Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:42:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nghĩa Tình Đồng Đội  (Đọc 44089 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #10 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2010, 06:41:48 pm »

Chiến dịch mùa xuân năm 1972 kết thúc, Tiểu đoàn 6 cơ động sang phía Bắc đường 19 và cùng với đội hình của Trung đoàn bước vào giai đoạn đánh địch nống lấn quyết liệt ở huyện Hoài Ân, Hoài Nhớn, Phù Mỹ… Đầu năm 1975, ta mở chiến dịch tổng tiến công. Trung đoàn 12 có dịp trở lại mặt trận đường 19, đánh chiếm toàn bộ các mục tiêu trên đường 19, đèo An Khê và cùng với đội hình Sư đoàn 3 phát triển vào phía Nam, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng thị xã Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu.
   
Đất nước ta đã sạch bóng quân thù. Song, không lâu sau đó, lại xảy ra chiến tranh Biên giới. Những người lính chúng tôi lại vác súng lên vai, ra trận. Vì vậy những trường hợp như đồng chí Thảo, có thể chưa được đưa hài cốt về nghĩa trang hoặc là gia đình chưa biết được nơi đồng chí hy sinh.
   
Ngày 16/11/2006, tôi đến huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định để tìm Lê Anh Kiên, người lính trinh sát năm nào cùng một tiểu đội với đồng chí Thảo trong những năm hoạt động ở phía Nam đường 19. Lê Anh Kiên là một trong những chiến sỹ trinh sát gan dạ. Những người lính trinh sát thường đi công tác lẻ, từng tổ 2-3 người, xa sự chỉ đạo chỉ huy trực tiếp của đơn vị, là những người giáp mặt với kẻ thù, hay đến những nơi nguy hiểm nhất, độc lập xử trí những tình huống gay cấn. Vì vậy khi trong tổ có người hy sinh, hay bị thương, những người còn lại phải giải quyết với trách nhiệm và tình cảm anh em ruột thịt. Mỗi khi đi công tác với những chiến sỹ như thế, tôi rất yên tâm. Trong thắng lợi của những trận đánh hoặc các chiến dịch, có sự đóng góp đặc biệt quan trọng của người lính trinh sát.
   
Gặp lại nhau hơn 30 năm xa cách, Kiên rất mừng. Anh nguyên là Trung tá, Trung đoàn trưởng đã nghỉ hưu, đang tham gia công tác trong hội Cựu chiến binh xã Hải Cường, huyện Hải Hậu. Anh là người nắm rất rõ trường hợp hy sinh và nơi mai táng liệt sỹ Thảo.
   
Tôi hỏi quê quán Thảo, Kiên khẳng định với tôi một điều:
   
- Thảo là người huyện Thanh Oai – Hà Tây.
   
- Có thật không? – Tôi ngạc nhiên và mừng hết sức. Vì quê vợ tôi cũng ở huyện Thanh Oai. Cũng như trường hợp của Trần Xuân Nựu (trong bài viết tiếp sau), khi biêt được huyện thì sẽ tìm được người cần tìm ở xã nào.
   
- Nhất định trong chuyến đi này mình sẽ đến huyện Thanh Oai. – Tôi khẳng định với Kiên như vậy.
   
Nâng ly rượu với vợ chồng Kiên sau hơn 30 năm gặp lại, trong lòng tôi lại nghĩ đến chuyện khác, đó là niềm hy vọng sẽ tìm được thân nhân của Thảo.
   
Hai ngày sau, tôi về huyện Thanh Oai và gặp đồng chí Trưởng phó phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện. Nôn nao trong lòng, tôi nêu thẳng vấn đề muốn tìm thân nhân của liệt sỹ Thảo.
   
- Xin cảm ơn anh đã quan tâm đến công tác chính sách. Nhưng danh sách liệt sỹ của huyện có cả ngàn, phải lần tìm từng xã, phải có thời gian. Đồng chí cán bộ phòng Lao động Thương binh và Xã hội sốt sắng trả lời tôi và yêu cầu tôi ngồi chờ để đồng chí lục tìm.
   
Tôi đến đây không được báo trước cũng hơi đột ngột, và biết rằng tìm người thân của một người trong hàng ngàn người, trong khi chưa biết được địa chỉ cụ thể thì đâu phải chuyện dễ. Vì vậy, tôi để lại địa chỉ liên lạc và hy vọng một ngày nào đó sẽ tìm được nhân thân của người đã mất.
   
Có một điều chắc chắn là trường hợp liệt sỹ Thảo nếu không phải ở huyện Thanh Oai thì cũng thuộc một huyện nào đó của tỉnh Hà Tây.
   
Người viết bài này mong rằng sẽ được các cấp ngành tỉnh Hà Tây và bạn đọc quan tâm cung cấp thông tin chính xác về nhân thân của liệt sỹ Thảo, đặng giúp gia đình biết được nơi hy sinh và an táng của anh.
   
Địa chỉ liên lạc: Lê Anh Kiên – Đội 2, xã Hải Cường, huyện Hải Hậu – Nam Định. Điện thoại 0350.7935.527.

Hoặc tác giả bài viết này. ĐT: (08).8105660 hoặc 0913.957777.

TP.HCM, tháng 12 năm 2006
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #11 vào lúc: 28 Tháng Mười Hai, 2010, 09:41:45 pm »

GẶP LẠI NGUỜI
THƯƠNG BINH ẤY SAU 36 NĂM

Đó là anh Trần Xuân Nựu, người thương binh cụt một chân. Hiện nay anh đang sống với vợ con tại xã Xuân Lam, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. (Điện thoại: 0393.570.223)
   
Gần cuối năm 1971, trong một lần đi trinh sát các mục tiêu địch trên đường quốc lộ số 19 tại đèo An Khê, tỉnh Bình Định không may anh đạp phải một quả mìn hộp zíp. Nói “không may” là vì trên một lối mòn, từ phía Nam, tiếp cận lên lề đường, ba đồng chí đã đi trước, tôi đi thứ tư và sau tôi là đồng chí Trần Xuân Nựu. Anh dẫm phải quả mìn ngay trên lối mòn đã có bốn người đi trước. Mìn hộp zíp, do Pháp chế tạo. Trái mìn hình tròn lớn hơn cái đít chen ăn cơm, giống như cái hộp zíp đánh răng thời kỳ chống Pháp đã được cấp cho bộ đội để đánh răng. Có lẽ vì vậy mà ta gọi là mìn hộp zíp (gọi là hình tượng). Vỏ của trái mìn zíp bằng nhựa, màu xanh nhạt có tác dụng chống máy dò mìn. Thuốc nổ là một hợp chất nhiều thành phần, chủ yếu là TNT. Cấu tạo theo nguyên lý đạp nổ. Kim hỏa gắn liền với tâm miếng mica hình lõm, đàn hồi. Dưới kim hỏa là hạt nổ.
   
Mìn zíp có độ chống ẩm cao, chôn dưới mặt đất khoảng 1cm, nhiều chục năm vẫn còn tác dụng. Cây cỏ mọc lên rất khó dò phát hiện. Mìn zíp chỉ có tác dụng loại đối phương khỏi vòng chiến đấu, vì dẫm phải chỉ cụt chân. Song nếu vết thương không được xử lý kịp thời, có khi dẫn tới tử vong.

Dọc hai bên đường 19 và xung quanh các điểm chốt của địch ở đèo An Khê đã được rải mìn zíp thành một tuyến trong phạm vi 15-20m từ vệ đường trở ra. Ở đây quân ta thương vong do mìn chiếm tỷ lệ cao.
   
Trái mìn nổ đúng vào lúc giữa trưa, cách mặt đường khoảng 10 đến 15 mét. Xung quanh có các cứ điểm thuộc sườn phía Nam của dẫy núi Ông Bình; phía Tây là chốt Mâm Xôi (tên địa danh do bộ đội ta đặt ra), phía Đông là cứ điểm của một đại đội địch đóng ở đồi Hòn Kiềng (tên địa danh do bộ đội ta đặt ra)… Các lô cốt với những họng súng đen ngòm, trong tầm bắn có hiệu quả của binh lính Đại Hàn luôn trong tư thế sẵn sàng nhả đạn… Tuy nhiên, trái mìn nổ gần sát mép đường giữa buổi trưa trời nắng gắt, đã không làm cho bọn địch chú ý.
   
Bàn chân phải của Nựu trái mìn tiện đứt hai phần ba. Không có sẵn dao kéo để chặt đứt luôn phần còn lại, chúng tôi phải gấp bàn chân anh lại, xé áo bó lại cho anh. Một cuộn băng cá nhân không thể ngăn được dòng máu đang xối xả phun ra. Bốn anh em thay nhau cõng anh ra khỏi những họng súng của địch xung quanh đang chĩa vào mình. Tôi động viên Nựu:
   
- Ở đây gần địch, cậu cố gắng chịu đựng, đừng la to, chúng nó nghe thấy. Bọn mình sẽ đưa cậu về đơn vị!...
   
Máu ra nhiều quá. Khuôn mặt Nựu trông nhợt nhạt. Hai đồng chí trinh sát thay nhau cõng Nựu ra khỏi tầm ngắm của các chốt địch; Kiên đi trước dò mìn, tôi đi sau cảnh giới và nhắc Lê Anh Kiên:
   
- Cậu dò cẩn thận. Nếu dẫm phải mìn nữa , chết, chôn cất cậu ở đây thì dễ, còn bị thương thì không còn ai để khiêng cậu nữa đâu nhá!
   
- Thủ trưởng cứ yên tâm! – Kiên tự tin trả lời tôi. Anh dò cẩn thận, từng bước vượt qua tuyến mìn của địch ở ven đường.
   
Nựu đã bị ngất mấy lần, vì mất máu nhiều. Khi tỉnh dậy, anh rên la và nói qua hơi thở:
   
- Tôi chết mất, các đồng chí cứ để tôi lại đây, đừng khiêng nữa!... Vừa dứt lời anh lại mê man. Tôi cúi xuống ghé tai vào ngực: tim vẫn còn đập. Tôi động viên và thúc giục tổ trinh sát khiêng tiếp, không nghỉ để rút ngắn thời gian về trạm phẫu, hy vọng cứu sống được Trần Xuân Nựu.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười Hai, 2010, 03:44:47 pm gửi bởi crawling0805 » Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #12 vào lúc: 28 Tháng Mười Hai, 2010, 10:15:44 pm »

Ban đêm, rừng kín mít, đất đá lởm chởm, không sao đi được. Đốt đuốc thì địch trên các chốt phát hiện, chúng tôi phải lấy những khúc gỗ mục có chất lân tinh, cho một người đi trước soi đường để tiếp tục khiêng Nựu về căn cứ. Nhưng cuối cùng cũng phải dừng lại ở đầu nguồn của suối Đồng Tre, một nơi kín đáo, an toàn. Từ đây về căn cứ phải mất hơn một ngày đường, phải vượt qua đỉnh Hòn Giác cao trên 300 mét so với mực nước biển và phải vượt qua những đồi tranh trống trải.
   
Đêm đó, mấy anh em không sao ngủ được. Lo lắng lớn nhất là không biết Nựu có “qua khỏi” đêm nay không. Mau sao trời mau sáng để rút ngắn được thời gian đưa nựu về trạm phẫu càng sớm càng tốt. Những cơn gió thổi qua lay động rừng cây nghe xào xạc. Một quả bom vướng nổ gần mấy anh em giật mình. Vùng này địch đã cho máy bay rải bom vướng nổ. Một quả “bom mẹ” khi rơi xuống hàng trăm “bom con” bung ra. Mỗi “bom con” chỉ bằng trái cam, có màu xanh lá cây, bốn góc bung ra bốn sợi dây vướng như những sợi chỉ dù, cùng màu xanh rất khó phát hiện. Thỉnh thoảng những luồng gió mạnh thổi qua hoặc thú rừng vướng phải làm cho bom nổ. Vì vậy nơi đây nghe tiếng bom bổ suốt ngày đêm.
   
Sáng hôm sau trời rét lại mưa lất phất. Không nấu cơm được, mấy anh em ăn gạo sấy, uống nước lã, khiêng Nựu vượt qua được Hòn Giác, thì mọi người hầu như đã kiệt sức. Đến đây được một nửa đường về căn cứ và có thể đốt lửa đun nấu được rồi, chỉ cần cảnh giác máy bay phát hiện khói mà thôi. Ưu tiên số một lúc này là nước sôi để pha cho Nựu một ly sữa. Nói đến sữa, Kiên sực nhớ: hộp sữa Ông Thọ được cấp cho tổ trinh sát khi đi công tác, lúc lấy cuộn băng cá nhân để băng vết thương cho Nựu, Kiên lại quên ở suối Dầu, phía Nam đường 50m. Không có sữa để pha cho Nựu , còn một ít gạo sấy, chúng tôi cho vào cái hăng gô nấu cháo và bón cho Nựu từng thìa cháo loãng không đường, không muối. Đã hai ngày không ăn, vết thương lại mất nhiều máu, bốc mùi hôi, nhiều lần Nựu mê man, bất tỉnh… Sau hai ngày trèo đèo, lội suối, cuối cùng chúng tôi cũng khiêng anh về đến trạm phẫu của tiểu đoàn.
   
Vết thương nơi chân anh bị nhiễm trùng. Các bác sỹ đã phải hai lần tháo ở mắt cá chân và đầu gối. Song cũng không kịp chặn vết thương bị hoại tử cứ “lép bép” ăn dần lên phía trên đầu gối. Cuối cùng phải tháo đến khớp háng. Đây là khớp cuối cùng của đôi chân.
   
Các bác sỹ cho biết, nếu chậm trễ từ 15 đến 20 phút nữa là hết phương cứu chữa. Chúng tôi xa nhau từ ngày ấy. Ba mươi sáu năm đã trôi qua. Lòng tôi nuôi một hy vọng là sẽ gặp lại anh trong một ngày nào đó. Ba mươi sáu năm rồi, cuộc đời của một con người có biết bao thay đổi.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #13 vào lúc: 28 Tháng Mười Hai, 2010, 10:17:11 pm »

Sau ngày 30/04/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất. Song lại xảy ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Áo chiến chinh chưa rũ sạch bụi chiến trường, người lính lại khoác ba lô, vác súng lên vai ra trận. Tôi vẫn chưa tìm được anh.
   
Trong “Cuộc trường chinh tìm đồng đội” của nhân dân cả nước, một trong những đồng đội cũ đã găn bó một thời, tôi nhớ ngay đến Trần Xuân Nựu, người sỹ quan tác chiến, đã để lại một phần cơ thể trên chiến trường cách đầy 36 năm, hiện giờ đang ở đâu? Cuộc sống như thế nào? Ý định tìm lại người thương binh ấy lại thôi thhúc tôi.
   
Hồi đó, cán bộ các cấp hầu như nhớ thuộc lòng cấp dưới do mình quản lý. Đến nay, tôi còn nhớ, tên anh là Trần Xuân Nựu, quê ở huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Tuy không nhớ ở xã nào, song hy vọng sẽ có ngày tìm gặp được anh.
   
Tháng 11 năm 2006, trong một chuyến  “xuyên Việt” đi tìm đồng đội, tôi về huyện Nghi Xuân và được người ta cho biết anh đang ở xã Xuân Lam.
   
Mừng quá, tôi tìm đến ngay nhà anh. Đứng trước ngưỡng cửa, tôi thật ngỡ ngàng trước người thương binh với nét mặt già phải đến cả chục năm trước tuổi. Từ nhà trong, chân cà thọt anh bước đến. Sau giây phút xúc động,  anh thốt lên:

- Anh Hồng đó phải không? Mấy chục năm nay tôi cứ dò tìm tin tức về anh. Anh đã sinh ra tôi lần thứ hai, tôi quên sao được!...

Thật không ngờ, ba mươi sáu năm đã trôi qua, anh sống trong đau đớn về thể xác, khủng hoảng về tinh thần, vậy mà khi gặp lại, trong giây lát anh vẫn còn nhận ra tôi. Nếu như gặp nhau ngoài đường chắc chắn tôi sẽ không nhận ra anh.

Vui mừng xúc động, anh giành thời gian nói chuyện với tôi rất nhiều. Cũng phải, ba mươi sáu năm, một con người năng động hoạt bát như anh có biết bao nhiêu chuyện muốn nói, muốn giãi bày với tôi. Giây phút gặp nhau quá ngắn ngủi, làm sao chuyển tải hết được những điều diễn ra trong cuộc sống của quá khứ và hiện tại của gia đình người thân và bạn bè xung quanh anh.

Trước khi vào miền Nam chiến đấu, anh chị đa có với nhau một cháu gái, đặt tên là Thủy. Sau ngày từ chiến trường trở về, chị sanh cho anh cháu thứ hai đặt tên là Chung. Hai cái tên của hai giai đoạn ghép lại (Thủy – Chung) cũng đủ nói lên mối tình của người hậu phương với tiền tuyến.
   
Chị ở nhà thay anh làm tất cả mọi việc nặng nhọc của một thời “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang” tay cày, tay súng, bền gan chờ đợi ngày đoàn tụ. Ở chiến trường anh là một quân nhân mặt đối mặt với quân thù nơi gian khổ ác liệt nhất. Anh đã để lại một phần cơ thể nơi ấy.
   
Tôi nói với anh để làm dịu những đau thương mất mát:
   
- Cậu bây  giờ đã là “ông ngoại”, có một mái ấm, trong đó có đầy đủ vợ, chồng, con, cháu. Đó cùng là một phần bù đắp những hy sinh mất mát. Đồng đội của chúng ta còn biết bao nhiêu người vĩnh viễn nằm lại trên các chiến trường, không được hưởng niềm vui trọn vẹn như ngày hôm nay… Nếu như ngày đó, trái mìn đó, cậu không lãnh đủ thì rất có thể mình hoặc đồng chí khác cũng mang thương tật như bây giờ, hoặc nằm lại vĩnh viễn nơi ấy. Trong chiến tranh mọi việc đều có thể!...
   
Anh cười sảng khoái:
   
- Xin cảm ơn các anh đã cứu sống tôi. Cho đến giờ tôi vẫn nói với các cháu: “Anh và các đồng chí trinh sát đã cứu sống bố, bây giờ mới có các con đó!”.
   
Thế là trong chuyến “đi tìm đồng đội” lần này tôi đã toại nguyện, đã tìm được anh, người đồng chí, người bạn chiến đấu, đã chhia ngọt, sẻ bùi ở một chiến trường khó khăn ác liệt nhất - Mặt trận đường 19.
   
Chia tay anh lúc hoàng hôn sắp buông xuống, bên kia cánh đồng, đối diện nhà anh, từng đàn cò trắng bay về đậu trên những lũy tre xanh ở một vùng quê yên tĩnh. Lòng tôi cảm thấy lâng lâng…
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #14 vào lúc: 28 Tháng Mười Hai, 2010, 10:19:45 pm »

Để kết thúc bài viết, tôi xin trích một đoạn trong lá thư dài Nựu viết gửi cho tôi sau ngày gặp lại nhau:
   
Anh Hồng kính mến!
   
Hai giờ chiều ngày 14 – 11 – 2006, chiếc xe con mầu kẽm đỗ đầu ngõ nhà Nựu, Nựu thấy có linh tính gì khác những ngày thường, bèn ra ngõ. Thế là Hồng và Nựu – hai anh em mình – hai cơ thể như quyện thành một cơ thể, hai người đồng chí, hai người bạn, hai tình chiến đấu ôm nhau vui mừng khôn xiết. Từ ngõ, anh dìu tôi vào, chúng ta không bao giờ muốn buông nhau ra nữa. Nhưng vì cái chân gỗ của tôi, hai ta đã cùng ngồi xuống và chuyện trò của những ngày đã từng chiến đấu gian khổ. Những hình ảnh chúng ta đã cùng chiến đấu nó hiện lên và ấp vào đầu óc tôi tới tấp. Trận đánh chiến dịch lớn, những trận đánh pha đệm, những trận đánh tập kích, phục kích địch, đánh địch càn quét, đánh lên các điểm cao, đánh chốt,… vô cùng ác liệt. Ba mươi sáu năm qua, ngày gặp lại, ai đã từng qua cơn hoạn nạn mới hiểu nhau.
   
Chúng ta là hai người lính, cùng trang lứa, nhập ngũ 1964, cùng vào chiến trường chấp nhận, đánh kẻ thù chung giải phóng dân tộc. Chuyện chiến đấu đã quay về quá khứ, ta cũng khép quá khứ lại, giờ chỉ ôn lại ngày tôi bị thương.
   
Anh Hồng kính mến!
   
Tháng 12 năm 1971 tôi và anh cùng đi chuẩn bị chiến trường (chốt giặc Nam Hàn – Mãnh Hổ) về Khe Dầu, đường 19 thuộc tỉnh Bình Định, đèo An Khê, đầu đội bom, chân đạp mìn, tôi đã lĩnh chọn quả mìn sát thương và mất một chân, lúc đó trời còn sáng, địch thì quá gần hai đến ba chục mét. Anh Hồng đã xé áo băng cho tôi. Tôi thấy gần địch nguy hiểm, nên dồn anh em ra xa. Khẩu súng đại liên của địch đã quay nòng chuẩn bị nhả đạn vào anh em mình.
   
Tôi nói với đồng chí Bường liên lạc, đưa toàn bộ lựu đạn cho tôi rồi lùi ra xa, nhưng đồng chí Bường không chịu, vẫn nấn ná và cõng tôi xuống một cái khe, có cát, có nước. Đi tới đâu nước lùa cát xóa dấu vết, tránh được biệt kích và máy bay “Rọ” phát hiện. Đồng chí Bường dừng tôi lại một bên bờ suối, định giương súng bắn chiếc “Rọ”, nhưng tôi vỗ vai nói với đồng chí” “Lệnh chiến trường chưa được nổ súng!”. Vậy là chúng ta thoát được hai làn đạn đại liên và máy bay trực thăng. Ngay lúc ấy đồng chí Hồng lệnh một tổ trinh sát bám địch, đi trước. Nhưng đường bị địch phục kích, thế là đồng chí Hồng và anh em đã sử dụng bản đồ, địa bàn để xuyên đường tránh địch mà đi.
   
Do địa hình hiểm trở, bom mìn nhiều, sau mấy ngày, anh Hồng và các đồng chí trinh sát đã đưa tôi về tới viện K206. Các bác sỹ lập hội đồng giám địch và giải phẫu ngay cho tôi. Lúc đó khoảng 5 giờ tối, vì trong mìn có chất độc, nó ăn da thịt tôi nghe “lép bép” rõ tiếng và đen từng đoạn như than. Lúc đó bác sỹ nói là không thể cứu chữa được nữa, vì chất độc đó sẽ thấm vào tim…
   
… Bệnh viện thấy tôi có vấn đề về sức  khỏe, nên sau đó đã đưa tôi sang nhà xác để cho hộ lý, y sỹ trực theo dõi. Sau 15 ngày thấy tôi có triển vọng về sức khỏe, không thể chết, bác sỹ liền cho tôi trở lại cùng điều trị chung với anh em…
   
… Cuối năm 1971, tôi được chuyển ra miền Bắc. Anh Hồng lúc đó là tham mưu trưởng tiểu đoàn. Anh Hồng ơi! Anh còn nhớ không? Hôm đó anh viết cho tôi một bức thư dài đầy tâm huyết. Có đoạn thư ghi rõ mà tôi không bao giờ quên. Anh viết rằng: “Bụi chiến trường anh chưa rũ sạch, anh đã ngừng mặc áo chiến chinh”.
   
Chín năm ở chiến trường ăn gạo rang, uống nước suối… nấu không khói, nói không tiếng… Đó là những kỷ niệm chắc hẳn trong tôi, trong anh, trong chúng ta sẽ không bao giờ quên được.
   
Hôm nay, cầm bút ghi lại ký ức của chiến tranh, tôi như sống lại những ngày tiền tuyến, những ngày tôi và anh cùng anh em trong đơn vị xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.
   
Sau ba mươi sáu năm tôi gặp lại anh, cũng đã khá lâu, nhưng thời gian vẫn không làm cho tôi quên được quá khứ hào hùng ấy. Tôi nhớ lại kỷ niệm thuở xưa, tôi nhớ anh có nụ cười thật tươi và có duyên. Và bây giờ, hôm nay đây tôi lại gặp lại nụ cười ấy, hình ảnh người đồng đội năm xưa. Những dòng tâm sự tôi viết vẫn hơi nghiêng về ký ức chiến trường, nên có gì không phải thì mong anh thông cảm nhé!
   
