Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:24:17 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nghĩa Tình Đồng Đội  (Đọc 44093 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #20 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2010, 10:32:14 pm »

Cậu thanh niên ngồi nghe như nuốt từng lời. Tôi biết chắc, cậu không thể hình dung được nét mặt của người chú, vì lúc Liễu đi bộ đội, cậu vẫn chưa có “trứng”. Tuy nhiên, nghe tôi kể về Liễu, một giọt nước mắt đã lăn dài trên má của cậu; cặp mắt đỏ hoe, nhìn vào khoảng hư vô; hai tay cậu nắm chặt như hình ảnh “Trần Quốc Toản bóp nát quả cam…”.

- Bác hãy giúp cháu, chỉ cho cháu biết nơi chôn cất chú Liễu? Ở ngoài quê, gia đình cũng đã nhận được giấy báo tử rồi. Mấy chục năm nay, chúng cháu không biết được mộ chú Liễu được chôn ở mô. Vì trong giấy báo tử ghi nơi hy sinh là: “MẶT TRẬN PHÍA NAM”.

- Lại “MẶT TRẬN PHÍA NAM” – Tôi nói thầm như không để cho cậu thanh niên nghe thấy.

- Từ khi chú Liễu hy sinh, đến nay đã gần 40 năm, bác chưa một lần về lại nơi ấy. Nhưng bác vẫn còn nhớ như in từ gốc cây, ụ mối, và những lối mòn dẫn đến nơi mai táng Hồ Huy Liễu. Bác sẽ hướng dẫn cho cháu đi đến nơi!

Tôi lấy giấy bút ra vẽ sơ đồ từ thị trấn Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đến nơi mai táng Hồ Huy Liễu, ở giữa Xóm Mít và Xóm Tranh, thuộc thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân. Khu vực này trước đây thuộc huyện An Lão, mới tách về huyện Hoài Ân.
Sau khi hướng dẫn cho cậu thanh niên đi theo bản đồ này, tôi dặn thêm:

- Cháu cứ đi trước xem sao. Nếu không có kết quả, phôn vào cho bác, bác sẽ trực tiếp dẫn cháu đến nơi!..
Một thời gian sau, tôi nhận được điện và thư trả lời của gia đình liệt sỹ Hồ Huy Liễu là đã tìm được mộ anh.

Nói sao cho hết nỗi vui mừng của chúng tôi. Nhất là gia đình và người thân của liệt sỹ.

Người cháu của Hồ Huy Liễu, tên là Cường, cho tôi biết:

- Cháu cầm cái sơ đồ bác vẽ hôm trước, nhờ máy tay xe ôm đưa đi tìm. Họ nói rằng: bác mày làm gì mà đã gần 40 năm rồi vẫn nhớ rõ từng gốc mít, từng địa danh ở cái huyện miền núi xa xôi này! Cháu lại càng yên tâm vì nghĩ rằng tay xe ôm này cũng biết. Và cháu đã tìm được mộ chú Liễu, đã đưa vào nghĩa trang Ân Hảo, nằm cạnh mộ của ông chính trị viên tên Tương! (đồng chí Tương quê ở miền Nam, là chính trị viên Đại đội 1, cùng hy sinh năm 1967.)

Không để cho tôi nói một câu nào, Cường nói tiếp:

- Khi nào về quê, bác cố gắng đến nhà cháu chơi, ai cũng muốn được gặp bác!

- Xin chúc mừng các cháu và gia đình. Nhất định sẽ có dịp bác về thăm gia đình cháu!

Ngày 12/11/2006, trường phổ thông trung học huyện Hương Sơn – Hà Tĩnh mời tôi về dự lễ kỷ niệm lần thứ 45, ngày thành lập trường (1961 – 2006). Tôi là cựu học sinh khoá đầu tiên của trường (1961 – 1965).
Chương trình trong chuyến đi này của tôi xếp kín cả một tháng. Ngoài thời gian dự “ngày hội trường”, tôi dành tất cả cho việc tìm đồng đội
- Những người đã hy sinh và cả những người đang sống, đã mấy chục năm chưa gặp lại họ. Trong số đó, tất cả là đồng đội của tôi, tôi còn nhớ.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #21 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2010, 10:35:45 pm »

Ngày 13/11/2006, tôi về xã Sơn Hàm, tìm đường vào gia đình Hồ Huy Liễu. Đây là lần đầu tiên tôi đến xã Sơn Hàm, một xã miền Núi. Lúc nhỏ, ở quê, bận đi học; lớn lên tôi đi bộ đội. Qua hai cuộc chiến tranh liên tục, từ năm 1982 đến nay, tôi định cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Cứ mỗi lần về thăm quê, vì lý do này hay lý do khác, tôi không thể đi hết được các xã trong huyện. Từ thị trấn Phố Châu, theo con đường 71, tôi đi một lúc, khi đã đến xã Sơn Trường mới biết mình đã qua khỏi xã Sơn Hàm mười mấy cây số. Được người dân ở đây mách bảo, theo con đường ngoằn ngoèo, có chỗ đã được trải nhựa, nhưng phần nhiều là đường đất, đường cấp phối, khi đến được Uỷ ban Nhân dân xã cũng là lúc hết giờ làm việc. Được nhân viên trực ở đây dẫn đường, tôi đã đến được gia đình người thân Hồ Huy Liễu.

Tiếp tôi tại nhà, có đông đủ các anh chị của Hồ Huy Liễu. Ông, bà cụ thân sinh của anh đã qua đời. Trên bàn thờ, ngoài chân dung các cụ, chân dung Hồ Huy Liễu được khắc trên đá hoa cương, ẩn sau những bát nhang đang nghi ngút khói.

Liễu đấy ư? Đã gần nửa thế kỷ tôi mới được gặp lại anh, người bạn chiến đấu thân thiết, đã một thời cùng đồng đội “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, nay đã yêu nghỉ trên mảnh đất đã nhuốm máu anh và đồng đội. Tôi thắp cho anh một nén nhang.

Cậu thanh niên tên Cường, cháu của Hồ Huy Liễu vẫn còn cất giữ tấm sơ đồ hôm vào Sài Gòn, tôi vẽ để hướng dẫn đi tìm mộ. Hôm nay Cường cũng lấy ra cho tôi xem, kèm theo cả giấy báo tử liệt sỹ Hồ Huy Liễu. Song, tôi không quan tâm, chỉ biết rằng, gia đình đã tìm được nơi yên nghỉ của Hồ Huy Liễu là tôi đã toại nguyện rồi.

Cường không để thời gian im lặng, nói tiếp:

- Hàng năm cháu và các bác, các chú ở đây có vào thắp nhang cho chú Liễu. Năm nào không vào được cháu gửi tiền vào nhờ bộ phận quản trang lo giùm. Cháu đã thoả thuận với họ.

Ngoài sân, bóng nắng đã ngả về chiều. Tuy nhiên, trước tấm lòng mến khách và nhiệt tình của mọi người, tôi không nỡ từ chối một ly rượu ấm nồng, nghĩa tình sâu nặng của thân nhân người đã khuất…

Thành phố HCM, 19-12-2006
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #22 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2011, 10:07:25 am »

GẶP LẠI NGƯỜI NỮ Y TÁ TRUNG ĐOÀN NĂM ẤY

Đó là Trương Thị Sen, quê ở xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, là nữ y tá cơ quan trung đoàn bộ, trung đoàn 12, sư đoàn 3 Quân khu Năm
   
Trong những năm 60, các lực lượng vũ trang miền Trung ngày càng lớn mạnh. Từ sau ngày thành lập sư đoàn 3 Sao Vàng, ngày 2 tháng 9 năm 1965, đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng, lớp lớp thanh niên địa phương hăng hái lên đường chiến đấu. Quân chủ lực từ miền Bắc vào không đáp ứng kịp sự phát triển nhanh chóng của lực lượng ba thứ quân. Từ các làng quê, năm nữ thanh niên thoát ly lên căn cứ tham gia quân giải phóng. Trong các vùng địch kiểm soát, không chịu nổi áp lực, bất công dưới chế độ cũ, nhân dân đưa con em mình giao cho cách mạng để trả thù nhà, đền nợ nước. Trong các tầng lớp thanh niên nam nữ của xứ dừa Bình Định có cô gái Trương Thị Sen.
   
Trong một đêm tối trời, Sen rời gia đình theo các chú lên căn cứ. Năm đó cô vừa tròn 18 tuổi.
   
Lúc đó, ở Quân khu Năm, không phải Sen là người con gái duy nhất nhập ngũ vào quân đội, lực lượng vũ trang địa phương Quân khu đã có những đơn vị hoàn toàn nữ, làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu, như các đại đội trợ chiến, các tiểu đoàn vận tải hoặc biên chế vào các bộ phận phục vụ hậu cần: nuôi quân, y tá, quản lý v.v… Tuy nhiên ở các đơn vị bộ binh, quân nhân nữ chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Vì vậy các cô rất được mọi người quý mến.
   
Sen được bổ sung về cơ quan trung đoàn 12. Cuộc sống tập thể trong quân đội, lúc đầu chưa quen và rất gò bó đối với cô gái ở vùng đồng bằng miền Trung lắm tôm, nhiều cá, làm Sen rất bỡ ngỡ. Nhưng sự giúp đỡ của lớp người đi trước và tình thương yêu của đồng đội làm cho Sen yên tâm và tự tin. Nhờ đức tính chịu khó, khiêm tốn và đặc biệt là trí thông minh, cô “nhập cuộc” rất nhanh. Lớp y tá tại chức đầu tiên được mở ở Sư đoàn, Sen là một trong những nữ y tá đạt thành tích cao trong học tập, cả về lý thuyết và thực hành. Tổ nhân viên nữ phục vụ ở cơ quan trung đoàn, nhiều năm liền được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
   
Trên chiến trường, mỗi người lính không phân biệt trai hay gái, trực tiếp chiến đấu hay phục vụ, ngoài trình độ chuyên môn phải biết sử dụng thành thạo vũ khí trong tay.
    
“Giặc đến nhà đàn bà cũng phải đánh!”. Người chiến sỹ quân y khi cần cũng phải chiến đấu với quân thù để bảo vệ thương binh!...” Sen nghĩ vậy và chẳng bao lâu cô đã sử dụng thành thạo khẩu súng được trang bị. Trong điều kiện thiếu thốn, đói cơm, nhạt muối, sốt rét rừng hành hạ, Sen cũng như chị em trong tổ quân y, mặt mày nhợt nhạt, xanh xao, chân tay bị phù thũng… Nhưng khác với nhiều nam thanh niên, cô vẫn vui vẻ, yêu đời và hăng hái trong công tác. Hàng ngày cứ mỗi một buổi sáng hay chiều tối Sen mang xắc thuốc (túi cứu thương) đi một vòng khắp lượt trong cơ quan thăm bệnh, phát thuốc. Tay cầm thuốc, tay cầm ly nước, bệnh nhân chưa thuốc là cô chưa về. Ngoài chuyên môn y tá, Sen thường tham gia nấu ăn, cùng với nuôi quân ở nhà bếp. Lúc đi lấy rau rừng, lúc đi lấy củi hoặc kiếm thức ăn về cho heo. Tối tối, Sen thường ngồi bên ngọn đèn dầu làm bằng chai Ancol học tập để nâng cao trình độ chuyên môn. Sau khi kiểm tra việc mắc màn của bộ đội cô mới yên tâm về giường của mình sau 11 giờ đêm.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #23 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2011, 04:40:02 pm »

Những ngày cơ quan tổ chức đi lấy gạo mới “tội nghiệp” làm sao! Từ trên căn cứ, Sen cùng các anh, các chị xuống đồng bằng cõng gạo. Có những chuyến phải đi cả tuần lễ mới cõng được gùi gạo về đơn vị. Đường đi vô cùng gian truân, vất vả. Ngoài định mức quy định, mỗi người phải cõng thêm một lượng lương thực, thực phẩm ăn trên đường. Vì vậy trọng lượng mang vác có khi lớn hơn trọng lượng của bản thân. Những lúc mưa gió, ướt át, lội qua sông, qua đồng, 50 – 60 kg gạo, cứ nằm mãi trên lưng suốt mấy tiếng đồng hồ, lên được cái gốc gần như đứt hơi. Tuy nhiên, những đợt xuống đồng bằng lấy gạo là một dịp Sen tranh thủ về thăm ba, má và các em. Có một lần, tôi đi cùng với Sen một chuyến; tối hôm đó, sau khi luồn lách qua các đồn bót và ấp chiến lược của địch, vừa về đến ngõ, Sen đã hớt hơ, hớt hải chạy thẳng vào bếp, lục cơm nguội ăn. Ăn xong, Sen chạy vào phòng má. Tôi liếc mắt qua cửa sổ đã thấy Sen vục đầu vào ngực má, kể cho má nghe đủ thứ chuyện. Má chải tóc cho Sen, trông Sen nhõng nhẽo như một đứa trẻ.
   
Hôm sau trên đường về căn cứ, tôi hỏi Sen:
   
- Sao em không ở nhà với má, lên đây làm gì cho khổ? Bọn anh là con trai, mọi việc trong sinh hoạt đều đơn giản; em là con gái, ở nhà với má tham gia hoạt động ở địa phương có hơn không?
   
Sen nói ngay không cần phải suy nghĩ:
   
- Thế tại sao các anh không ở lại ngoài miền Bắc, đánh giặc giữ nhà mà lại vào đây? Anh nói vậy là xem thường con gái chúng em rồi nhà!
   
Tôi chẳng biết nói sao trước lý lẽ rất thực tế đó. Sen còn đọc cho tôi nghe câu thơ nói về những người con gái quê hương cô với nét mặt trong có vẻ kênh kiệu:
   
“Ai về Bình Định mà coi,
Con gái Bình Định cầm roi đi quyền”
   
Tôi chống chế đáp lại:
   
“Con gái Bình Định có bốn cái tài
Ăn trầu, hút thuốc, cưỡi trâu, leo dừa!”
   
Sen tặng tôi một cái nguýt thật dài và sắc lẹm. Trên đường hành quân, mang vác nặng, những câu chuyện đại loại như trên đã xua tan mệt nhọc và cảm thấy yêu đời, yêu cuộc sống hơn. Ở đâu có quân nhân nữ, ở đó có tiếng cười, tiếng hát vang lên.
   
Trương Thị Sen cũng như bao cô gái khác, rời cánh tay mẹ lên căn cứ hoạt động trong những năm chiến tranh khốc liệt ở dải đất miền trung mà ta thường gặp ở bất kỳ vị trí công tác nào, từ người pháo thủ đến cô gái lái xe, từ chị nuôi, y tá, thông tin bảo mật, đến những công việc nặng nhọc như người lính tiếp vận…
   
Vì sao tôi lại viết về Sen?
   
Trước hết, người nữ y tá Trương Thị Sen có đầy đủ những đức tính đại diện cho lớp nữ chiến sỹ trong những năm chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam, cô đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình cho cuộc kháng chiến đến ngày toàn thắng.
   
Đối với tôi, Sen còn là một cô gái đã một thời cùng đồng câm, cộng khổ, chia ngọt, sẻ bùi trong những năm tháng ngặt nghèo nhất tại Bình Định. Mỗi lần lên cơ quan trung đoàn họp, chúng tôi thường được Sen chăm sóc, lúc thì chén trà, lúc gói thuốc, lúc ký đường, lúc hộp sữa… cô mang từ đồng bằng lên để dành “chiêu đãi” cán bộ phía trước về họp.
   
Cuối năm 1973, sau khi kết thức khoá bổ túc cán bộ tiểu tiểu đoàn, tôi ra trường về lại đơn vị. Gặp lại Sen, cô đã là một Đảng viên. Lúc này cơ quan trung đoàn 12 đã chuyển về thung lũng An Lão, một huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Định.
   
Sau hiệp định Paris, trên chiến trường, quân đội Sài Gòn bị thua liên tiếp, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, vùng địch tạm chiến thu hẹp rất nhanh. Trung đoàn 12 cùng đội hình Sư đoàn 3 chuyển vào mặt trận phía Nam tỉnh Bình Định. Tình hình phát triển nhanh đến mức các lực lượng phía sau không theo kịp với đại quân đang tiến như vũ  bão về phía trước. Tôi gặp Sen tại xã Long Khánh trong lúc cô đang chuẩn bị di chuyển với đội hình cơ quan trung đoàn. Trong lần gặp nhau duy nhất đầy ấn tượng đó, tôi hỏi Sen:
   
- Nghe đâu đơn vị có chủ trương giải quyết chính sách phục viên cho quân nhân nữ? Thế em tính sao?
   
- Em cũng không biết nữa. Có lẽ do trên quyết định thôi. Người ta sao, em vậy! – Sen lưỡng lự trả lời tôi, vừa như muốn ra quân, vừa như muốn ở lại đi theo đơn vị. Cô đang đứng ở giữa ngã ba đường.
   
Đêm hôm đó, chúng tôi chia tay nhau. Tôi tiến quân phía trước cùng đồng đội. Sen theo cơ quan di chuyển phía sau. Từ đó đến nay, tôi chưa gặp Sen lần nào.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #24 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2011, 05:04:59 pm »

Sài Gòn giải phóng, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Chúng tôi tắm mình trong thắng lợi của dân tộc.
   
Một ngày cuối tháng 12 năm 1975, tình cờ tôi nhận được lá thư ngắn của Sen, Sen viết rằng: “Ngày ấy, nếu em nghe các anh thì bây giờ được sống với đơn vị vui biết mấy – Thôi thì bây giờ em chỉ việc nuôi con khoẻ, dạy con ngoan, đó là hạnh phúc nhất của đời em!”.
   
Sen có gia đình rồi ư!? Lấy chồng từ bao giờ? Và lấy ai!? Thế mà ngày ấy tôi cứ lo là cuộc đời các cô gái thoát ly rồi đây sẽ ra sao? Lòng vừa buồn, vừa mừng. Mừng vì các cô được bù đắp xứng đáng khi hạnh phúc đã đến với họ. Buồn vì bao năm chiến tranh gian khổ, ác liệt, trong ngày vui chiến thắng, ở đơn vị thiếu vắng hình bóng các cô. Những ký ức của một thời quá khứ lại hiện lên trước mắt tôi như một cuốn phim quay chậm…
   
Đã trên 30 năm chưa gặp lại người con gái ấy, bây giờ cuộc sống của cô ra sao? Đã từ lâu, tôi nuôi hy vọng được gặp lại những người bạn chiến đấu đã một thời xông phá lửa đạn, đã về với cuộc sống đời thường trên mọi miền đất nước. Tất nhiên, trong đó có Trương Thị Sen.
   
Tôi được biết, sau năm 1975, Sen đã kết hôn với anh Nghiêm Thanh Huề, một cán bộ chính trị người cùng quê với tôi. Điều này làm tôi nhớ đến câu thơ trong thời chiến, các địa phương của hai miền kết nghĩa với nhau.
   
“Bắc – Nam thống nhất
Bình – Hà keo sơn.”
   
Lúc đó tỉnh Hà Tĩnh kết nghĩa với tỉnh Bình Định. Tình cảm của anh chị đã hoà quyện vào tình yêu quê hương, đất nước. Còn gì hạnh phúc bằng.
   
Không cần biết họ đến với nhau trong trường hợp nào, khi hay tin ấy, thực sự tôi mừng cho anh chị. Riêng Send, hạnh phúc đến với cô thật đúng lúc. Hôm gặp lại Sen, cô nói: “Tranh thủ thời cơ mà anh!”, khi biết tôi muốn hỏi điều đó.
   
Trước đó, tôi đã có ý thăm dò vợ chồng cô đang ở đâu? Năm 2004, trong một lần về quê, tôi dừng lại ở ngã ba Phú Tài (cách thành phố Quy Nhơn khoảng 10km) rất lâu, vì có tin anh chị đang định cư ở đó. Song, hỏi mãi không có ai biết.
   
Phải dựa vào hội Cựu chiến binh Sư đoàn tại tỉnh Bình Định! Cũng từ đầu mối này, không những tôi đã biết được địa chỉ và số điện thoại của vợ chồng Sen, mà còn tìm được nhiều bạn bè, đồng đội trên 30 năm trước đã cùng sống và chiến đấu trên một chiến trường ác liệt nhất ở Liên khu 5.
   
Chuyến đi tìm đồng đội vừa qua một trong những người đầu tiên tôi đã tìm lại được là người nữ y tá trung đoàn 12, Trương Thị Sen và gia đình cô. Gặp lại vợ chồng người cựu chiến binh Sư đoàn 3, chúng tôi như sống lại những năm tháng hào hùng đã in sâu trong lòng mỗi người những kỷ niệm không thể phai mờ qua năm tháng. Hai người lính, hai Đảng viên đã vượt lên số phận, đến với nhau qua bao thử thách trong quá khứ đau thương. Họ đã tìm lại được tuổi xuân đã bị chiến tranh cướp mất. Họ đã sống và đang sống với nhau những năm tháng còn lại của cuộc đời thật hạnh phúc và bình dị. Chiến tranh đâu có phải mất tất cả. Từ trong tổ ấm ấy, một thế hệ nối tiếp, trẻ trung như những búp non đang nhú lên, phát triển trên những thân cây đã tàn héo. Sự hy sinh của các anh, các chị đã được đền đáp xứng đáng. Sống được đến bây giờ đã là hạnh phúc, có một mái ấm đầy đủ các thành viên ông, bà, cháu lại càng hạnh phúc biết bao…
   
Chia tay vợ chồng Sen, sau những trận mưa cuối mùa đã tạnh…

Quy Nhơn – TP. HCM, 25-12-2006
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #25 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2011, 01:18:05 am »

NHỚ MÃI TÊN ANH

Mậu Thân – năm 1968, Đại đội Công binh Sư đoàn 3 Sao Vàng thuộc Quân khu 5 được điều động từ tỉnh Bình Định ra hoạt động tại các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Đức Phổ… tỉnh Quảng Ngãi.
   
Đầu xuân năm 1968, Đại đội Công binh được giao nhiệm vụ đánh sập cầu Châu Ổ trên đường quốc lộ số 1 tại huyện Bình Sơn, cắt đứt giao thông tiếp tế của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn tiến công một số mục tiêu trong vùng.
   
Cầu Châu Ổ trong thời điểm xảy ra chiến sự là cầu bê tông, chân hình trụ, dài khoảng 200 mét, bắc qua sông Trà Bồng. Thị trấn Châu Ổ nằm sát mố cấu phía Nam và cặp theo Quốc lộ 1A. Đây là mục tiêu hiểm yếu bởi sông Trà Bồng rộng, nước sâu, chảy xiết và nằm trên huyết mạch giao thông quan trọng. Cầu Châu Ổ bị chặt đứt sẽ gây nhiều khó khăn cho việc vận chuyển, tiếp tế và cơ động lực lượng của địch.
   
Vì vậy, địch rất coi trọng việc bố phòng, bảo vệ cầu Châu Ổ một cách nghiêm ngặt. Đầu câu phía Bắc có hai lô cốt hình lục giác giác (6 cạnh) được đúc bằng bê tông, có lỗ châu mai bắng được mọi hướng: Một ở đầu cầu, cạnh đường số 1 về phía Đông; một ở dưới bờ sông gần trụ cầu của nhịp thứ nhất và thứ hai.
   
Mố cầu phía Nam cũng có hai lô cốt và chi khu quân sự đóng tại thị trấn Châu Ổ. Xung quanh các lô cốt và trụ cầu được bao bọc bởi các lớp rào kẽm gai lò xo (bùng nhùng). Dọc bờ sông hai bên đều có dây kẽm gai được chăng dưới mép nước để đề phòng đối phương đột nhập từ dưới sông.
   
Lực lượng bảo vệ là một đại đội bảo an, hai phần ba đóng ở đầu cầu bờ Bắc, một phần ba ở bờ Nam. Trên các trụ cầu thường xuyên có lính gác. Thỉnh thoảng, khi có nghi ngờ, chúng thường ném lựu đạn hoặc bắn xuống dưới chân cầu. Muốn đột nhập vào cầu phải vượt qua hệ thống ấp chiến lược. Ban đêm, nhà dân ở xung quanh mục tiêu phải thắp đèn và gõ mõ khi có tiếng động. Phía tây cầu khoảng 1km có cầu đường sắt, thường xuyên có lính Mỹ thuộc Sư đoàn American nống ra phục kích, kết hợp với bọn thám báo hoạt động từ xa.
   
Trực tiếp chi viện cho mục tiêu cầu Châu Ổ là bộ binh và pháo cối từ chi khu quân sự sát đầu cầu phía Nam. Ngoài ra, có các trận địa pháo trong vùng đã được chuẩn bị trước. Tóm lại, cầu Châu Ổ, đối với ta là một mục tiêu khá hóc búa…
Chứng minh cho điều đó là đã có đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ, thương vong cao khi tiến công vào mục tiêu này. Trong đêm đơn vị chúng tôi tiếp cận cũng đã bị lính Mỹ phục kích tại khu vực cầu đường sắt, bị thương một số đồng chí; hoặc đêm đi điều nghiên trước đó một tháng cũng bị địch phát hiện…

Sau một thời gian nghiên cứu, chuẩn bị, đêm ngày 22 tháng 3 năm 1968, Đại đội Công binh thực hành tiến công cầu Châu Ổ.
Theo phương án được phê chuẩn, quân ta tập trung tiến công đại đội (thiếu) của địch ở đầu cầu phía Bắc; dùng một lực lượng nhỏ có tăng cường thêm du kích địa phương chế áp chi khu quân sự bên bờ Nam.

Lực lượng tiến công đầu cầu bờ Bắc được tổ chức thành hai bộ phận, có nhiệm vụ khác nhau: Bộ phận đánh cầu, do đồng chí Ngô Đức Trân, tiểu đội trưởng chỉ huy, sử dụng 120kg thuốc nổ TNT, có nhiệm vụ đánh sập một nhịp cầu và tiêu diệt lô cốt cạnh đó.
Bộ phận tiến công trên bộ, tiêu diệt lực lượng địch bảo vệ cầu, làm chủ trận địa. Lực lượng này gồm 2 trung đội, do đồng chí Bùi Văn Tôn, trung đội trưởng trực tiếp chỉ huy. Tôi đi cùng đồng chí Tôn để chỉ huy chung cả hai lực lượng: dưới nước và trên bộ. Hoả lực chi viện cho trận đánh chỉ có trận địa cối 82mm, DKZ 75mm bố trí ở phía Tây cầu khoảng 300 mét, trong một khu vườn cạnh bờ sông. Phía Nam sông, sử dụng 6 khối bộc phá, mỗi khối 20 kg thuốc nổ TNT, phóng vào chi khu quân sự Châu Ổ.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #26 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2011, 09:59:20 am »

Phương pháp chiến đấu là mật tập (theo lối đánh của Đặc công). Đồng thời sẵn sàng dùng sức mạnh binh hoả lực tiến công tiêu diệt lực lượng bảo vệ cầu của địch, tạo thuận lợi cho lực lượng dưới nước đánh cầu hoàn thành nhiệm vụ. Nhiệm vụ chủ yếu là đánh sập cầu. Tiêu diệt lực lượng bảo vệ cầu, làm chủ trận địa được coi là biện pháp hàng đầu.

Đêm hôm đó, sau khi bị lính Mỹ phục kích ở khu vực đường sắt, đội hình vẫn tiếp tục luồn lách qua các ấp chiến lược vào chiếm lĩnh. Sở chỉ huy (vị trí chỉ huy) của tiểu đoàn bố trí gần trận địa cối. Lực lượng phục vụ gồm y tá, vận tải, dân công đã đào được một số huyệt, trước hết là làm hầm nơi ẩn nấp khi có phi pháo, và nếu có hy sinh thì đây cũng là nơi chôn cất liệt sỹ. Khi các lực lượng của ta đi qua đây, không biết có ai nghĩ rằng, đêm nay có thể mình bị hy sinh và sẽ được chôn tại đây, tại những cái huyệt đã đào sẵn kia?
Nhìn gương mặt đồng đội lầm lỳ, thấp thoáng bước đi trong bóng tối, tôi nghĩ rằng: với một mục tiêu hóc búa như thế này, khi hàon thành nhiệm vụ, trong đêm này, khó tránh khỏi những người sẽ ngã xuống trước họng súng của quân thù. Nghĩ vậy, lòng tôi trào lên một niềm thương cảm vô hạn đối với những đồng đội đang bước đi trước mắt mình.

23 giờ. Trong mục tiêu vẫn im lặng. Khu gia binh bao quanh trại lính, những ngọn đèn dầu lập loè, lúc mờ, lúc tỏ theo làn gió nhẹ từ bờ sông thổi lên. Xa xa hướng Đức Phổ, Mộ Đức và thị xã Quảng Ngãi từng chùm pháo sáng treo lơ lửng giữa bầu trời tối đen, xám xịt. Tiếng pháo cầm canh của địch bắn vu vơ từ đâu vọng lại nghe rất gần.

Còn một tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ “G”. Hẳn giờ này, trên chiến trường cũng đang có nhiều đơn vị cũng đang tiếp cận các mục tiêu. Và, một giờ nữa, nhiều sinh mạng cũng sẽ được định đoạt trong đêm nay…
Ôi! Chiến tranh. Hai, ba chục năm, tốn biết bao công sức, của cải mới có được những con người, bỗng chốc họ sẽ trở về với cát bụi sau những tiếng nổ lạnh lùng, khô khốc…

Đồng chí liên lạc ghé tai tôi thì thầm, cắt đứt giòng suy nghĩ vừa rồi:

- Bộ phận đánh cầu đã xuống bờ sông, cách cầu khoảng 50m nữa. Lực lượng trên bộ đã vào vị trí triển khai!

Tôi gật đầu, im lặng theo dõi đội hình các hướng các mũi đang áp sát mục tiêu.

Lực lượng đánh địch trên bộ hoá trang như những chiến sỹ đặc công, tay cầm thủ pháo, lựu đạn, từ phía Tây đường số 1, vượt qua những khoảng trống tiếp cận các căn nhà lính, sẵn sàng tiêu diệt bọn địch đang ngủ ở trong đó.

23 giờ 45 phút, tiểu đội đánh cầu đã đưa được 6 khối thuốc nổ cố định vào trụ cầu. Đúng lúc này, đồng chí Ngô Đức Trân kiểm tra lại đồ dùng gay nổ thì phát hiện các kíp nổ hẹn giờ đã tuột ra khỏi các lượng nổ và rơi xuống sông. Một tình huống tuy đã có dự kiến phương pháp xử trí, song chúng tôi vẫn cảm thấy bàng hoàng.

Trong lúc bối rối, sẵn có phương tiện gây nổ bằng nụ xoè, đồng chí Trân giật luôn. Sau tiếng “xoẹt” của nụ xoè, địch gác ở trên cầu lập tức phản ứng. Chúng la hét, bắn và ném lựu đạn xuống sông. Nhưng không kịp nữa rồi. Tổ hoả lực của đồng chí Tuất, bố trí bên cạnh, bắn sập ngay lô cốt bảo vệ cầu, tiêu diệt luôn số địch ở trong đó.

Ở trên bộ, quân ta đồng loạt tung thủ pháo, lựu đạn vào các nhà lính, lửa cháy bốc lên sáng rực.

Một tiếng nổ long trời lở đất của 120kg thuốc nổ TNT làm hai nhịp cầu đổ xuống dòng sông đang chảy xiết.

Tôi và đồng chí Tôn vận động qua một khoảng sân, lợi dụng một ụ súng bằng bao cát cao khoảng 6 tấc để quan sát, theo dõi diễn biến trận đánh thì nghe có tiếng rên khe khẽ ở đâu đó… Đúng rồi, có người bị thương đang nằm bên góc sân. Qua ánh sáng của những đám cháy, chúng tôi nhận ra ngay đồng chí Thanh, tiểu đội trưởng, chỉ huy một tiểu đội tiến công chính diện vào trại lính. Sau khi chiếm được ụ súng nay (nơi chúng tôi đang ngồi) đồng chí cùng tiểu đội lao vào trại lính thì bị khẩu tiểu liên từ trên mố cầu bắn ra.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #27 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2011, 10:03:32 am »

Trong một trận đánh công kiên trước đó, đồng chí được tặng thương Huân chương chiến công vì có hành động dũng cảm, sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình, đồng chí còn ôm bộc phá của đồng chí bên cạnh khi đồng chí này đã bị hy sinh, tiếp tục lên mở cửa, góp phần rất quan trọng vào thắng lợi của trận đánh.

Trong trận này, đồng chí bị thương khá nặng. Trong hơi thở gấp gáp, đồng chí còn hỏi chúng tôi: “Cầu đã bị đánh sập chưa? Anh em ta đánh đến đâu rồi?”… Nuốt cảm xúc vào bụng, tôi nói với Thanh: “Cầu đã bị đánh sập hai nhịp, đơn vị đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Chúng tôi sẽ đưa đồng chí ra ngay!...”.

Tiếc thương thay, sau khi đưa đồng chí ra đến trạm phẫu của tiểu đoàn, đồng chí Thanh của chúng ta đã trút hơi thở cuối cùng… Tiểu đoàn đã tổ chức mai táng luôn trong cái huyệt vừa mới đào trong đêm tại khu vườn của một gia đình cơ sở. cách đầu cầu Châu Ổ về phía tây khoảng 300 mét.

Sau ngày giải phóng, có dịp qua đây, tôi mới biết: tại đầu cầu phía Bắc, sau trong đội hình địch có cái lô cốt bê tông, trong quá trình chuẩn bị, trinh sát ta không phát hiện được, cũng không tìm hiểu kỹ qua cơ sở địa phương. Đồng chí Thanh hy sinh chính là do khẩu địa liên của địch đặt trong cái lô cốt lợi hại này. Và đây cũng là nguyên nhân trước chúng tôi đã có đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ…
Sau trận đánh đó, đơn vị chúng tôi cơ động tác chiến liên tục và chuyển vào các tỉnh phía Nam cho đến khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Năm 1976, toàn bộ Sư đoàn Sao Vàng chuyển quân ra biên giới phía Bắc.

Đến nay, cũng đã 40 năm, hình ảnh đồng chí Thanh và gương hy sinh dũng cảm của anh còn đọng mãi trong ký ức của chúng tôi - những người đang sống.

Rất tiếc, tôi đã không còn nhớ họ và quê quán cụ thể của đồng chí. Chỉ biết rằng đồng chí được sinh ra và lớn lên ở tỉnh Bình Định.
Qua bài viết này chúng tôi muốn biết phần mộ của đồng chí đã được đưa về với gia đình hoặc vào nghĩa trang chưa. Hiện giờ người thân của đồng chí Thanh đang ở đâu?...

Mọi chi tiết xin liên hệ tác giả bài viét này - Địa chỉ: 212 Cộng Hoà, phường 12, Quận Tân Bình – TP. Hồ Chí Minh – ĐT:(08).8105660– 0913957777.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2007.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2011, 10:44:03 pm »

ĐÊM ẤY, KHÔNG MAY ANH BỊ SA VÀO TAY GIẶC

Trong cuốn hồi ức mang tựa đề “cuộc chiến đấu tự nguyện” – Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, năm 2007, trang 173, tôi có viết về cuộc vượt đường của Tiểu đoàn Công binh Sư đoàn 3 Sao Vàng, từ phía Bắc đường 19 sang phía Nam, đêm 4 rạng 5/11 năm 1971. Đêm đó đội hình vượt đường của ta bị lọt vào ổ phục kích  của địch, bị tổn thất nặng nề. Đồng chí Phan Văn Bảy, Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 12 bị sa vào tay giặc. Đã 36 năm trôi qua, những gì đã xảy ra trong đêm kinh hoàng đó thì vẫn còn đọng mãi trong ký úc của những người đang sống.
   
Từ khi đồng chí Phan Văn Bảy bị địch bắt và sau này được trao trả, chúng tôi chưa gặp lại đồng chí lần nào. Để được biết rõ hơn những diễn biến cụ thể trong đêm vượt đường đó và cuộc sống của đồng chí từ ngày bị sa vào tay giặc, là một cán bộ tham mưu đã từng trải, có thể đồng chí sẽ nắm được những tình hình của phía bên kia, tôi quyết đi tìm đồng chí.
   
Bằng cách nào để biết được nơi cư ngụ của đồng chí? Đã 36 năm rồi, có biết bao thay đổi trong từng gia đình và toàn xã hội. Trong những năm 60 – 70, tôi cũng chưa tiếp xúc với anh lần nào. Bởi vì giữa chúng tôi, mỗi người một cương vị. Trong chiến tranh thông thường cương vị khác nhau, thì môi trường công tác cũng khác nhau. Lúc đó, tôi la một cán bộ phân đội, trực tiếp chiến đấu phía trước; đồng chí là một cán bộ tham mưu ở cơ quan Trung đoàn. Một năm, có họp hành với nhau 1 – 2 lần. Có khi đồng chí biết tôi, nhưng tôi lại chưa biết đồng chí. Đồng chí rời xa đơn vị từ ngày ấy, việc tìm lại càng như “mò kim đáy biển”.
   
Sự đời không ai biết được chữ ngờ. Tháng 11-2006, trong một chuyến đi ra phía Bắc, sang Bắc Ninh tìm đồng đội, tình cờ tôi gặp lại đồng chí Lê Văn Tuất. Qua đó tôi đã biết được đồng chí Phan Văn Bảy đang sống ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Nơi mà một tuần trước đó, tôi đã lưu lại một ngày.
   
Tuất là em rể của anh Phan Văn Bảy. Song cái địa chỉ mà Tuất cho tôi biết, không đúng, tuy nhiên anh Bảy đang ở thành phố Quy Nhơn là hoàn toàn chính xác.
   
Ban liên lạc Hội Cựu chiến binh Sư đoàn 3 Sao Vàng tại tỉnh Bình Định thường xuyên duy trì chế độ sinh hoạt. Hàng năm đều có tổ chức gặp mặt. Đó là nguyên nhân đưa tôi đến gặp trực tiếp đồng chi Phan Văn Bảy, trước hết bằng điện thoại và sau đó liên lạc với nhau bằng thư từ.
   
Mục đích của việc tìm đồng chí, đồng đội trong những năm chiến tranh khốc liệt ở chiến trường khu 5, anh là nhân chứng sống còn lại trong đêm vượt đường 19 của Tiểu đoàn công binh.
   
Tôi muốn biết tất cả những chi tiết trong đêm hôm đó xảy ra cho tiểu đoàn công binh và cho cả đồng chí Phan Văn Bảy.
   
Hiện nay anh đang sống tại: Số 39C, đường Hai Bà Trưng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định – ĐT: 056.829074. Anh Phan Văn Bảy cho biết: vào khoảng trung tuần tháng 9 năm 1971, có cuộc họp Đảng uỷ Sư đoàn 3 mở rộng. Sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, để chuẩn bị cho chiến dịch Xuân năm 1972, theo chỉ thị của Quân khu 5, sư đoàn xốc lại đội hình, tổ chức lại thành sư đoàn đủ để làm nhiệm vụ.
   
Lúc đó đồng chí là phó ban tác chiến sư đoàn, được đồng chí Nguyễn Nam Khánh và Chu Huy Mân (1) giao nhiệm vụ về trung đoàn 12 làm trung đoàn phó, sang phía Nam đường 19 trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn 6 của trung đoàn 12 và tiểu đoàn 19, không cho quân dịch từ Quy Nhơn và vùng đồng bằng miền Trung tăng viện lên Tây Nguyên trong thời gian quy định. Sau khi nhận nhiệm vụ cụ thể, được về trung đoàn 12, anh mừng lắm, vì trước đây anh cũng đã công tác một thời gian ở trung đoàn này. Sau khi dự cuộc họp với Ban chỉ huy trung đoàn, ngày 2-11, anh xuống Bình Khê dự họp với huyện uỷ và Uỷ ban nhân dân huyện vào ngày 3-11, bàn công tác phối hợp hoạt động trong thời gian sắp tới. Sau đó anh đi cùng với tiểu đoàn công binh sang phía Nam đường 19. Việc bảo đảm hành lang do tiểu đoàn 6 đảm nhiệm.



(1) Đồng chí Nguyễn Nam Khánh: nguyên thượng tướng, Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị.
     Chu Huy Mân: nguyên Đại tướng, chủ nhiệm Tổng cục chính trị - Lúc đó là tư lệnh Quân khu 5.

Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2011, 10:46:28 pm »

Khoảng 2 giờ sáng ngày 5-11-1971, toàn bộ đội hình đã vượt sông Côn, qua đường 19 an toàn. Khoảng 5 giờ sáng gần vào đến bìa rừng thì bất ngờ bị địch phục kích, nổ súng. Anh đi trước đội hình và bị thương ngay loạt đạn đầu. Ở phía sau anh cũng có nhiều đồng chí bị hy sinh, bị thương.
   
Vì bị thương nặng, sợ không qua khỏi được, anh đã đưa tất cả tài liệu cho đồng chí liên lạc, hẹn với nhau nếu thoát được, sẽ về hang đá trong núi lấy lại. Sau đó anh leo được một đoạn và ngất đi do mất máu nhiều. Sau khi tỉnh dậy, anh biết mình đã bị sa vào tay giặc. Trong những ngày sau đó, kẻ thù đã dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ, mua chuộc đến tra tấn tàn bạo nhất, kể cả dùng những đòn tâm lý để anh khai sự thật. Bọn tình báo của sư đoàn 22, quân đội Sài Gòn đến bọn Mỹ, bọn Đại Hàn thay nhau hỏi cung. Được sự giúp đỡ, chỉ vẽ của một số anh chị em bị bắt trước đó về kinh nghiệm trong việc khai báo, rằng trước khai như thế nào, về sau đều khai như vậy, nếu không chúng sẽ hỏi cung suốt và sẽ bị tra tấn đánh đập, anh đã khai là giao liên của xã, theo quân giải phóng sang phía Nam đường 19 để lấy tài liệu. Chúng nó không tin, vì diện mạo của anh trông phương phi (chúng tôi thường gọi anh là Bảy râu). Một điều nguy hiểm hơn là trong đội ngũ của ta lúc đó, có một số người không chịu nổi cảnh thiếu thốn, ác liệt đã đầu hàng giặc hoặc về “chiêu hồi”…Mỗi lần những tên này xuất hiện, bị anh chị em tù chửi bới, doạ đánh chết, nên bọn địch đã chuyển chúng đi nơi khác.
   
Sau 5 ngày bị tra khảo, đánh đập, kẻ thù đã để lại trên người anh những di chứng và bệnh tật. Do sự khôn khéo trong lời khai và nhờ sự đùm bọc, chở che của anh chị em từ ở trại giam Quy Nhơn, anh đã giấu được tung tích, một cán bộ trung đoàn. Tuy nhiên, địch vẫn nghi anh ít nhất cũng là một chỉ huy tiểu đoàn hay bí thư huyện. Vì lẽ đó mà anh bị chúng tra tấn khủng khiếp.
   
Chúng không khai thác được gì thêm, ngoài những nội dung sau:
   
Họ và tên: Ngô Văn Hiền.
   
Quê quán: Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi.
   
Năm 1954, do quê nghèo vào Bình Định làm ăn và lập gia đình tại Bình Khê. Khi giải phóng về, họ bảo làm liên lạc cho họ. Tôi là dân dưới quyền của họ thì phải làm theo!...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM