Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:12:15 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bộ Tổng Tham mưu Xô-viết trong chiến tranh  (Đọc 140906 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #240 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 01:27:39 pm »

*
*   *

Tháng Năm trôi qua lúc nào không biết, tháng Sáu đã đến...

Trong những ngày đầu của tháng hè đầu tiên ấy, ý định về những chiến dịch tiến công Đạo quân Quan Đông đã được lập xong về đại thể. Chúng tôi báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao ý định ấy, cùng với những bảng tính có liên quan. I. V. Xta-lin thông qua tất cả, không bác bỏ điểm nào, chỉ ra lệnh cho triệu tập nguyên soái R. I-a. Ma-li-nốp-xki và tướng M. V. Da- kha-rôp về Mát-xcơ-va sớm hơn những tư lệnh các phương diện quân khác cùng được mời về dự lễ Duyệt binh Chiến thắng.

R. I-a. Ma-li-nôp-xki và M. V. Da-kha-rốp phòng xa nên đã đem theo đồng chí trưởng ban tác chiến của cơ quan tham mưu phương diện quân - N. O. Páp-lôp-xki, và đã được cho năm ngày để xây dựng kế hoạch chiến dịch của phương diện quân. Họ nhanh chóng bắt tay vào việc ngay. Tất nhiên, ở Bộ tổng tham mưu các đồng chí ấy đã được thông báo tỉ mỉ ý định chiến lược, biên chế của phương diện quân và thời gian tập trung những đơn vị bộ đội. Chúng ta dự kiến là những đoàn tàu chở quân cuối cùng trong khoảng từ 1 đến 5 tháng Tám là phải hoàn thành nhiệm vụ.

Ngày 18 tháng Sáu, R. I-a. Ma-li-nốp-xki tường trình báo cáo của mình. Đúng như những yêu cầu của Đại bản doanh, tư lệnh phương diện quân Da-bai-can xuất phát từ sự cần thiết phải đánh tan Đạo quân Quan Đông trong một thời gian ngắn. Dự kiến là trong khoảng một tháng rưỡi đến hai tháng, sẽ làm cho những lực lượng chủ yếu của Đạo quân Quan Đông bị thất bại hoàn toàn. Nhưng, có thêm một điều: nếu điều kiện thuận lợi, địch có thể bị tiêu diệt còn sớm hơn nữa.

Trong dải hoạt động của phương diện quân Da-bai-can, dự kiến là phải chọi không những với những lực lượng lớn bộ binh Nhật, mà còn với xe tăng của chúng, với cả những đơn vị quân của Mãn Châu Quốc và của công tước Đe-van ở Nội Mông nữa. R. I-a. Ma-li-nốp-xki báo cáo: “Quân Nhật sẽ áp dụng mọi biện pháp có thể để tăng cường cho hướng này. Vì vậy, phải thấy rằng, chúng sẽ điều thêm lực lượng ở miền Bắc Trung Quốc tới đây, chừng bảy hay tám sư đoàn bộ binh. Cho nên, trong khoảng một tháng rưỡi đến hai tháng đầu của chiến tranh, phương diện quân Da-bai-can có thể chạm trán với 17 hay 18 sư đoàn Nhật, 6 hay 7 sư đoàn Mãn Châu Quốc và Nội Mông, và 2 sư đoàn xe tăng”.

Sau khi cân nhắc những khả năng của mình, trong điều kiện biên chế lúc ấy của phương diện quân gồm có bốn tập đoàn quân binh chủng hợp thành (17, 36, 39, 53), tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6, tập đoàn quân kỵ binh - cơ giới và tập đoàn quân không quân 12, tư lệnh phương diện quân rút ra kết luận: “Lực lượng như vậy đủ để đè bẹp sức chống cự của địch và nếu điều kiện thuận lợi, thì dựa vào ưu thế của chúng ta về xe tăng và pháo binh mà tiêu diệt 18 tới 25 sư đoàn Nhật”.

R. I-a. Ma-li-nốp-xki, cũng như Bộ tổng tham mưu, công nhận rằng hướng tới Hổ Luân, Sư-pin-gay là hướng đột kích chủ yếu có lợi nhất. Để đạt mục đích trên, ta dự kiến mở hai chiến dịch: chiến dịch thứ nhất có mục đích đánh chiếm Tổng Bộ Mãn Châu, chiến dịch thứ hai thì kết cục sẽ đưa bộ đội ta tới biên giới Mãn Châu - Bắc Trung Quốc, và giải bán đảo Liêu Đông.

Bố trí chiến dịch của phương diện quân là hai thê đội, tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 được sử dụng ở phía sau tập đoàn đột kích của phương diện quân. Ngay mở đầu cuộc tấn công được dự định trong khoảng từ 20 tới 25 tháng Tám.

Bộ tổng tham mưu đồng ý với kế hoạch đó về các nét cơ bản, nhưng về mặt sử dụng tập đoàn quân xe tăng thì Bộ tổng tham mưu giữ ý kiến trước đây của mình. Nếu để nằm trong thê đội hai, tập đoàn quân xe tăng sẽ không thể giữ vai trò chủ đạo khi phương diện quân vượt qua mạch núi Đại Hưng An được. Trong trường hợp ấy, bộ binh ở phía trước sẽ hạn chế tốc độ tiến quân của xe tăng sang phía Đông. Đồng thời, quả đấm bọc thép này rõ ràng đã mất khả năng chi viện cho bộ bính lúc đánh chiếm và bám lại trên những đường ngang xuyên qua mạch núi. Không thể trông đợi vào việc nhờ bộ binh yểm hộ cho xe tăng đột phá qua những đèo ngang đổ xuống đồng bằng Mãn Châu. Cứ thử tổ chức cho xe tăng đột phá trong khi bộ binh và các đoàn xe của bộ binh đang ùn đang lại trên các đèo ngang và những đường băng qua núi mà xem. Tóm lại, nêu bố trí đội hình tác chiến như vậy, các binh đoàn xe tăng sẽ mất cả tính năng tác chiến chủ yếu của nó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #241 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 01:28:27 pm »

Đại bản doanh công nhận những lý lẽ của Bộ tổng tham mưu là có chứng cứ đầy đủ và đề nghị R. I-a. Ma-li-nốp-xki khi về tới Da-bai-can thì nghiên cứu lại lần nữa phần nội dung đang còn tranh luận ấy trong kế hoạch, nghiên cứu bổ sung thêm ngoài thực địa những ý kiến khác của các đồng chí, rồi sau đó mới hạ quyết tâm cuối cùng. R. I-a. Ma-li-nốp-xki đồng ý, sau này đã đề nghị sử dụng tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 trong thê đội một.

Nhờ kết quả công việc tập thể sáng tạo với tất cả các tư lệnh phương diện quân, đến ngày 27 tháng Sáu 1945, ta đã xác định xong nội dung chủ yếu của kế hoạch chiến lược của Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô. Kế hoạch quy định mở ba mũi đột kích quyết liệt đồng loạt, hợp điểm ở Trung Bộ - Mãn Châu: sử dụng lực lượng chủ yếu của phương diện quân Da-bai-can đột kích từ cái gọi là “chỗ lồi Tam-xắc" ở nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ; sử dụng lực lượng của phương diện quân Viễn Đông 2, đột kích lừ khu Tây - Nam Kha-ba-rop-xcơ; và sử dụng tập đoàn bộ đội chủ yếu của phương diện quân Viễn Đông 1, đột kích từ miền Duyên hải. Mục đích của những mũi đột kích này là chia cắt các đơn vị của Đạo quân Quan Đông, cô lập chúng ở Trúng Bộ và ở Nam Bộ Mãn Châu và tiêu diệt chúng từng bộ phận một.

Bộ đội của phương diện quân Da-bai-can giữ vai trò chủ chốt, đột kích vào những cứ điểm quan trọng sống còn của địch: Thẩm Dương: Trường Xuân, Cảng Lữ Thuận. Chiếm được các mục tiêu trên là quyết định việc kết thúc chiến tranh.

Bộ đội của phương diện quân Viễn Đông 1 từ miền Duyên hải đột kích vào Cát Lâm theo con đường ngắn nhất, đón mũi đột kích của phương diện quân Da-bai-can. Bộ đội của phương diện quân Viễn Đông 2 tiến công vào miền ven Hắc Long Giang, kiềm chế địch và tạo điều kiện đánh tan Đạo quân Quan Đông.
Kế hoạch chung đã ghi như vậy trên bản đồ của A. M. Va-xi-lép-xki. Đồng chí được cử làm Tổng tư lệnh tất cả các đơn vị quân đội xô-viết ở Viễn Đông. Sau này, khi tiến hành các mặt công tác chuẩn bị trực tiếp ngoài các mặt trận, thì chỉ cần xác định lại cho rõ thêm một số chi tiết thôi. Kế hoạch phản ánh rất rõ ý định chủ yếu của Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô nhằm cô lập và tiêu diệt Đạo quân Quan Đông. Sau này, trên cơ sở kế hoạch đó, đã thảo ra những chỉ thị của Đại bản doanh về các chiến dịch ở Mãn Châu. 

*
*   *

Ngày 27 tháng Sáu, K. A. Mê-rét-xcốp được phép lên đường sang Viễn Đông. Đồng chí rời khỏi Mát-xcơ-va trước A. M. Va-xi-lép-xki và R. I-a. Ma-li-nốp-xki mấy ngày. 

Vì lợi ích chung, phải giữ gìn bí mật, nên các đồng chí đều không mang quân hàm nguyên soái.

Đến địa điểm công tác mới, K. A. Mê-rét-xcốp lấy tên là thượng tướng Mắc-xi-mốp, không được đi xe hỏa như đồng chí muốn mà phải đi máy bay. Xta-lin ngại là Mê-rét-xcốp có thể bị nhận ra nếu đi bằng đường sắt. Ngoài ra, Tổng tư lệnh tối cao còn muốn kiểm tra xem bay như vậy phải hết bao nhiêu thời gian.
K. A. Mê-rét-xcôp đi mất 36 giờ 55 phút thì tới thành phố Vô-rô-si-lốp. Riêng ngồi trên máy bay mất 28 giờ 30 phút. Đồng chí đến địa điểm ngày 29 tháng Sáu.

R. I-a. Ma-li-nốp-xki, lấy bí danh là thượng tướng Mô-rô-dốp, đến Tri-ta ngày 4 tháng Bảy. Cùng đi với đồng chí có M. V. Da-kha-rốp, lấy tên là thượng tướng Dô-lô-tốp. Đến mông 5 tháng Bảy, A. M. Va-xi-lép-xki cũng tới nơi, với chức vụ ghi trong giấy ủy nhiệm: “thứ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng, thượng tướng Va-xi-li-ép”.

Trước hết, A. M. Va-xi-lép-xki giao cho R. I-a. Ma-li-nôp-xki chỉ thị của Xta-lin về chiến dịch sắp tới. Văn kiện đó đặc biệt lưu ý việc bảo đảm cho đường sắt hoạt động liên tục trong phạm vi mặt trận và việc bảo vệ khu vực bố trí những lực lượng chủ yếu của ta.

Theo dự tính thì đến ngày 25 tháng Bảy là hoàn thành việc chuẩn bị những hành động tiến công phối hợp chung giữa bộ đội của phương diện quân Da-bai-can với Quân đội nhân dân cách mạng Mông Cổ. Mục đích chiến dịch là đánh tan Đạo quân Quan Đông và chiếm lấy khu vực Xích Phong - Thẩm Dương - Trường Xuân - Trà Lan Đông, nên phải đột nhập thật nhanh vào Trung Bộ Mãn Châu, có hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị của tập đoàn miền Duyên hải và phương diện quân Viễn Đông.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #242 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 01:29:16 pm »

Chỉ thị lại nhắc đến việc phải cố chiếm lấy mạch núi Đại Hưng An trước quân Nhật. Vì vậy phải lập một tập đoàn đột kích mạnh, gồm ba tập đoàn quân binh chủng hợp thành (39, 53, 17) và một tập đoàn quân xe tăng (cận vệ 6), để vòng qua khu vực trúc thành Kha-lun Ác-san tới Trường Xuân.

Lại có yêu cầu ngăn chặn không cho địch rút quân về miền núi. Nhiệm vụ trước mắt của phương diện quân là: đánh tan quân địch đang chống cự, tiến công vượt qua Đại Hưng An, và đến ngày tiến công thứ 15 thì những lực lượng chủ yếu phải tiến tới tuyến Đại Bàn Sơn Lu-bây - Hổ Luân. Chiếm được tuyến này và bám được mạch núi Hưng An là những điều kiện quan trọng nhất để tiếp tục phát triển thắng lợi chiến dịch.

Xta-lin không ưa những việc không dứt khoát, rõ ràng. Đồng chí nhớ đến những cuộc tranh luận của chúng tôi mới đây về cách sử dụng tập đoàn quân xe tăng, nên khi ký chỉ thị, đã lệnh phải thêm vào điểm sau đây: “tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6, hành động trong dải đột kích chủ yếu ở hướng chung tới Trường Xuân, đến ngày thứ mười của chiến dịch phải tiến công vượt qua Đại Hưng An, chiếm giữ những đèo ngang qua núi, không cho địch có thể điều những đội dự bị của chúng từ phía Trung Bộ và phía Nam Bộ Mãn Châu tới, trước khi những lực lượng chủ yếu của bộ binh ta tiếp cận đến”. Chỉ thị viết như vậy đúng là đã quy định rõ vị trí của tập đoàn quân xe tăng trong đội hình chiến dịch của phương diện quân. Tập đoàn quân xe tăng chỉ có thể nằm trong thê đội một và tiến công ở phía trước những đơn vị khác.
Nhiệm vụ tiếp sau của phương diện quân là đưa những lực lượng chủ yếu tiến ra tuyến Xích Phong - Thẩm Dương - Trường Xuân - Trà Lan Đông, tức là vào chính giữa đội hình bố trí của Đạo quân Quan Đông.

Chỉ thị của Đại bản doanh còn quy định cả những hành động của các đơn vị trên những hướng thứ yếu. Cuối cùng, chỉ thị yêu cầu phải giữ gìn hết sức bí mật mọi công tác chuẩn bị của ta: “chỉ có tư lệnh, ủy viên Hội đồng quân sự, tham mưu trưởng phương diện quân và trưởng ban tác chiến trong cơ quan tham mưu phương diện quân mới được xây dựng toàn kế hoạch chiến dịch. Còn chủ nhiệm các binh chủng khác chỉ được xây dựng phần chuyên môn của mình trong kế hoạch chung, không được biết những nhiệm vụ chung của phương diện quân. Giao nhiệm vụ cho các tư lệnh tập đoàn quân thì giao trực tiếp bằng miệng. chứ không giao bằng văn bản. Số cán bộ chủ trì được phép tham gia xây dựng kế hoạch chiến dịch của tập đoàn quân cũng được quy định đúng như ở phương diện quân. Toàn bộ văn kiện tài liệu về kế hoạch hành động của. các đơn vị phải cất trong những tủ sắt riêng của tư lệnh phương diện quân và tư lệnh tập đoàn quân”. Ngoài ra, lại còn những chỉ thị bảo đảm bí mật chung cho tất cả các đơn vị bộ đội ở Viễn Đông nữa.

*
*   *

Đúng là ngay hôm đầu tiên tới Tri-ta, A. M. Va-xi-lép-xki liền cùng với Hội đồng quân sự phương diện quân nghiên cứu nhiều vấn đề tổ chức không thể trì hoãn, trong đó có một sồ vấn đề nếu không có sự can thiệp cấp bách của Mát-xcơ-va thì không thể nào giải quyết ổn thỏa được, ví dụ như việc thiếu than cho ngành đường sắt. Nguồn dự trữ than ở địa phương sắp hết, và muốn khỏi trở ngại đến việc vận chuyển cho chiến dịch, thì phải được phép sử dụng đến nguồn dự trữ của Nhà nước, bấy giờ đang cấm không được đụng đến.

Nhịp độ tích lũy đạn dược cũng đáng lo ngại. Phải đẩy mạnh tốc độ sản xuất ở các nhà máy và giao nhanh cho bộ đội. Máy bay vận tải đến mặt trận cũng không được nhanh lắm.

Khối lượng nước dự trữ cho các đơn vị thiếu nghiêm trọng. Mà thiếu nước thì cuộc tiến công của ta trên những miền sa mạc và núi ở Mãn Châu sẽ gặp nguy cơ phải dừng lại. Các điện báo viên cũng thiếu. Các cơ quan quân y được bổ sung chậm. Tình hình sửa chữa kỹ thuật xe tăng thiết giáp cũng không tốt.

Đáng ngại nhất là tình hình tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6. Kế hoạch vận chuyển bộ đội và khí tài của tập đoàn quân bằng đường sắt ngày càng bị phá vỡ. Tập đoàn quân không có ô tô vận tải, vì ô-tô còn ở vị trí bố trí cũ của tập đoàn quân. Ô tô của các đơn vị trong biên chế tập đoàn quân bổ sung tới chưa đủ, mới có 2274 chiếc, cộng với số ô-tô của hai sư đoàn bộ binh cơ giới phối thuộc mới lên tới 3000 chiếc.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #243 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2011, 01:30:01 pm »

Những cuộc trao đổi ý kiến và họp bàn chiếm mất hết ngày 5 tháng Bảy. Còn những ngày tiếp theo, A. M. Va-xi-lép-xki và R. I-a. Ma-li-nốp-xki, có hôm đi riêng, có hôm cùng đi với nhau, đến những hướng chiến dịch chủ yếu của phương diện quân Da-bai-can, tiến hành trinh sát thực địa thật kỹ càng với các tư lệnh tập đoàn quân và đích thân đi kiểm tra các đơn vị bộ đội. Trong quá trình làm việc ngoài thực địa, đã nảy ra nhiều dự kiến quyết định trước cho những thắng lợi rực rỡ của các chiến dịch tiến công sau đó của phương diện quân.

Tư lệnh phương diện quân đã bổ sung và hoàn chỉnh thêm kế hoạch tác chiến vạch ra lúc ban đầu.
Đồng chí thấy có thể giao cho tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 nhiệm vụ không phải đến ngày thứ mười của chiến dịch mới tiến công vượt Đại Hưng An như Bộ tổng tham mưu đã dự kiến, mà có thể vượt ngay trước ngày thứ năm của chiến dịch. Tốc độ tiến công như thế, trong điều kiện địa hình núi non hiểm trở, thoạt nhìn có thể cho là không ổn, nhưng trong thực tế thì các đơn vị không những có thể khắc phục được khó khăn, mà còn vượt mức nữa là khác.

Thời hạn quy định trước đây cho hai tập đoàn quân binh chủng hợp thành tiến vào đồng bằng Mãn Châu cũng rút ngắn hẳn lại. Ví như, tập đoàn quân 36 tiến công bên sườn trái phương diện quân, theo kế hoạch lúc đầu là đến ngày thứ mười hai của chiến dịch, phải chiếm lĩnh khu vực Hải Lạc Nhĩ; bây giờ tư lệnh phương diện quân lại giao nhiệm vụ cho tập đoàn quân là đền ngày thứ mười của chiến dịch đã phải hoàn thành nhiệm vụ trên, và tiến công xa nữa theo hướng Trà Lan Đông, Tề-tề-cáp-nhĩ.

Tập đoàn quân 53 được lệnh phải bám sát sau xe tăng và như vậy có nghĩa là thời gian mà bộ binh vượt Đại Hưng An sẽ rút ngắn rất nhiều. Trước kia, theo quy định trong kế hoạch, bộ đội của tập đoàn quân 17 đến ngày tiến công thứ mười lăm sẽ chiếm lấy Đại Ban Sơn, còn bây giờ theo đề nghị của tư lệnh tập đoàn quân A. I. Đa-ni-lốp, thì chỉ đến ngày thứ mười. Và, trong thực tế thì những chi đội phái đi trước của tập đoàn quân 17 đã chiếm được mục tiêu quy định và đến ngày thứ năm của chiến dịch đã đánh tan kỵ binh quân địch tại đây.

Tập đoàn kỵ binh - cơ giới Mông Cổ - Liên Xô, dưới sự chỉ huy của I. A. Pli-ép, hoạt động bên sườn phải của phương diện quân, cũng đề nghị rút ngắn thời gian tiến quân tới Can-gan và Đa Luân. Dự kiến là sẽ gặp Bát lộ quân Trung Quốc tại đấy và thực tế đã diễn ra đúng như vậy.

Tất cả những đề nghị của R. I-a. Ma-li-nốp-xki bổ sung và hoàn chỉnh bản kế hoạch, sau khi đã nghiên cứu tỉ mỉ những điều kiện trên thực địa, tất nhiên là đều được Đại bản doanh đồng ý.

Hoạt động của hai phương diện quân bạn ở miền Duyên hải và ven Hắc Long Giang cũng đúng như vậy. Được sự tham gia tích cực và trực tiếp của A. M. Va-xi-lép-xki, K. A. Mê-rét-xcốp và M. A. Puốc-ca-ép, các cơ quan tham mưu, chính trị và chủ nhiệm binh chủng của các phương diện quân đã giải quyết hết mọi vấn đề, nghiên cứu kỹ lưỡng địa hình, tình hình địch và tình hình bộ đội ta, xác định rõ thời hạn trong kế hoạch, áp dụng những biện pháp cải tiến việc bảo đảm vật chất trong chiến đấu.

Trong cuộc chiến đấu sắp tới, ta phải chống lại một kẻ địch mới, xảo quyệt và nguy hiểm, trên một chiến trường rất độc đáo và phức tạp. Cần phải tỉnh kỹ đến mọi mặt, tuyệt đối không để mắc sai lầm và phải sử dụng thật triệt để những kinh nghiệm lớn, tích lũy trong bốn năm chiến tranh ác liệt với nước Đức phát-xít.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #244 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:26:32 am »

*
*   *

Lúc đầu, Bộ tổng tham mưu chưa tính đến hình thức phối hợp những hành động của các phương diện quân. Hình thức ấy vốn đã có và đã được thực nghiệm trong suốt cuộc chiến tranh: đó là vai trò của vị đại diện Đại bản doanh.

Nhưng, tình huống và nhiệm vụ mà những cơ quan chỉ huy cao cấp phải giải quyết trong những chiến dịch chống đế quốc Nhật lại khác xa với những tình huống và nhiệm vụ trong cuộc chiến tranh ở phía Tây. Chiến trường ở cách xa trung tâm đất nước, quy mô rộng và phức tạp, việc sử dụng lực lượng và phương tiện có nhiều điểm khác hẳn, tất cả những điều đó đã gây thêm nhiêu khó khản. ở phía Tây, các phương diện quân ở kề nhau thường tiến công song song, và tiếp cận với nhau. Còn ở Viễn Đông này, căn cứ vào đặc điểm tình hình của địch, các phương diện quân lại phải tổ chức tiến công từ ba hướng dồn lại, mở những mũi đột kích hợp điểm tiêu diệt quân địch, cùng với sự tham gia tích cực của hạm đội. Muốn tổ chức và duy trì sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các phương diện quân, yêu cầu phải có một cơ quan chỉ huy riêng có đủ quyền lực.

Việc chỉ đạo ngoài thực địa ở đây đặt ra một loạt nhiệm vụ khác hẳn trước kia. Vị đại diện Đại bản doanh có uy tín đến đâu cũng không đủ quyền hạn đối với những nhiệm vụ ấy. Nói thật đúng ra, ngay các phương diện quân cũng không thuộc quyền vị đại diện Đại bản doanh nữa.

Vị Tổng tư lệnh quân đội xô-viết ở Viễn Đông phải đứng trên một cương vị khác hẳn thế. I. V. Xta-lin đã đề cập tới vấn đề này từ hồi tháng Tư 1945, khi tuyên bố cho A. M. Va-xi-lép-xki biết lần đầu tiên ý định cử đồng chí sang Viễn Đông. A. I. An-tô-nốp và tôi cũng có mặt trong buổi trao đổi hôm ấy. Sau đó, Đảng và Chính phủ lại trao cho đồng chí Tổng tư lệnh những quyền hành rộng lớn và cử theo đồng chí những cán bộ giúp việc đáng tin cậy.

Đại bản doanh cử thượng tướng I. V. Si-kin làm ủy viên Hội đồng quân sự quân đội Viễn Đông. Như tôi được biết, I. V. Xta-lin giới thiệu đại tướng M. V. Da-kha-rốp làm tham mưu trưởng Bộ Tổng tư lệnh. Lúc đến Tri-ta, A. M. Va-xi-lép-xki trao đổi về việc ấy với M. V. Da-kha-rốp. Nhưng Da-kha-rốp có ý kiến đề nghị trên để đồng chí làm tham mưu trưởng phương diện quân Da-bai-can thì có lợi hơn. Đại bản doanh và riêng A. M. Va-xi-lép-xki có nghiên cứu ý kiến ấy và thấy là đúng, vì M. V. Da-kha-rốp đã cộng tác lâu ngày với R. I-a. Ma-li-nốp-xki. Về sau, A. M. Va-xi-lép-xki hình như có ngỏ ý đề cử thượng tướng V. V. Cu-ra-xốp làm tham mưu trưởng, nhưng Cu-ra-xốp cũng đề nghị đừng đề cử đồng chí. Bây giờ mới cử thượng tướng X. P. I-va-nốp làm tham mưu trưởng Bộ tổng tư lệnh Viên Đông.

Cơ quan tham mưu được thành lập ngay. Các tướng lĩnh và sĩ quan đi với Va-xi-lép-xki đều được điều về công tác ở đây. Ngoài ra, còn cả một tổ sĩ quan của Bộ tổng tham mưu đang công tác ở Viễn Đông, dưới sự chỉ đạo của thiếu tướng N. Ph. Men-de-lin-xép, cũng bổ sung vào cơ quan tham mưu ấy. Việc chỉ huy các Lực lượng không quân tập trung vào bàn tay đầy kinh nghiệm của nguyên soái tư lệnh A. A. Nô-vi-côp; và trong cơ quan tham mưu của Bộ Tổng tư lệnh chỉ có một nhóm chỉ huy nhỏ do trung tướng E. M. Be-lít-xki phụ trách. Thượng tướng C. X. Na-da-rôp chỉ huy bộ đội công binh. Thượng tướng N. Đ. Pxu-rơ-xép chỉ huy bộ đội thông tin. Trực thuộc Bộ tổng tư lệnh còn có những đồng chí đại biểu có trọng trách của tất cả các cục trung ương, phụ trách bảo đảm vật chất kỹ thuật. Nhờ có những đồng chí ấy, tất cả những điều yêu cầu gửi về Mát-xcơ-va đều được giải quyết rất linh hoạt. Những đồng chí đại biểu ấy họp thành một tổ gồm 52 người, do thượng tướng V. I. Vi-nô-grát-đốp phó chủ nhiệm hậu cần các Lực lượng vũ trang, phụ trách.

Toàn bộ tiến trình những sự kiện sau này chứng minh rằng tổ chức chỉ huy như vậy là hoàn toàn đúng.

Sau khi Đức đầu hàng được ít lâu, I. V. Xta-lin có hội đàm với một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng của Mỹ là Ha-ri Hốp-kin-xơ. Và ngay trong thời gian ấy, Bộ tổng tham mưu đã nhận được chỉ thị chuẩn bị cho cuộc hội nghị mới của những người lãnh đạo các cường quốc Đồng minh. Hội nghị đã họp trong hạ tuần tháng Bảy 1945 tại cung điện cũ của các vua Phổ ở Pốt-xđam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #245 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:27:59 am »

Xta-lin đứng đầu đoàn đại biểu Liên Xô. Tham gia hội nghị, về phía quân đội có các đồng chí: Gh. C. Giu-cốp, N. Gh. Cu-dơ-nét-xốp, Ph. I-a. Pha-la-lê-ép, X. G. Cu-tre-rốp. Bộ tổng tham mưu có các đồng chí: A. I. An-tô-nốp, A. A. Grư-dơ-lốp, N. V. Xla-vin và M. A. Va-vi-lốp, cùng một bộ phận cơ quan phục vụ. Còn tôi phải ở lại để giải quyết công việc thường ngày của Bộ tổng tham mưu.

Hội nghị tiến hành như ta được biết, là không có Ru-dơ-ven. Ru-dơ-ven mới mất trước ngày chiến thắng nước Đức phát-xít được ít lâu. Nguyên phó tổng thống Mỹ G. Tơ-ru-man, lên thay tổng thống Mỹ, đến dự hội nghị Pốt-xđam.

Phần thứ hai của hội nghị họp không có Sớc-sin. C. Át-li, lãnh tụ của Công đảng Anh thắng phiếu trong cuộc tổng tuyến cử ở Anh, đã lên thay Sớc-sin.

Ở Pốt-xđam, trước hết đã xác định đường lối chung của các nước tham gia khối đồng minh chống Hít-le về vấn đề Đức. Các nước Đồng minh đã thông qua hiệp nghị quy định việc phi quân sự hóa và dân chủ hóa nước Đức, bồi thường cho những nước bị phát-xít xâm lược, xác định biên giới họp lý giữa các quốc gia. Nhiều vấn đề khác có liên quan đến nước Đức tương lai và hòa bình ở châu Âu cũng được giải quyết.

Ngay trong ngày họp đầu tiên, Liên Xô xác nhận là phía mình đã sẵn sàng hoàn thành trách nhiệm chiến tranh với Nhật. Tướng An-tô-nốp đã thông báo tỉ mỉ những kế hoạch của Liên Xô ở Viễn Đông. Các nước Đồng minh cũng báo cáo những ý định của mình, nhưng tuyệt không nói gì đến bom nguyên tử. Mãi sau một tuần lễ làm việc, G. Tơ-ru-man, đã thỏa thuận trước với Sớc-sin, mới đặt vấn đề cho Xta-lin biết rằng Mỹ có một loại bom có sức mạnh phi thường. Việc này diễn ra trong một cuộc hội đàm riêng, không chính thức, khi những người tham gia hội nghị đang vội thu xếp rạ về, sau những phiên họp đã làm mọi người mệt mỏi. Nhưng tổng thống Mỹ không hề nói đến kế hoạch sử dụng loại bom ấy.

Sau này, A. I. An-tô-nốp nói với tôi là Xta-lin có báo cho đồng chí biết rằng Mỹ đang có một loại bom mới, sức mạnh khủng khiếp phi thường. Nhưng An-tô-nốp, và có lẽ chính cả Xta-lin nữa, qua cuộc nói chuyện trên với Tơ-ru-man, dầu không rút ra được kết luận rằng đây là một thứ vũ khí mới về nguyên tắc. Dù sao, Bộ tổng tham mưu cũng không được chỉ thị gì về việc đó.

Mỹ, Anh và Trung Quốc ký kết ở Pốt-xđam bản tuyên bố chung theo hình thức tối hậu thư, yêu cầu Nhật phải đầu hàng không điều kiện. Ý nghĩa cơ bản của văn kiện ấy phù hợp với lợi ích của Liên Xô, nên trước khi bắt đầu chiến tranh với Nhật, Chính phủ chúng ta cũng tham gia ký vào bản tuyên bố với tư cách là thành viên thứ tư.

Ngày 3 tháng Tám, ngay sau khi Tổng tư lệnh tối cao ở Pốt-xđam về, nguyên soái A. M. Va-xi-lép-xki đã báo cáo tỉ mỉ về quá trình chuẩn bị tiến công. Công việc chuẩn bị đã gần xong. Ở phương diện quân Da-bai-can, các tập đoàn quân của I. I. Li-út-ni-cốp và I. M. Ma-na-ga-rốp đã tiến ra khu vực tập trung, cách biên giới Mông Cổ với Mãn Châu có 50 tới 60 ki-lô-mét. Cùng với tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 và những đơn vị khác của phương diện quân, các tập đoàn quân trên có thể bắt đầu tác chiến từ sáng mồng 5 tháng Tám.

Những tập đoàn đột kích khác của ta cũng đã ở trong các khu vực tập trung, hoặc ở gần ngay các nơi ấy. Trong thời gian này, các phương diện quân cũng lấy tên mới cho hợp với tình hình thực tiễn. Từ ngày 5 tháng Tám, phương diện quân Viễn Đông cũ gọi là phương diện quân Viễn Đông 2, còn tập đoàn miền Duyên hải thì gọi là phương diện quân Viễn Đông 1 Lúc bắt đầu tiến công quân Nhật, chúng ta có tất cả một triệu rưởi quân đã sẵn sàng chiến đấu, hơn 29 nghìn khẩu pháo và súng cối, hơn 5200 xe tăng và pháo tự hành, gần 5200 máy bay chiến đấu.

Theo kế hoạch, đến ngày 5 hay 7 tháng Tám, hạm đội Thái Bình Dương phải hoàn toàn sẵn sàng chiến đấu.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #246 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:28:44 am »

A. M. Va-xi-lép-xki chủ trương là không nên để quá ngày 9 hay 10 tháng Tám mới vượt qua biên giới. Cần phải lợi dụng thời tiết thuận tiện trong những ngày sắp đến ở Da-bai-can, thời tiết ấy cho phép ta có thể sử dụng triệt để máy bay và xe tăng. Còn ở miền Duyên hải, tuy mưa vẫn kéo dài, nhưng đường sá và những sân bay xây rất tốt của các Lực lượng không quân, vẫn không hỏng. Riêng số sân bay của hạm đội có kém hơn và bị thấm nước. Nhưng, từ ngày 6 đến 10 tháng Tám, ở miền Duyên hải thời tiết có thể khá hơn.

Nếu còn hoãn lại ngày bắt đầu chiến tranh, thì sẽ không lợi cho ta, vì trinh sát đã phát hiện được một số dấu hiệu cho biết quân Nhật đang điều động, tổ chức lại ở Mãn Châu và Triều Tiên. Trong vòng tháng Bảy, số sư đoàn địch ở đây từ 19 đã lên tới 23, còn máy bay chiến đấu thì từ 450 lên đến 850 chiếc. Hơn nữa là bộ binh, chủ yếu trên những hướng miền Duyên hải và Hổ Luân, đều được tăng cường. Những sự kiện trên cũng đáng ngại, vi có thể chứng minh rằng quân địch đã phát hiện ra những ý định của ta và chuẩn bị phá vỡ những ý định ấy.

Tổng tư lệnh quân đội xô-viết ở Viễn Đông cho rằng các phương diện quân Viễn Đông 1 và 2 phải bắt đầu tác chiến cùng một ngày, một giờ với phương diện quân Da-bai-can, có như vậy mới hoàn toàn bảo đảm được yếu tố bất ngờ

Tuy vậy, cũng chỉ mới triển khai hành động đồng loạt của những chi đội mạnh phái đi trước, chuyên dùng để đánh chiến những mục tiêu phòng ngự quan trọng nhất của quân Nhật. Còn lực lượng chủ yếu của các phương diện quân thì chưa nghĩ đến việc triển khai đồng loạt. A. M. Va-xi-lép-xki đề nghị rằng chiến dịch chủ yếu của phương diện quân Viễn đông 1 và do đó những lực lượng chủ yếu của phương diện quân “tùy thuộc vào quá trình phát triển chiến dịch của phương diện quân Da-bai-can và sẽ bắt đầu sau chiến dịch của phương diện quân Da-bai-can chừng 5 tới 7 ngày”.

Tổng tư lệnh còn đề nghị đô đốc N. Gh. Cu-dơ-nét-xôp, bộ trưởng Bộ hải quân, tới Viễn Đông gấp để phối hợp hành động của các lực lượng hải quân với lục quân; quy định trước việc tiếp tục tăng cường cho các phương diện quân về người và kỹ thuật, nhất là xe tăng.

Những ý kiến của A. M. Va-xi-lép-xki nhằm xúc tiến gấp mọi việc để có thể bắt đầu chiến tranh sớm, trước kế hoạch một hay hai ngày, và cả trình tự bước vào tác chiến của phương diện quân Viễn Đông 1 cũng đã duyệt, Bộ tổng tham mưu chú ý nghiên cứu, tính toán kiểm tra lại. Dựa vào những sự tính toán trên, Đại bản doanh đã đối chiếu những dự kiến phát triển các sự kiện theo cả hai phương án. Kết quả là đề nghị của A. M. Va-xi-lép-xki, bắt đầu chiến tranh ngày 9 hay 10 tháng Tám, được thông qua. Nhưng Đại bản doanh không tán thành phương án của đồng chí chuyển bộ đội của phương diện quân Viễn Đông 1 sang tiến công chậm lại sau ít ngày. Chúng ta cho rằng những chi đội phái đi trước, dù mạnh đến thế nào cùng khó có thể chiến đấu đơn độc trong suốt 5 hay 7 ngày liền. Vì vậy cần phải nhanh chóng đưa chủ lực vào ngay để phát huy thắng lợi của những chi đội phái đi trước

Quyết tâm của Đại bản doanh được truyền đạt ngay cho A. M. Va-xi-lép-xki. Và đến ngày 7 tháng Tám, lúc 16 giờ 30 phút, Tổng tư lệnh tối cao mới ký chỉ thị. Bản chỉ thị xác nhận những nhiệm vụ đã giao trước đây cho các phương diện quân. Dự kiến là không quân sẽ bắt đầu hoạt động trên cả mặt trận từ sáng ngày 9 tháng Tám. Sảng hôm ấy, bộ binh của các phương diện quân Da-bai-can và Viễn Đông I phải vượt qua biên giới. Phương diện quân Viễn Đông 2 sẽ hành động theo chỉ thị của nguyên soái A. M. Va-xi-lép-xki.

Hạm đội Thái Bình Dương được lệnh sẵn sàng chiến đấu số 1. Các tàu ngầm bắt đầu hành động đồng thời với không quân từ sáng ngày 9 tháng Tám.

Mỗi lần nhớ lại cái việc đặc biệt sau đây, tôi tựa hồ nhớ lại một cơn ác mộng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #247 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:29:50 am »

Còn độ mấy ngày nữa là bắt đầu chiến tranh, đúng vào ngày 3 tháng Tám, trong số văn kiện gửi cho tôi buổi sáng thấy có một lá thư ngắn do tòa soạn báo “Sao đỏ” gửi tới. Lá thư này gửi về tòa báo theo đường dây bưu điện, trông bên ngoài chẳng có gì đáng chú ý hơn hàng trăm bức thư khác. Nhưng những dòng chữ đấu tiên viết trong thư làm tôi hết sức kình ngạc. Té ra là trong lúc các mặt công tác chuẩn bị chiến tranh với Nhật đã tiến hành xong, kế hoạch và thời hạn tiến công đã ổn định, nguyên soái Va-xi-lép-xki và các tư lệnh phương diện quân đang ngày đêm điều động các đơn vị bộ đội tới những tuyến xuất phát, thì những tin tức về các sự kiện ấy đáng lẽ phải giữ gìn tuyệt đối bí mật, lại có thể đang hoặc đã thành ra tài sản của bọn địch.

Đồng chí Pê-tơ-rôp, người phóng viên không quen biết chúng tôi, đã báo cho biết như vậy:..

“Một hoàn cảnh đặc biệt buộc tôi, một người già, phải viết cho các đồng chí bức thư này. Trong những ngày cuối tháng Bảy, trước một số người lạ mặt ở một nơi công cộng, chừng hơn 20 người, một sĩ quan Hồng quân, quân hàm trung tá vô cùng ba hoa, đã tiết lộ bí mật của quân đội và nhà nước. Họ của đồng chí ấy là Pô-lúp hay Gô-lúp gì đó, còn tên là Ni-cô-lai I-va-nô-vích. Hình như hiện nay ta đang tăng cường chuẩn bị chiến tranh với Nhật, và đã phái một tổ sĩ quan của Bộ tổng tham mưu, do nguyên soái Va-xi-lép-xki đứng đầu để chi đạo những chiến dịch chống quân Nhật ở Viễn Đông.”

Tiếp theo, tác giả bức thư đề nghị phải khiển trách con người ba hoa này: “đồng chí ấy phải hiểu rằng lợi ích của nhà nước chúng ta đối với chúng tôi, những con người bình thưởng, còn quý hơn sự phong lưu riêng của con người trẻ tuổi ấy. Kính thư. Pê-tơ-rốp”.

Thế là bắt đầu cho đi truy tầm. Cái con người mà Pê-tơ-rốp cho biết trong thư, tìm ra cũng nhanh thôi. Đồng chí này là người được chọn đến công tác trong cơ quan của A. M. Va-xi-lép-xki. Chúng tôi còn xác nhận thêm được là đồng chí sĩ quan này còn ba hoa nhiều chuyện về cả cấp trên của mình, một cán bộ cấp tướng, có quan hệ trực tiếp với Tổng tư lệnh quân đội Viễn Đông, và về một số biện pháp của Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô nhằm chuẩn bị chiến tranh với Nhật.

Tất nhiên là chúng tôi không để đồng chí đó tiếp tục công tác trong cơ quan của Bộ Tổng tư lệnh, và cả trong bất kỳ cơ quan tham mưu nào khác nữa. Đồng chí ấy đã bị sa thải. Chúng tôi không báo cáo cho Xta-lin biết việc này.

Bức thư làm chúng tôi nửa buồn nửa vui, vì một mặt nó nói lên những thiếu sót trong công tác cán bộ của chúng tôi, nhưng mặt khác lại chứng minh rằng, có hàng triệu người xô viết yêu nước đang theo dõi bảo vệ những bí mật quân sự. May thay, những tin tức do anh chàng ba hoa kia tiết lộ, có lẽ không đi xa quá phạm vi nhóm người mà Pê-tơ-rôp viết trong thư, ít ra là chúng cũng chưa rơi vào tay địch.

*
*   *

Giờ bắt đầu chiến tranh đang nhích đến gần, mối lo về việc Nhật tăng quân ở Mãn Châu vẫn chưa dứt. Nhưng trinh sát báo cáo: không thấy có gì đáng lo ngại cả, và thế là có thể hy vọng rằng quân địch chưa thể nào giành quyền chủ động hành động với chúng ta.

Đúng lúc ấy đã diễn ra một hành động man rợ của Mỹ, bất chấp cả lương tri và sự cần thiết của chiến tranh: ngày 6 tháng Tám, chúng đã cho nổ trái bom nguyên tứ đầu tiên ở Hi-rô-si-ma, và ngày 9 tháng Tám, trái bom nguyên tử thứ hai đã thiêu sạch Na-ga-xa-ki. Tấn thảm kịch của hai thành phố trên không sao tả xiết được.

Những trái bom nguyên tử ném xuống đấy không thể ảnh hưởng gì tới khả năng tiếp tục chiến tranh của Nhật và tới những kế hoạch chiến tranh của ta.

Ngày 8 tháng Tám, chủng ta trao cho đại sứ Nhật ở Mát-xcơ-va một bản tuyên bố, có nêu rõ lý do, của Chính phú Liên Xô nói rằng từ ngày mồng 9, Liên Xô tự xem là ở trong tình trạng chiến tranh với Nhật. Ngay lúc ấy, ở Viễn Đông tuyên bố có tình trạng chiến tranh. 

Ngày 9 tháng Tám, hồi 00 giờ 10 phút, theo giờ địa phương, những chi đội phái đi trước trong phương diện quân Da-bai-can bắt đầu hoạt động. Bốn giờ rưỡi sau thì những lực lượng chủ yếu bước vào tham chiến và hầu như không gặp sức kháng cự nào trên đường tiến quân.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #248 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:30:45 am »

Những đơn vị của phương diện quân Viễn Đông 1 vượt qua biên giới quốc gia lúc 1 giờ đêm. Trong dải của tập đoàn quân 35 hoạt động bên cánh phải, có tập kích pháo 15 phút trước khi tiến công. Còn trên hướng chủ yếu, tập đoàn quân Cờ đỏ 1 và tập đoàn quân 5 bắt đầu tiến công, không có pháo bắn chuẩn bị, có thể nói là hoàn toàn lặng lẽ, nếu như ở miền Duyên hải không nổi cơn dông.

Đột kích bất ngờ, đến cuối ngày thì các đơn vị bộ đội của phương diện quân Viễn Đông 1 đã thọc sâu vào lãnh thổ địch đến 10 ki-lô-mẻt, thậm chí có nơi còn sâu hơn nữa. Trong dải của mình, tập đoàn quân 5 đã chiếm được trung tâm đề kháng Vô-lưn thuộc khu vực bố phòng biên giới. Và, tập đoàn quân 25 bên sườn trái cũng tiến quân có hiệu quả.

Hai mũi vu hồi của hai phương diện quân tiến công đồng loạt hoàn toàn có hiệu lực. Bấy giờ, quân Nhật không tài nào có thể đẩy lùi các đơn vị bộ đội ta từng bộ phận một nữa. Phòng ngự của chúng đã bị rạn nứt khắp mọi nơi. chỉ cần một vài ngày nữa là cuộc vu hồi bao vây to lớn Đạo quân Quan Đông sẽ kết thúc rất tài tình...

Phương diện quân Viễn Đông 2 cũng bắt đầu tiến công hồi 1 giờ đêm ngày 9 tháng Tám. Những hành động của phương diện quân phối hợp tuyệt đẹp về thời gian với những phương diện quân khác. Các chi đội phái đi trước của tập đoàn quân 15 và các đơn vị biên phòng vượt qua sông A-mua có nhiệm vụ đánh chiếm những hòn đảo và những địa đoạn trên bờ sông đối diện. Các đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sau đó, các lực lượng chủ yếu của tập đoàn quân bắt đấu tiến công vượt sông A-mua.

Tình hình trong dải của quân đoàn độc lập 5, tiến công vượt sông Út-xu-ri, cũng phát triển tương tự như vậy.

Tàu chiến của Chi hạm đội A-mua Cờ đỏ đã tiến vào cửa sông Tùng Hoa và chiến đấu trong khu vực trúc thành của quân Nhật. Các xuồng phóng lôi trên Thái Bình Dương đã tiến hành những đợt tiến công đầu tiên vào những chiến hạm địch.

Không quân thì đột kích vào các đơn vị quân Nhật và những mục tiêu quân sự khác.

Chiến cục bắt đầu ở nơi nào cũng có kết quả.

*
*   *

Lúc này, Bộ tổng tham mưu tập trung chú ý tới vấn đề giữ cho tốc độ tiến công đừng giảm sút. Quyết không cho quân địch hồi tỉnh và tổ chức phòng ngự vững chắc.

Hành động của các đơn vị bộ đội ta không có gì đáng lo ngại. Ngay ngày 12 tháng Tám, những lực lượng chủ yếu của các quân đoàn cơ giới thuộc tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 đã vượt mạch núi Đại Hưng An và uy hiếp đồng bằng Mãn Châu. Tuyến phòng thủ thiên nhiên quan trọng nhất, mà quân Nhật có thể dựa vào để ngoan cố chống cự, đã ở hẳn phía sau ta. Các đơn vị tiếp tục tiến quân với tốc độ không thay đổi tới Trung Bộ Mãn Châu, đến “mục tiêu số 1”, hồi ấy là Thẩm Dương. Thất thủ Thẩm Dương là toàn bộ hệ thống phòng ngự của quân Nhật ở Mãn Châu bị tiêu diệt.

Tình hình ở các phương diện quân Viễn Đông cũng diễn tiến tốt. Ở miền Duyên hải, bộ binh ta nối tiếp nhau vượt qua những khu vực trúc thành của địch, đi vòng ra sau những ổ đề kháng cực mạnh, để khỏi giảm tốc độ tiến công.

Chính phủ Nhật mưu toan tìm những cách giải quyết quanh co. Ngày 14 tháng Tám, khi quân đội xô-viết vượt qua những khu rừng rậm, núi non và những thảo nguyên, sa mạc, đang tiến như vũ bão xuống đồng bằng Mãn Châu thì chính phủ Nhật tuyên bố quyết định chấp nhận những điều kiện trong bản tuyên bố của hội nghị Pốt-xđam và xin đầu hàng không điều kiện trước các nước Đồng minh. Nhưng Đạo quân Quan Đông và cả những đơn vị quân khác, cùng hạm đội của chúng, vẫn không được lệnh cụ thể gì về việc đầu hàng cả. Theo tin tức từ các mặt trận báo cáo về, thì các sư đoàn quân Nhật và các đơn vị đồn trú vẫn tiếp tục chiến đấu.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #249 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:31:31 am »

Bộ tổng tham mưu báo cáo tình hình trên lên Tổng tư lệnh tối cao. Xta-lin có thái độ rất điềm tĩnh đối với vấn đề ấy đã lệnh cho chúng tôi công bố lên báo chí, giải thích tình hình thực tế ngoài các mặt trận và ra chỉ thị cho bộ đội tiếp tục những hành động chiến đấu tích cực cho đến khi quân địch phải thực sự đầu hàng không điều kiện.

Ngày 16 tháng Tám, báo chí công bố bản thông báo có chữ ký của A. I. An-tô-nốp. Tổng tham mưu trưởng Liên Xô giải thích rằng lời tuyên bố đầu hàng của Nhật hoàng chỉ là tuyên bố chung. “Chưa thấy có lệnh đình chỉ chiến sự gửi cho các lực lượng vũ trang và các lực lượng vũ trang Nhật vẫn tiếp tục chống cự như trước. Vì vậy, những lực lượng vũ trang Nhật chưa phải đã đầu hàng thực sự. Chỉ có thể công nhận cho các lực lượng vũ trang Nhật đầu hàng khi nào Nhật hoàng ra lệnh cho các lực lượng vũ trang của mình đình chỉ những hoạt động chiến đấu và hạ vũ khí, và khi nào mệnh lệnh đó thực tế được chấp.hành..."

Trong thời gian ấy, cuộc tiến công của bộ đội ta vẫn phát triển theo kế hoạch. Bộ tư lệnh Đạo quân Quan Đông thấy không thể ngăn nổi cuộc tiến công, buộc phải ra lệnh ngừng những hoạt động chiến đấu.

Nhưng lần này nữa cũng không phải không có những âm mưu xảo quyệt: trong mệnh lệnh không nói một chữ nào đến việc chịu đầu hàng làm tù binh. Như tướng U. Mi-ki-ô đã chỉ ra, văn bản mệnh lệnh truyền cho binh lính như sau: “Theo lệnh của Nhật hoàng, đình chỉ những hoạt động chiến đấu”. Ngoài ra, không nói gì hơn nữa, mặc dầu binh lính và sĩ quan Nhật lâu nay vẫn được giáo dục theo cái gọi là truyền thống quân nhân Nhật Bản, không chịu đầu hàng làm tù binh. Và, muốn tránh khỏi bị bắt làm tù binh, tất nhiên là chúng vẫn tiếp tục chống cự. Hơn nữa, ở một số khu vực trên mặt trận, có những nơi chúng còn tổ chức phản kích.

Ngày 17 tháng Tám, Tổng tư lệnh quân đội xô-viết ở Viễn Đông điện cho tư lệnh Đạo quân Quan Đông, yêu cầu dứt khoát buộc tất cả những đơn vị đồn trú của Nhật Bản phải hạ vũ khí và đầu hàng làm tù binh. Tiếp tục quanh co nữa cũng không xong, ngay ngày hôm sau, bộ chỉ huy quân Nhật đã phải ra lệnh đầu hàng và báo cho A. M. Va-xi-lép-xki biết. Nhưng sau đó, tại nhiều khu vực ở Mãn Châu, các trận chiến đấu vẫn tiếp tục, còn trên các đảo Cu-rin và Xa-kha-lin thì chiến đấu mới bắt đầu nổ ra.

Để đẩy mạnh việc buộc quân Nhật phải sớm đầu hàng thực sự và tránh việc tiếp tục đổ máu một cách không cần thiết, chúng ta đã quyết định cho đổ bộ đường không xuống những khu vực bố trí quân then chốt của địch: Cáp Nhĩ Tân, Cát Lâm, Thẩm Dương, Trường Xuân và một số thành phố khác ở Mãn Châu và Triều Tiên.

Ngày 18 tháng Tám, lúc 17 giờ, những máy bay chở đội đổ bộ đầu tiên gồm 120 người do trung tá Da-be-lin chỉ huy, cất cánh từ sân bay Khô-rôn và bay tới Cáp Nhĩ Tân. Đội đổ bộ có nhiệm vụ: chiếm sân bay và những mục tiêu quân sự quan trọng khác, bảo đảm việc gìn giữ những cầu qua sông Tùng Hoa và giữ vững những cầu ấy cho tới khi các lực lượng chủ yếu của phương diện quân Viễn Đông 1 tiếp cận đến.

Thiếu tướng G. A. Se-la-khốp, phó tham mưu trưởng phương diện quân được ủy nhiệm đặc biệt của Hội đồng quân sự phương diện quân, cùng đi với thê đội một của đội đổ bộ. Đồng chí nhận trách nhiệm trao cho bộ chỉ huy quân Nhật ở Cáp Nhĩ Tân bức tối hậu thư buộc phải đầu hàng và ra những điều kiện buộc chúng phải theo. Ta không có những tin tức chính xác về tình hình trong thành phần và lãnh sự quán Liên Xô hiện đang còn ở trong ấy. Chỉ biết rằng những lực lượng chủ yếu của phương diện quân 1 thuộc Đạo quân Quan Đông, quân số rất đông, đã bị thất bại ở Mẫu Đơn Giang và tạt sang Cáp Nhĩ Tân.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM