bị bỏ bùa mê trước thiên nhiên. Tôi ngồi sụp xuống rờ tay vào từng đóa hoa nhỏ, những bông hoa nhỏ xíu lắc lư trong gió. Loài hoa rừng thật lạ, nó không cao, chỉ cao khoảng ba, bốn mươi phân nhưng dầy đặc, tạo ra những thảm hoa diệu kỳ. Hoa rừng có nhược điểm là không thơm, đẹp như mơ mà chẳng có mùi mè gì. Thằng Lam vơ hoa thành một bó to tướng, tôi cười rũ bảo mày định tặng ông Vượng bó hoa ấy đấy à, ông ấy lại sạc cho bây giờ. Thăng Lam thấy tôi nói có lý, nó tần ngần một lúc rồi nhẹ nhàng bỏ hoa xuống đất, chắc là nó tiếc lắm.
Đội chúng tôi hôm nay có đại tiệc. Nhóm thằng Vân bắn được một con mang nhỏ, mỗi con nặng chừng hơn chục cân gì đó. Khi nhóm tôi về thì anh em đang lột da. Khi đó bộ đội không biết làm thịt thú rừng như bây giờ. Bây giờ người ta cắt tiết rồi dội nước sôi, nhổ sạch lông xong còn dùng đèn khò để thui, sau khi lấy nội tạng ra thì nhồi lá thơm vào đầy bụng và quay trên than hồng. Thịt thú rừng quay vừa thơm vừa mềm rất ngon. Nhóm thằng Mai bắt được năm con cá, mỗi con nặng chừng hơn cân. Anh Vượng cứ xuýt xoa giá như có chai rượu cuốc lủi thì tốt quá, tôi không thích rượu, có lẽ chưa phải tuổi uống, nên cũng chẳng thèm khát gì.
Ngày hôm sau cả tổ đi đo trong im lặng, ai nấy chú tâm vào công việc của mình. Thằng Quốc, thằng Mai đo ba lần mỗi góc như đã học. Giọng chúng nó dõng dạc như đang chuẩn bị cho trận chiến thật sự. Thằng Thuật vẫn đi trước cắm cọc chuẩn (thằng Thuật đã có quyết định làm B trưởng B chỉ huy C3 là C của anh Vượng), hôm nay có thêm anh Trung, anh Trung lính tháng 10/76 cùng với bọn tôi, nhưng năm sinh những 1954, nghe đâu thời đánh Mỹ anh ấy được hoãn đi bộ đội, đến năm 76 thực hiện đợt nghĩa vụ đầu tiên thì anh ấy mới phải nhập ngũ (anh Trung cũng được bổ nhiệm B trưởng B chỉ huy D10. Đoàn đo đạc lần này có tới 3 đồng chí là B trưởng). Anh Trung khoác khẩu AK47 lo cảnh giới phía trước. Buổi đo đạc hôm ấy suôn sẻ, tọa độ đều nằm trên trục đường mòn. Tôi cho tăng thêm một mốc, mốc này nằm ngay rìa một con suối cạn, con suối này có thể hiện trên bản đồ. Điểm mốc cuối cùng này trùng khớp ngay giao cắt giữa con suối và đường mòn. Thấy kết quả đạt ngoài mong đợi anh em trong đội ai cũng vui mừng. Trời đang còn nắng chang chang nhưng anh Vượng đồng ý cho toàn đội nghỉ sớm.
Buổi trưa ngày hôm sau cả đội đang tạm nghỉ ăn uống thì đột nhiên phía chân núi Đăng Rêck có tiếng súng rộ lên. Tiếng AK47 xen lẫn B40, B41, cự ly từ chỗ chúng tôi đến chỗ có tiếng nổ khoảng 2km, đó chính là biên giới phân chia lãnh thổ giữa Campuchia và Thái Lan. Các tham mưu con có dịp trổ tài phán đoán, Thằng Hải choắt le te bảo, có khi nào cả một trung đoàn của Pôn Pốt đã quay lại không. Cả đội bò lăn ra cười, Anh Vượng cười chảy cả nước mắt bảo hôm nào về sẽ đề nghị trung đoàn cho mày về ban Tham mưu làm nó đỏ cả mặt.
Khoảng 45 phút sau, tổ cảnh giới thông báo có lực lượng bạn đi ngược chiều. Chúng tôi ngừng đo đứng chờ ở bên đường. Đó là lực lượng C6, D216. Tổ tuần tra biên giới vừa gặp một nhóm nhỏ địch tại chân núi và hai bên đã nổ súng. Phía địch thương vong không rõ nhưng C6 đã có thương vong, hy sinh 1 bị thương 1. Thì tôi đã nói rồi, E20 là đơn vị biên phòng, nghiệp vụ của họ là tuần tra biên giới chứ không phải là vác súng chiến đấu trực diện như bộ đội nên mỗi lần gặp địch thì y như rằng có đổ máu, có thương vong. Sau này năm 1981-1982 ngay chính tại nơi này C5 và C6 của d216 đã bị Pôn Pốt chia cắt vây hãm suốt hai năm trời. Hai năm đó bộ đội phải ăn hầm, ngủ hầm không ngóc cổ lên nổi, ngay cả đồng chí C trưởng C6 cũng bị tin ngay một phát 12ly7 vào giữa mặt. Tử không đưa ra được sình lên phải chôn cất tại chỗ, thương binh không có thuốc kháng sinh bị hoại thư sinh hơi vô số đến nỗi thằng Lâm chỉ là Quân y sỹ mà cũng phải mổ, phải cắt cụt chi cho họ. Sau này có lần tôi bảo nó khi nào cuộc chiến này chấm dứt có lẽ mày sẽ thành bác sỹ ngoại khoa giỏi đấy. Đến lúc C2, D10, E576 được điều vào đứng chân cạnh D216, E20 CAVT tôi mới thán phục tầm nhìn chiến lược của Ban chỉ huy trung đoàn khi triển khai đo đạc trước đoạn đường này. Tôi sẽ kể lại giai đoạn này vào dịp khác.
Thấm thoắt đã một tháng trôi qua, điểm mốc cuối cùng trong ngày hôm nay chỉ còn cách C6, d216 khoảng 3km. Lương thực, thực phẩm đã gần cạn kiệt, mấy hôm nay tập trung đo đạc nên đội không còn cơ hội tăng gia, cải thiện được nữa. Anh em ăn cơm ba bữa với mắm kem, dền dã mấy ngày nay. Thời tiết nắng nóng, sức khỏe bộ đội có phần xuống cấp. Trong đội có ba chiến sỹ dính phải sốt rét, thuốc men thiếu thốn, thằng Mai đo máy khỏe như vâm mà còn dính chưởng. Những cơn sốt tai ác hành hạ bộ đội, trời nắng nóng là vậy mà thằng nào thằng nấy cứ run lên cầm cập, cặp nhiệt kế thì nhiệt kế chỉ 40-41 độ C. Tôi bị sốt lần đầu tiên vào khoảng tháng 8/1978 khi tham gia cùng E94 trong chiến dịch đánh tại bình độ 300 gần khu Xa-Xb của khu Nam đường 19, từ đó tôi biết sốt rét là gì và nó khốn khổ, khốn nạn ra sao.
Chỉ còn khoảng 3km nên hôm nay anh Vượng cho ba thằng khỏe trong đó có thằng Vân hộ tống ba thằng ốm đi trước vào C6 nằm chờ. Thế là may lắm rồi, có đơn vị bạn ở gần nên cũng đỡ phải khiêng chúng nó về d bộ d216 cách mấy chục cây số. Cứ đưa chúng nó về đấy tạm điều trị rồi tính sau vậy. Cả đội chỉ còn hơn chục thằng trong đó có cả anh Vượng nên tất cả cần nỗ lực hết mình. Anh Vượng nhận phần cảnh giới thay cho thằng Hải choắt vào kéo thước dây. Kiểu gì thì hôm nay cả đội cũng phải đo đến C6, đây là điểm mốc quan trọng bởi nó nằm ngay ngã ba, một tuyến đi vườn xoài nơi C5 đang đứng chân, từ đó đi thẳng lên ngã ba biên giới, một tuyến đi Rô bênh và vòng lại cầu D216. Chúng tôi sẽ đặt ngay ngã ba đường một mốc để so sánh với tọa độ được bóc trên bản đồ.
Khi chỉ còn cách C6 khoảng 500m thì anh em C6 đã ra đón chúng tôi. Tuy lạ lẫm nhưng khi đang ở chiến trường cách xa quê hương thì tất cả trở thành thân quen. Những cái bắt tay thật chặt, những cái ôm thân thiết, tất cả đều xưng hô ĐỒNG HƯƠNG. Mặc dù mỗi thằng mỗi quê, Thằng Thanh Hóa, Thằng Hà Tây, Thằng Quảng Nam, thằng Nghĩa Bình đều đồng hương tuốt.
Vì còn những 500m nên phải dừng cuộc vui mà tập trung công việc. Anh em C6 giành lấy ba lô của chúng tôi để mang hộ về đơn vị trước. Một vài anh em nán lại xem chúng tôi làm. Họ vô cùng ngac nhiên khi thấy vũ khí của chúng tôi là máy móc, là thước dây, là cọc chuẩn. Anh Trung thay thằng Mai đo máy, giọng anh to, khỏe khiến anh em C6 lại càng thán phục.
Anh C trưởng C6 mà tôi không nhớ tên tận tình chỉ cho chúng tôi chính xác ngã ba đường. Hóa ra nó nằm ngay chính giữa sân đơn vị. Tuy sân đã được dọn dẹp quang lâng, sạch sẽ nhưng nhưng bằng con mắt nhà nghề tôi và anh Vượng đã xác định ngay tâm ngã ba, xây dựng điểm mốc quan trọng nhất. Tọa độ mốc đo đạc và tọa độ bóc theo bản đồ trùng khớp nhau một cách kỳ lạ. Như vậy chúng tôi đã hoàn thành gần một nửa chặng đường. Điều cả đội vui nhất là kết quả của một tháng lao động cật lực đã vô cùng mỹ mãn. Thông tin 2w nhanh nhẹn chuyển điện báo về Sở chỉ huy.
Bữa cơm chiều đơn vị bạn chiêu đãi bằng thịt gà hộp, rau muống luộc do anh em trồng được chấm với mắm kem. Anh Vượng và tôi được ban chỉ huy C6 mời ăn chung. Xong bữa chúng tôi xin phép về ngủ chung cùng anh em trong đội. Tối hôm đó cả đội được ưu tiên không phải gác. Đây là đêm thứ hai kể từ ngày rời C13 tại thị trấn Chi Sen chúng tôi không phải gác.
lehuychieu1959:
Hồi ký chiến trường K (tiếp theo)
Cuối cùng cũng có tin vui, trung đoàn đã cho xe chở lương thực, nhu yếu phẩm vào tập kết tại D216, cùng đi theo trung đoàn bổ sung cho năm chiến sỹ trinh sát đo đạc cũng thuộc D10. Anh Vượng quyết định tạm nghỉ đo để tập trung đi lĩnh lương thực và nhu yếu phẩm. Anh phân công tôi ở lại với lý do kiểm tra toàn bộ số liệu đo đạc những ngày qua, nhưng tôi biết anh có ý ưu tiên cho tôi được nghỉ ngơi. Anh Vượng trực tiếp dẫn bộ đội quay về D216. Cùng đi có ba thằng sốt rét để theo xe về trung đoàn.
Sau khi được nghỉ tại chỗ ba ngày lấy sức, bổ sung hậu cần, lại thêm năm thằng nữa nên anh em ai cũng phấn khởi cứ như ngày đầu mới ra quân. Hướng tuyến đo đạc lần này từ ngã ba đi vườn xoài (nơi có C5, D216 đứng chân) khoảng 8km, và chạy thẳng lên biên giới, tuy nhiên chỉ đo cách C5 khoảng 5km là dừng lại. Do đã có kinh nghiệm nên tiến độ đo đạc nhanh hơn rất nhiều, ngày đầu chúng tôi đo được đến hơn 4km.
Sau hai ngày đội đã đo đến vị trí đứng chân của C5 nơi có vườn xoài đang mùa quả chín. Đây thực chất là một phum cũ có tên là phum Trapeang Kul, phum này không có dân sinh sống, có lẽ họ đã bị Pôn Pốt dồn đi nơi khác. Trong phum có nhiều tàn tích của một phum có lẽ là rất trù phú, ngoài xoài còn có rất nhiều dừa, vú sữa, cây thốt nốt. Điều đặc biệt là còn có cả cây ca cao. Từ đây hướng biên giới lại vếch ngược lên phía bắc. Từ ngã ba có một con đường đi qua phum Trapeang Kul đi ngược lên biên giới. Trách nhiệm của đội là đo kéo dài thêm khoảng 5km nữa là dừng tùy theo điều kiện cụ thể. Bên kia biên giới là tỉnh Ubon Ratchathani của Thái Lan, còn phía Lào là tỉnh Chămpasăck.
Anh em C5 đón tiếp chúng tôi nồng hậu chẳng kém C6. Chiều hôm ấy họ đãi toàn đội ngoài thịt hộp, rau muống xào còn có cả gà luộc do đơn vị tăng gia. Đặc biệt hơn nữa là món gỏi xoài xanh. Anh em được bữa no phưỡn bụng đã thế ban đêm còn được ngủ chỏng gọng mà không phải lo gác xách.
Ngày hôm sau Ban chỉ huy C5 cho một tiểu đội bảy đồng chí mang đầy đủ vũ khí đi theo bảo vệ. Vùng này là vùng do bọn Sê rê ka hoạt động. Lần này chúng tôi vớ phải một kiểu địa hình khá đặc biệt. Rừng khộp biến mất, trước mắt mọi người là rừng cỏ tranh rộng mênh mông. Cỏ tranh tốt quá đầu người, có lẽ phải dài đến 2m chứ không ít. Con đường mòn trên bản đồ ngoài thực địa cũng biến mất, nếu không có mấy đồng chí C5 thì chúng tôi khó mà dò ra được hình dong con đường này. Việc đo đạc trở nên khó khăn hơn vì tầm nhìn xa của máy rất hạn chế, kéo thước dây cũng vô cùng vất vả. Sau một ngày cả đội chỉ đo được chưa đầy 2km, đã thế số lượng mốc rất ít vì không có cây to để làm.
Sau ba ngày cật lực cũng chỉ đo được 5km đúng theo kế hoạch của Chỉ huy sở. Điểm mốc cuối cùng là một cây dầu đứng độc lập. Từ đây nhìn lên biên giới Thái Lan chỉ khoảng 2km nhưng lên đến ngã ba biên thì còn khoảng 5km nữa. Anh Vượng sau khi báo cáo về Trung đoàn đã được Chỉ huy sở trung đoàn lệnh cho dừng lại. Sau một ngày dừng nghỉ ngơi và tính toán, theo lệnh trung đoàn chúng tôi cất máy tiến hành trinh sát khu vực ngã ba biên giới.
Navigation
[0] Message Index
[#] Next page
[*] Previous page