À mà anh Hồng ơi! Tôi báo để anh được mừng là hiện nay tôi có một tổ ấm rất  hạnh phúc… Vừa rồi nghe tin anh Hồng bạn của bố đến thăm, các con tôi mừng lắm, và cũng mong chúng ta sẽ sát vai nhau đi suốt cuộc đời còn lại… Một lần nữa tôi xin cảm ơn anh!

   
Trần Xuân Nựu (ký)
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #15 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2010, 03:49:34 pm »

TÌM ĐƯỢC HÀI CỐT CỦA ANH CÁCH XA NƠI GHI TRONG GIẤY BÁO TỬ HAI NGÀY ĐƯỜNG ĐI XE ÔTÔ

Trong chiến tranh vì lý do này, hay lý do khác, những người hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam phần nhiều đều được báo tử “HY SINH TẠI MẶT TRẬN PHÍA NAM”…

Nếu xét về địa lý, mặt trận phía Nam, mọi người hiểu là từ tỉnh Quảng Trị đến Cà Mau. Do đó, sau 30/4/1975, gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc “trường trinh” tìm đồng đội của các thế hệ chúng ta.
   
Trong những năm chiến đấu khốc liệt, có nhiều trường hợp lấy không được tử sỹ do rất nhiều lý do. Những trường hợp mai táng được thì những người vẽ sơ đồ mộ chí vẽ không rõ, hoặc không đúng, sau này rất khó xác định. Có khi hồ sơ bị thất lạc, bị cháy, bị mất do địch đánh phá. Những người trực tiếp chôn cất đến nay phần nhiều tuổi đã cao, đầu óc không còn minh mẫn để nhớ lại một cách chính xác; có người đã qua đời…
   
Tuy nhiên có những trường hợp người trực tiếp chôn cất đồng đội, ngoài sơ đồ mộ chí, hồ sơ liệt sỹ, họ có sáng kiến viết vào mảng giấy, cho vào lọ penicilin bỏ vào áo quầno của tử sỹ. Sáng kiến này đã giúp cho thế hệ sau xác minh danh tánh rất thuận lợi và chính xác. Dưới đây là một trong những trường hợp, nhờ sáng kiến đó mà gia đình liệt sỹ Đào Quang Phát đã tìm được hài cốt của anh ở một nơi hơn hai ngày đường đi xe so với nơi anh hy sinh được ghi trong giấy báo tử.
   
Vào một ngày nọ, có một người từ huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh vào Sài Gòn gặp tôi. Qua lời tự giới thiệu, tôi được biết anh là người thân của liệt sỹ Đào Quang Phát, cháu của anh Đào Quang Diệm (anh Đào Quang Diệm hiện là phó Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Tĩnh và là anh ruột của liệt sỹ Đào Quang Phát). Người này vào để hỏi tôi về nơi chôn cất của liệt sỹ Đào Quang Phát.
   
Anh Diệm gọi điện thoại trực tiếp cho tôi vì tôi là một nhà ngoại cảm và là một cán bộ chính trị đã trực tiếp chôn cất liệt sỹ Đào Quang Phát. Anh cũng cho biết: “Giấy báo tử có ghi Đào Quang Phát hy sinh ngày 19/08/1965 tại thung lũng Thuận Ninh, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định!”. Đây là một trong rất ít trường hợp được báo tử cụ thể nơi liệt sỹ đã hy sinh.
   
Nghe xong, tôi vội tìm cuốn lịch sử Sư đoàn 3 Sao Vàng. Trong cuốn lịch sử, tôi nhớ viết rất rõ trận đánh Mỹ đầu tiên của Sư đoàn 3 tại thung lũng Thuận Ninh. Xin trích một đoạn như sau:
   
“…Ngày 19/08/1965, đúng 7 ngày sau khi Sư đoàn không vận đặt chân lên đất nước ta và là ngày thứ 3 Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 2 Sư đoàn Sao Vàng tới Thuận Ninh, chuẩn bị bước vào chiến đấu. Dự kiến của Sư đoàn Sao Vàng là sau khi quân Nguỵ bị đánh đâu ở đường số 1, quân Mỹ buộc phải nhảy vào cứu, lúc đó các trận đánh Mỹ mới có thể bắt đầu.
   
Không ai ngờ cuộc chạm trán đầu tiên của Sư đoàn với quân viễn chinh Mỹ lại xảy ra sớm hơn ở địa bàn chật hẹp như thế (trang 28)…
   
… Chưa kịp tìm hiểu về đối tượng tác chiến mới các chiến sỹ Sao Vàng đã đánh thắng chúng trong một cuộc chạm trán bất ngờ ở thung lũng Thuận Ninh. Hơn 200 tên Mỹ bị tiêu diệt, 11 máy bay bị bắn rơi, 10 chiếc khác bị trúng đan. Tên Trung tá trưởng phòng tình báo bị cách chức. Còn tên Trung tá Xmít trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân thì bị gọi về Sài Gòn khiển trách. Hắn thanh minh: “Vì tình bào không phát hiện được nơi đổ quân là khu vực đóng quân của Việt Cộng”; “lính dù đã rơi vào một tổ ong vò vẽ của Việt Cộng”. Hắn thú nhận: “Quân Giải phóng và du kích đánh rất giỏi, được tổ chức tốt, rất có kỷ luật” và ngày đó đã qua đi “như một cơn ác mộng” trong đời hắn (trang 35)”.

Đúng ngày 19/8/1965 và cũng tại Thuận Ninh, Đào Quang Phát đã hy sinh như trong giấy báo tử đã ghi.
   
Tuy nhiên tôi trả lời với anh Đào Quang Diệm rằng: “Trận này tôi có biết, nhưng tôi không trực tiếp tham gia. Đây là trận đánh Mỹ đầu tiên của Trung đoàn bộ binh 2 Sư đoàn 3 theo tình huống ngoài dự kiến. Là trận chiến đấu vô cùng ác liệt. Tuy là trận đầu tiên với đối tượng tác chiến trực tiếp là bộ binh Mỹ, Sư đoàn không vận số 1 “anh cả đỏ”, song bộ binh ta đã thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, dám đánh và quyết thắng Mỹ với một lối đánh rất táo bạo, tiêu diệt nhiều bộ binh, bắn cháy nhiều máy bay Mỹ trên bầu trời Thuận Ninh.
   
Anh Đào Quang Diệm còn cho biết:
   
Gia đình anh cũng đã đi “xem bói”, họ cho biết một trong ba ngôi mộ, có ba cục đá và một vết nứt trên nóc mộ ở một làng nhỏ Thuận Ninh chính là mộ liệt sỹ Đào Quang Phát. Gia đình liệt sỹ cũng đã vào tận nơi, và tìm đến tôi với hy vọng “nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Hồng” là nhân chứng sống cuối cùng.
   
Như một người mắc bệnh nan y, hễ có người nào mách bảo uống thuốc gì thì tìm thuốc đó uống cho bằng được với hy vọng sẽ lành bệnh… Trong trường hợp này đã có người chỉ cho anh tìm đến tôi. Đó cũng là điều dễ hiểu. Song sự thật lại không phải như thế. Ngày đó tôi đang chiến đấu ở một nơi khác, huyện Phù Mỹ. Hai huyện Phù Mỹ và Bình Khê cách xa nhau hàng chục cây số.
   
Thế rồi sự việc lại quay ngoặt 1800, khi hài cốt liệt sỹ Đào Quang Phát được tìm thấy tại một làng thuộc tỉnh Quảng Trị, một nơi cách thung lũng Thuận Ninh, tỉnh Bình Định (nơi được ghi trong giấy báo tử) đến 2 ngày đường đi ôtô.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #16 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2010, 05:18:55 pm »

Ngày 9/11/2006 tôi ra thăm anh Đào Quang Diệm, nắm lại các thông tin về anh Đào Quang Phát để cùng với gia đình phối hợp tìm kiếm hài cốt liệt sỹ.
   
Anh Diệm tiếp tôi tại cơ quan Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Tĩnh. Vào một buổi sáng cuối giờ làm việc.
   
Anh nói:
   
- Tôi là Phó Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội, là người trực tiếp làm công tác chính sách. Trong khi đó có đứa em hy sinh tại chiến trường lại chưa biết mộ chí ở đâu thì thật là ân hận và có lỗi với gia đình. Vì vậy khi nghe tin anh có chiến đấu ở tỉnh Bình Định và theo sự mách bảo của nhiều người, tôi đã tìm đến anh!...
    
Thế rồi anh chạy vào phòng, lục trong tủ, đem ra một số giấy tờ anh vừa nhận được từ Sở Công an, và Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Trị gửi ra.
   
Anh cho biết tại một làng ở Quảng Trị, người ta san lấp mặt băng để xây dựng cơ bản thì phát hiện một bộ hài cốt được bọc trong tấm ni lông. Khi rạch tấm ni lông thấy lọ penicilin, bên trong có mảnh giấy bằng bàn tay có ghi đầy đủ họ tên, quê quán, ngày nhập ngũ… của anh Đào Quang Phát. Theo địa chỉ trong mảnh giấy, họ gửi đến Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Tĩnh. Thế là tôi đã tìm được hài cốt của đứa em trai mà trong giấy báo tử ghi là hy sinh ở Thuận Ninh, Bình Định. Anh đưa cho tôi xem toàn bộ hồ sơ của liệt sỹ Đào Quang Phát gồm một mảnh giấy bằng bàn tay được viết bằng mực xanh Cửu Long, ghi trích ngang (Họ tên, năm sinh, quê, quán…) của liệt sỹ được cơ quan chính sách tỉnh Quảng Trị ép plastic rất cẩn thận, kèm theo biên bản giám định hài cốt có chữ ký của đại diện Sở Công an, Sở lao động Thương binh và xã hội tỉnh Quảng Trị và một công văn của Uỷ Ban nhân dân tỉnh Quảng Trị.
   
Trường hợp của liệt sỹ Đào Quang Phát là một trong nhiều trường hợp may mắn nhờ những người trực tiếp chôn cất liệt sỹ có sáng kiến như trên.
   
Chúng tôi nhận định: có thể Đào Quang Phát bị thương nặng tại trận đánh quân Mỹ ở Thuận Ninh ngày 19/8/1965 và được chuyển ra Bắc điều trị theo đường dây 559, khi đến Quảng Trị anh hy sinh được chôn cất tại đó.
   
Chia tay anh Đào Quang Diệm, với tình đồng chí, đồng đội, tôi bày tỏ lòng cảm ơn Sở Công an, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị đã đưa được liệt sỹ Đào Quang Phát về với gia đình.

TP.HCM, ngày 05/12/2006
                                                                 
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #17 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2010, 05:41:57 pm »

THÂN NHÂN ANH Ở ĐÂU? AI BIẾT CHỈ GIÙM!

Trong một chuyến về quê, năm 2006 tôi nghe một câu chuyện đau lòng: có một bà cụ, năm nay đã gần đất xa trời, có đứa con được cho là “mất tích” trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam. Đã gần bốn mươi năm, bà âm thâm chờ đợi tin con. Trước khi nhắm mắt xuôi tay bà chỉ mong nhận được hai chữ “liệt sỹ” về đứa con trai yêu quý đã rời cánh tay của người mẹ đi chiến đấu, nay đã mãi mãi không về…
   
Chiến tranh đã kết thúc trên 30 năm, chẳng lẽ con bà đang làm một nhiệm vụ đặc biệt, phải “mai danh ẩn tích”, hay bị địch bắt rồi thủ tiêu, hoặc là một lý do nào khác… Nếu như còn sống năm nay anh đã trên 60 tuổi.
   
Tôi định bụng sẽ tiếp cận bà, hỏi xem có phải con bà là người mà tôi biết chính xác anh đã hy sinh? Nhưng sau đó, tôi đã hỏi người có trách nhiệm ở địa phương mới biết là không phải.
   
Những trường hợp như nói ở trên trong các cuộc chiến tranh nhiều lắm. Biết đâu, trong số quân nhân được xem là “mất tích”, có nhiều người biết họ đang nằm ở đâu, hy sinh trong hoàn cảnh nào… nhưng thời gian cứ trôi qua chưa nói ra được.
   
Liệt sỹ dưới đây, có nằm trong trường hợp đó? Nếu ai biết thân nhân, xin chỉ giùm.
   
Anh hy sinh trong một tình huống đặc biệt, làm cho tôi không thể nào quên được:
   
Năm 1967, mùa khô thứ hai, một trong hai mùa khô, đế quốc Mỹ và tay sai đẩy mạnh cuộc phản kích chiến lược ở miền Nam, nhằm giành thắng lợi quyết định chiến lược chiến tranh cục bộ.
   
Năm đó, Đại đội công binh Sư đoàn 3 quân khu 5, đóng quân ở khu vực Xóm Mít, Xóm Tranh và hoạt động tại thung lũng An Lão, một huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Định.
   
Một buổi sáng, tháng 2/1967 như thường lệ phân đội công binh triển khai ven bìa rừng để huấn luyện quân sự. Bãi tập là một khu đất trống, nằm ở dưới chân đồi giữa Xóm Mít và Xóm Tranh. Trước mặt, phía Đông là những thửa ruộng nước, lúa đang thì con gái. Phía Tây dựa vào sườn đồi thuộc dãy cao điểm Hòn Chè. Cạnh bãi tập hướng Nam có những khối đá to, chồng lên nhau tạo nên cái hang đá chứa được khoảng 3 – 4 người, nhưng trống hoác. Trên nóc hang là một cây bồ đề, rễ bám vào các phiến đá tua tủa. Ở đây, nhân dân tận dụng những khoảnh đất dưới chân đồi để trồng khoai lang, sắn (mỳ) và khoai sọ. Đây là vùng giải phóng từ năm 1965. Hôm đó, đơn vị huấn luyện khoa mục “khắc phục vật cản trong chiến đấu tiến công”, bài “bộc phá liên tục”. Chúng tôi đang luyện tập thì một chiếc “đầm già” (máy bay trinh sát L19) từ hướng thị trấn Bồng Sơn bay lên. Khi qua khỏi Xóm Mít, chiếc “đầm già” bay vòng trở lại và hạ độ cao, phóng một quả rốc két hoả mù xuống khu vực chúng tôi đang huấn luyện. Cùng lúc đã nghe thấy tiếng rít của máy bay phản lực từ xa. Linh cảm được sự nguy hiểm đang đến gần, phân đội công binh được lệnh giãn đội hình, tìm nơi ẩn nấp. Không kịp nữa rồi... Chúng tôi nằm bẹp dí giữa các luống khoai lang ở bìa rừng.

Đồng chí Nguyễn Minh Hiển nhanh chân chạy được vào cái hang đá gần đó ẩn nấp. Cùng lúc hai máy bay phản lực nhào xuống trút bom. Một quả bom Napan trùm lên cái hang đá. Một vùng lửa đỏ cùng với cột khói bùng lên… Đồng chí Hiển bị chết cháy… Khi máy bay đã đi khuất, vất vả lắm chúng tôi mới kéo được xác đồng chí Hiển bị cháy đen, thân hình co quắp, ra khỏi hang đá và mai táng đồng chí ở một nơi gần đó…
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #18 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2010, 05:49:46 pm »

Đã gần 40 năm, tôi vẫn còn nhớ những chi tiết nhỏ trong cuộc sống hàng ngày của Hiển. Đồng chí là người bạn thân thiết, cùng một Trung đội, Đại đội và cùng năm nhập ngũ với tôi. Trong sinh hoạt, đồng chí cởi mở, chân thành với đồng đội, Về sức khoẻ, Hiển bị viêm amidan nặng, mỗi lúc thay đổi thời tiết, anh thường bị ho. Khổ nhất là những đêm vượt đường cùng với đơn vị xuống các xã Hoài Thanh, Hoài Hương, đông đường số 1 để nhận gạo. Khi đi qua những nơi địch thường ra phục kích, hoặc lúc men theo rìa ấp chiến lược, mọi hành động phát ra tiếng kêu đều có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của hàng chục người. Thế mà thỉnh thoảng Hiển cứ ho, khạc… làm cho mọi người phải nín thở và bực mình. Bản thân Hiển nhiều lúc cũng cảm thấy phiền lòng với anh em. Đến nay, có một điều là tôi không nhớ rõ Hiển quê ở tỉnh Hà Tĩnh hay Nghệ An. Lúc đó, người ta thường gọi là Nghệ Tĩnh. Song, chắc chắn quê đồng chí ở một trong hai tỉnh đã nói ở trên.
   
Đã nhiều năm nay tôi chưa có dịp về lại nơi Hiển bị hy sinh. Nơi ấy, đã có biết bao đồng chí, đồng đội đã ngã xuống trong thời kỳ khốc liệt nhất. Đại đội trưởng  Lê Xuân Chi; chủ nhiệm công binh Trần Khánh Tường, trinh sát Hồ Huy Liễu, chiến sỹ Trần Sỹ Mỹ; chính trị viên Tương, Đại đội trưởng Trưng, v.v…
   
Trong chuyến về lại chiến trường xưa ngày 30-11-2006, tôi đã gặp Đoàn Như Hưng, Cựu chiến binh, thuộc đại đội công binh năm ấy; hiện Đoàn Như Hưng trú tại thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Gặp lại Đoàn Như Hưng, tại Xóm Ghềnh, tôi như sống lại những năm tháng trên vùng đất đầy bom đạn và chất độc hoá học Mỹ của một thời chiến tranh ác liệt. Còn đây, những địa danh quen thuộc, đã ghi dấu ấn vào ký ức những người lính sư đoàn 3 Sao Vàng; Xóm Ghềnh, Châu Sơn, Hóc Đèn, Vĩnh Đức, v.v… Không thể nào quên được.
   
Tôi dừng lại hồi lâu đầu cầu phía Tây cầu Vạn Trung, chiếc cầu bắc qua sông An Lão, ngước nhìn lên dãy núi Hòn Chè. Con đường đất đỏ từ sườn đồi chạy xuống chân núi, ở đó có cái hang đá Hiển đã bị hy sinh, và cũng trên con đường đó Hồ Huy Liễu, Trần Sỹ Mỹ chiến đấu với giặc và cũng đã trút hơi thở cuối cùng khi các anh đang ở vào lứa tuổi đẹp nhất của một đời người, các anh đã gửi hồn vào đó…
   
Anh Hưng cho biết: “Hài cốt của Nguyễn Minh Hiển và các đồng chí đã nêu ở trên, đã được quy tập về nghĩa trang xã Ân Hảo. Không hiểu gia đình Nguyễn Minh Hiển đã biết chưa”.
   
Ai biết thân nhân Nguyễn Minh Hiển ở đâu, xin chỉ giùm, để tôi chuyển đến họ nơi an nghỉ của liệt sỹ Nguyễn Minh Hiển. Riêng Hồ Huy Liễu, gia đình đã vào nghĩa trang viếng mộ.
   
   
* Địa chỉ liên lạc:
   
Đoàn Như Hưng: Thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định hoặc tác giả bài viết này. ĐT: (08).8105660 hoặc 0913.957777.
               
Bình Định – TP.HCM tháng 12-2006
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #19 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2010, 10:23:07 pm »

ĐÃ TÌM ĐƯỢC MỘ ANH

Cách nay hơn một năm, một người cùng quê vào Sài Gòn gặp tôi. Qua lời tự giới thiệu, tôi biết đây là người thân của Hồ Huy Liễu, xã Sơn Hàm, là người bạn thân, cùng nhập ngũ một ngày, cùng một đại đội với tôi. Anh đã hy sinh trong mùa khô năm 1967 tại thung lũng An Lão, tỉnh Bình Định.

Đã trên 30 năm nay, gia đình anh chưa biết anh hy sinh ở đâu, trong trường hợp nào và hiện giờ được an táng ở đâu. Theo sự mách bảo, gia đình cử người vào tìm tôi, tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nhìn vóc dáng người thanh niên, hao hao có những nét giống Hồ Huy Liễu, “con cha, cháu ông, không giống lông cũng giống cánh”, tôi thầm nghĩ.

- Cháu là cháu ruột của chú Liễu! - Người thanh niên chủ động tự giới thiệu trước. Ở ngoài quê cháu được biết, bác là người cùng đơn vị với chú Liễu trong những năm 60. Người ta nói với gia đình cháu là một trận đánh Mỹ, chú Liễu hy sinh, bác là người trực tiếp chôn cất?

Tôi không hỏi cậu thanh niên ai mách đường cho cậu về tôi. Vì nhiều trường hợp tìm đến tôi đều có lý do, mục đích chính đáng. Không có những thông tin thì sao họ lại tìm đến tôi làm gì. Thấy cậu thanh niên trong có vẻ sốt ruột, muốn biết sự thật về chú mình, tôi rót nước mời cậu:

- Cháu cứ uống nước đi, rồi bác sẽ kể chuyện về chú Liễu cho cháu nghe!

Đã gần 40 năm nay, cái ngày định mệnh ấy đối với Hồ Huy Liễu vẫn còn đọng lại trong tôi.

…”Một buổi sáng mùa khô năm 1967, sau những đợt ném bom, bắn phá dữ dội lên cao điểm Hòn Chè, phía Tây thung lũng An Lão, hàng đàn máy bay trực thăng  từ hướng thị trấn Bồng Sơn, thuộc huyện Hoài Nhơn, Bình Định bay đến đổ quân xuống Hòn Chè. Lúc này Đại đội 2 chúng tôi đã sơ tán lên sườn đồi, dựa vào các hang đá để tránh pháo và sẵn sàng chiến đấu. Mấy chiếc HU1A quần đảo nhiều vòng rồi hạ độ cao. Cây cối trên các hang đá ngã nghiêng, tơi tả. Chiếc HU1A như dừng hẳn, cánh quạt vẫn quay tít. Tôi ngồi dưới hang đá nhìn lên, thấy rõ thằng Mỹ, mặt đỏ như gà chọi, tay lăm lăm khẩu đại liên, ngón tay để trong vòng cò như sẵn sàng nhả đạn.
“Lộ rồi!” – tôi nghĩ thầm. Bỗng từng tràng súng liên thanh và lựu đạn từ trên máy bay tung xuống. Khói lửa mù mịt, khét lẹt.

Tất cả Đại đội 2, dựa vào hang đá, sẵn sàng chiến đấu.

Một toán linh Mỹ từ trên Hòn Chè tiến xuống, sục sạo khu vực hang đá. Tiểu đội trinh sát được phân công cảnh giới trước các cửa hang. Mỗi người một hướng.

Trời càng về trưa, càng nóng như đổ lửa. Máy bay trực thăng, máy bay phản lực, hết tốp này đến tốp khác thay nhau trút bom, phóng rốc két, ném lựu đạn xuống hang đá. Chúng như bầy quạ đen đang giành ăn. Mùi thuốc súng, mùi bom xăng tràn vào các cửa hang, ngộp thở. Bỗng trước cửa hang đá trên hướng Tây (hướng Hòn Chè) tiếng súng rộ lên từng tràng nghe như có cả tiếng súng AK của bộ đội ta.
Tiếng máy bay phản lực cùng với tiếng bom, pháo ầm ầm mãi cho đến chiều. Khoảng 16 giờ, địch cho trực thăng đáp xuống một đồi Sim gần khu vực hang đá, bốc quân đi.

Tất cả chúng tôi mặt mũi lấm lem, bơ phờ, mệt mỏi. Cảnh vật nơi đây như vừa trải qua trận bão khủng khiếp. Những cây gỗ to, đường kính 2 – 3 tấc, bị đạn pháo tiện đứt, đổ ngổn ngang. Xung quanh bốn bề yên tĩnh lạ. Mọi người túa ra các hướng kiểm tra lại quân số. Tất cả bàng hoàng khi phát hiện Hồ Huy Liễu - một chiến sỹ trinh sát – hy sinh ngay trước cửa hang, xung quanh vương vãi vỏ đạn AK, song, súng không còn, địch đã lấy đi mất. Rất có thể Liễu đã chiến đấu với toán lĩnh Mỹ từ trên Hòn Chè xuống sục sạo, sau những loạt AK, anh đã hy sinh. Cả Đại đội 2 chúng tôi vô cùng thương tiếc…”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM