Chuyện về người chỉ huy giữ chốt trên cao điểm: Păk Kụt.
Chúng tôi thuộc C7 – D2 – E1 – F2. Hay còn gọi là Đoàn Ba Gia. Mà không ai không biết đến một đơn vị đã được Đảng Nhà nước phong tặng. Ba lần danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Với những chiến công vang dội của chiến thắng Ba Gia-Vạn Tường ở tỉnh Quảng Ngãi. Rồi năm 1971 với chiến thắng ở Bản Đông- Sê Pôn- Đồi không tên. Điểm 660 và 723 trong chiến dịch đường 9 Nam Lào. Trên Cao nguyên Pôlôven. Đến chiến thắng lẫy lừng ở Đắc Tô, Tân Cảnh, năm 1972. Cùng mảnh đất khu 5 anh hùng.
Sau chiến dịch đánh ngăn chặn địch ở đường 9 Nam Lào năm 1971 “Lam Sơn 719”. Đơn vị tôi nhận lệnh đến cao nguyên Pôlôven. Trung đoàn đánh thắng và giao cho trung đội tôi chốt giữ cao điểm Pắc Kụt, một cao điểm rất quan trọng của địch, vì đó là một điểm án ngữ cho một vùng rộng lớn của miền hạ Lào. Chính vì vậy, cao điểm trở nên vô cùng khốc liệt.
Địch cay cú bị quân ta đánh bật khỏi cao điểm mất vị trí án ngữ. Nên chúng đã điên cuồng dùng máy bay pháo kích và bộ binh đánh phá. Có bao nhiêu bom đạn ở vùng hạ Lào, đều được chúng huy động đến bắn phá cao điểm. Pháo từ xa nã tới, lính bộ binh phản công, chiếm lại cao điểm. Chúng bắn và la hét xông lên như một lũ thiêu thân. Từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 9, tháng 6, địch tấn công lên chốt vô cùng ác liệt. Nhưng chúng đã bị trung đội tôi đánh trả quyết liệt, làm cho giặc thiệt hại, ba đại đội lính nguỵ Lào & quân Thái Lan.
Mỗi khi địch xông lên, tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm, bình tĩnh và ra lệnh. “ Phải để địch đến thật gần mới được nổ súng…”. Những tên lính địch hiện rõ qua làn khói đạn, nghe rõ hơi thở hồng hộc của chúng. Địch tưởng đơn vị tôi không thể tồn tại sau những trận bom pháo dày đặc như mưa đổ xuống, có thằng kéo lê súng bước khật khưỡng như những thằng say rượu.
Tiểu đội trưởng Lâm ra lệnh: Bắn – chúng tôi nhất tề nổ súng, địch khựng lại, từng loạt đạn quật ngã binh lính địch liều lĩnh đi đầu. Chúng bất ngờ hoảng hốt trước cách đánh gần táo bạo gan dạ dũng cảm của tiểu đội, địch cuống cuồng la hét rút chạy. Anh Lâm hô lớn “ Xung phong ….”. Chúng tôi bật khỏi chiến hào, quét đạn tới tấp sát lưng địch, số địch còn lại tháo thân chạy xuống chân cao điểm. Tranh thủ cơ hội ấy chúng tôi thu lượm vũ khí trang bị địch bổ sung khi sắp hết đạn giữ chốt.
Máy bay, bom pháo địch đánh xuống, nổ gần ùng ục, oàng oàng. Tai chỉ còn nghe tiếng o….o. Hết bom, đến pháo kích, địch tụ lại dưới chân cao điểm, bắn đổ đạn rồi hò hét tiến lên. Nhưng không một thằng nào dám xuất hiện, vì cú đánh giáp mặt của đơn vị, đã dạy cho chúng biết thế nào là “ Cộng sản”.
Khói lửa mịt mùng đen đặc, tiếng súng dần thưa thớt. Tiếng máy bay ầm ì xa dần. Chỉ còn tiếng lốp đốp của những đám cháy quanh khu rừng gần cao điểm. Gió Lào cuồn cuộn mang theo cát bụi và cái nóng xua dần khói bom, khói súng. Trận địa quang dần, lúc này mới nhìn thấy mặt trời đỏ cũng dần xuống sau dãy núi phía xa.
Đồng đội tìm lại nhau theo vị trí phân công, chiến hào biến dạng. Khi đến vị trí của tiểu đội trưởng, thì anh ngã vật xuống hào, một tay ôm chặt chiếc mũ cối ở bụng, lúc này tôi mới biết là anh bị thương rất nặng và ruột xổ ra nằm trong chiếc mũ anh đang nén giữ. Máu từ bụng đã đổ ra đen quánh dưới vị trí anh đứng chiến đấu. Anh nói với mấy người còn lại trên cao điểm trong hơi thở đứt quãng.
“…Các đồng chí … các em … quyết chiến đấu đến cùng, phải giữ chốt bằng được. Trả thù cho anh và đồng đội …”.
Anh ra hiệu bằng cái đầu khẽ nhúc nhích, ba chúng tôi ghé sát vào người anh, nghe anh thều thào nói.
“… Sau này chiến tranh kết thúc … em nào còn sống trở về, nhớ tìm về quê cha mẹ anh ở đất Thái Bình kể lại trận đánh này cho gia đình anh nghe về cuộc chiến đấu giữ chốt và việc anh hy sinh ngày hôm nay…”
Ba chúng tôi là: Vũ Minh Quỳnh, Phạm Văn Tiến và Nguyễn Đăng San, từng người ghé sát xuống để anh đặt đôi môi khô ráp hôn vào má, bắt tay và anh mỉn cười thảnh thản ra đi tin tưởng vào những người còn lại.
Người tiểu đội trưởng dũng cảm kiên cường của đơn vị ra đi trong vòng tay của đồng đội lúc 16 giờ ngày mùng 9 tháng 6 năm 1971. Chúng tôi còn lại trên cao điểm chống trọi giữ chốt. Mấy tiếng sau đơn vị tăng cường lực lượng củng cố trận địa, cho những cuộc chiến đấu tiếp theo.
Thưa ông Cam !
Chiến tranh kết thúc Bắc Nam sum họp một nhà, trong niềm vui vô bờ bến ấy, song cũng chứa đựng biết bao những đau thương mất mát & hậu quả tàn khốc của chiến tranh để lại. Các chiến sĩ hy sinh ngoài mặt trận, và hy sinh một phần xương máu, cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho đất nước.
Chất độc màu da cam của kẻ thù đã để lại những di chứng đau thương, hiện có người đang phải gánh chịu, sự hy sinh mất mát không có gì bù đắp nổi. Đất nước từng ngày từng giờ đang thay da đổi thịt, cuộc sống mới bừng lên, sự hưng thịnh là thực mục sở thị. Những người từng khoác áo lính trên chiến trường, khó tin rằng mình đang sống như ngày hôm nay. Trong cuộc sống và cơ chế thị trường đây đó vẫn còn nhiều điều nhức nhối.
Người chiến sĩ sau chiến tranh trở về phải vật lộn, đối mặt với cuộc sống đời thường, mâu thuẫn nảy sinh theo quy luật. Thế hệ không phải trải qua chiến tranh tràn đầy sức sống, được trang bị đầy đủ tri thức văn hoá, phơi phới đi lên.
Một lớp người, tuổi thanh xuân đã gửi lại chiến trường, sức lực gần như cạn kiệt, phải còng lưng, gánh vác hậu quả chiến tranh. Người giàu, kẻ nghèo, cũng dần được phân định rõ rệt. Người chiến sĩ trở về sau chiến tranh, lại thêm một lần vật lộn với cuộc sống đời thường.
Để chiến thắng với bản thân, quả là một cuộc chiến không kém phần gian khổ, có khi còn phải trả một cái giá quá đắt. Tôi cũng như nhiều đồng đội, mảnh đạn và chất độc da cam còn nằm trong cơ thể, nó vẫn đang âm ỉ tàn phá không hề buông tha. Nhiều khi tôi như sắp gục ngã, trước những nỗi đau mất mát & sự tàn khốc của cuộc chiến. Nhưng trấn tĩnh lại, tôi nhận thấy rằng. Mình vẫn còn là người rất may mắn, còn sống sót trở về, được nhìn thấy quê hương, đồng chí, đồng đội, của những năm tháng nơi bom rơi đạn nổ. Được chứng kiến đất nước, hoà bình thống nhất.
Lời nói của tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm, còn văng vẳng bên tai, anh và biết bao đồng đội hy sinh còn nằm lại nơi chiến trường, để cho đất nước có cuộc sống yên vui hôm nay. Tôi như người có lỗi và chính đó cũng là động lực vươn lên trước cuộc sống của tôi một cách vững vàng.
Ông Cam kính mến !
Từ khi nhận được sự giúp đỡ của ông, tôi tìm về quê hương gia đình liệt sỹ Tô Ngọc Lâm. Thực hiện lời dặn trước lúc hy sinh của anh. Những giọt nước mắt nghẹn ngào cảm động, nén lại hơn 35 năm tuôn rơi. Anh em con cháu Liệt sỹ coi tôi như người ruột thịt, tôi cũng toại nguyện được lời hứa trước vong linh người đồng đội trước lúc ngã xuống.
Nhưng còn một điều, khiến tôi luôn day dứt, day dứt không yên, ông có biết đó là điều gì không?. Là ông ! Vâng, chính là ông đấy…. Nhịp sống mới hối hả. Người ta lao vào làm giàu, lo toan tính toán cho bản thân, gia đình, chỗ đứng & địa vị.
Đây đó không tránh được sự bất chấp cùng thủ đoạn. Đạo đức tình cảm của con người đôi khi được xem bằng “giá cả”. Tình cảm, đôi khi cũng được đem ra thành “cơ chế thị trường”. Cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc có lúc cũng trở thành mờ nhạt trước một số người. Di tích lịch sử văn hoá có khi bị xem nhẹ. Thông tin đại chúng đã từng đưa tin, ngay chính học sinh và một số lớp trẻ cũng không mặn mà với môn học Lịch sử văn hoá của đất nước.
Cho nên, điều tất yếu ấy cũng đã xảy ra, có người nhìn thấy những thương binh, những chiến sĩ bị địch bắt tù đày tra tấn, bị nhiễm chất độc da cam. Vì đó họ còn gặp vô cùng khó khăn và khó có điều kiện làm giàu. Còn có những ánh mắt nhìn họ rất xa lạ, chính vì vậy, mà sự đền ơn đáp nghĩa đôi khi trở thành một hình thức hời hợt.
Thế nhưng ông ! Suốt hơn 10 năm trời dòng giã, đã âm thầm chịu đựng, vượt qua bao khó khăn gian khổ, để có được con số 21.000 địa chỉ liệt sỹ, cần tìm kiếm, phải liên lạc, và hàng ngàn cây số đường xa. Quả là một hy sinh rất lớn, có nơi họ còn cho ông là “ kẻ gian, lợi dụng… ”. Cản trở việc ông làm. Ông không thanh minh lý giải. Khó có thể diễn tả, tâm trạng xúc động cảm phục kính nể của tôi, đối với ông.
Không ai có thể nghĩ rằng, trong cuộc sống hiện nay, lại còn có một người và nghĩa cử như ông, chịu đựng khó khăn, vượt lên chính mình, vượt lên tất cả. Cho một suy nghĩ giản dị của ông … Tôi cho đó là sự đền ơn đáp nghĩa, tuy có khó khăn thiếu thốn, đó là sự thật. Nhưng không thấm vào đâu, so với sự hy sinh mất mát của đồng bào, đồng chí. Nhờ đó mà chúng ta mới có đất nước thanh bình hôm nay.
Được tận mắt chứng kiến cảnh nhà dột nát, cái gường cũ ọp ẹp, chiếc xe đạp cũ kỹ, cọc cạch trơ trụi, như thân gầy của ông, mới thấy hết giá trị to lớn của việc ông làm. Tôi hiểu cho con số 21.000 địa chỉ liệt sỹ kia. Điều khâm phục của tôi, là sự bình thản của ông, ông không bận tâm đến những gì khác, ngoài việc ông đang làm.
Nhìn từng đoàn khách, gia đình thân nhân liệt sỹ tìm về với ông, chỉ một việc tiếp khách, tìm địa chỉ, tra cứu sổ sách, ghi chép trả lời. Nếu là một cơ quan lưu trữ chính sách, thì hàng chục người có chuyên môn, được đào tạo và phương tiện hiện đại, cũng phải mất nhiều thời gian. Vậy mà ông làm việc tận tuỵ. Không lương – Không chế độ – Không một sự hỗ trợ nào. Ông bình thản, coi đó là một việc làm bẩm sinh của ông.
Có một điều tôi thấy thật ngạc nhiên, không thể ngờ được rằng: Việc làm của ông không phải ít người, không biết đến. Hàng chục bài báo có uy tín viết về ông và thực tế đã chứng minh rất cụ thể về việc của ông. Có thể nói là không ai không biết đến hàng chục năm nay. Vậy mà sao ông? Vẫn không sao, lọt vào mắt cơ quan chính sách xã hội hiện tại. Biết rằng ông không bao giờ muốn người khác nói về mình.
Thế nhưng, nhìn hoàn cảnh của gia đình vợ chồng ông. Tận mắt chứng kiến nghĩa cử của ông. Một cựu chiến binh như thế ? Làm sao tôi không thể, không day dứt về ông. Tôi tự hỏi ? Hay giá trị và việc làm của ông, có ý nghĩa rất lớn với 21.000 địa chỉ liệt sỹ, đã khiến cho những cơ quan chức năng, còn trong hoàn cảnh khó khăn. Cho nên không có điều kiện gần ông. Hoặc biết đâu, lại có sự mặc cảm với ông, là múa rìu qua mắt thợ.
Thay mặt cho những đồng đội của liệt sỹ Tô Ngọc Lâm, xin chân thành cám ơn ông, tôi sẽ mang điều day dứt về ông, về một sự hy sinh hết lòng vì đồng đội. Không làm gì khác hơn, tôi cầu nguyện vong linh các anh hùng liệt sỹ. Hãy về với ông, giúp đỡ ông và bao đồng đội, vượt qua cảnh nghèo khó, tiếp tục vươn lên với công việc của mình.
Riêng tôi gọi là một chút lòng thành, chia sẻ với ông, gánh vác một chút khó khăn, tiếp sức cho ông, làm bưu tá cho những vong hồn liệt sỹ. Để ông vững bước, trên con đường vì đồng đội. Xin tặng ông bộ dàn máy vi tính, cho công việc lưu trữ hồ sơ của ông, được thuận lợi. Tuổi ông đã cao, nhưng ông cố gắng đi học để thao tác, sớm sử dụng thành thạo. Tôi tin ông sẽ vượt lên & đạt được tâm nguyện của ông cũng như bao đồng đội. Tất cả vì một nghĩa cử cao đẹp, cho những người hy sinh, để làm lên một đất nước hôm nay.
Xin chúc ông thành công trong cuộc sống./.